Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

Bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo.

 Vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam luôn bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm mục đích chống phá thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bài viết nhận diện những luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo qua Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ. Bằng những chứng cứ thực tiễn về đời sống tôn giáo ở Việt Nam, bài viết phản bác, phê phán đối với những luận điệu vu cáo Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo của mọi người.

Bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo

Một buổi thánh lễ tại Nhà thờ Chợ Quán - Ảnh: vnexpress.net

Trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, mặc dù đã đề cập đến nỗ lực và tiến triển của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền tự do tôn giáo và bảo đảm đời sống tôn giáo, nhưng vẫn tiếp tục đưa ra những luận điệu cáo buộc Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền, bóp méo sự thật, đánh giá sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Báo cáo đã bỏ qua những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho mọi người.

Ngay trong phần tóm tắt của báo cáo đưa ra một số luận điệu: pháp luật Việt Nam quy định sự kiểm soát của chính quyền đối với các hoạt động tôn giáo và có những quy định “mập mờ” cho phép hạn chế tự do tôn giáo, pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo không tương đồng với công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người, trái với các tiêu chuẩn về nhân quyền quốc tế; trong năm qua, chính quyền không công nhận tổ chức tôn giáo mới nào, có nhiều hình thức sách nhiễu, theo dõi, từ chối, hoặc không trả lời yêu cầu đăng ký và các yêu cầu xin phép khác, như chính quyền cấp tỉnh và cấp cơ sở sách nhiễu đối với các nhóm Công giáo, Tin lành, trong đó có nhóm Ngũ Tuần độc lập, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, các nhóm Hòa Hảo độc lập, Cao đài độc lập, Dương Văn Mình; chính quyền địa phương ở Tây Nguyên hăm dọa với thành viên một số nhóm Tin lành chưa đăng ký, bắt giữ tín đồ của Hội thánh Truyền giảng Phúc Âm ở tỉnh Đắk Lắk; các nhà chức trách đã giam giữ một số tín đồ của đạo Dương Văn Mình, bắt giữ 03 chức sắc của Cao đài độc lập; v.v..

Những nội dung và dẫn chứng được nêu trong báo cáo hoàn toàn không mang tính đại diện và phổ quát cho đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Một số nhóm tôn giáo mà báo cáo cho rằng chính quyền sách nhiễu, gây khó khăn, như: Hội thánh truyền giảng Phúc Âm, Dương Văn Mình, Hội thánh Tin lành Đấng Christ, Cao đài Độc lập, Hội thánh Tin lành Đề Ga quốc tế... là thông tin sai sự thật, đây đều là các nhóm, tổ chức lợi dụng hoạt động tôn giáo để thực hiện âm mưu chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chống phá Nhà nước Việt Nam. Mặt khác, báo cáo đưa ra số liệu chức sắc, tín đồ tôn giáo bị bắt, giam giữ, chất vấn về hoạt động tôn giáo của họ cũng là thông tin bịa đặt, bởi pháp luật Việt Nam quy định chỉ những người vi phạm các tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự thì cơ quan chức năng mới tiến hành các thủ tục tố tụng điều tra, truy tố, xét xử.

Ở Việt Nam không có khái niệm “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”. Cần tường minh vấn đề này, không thể mập mờ, “đánh lận con đen” để vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền.

Dễ dàng nhận thấy, ẩn chứa trong báo cáo này là việc lợi dụng vấn đề tôn giáo, biến tôn giáo trở thành một thứ vũ khí lợi hại để xuyên tạc, bóp méo sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam nhằm đưa Việt Nam vào cái gọi là “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt”, gây ảnh hưởng đến hoạt động đối nội, đối ngoại của Việt Nam, làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo sức ép từ bên ngoài và tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, từ đó thay đổi chế độ chính trị của Việt Nam.

Chiêu bài vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã có từ lâu. Những đánh giá, kết luận hằng năm của tổ chức này chỉ dựa trên những báo cáo của một số tổ chức phi chính phủ thông qua việc thị sát vài vùng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên và một số nhóm, tổ chức mang danh nghĩa tôn giáo, nhưng thực chất hoạt động lợi dụng tôn giáo để trục lợi là thiếu tính khách quan, tính chính xác, tính toàn diện, thể hiện sự tùy tiện trong nhận định và đánh giá.

1. Việc Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ cho rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là bước “thụt lùi” về tự do tôn giáo, trái với tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế là hoàn toàn không đúng sự thật

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo là một cách thức bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tự do tôn giáo không phải là quyền tuyệt đối, mà có giới hạn. Khoản 2 điều 29 Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 quy định: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”.

Khoản 3 điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Do đó, theo các quy định này, quyền tự do tôn giáo là quyền giới hạn, quyền này phải bảo đảm sự tôn trọng quyền tự do của những người khác và thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và phúc lợi chung cho xã hội.

Pháp luật của các quốc gia đều phân định rõ ràng giữa tự do tôn giáo và luật pháp, giữa tự do tôn giáo và lợi dụng tự do tôn giáo, nên có những quy định cụ thể về quyền tự do tôn giáo, nhân quyền, đồng thời ngăn chặn những hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo, nhân quyền để cản trở quyền của người khác, xâm phạm an ninh quốc gia; đều có hành lang pháp lý để xử lý các trường hợp vi phạm nhằm bảo đảm quyền tự do tôn giáo được diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với điều kiện thực tiễn, truyền thống lịch sử và văn hóa của từng quốc gia, dân tộc.

Việc Nhà nước Việt Nam đưa ra các quy định pháp luật để quản lý hoạt động tôn giáo là phù hợp và tương đồng với luật pháp quốc tế. Các công ước, điều ước quốc tế về quyền con người liên quan đến quyền tự tôn giáo mà Việt Nam là thành viên hoặc tham gia ký kết đều đưa ra các nguyên tắc: nguyên tắc về những quyền con người cơ bản; nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc về sự bảo vệ pháp lý; nguyên tắc tăng cường đối thoại; nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác(1).

Theo các nguyên tắc trên, pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể để bảo hộ và thúc đẩy các quyền con người, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, đồng thời tránh việc lợi dụng quyền tự do tôn giáo.

Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Khoản 1 điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; khoản 1 điều 3 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Hiến pháp năm 2013 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có thay đổi quan trọng về chủ thể hưởng quyền tự do tôn giáo từ “công dân” mở rộng sang “mọi người” cho thấy, chính sách nhất quán của Chính phủ Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng đồng thời các hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo vi phạm pháp luật cũng bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Các văn bản pháp luật của Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo là một thành tựu trong hoàn thiện chính sách, pháp luật, tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền và nhằm bảo đảm quyền tự do tôn giáo được thực thi, đồng thời bảo vệ, thúc đẩy tự do tôn giáo, thúc đẩy quyền con người, hoàn toàn tương đồng với luật pháp quốc tế và phù hợp thực tiễn đời sống tôn giáo, lịch sử, văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Mặt khác, việc hoàn thiện luật pháp, trong đó có luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo, để bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, quyền con người đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một quốc gia nhận được sự tín nhiệm của cộng đồng thế giới và trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 với số phiếu tín nhiệm cao (184/193 phiếu). Ngày 11-10-2022, Việt Nam lại tiếp tục trúng cử là một trong 14 thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của ASEAN cho vị trí này. Kết quả trên cho thấy, pháp luật, chính sách tôn giáo của Việt Nam; những nỗ lực của Việt Nam về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

2. Thực tiễn đời sống tôn giáo Việt Nam là minh chứng bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo

Một là, về công nhận tổ chức tôn giáo

Trước năm 1990, Nhà nước Việt Nam công nhận 03 tổ chức tôn giáo, gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc). Từ năm 1990 đến nay, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 33 tổ chức tôn giáo, 04 tổ chức và 01 pháp môn được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động(2). Bên cạnh đó, có trên 3.800 điểm nhóm đã được cấp giấy đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung(3).

Trong quá trình công nhận, cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, chính quyền Trung ương và địa phương hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tuân thủ đúng trình tự pháp luật, tạo nên sự tin tưởng, phấn khởi của chức sắc, tín đồ tôn giáo.

Sau khi được công nhận, tổ chức tôn giáo được tổ chức các cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý; được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc; được sửa chữa cải tạo trụ sở; tham gia hoạt động từ thiện nhân đạo; tổ chức đại hội thông qua hiến chương; được thành lập, chia tách, sát nhập tổ chức tôn giáo trực thuộc...

Hai là, về số lượng tín đồ

Từ năm 1990 đến nay, số lượng tín đồ của các tôn giáo đều gia tăng. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 1997, cả nước có trên 15 triệu tín đồ, chiếm hơn 20% dân số cả nước; năm 2003 cả nước có 17,4 triệu tín đồ, năm 2013 cả nước có 24 triệu tín đồ, chiếm 25% dân số và đến năm 2021, cả nước có 26,3 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước(4). Như vậy, số lượng tín đồ liên tục tăng thêm. Ngoài các tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, ước tính gần 90% người Việt Nam có đời sống tâm linh sâu sắc, thực hành niềm tin mang tính đa thần, theo các tín ngưỡng truyền thống như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam có 7.966 lễ hội/năm, trong đó 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%); 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,82%); 332 lễ hội lịch sử cách mạng (chiếm 4,16%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), 40 lễ hội khác (chiếm 0,50%)(5). Sự gia tăng tín đồ gắn liền với sự gia tăng của tổ chức tôn giáo và số người xác định mình là tín đồ của một tôn giáo cụ thể và số người thực hành tín ngưỡng truyền thống ngày một tăng lên chính là minh chứng sống động cho tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Ba là, về số lượng cơ sở thờ tự tín ngưỡng, tôn giáo

Số lượng cơ sở thờ tự của tín ngưỡng hiện là 50.703 cơ sở, trong đó có 15.205 cơ sở thuộc danh mục kiểm kê di tích; 31.903 cơ sở đăng ký hoạt động tín ngưỡng theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo(6).

Về cơ sở thờ tự tôn giáo, năm 2000 cả nước có 18.474 cơ sở thờ tự, đến năm 2021 cả nước có 30.047 cơ sở thờ tự, tăng 11.573 cơ sở. Thí dụ, ở tỉnh Hải Dương, năm 2003 có 899 cơ sở, năm 2007 đã tăng lên 995 cở sở; tỉnh Nghệ An năm 2003 có 01 cơ sở, năm 2017 tăng lên 50 cơ sở, tỉnh Lâm Đồng năm 2003 có 121 cơ sở, năm 2017 tăng lên 200 cơ sở(7).

Từ năm 2003 đến năm 2018 các địa phương đã xem xét, giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, trong đó có việc giao đất với quy mô lớn cho các tổ chức tôn giáo như: chính quyền thành phố Đà Nẵng cấp hơn 10.000 m2 đất cho Công giáo để mở rộng Tòa Giám mục Đà Nẵng, giao 5.000 m2 đất xây dựng trụ sở Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam; chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh giao 7.500m2 đất cho Tổng liên hội Thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) để xây dựng Viện Thánh kinh thần học; chính quyền Thành phố Hà Nội giao 10 ha cho Giáo hội Việt Nam xây dựng Học viện Phật giáo; chính quyền tỉnh Quảng Trị giao thêm 15 ha đất cho Giáo xứ La Vang; chính quyền tỉnh Thừa Thiên - Huế cấp 10 ha đất xây dựng Thiền viện Bạch Mã; chính quyền thành phố Hải Phòng cấp 10.000m2 đất xây dựng nhà dưỡng hưu cho các linh mục, tu sĩ thuộc Giáo phận Hải Phòng; chính quyền tỉnh Ninh Bình cấp 15.000 m2 đất xây dựng Trung tâm Mục vụ Giáo phận Phát Diệm(8)... Tính đến ngày 31-12-2015, cả nước có 18.017 ha đất tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó đất tôn giáo là 11.720 ha (chiếm trên 65%), đã cấp 19.000 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất(9).

Bốn là, về sinh hoạt tôn giáo

Sinh hoạt tôn giáo của cá nhân và tổ chức tôn giáo được diễn ra bình thường tại gia đình, cơ sở thờ tự theo quy định của pháp luật. Nhiều hoạt động tôn giáo diễn ra với quy mô lớn như Hội Yến Diêu trì cung của đạo Cao đài; Đại lễ Vesak Liên hợp quốc được tổ chức 03 lần tại Việt Nam vào các năm 2008, 2014, 2019; lễ hội La Vang của Công giáo; lễ kỷ niệm 100 năm Tin lành truyền đến Việt Nam của đạo Tin lành. Các hoạt động tôn giáo nêu trên đều thu hút số lượng lớn tín đồ ở trong nước và ở nước ngoài. Chỉ tính riêng Đại lễ Vesak Liên hợp quốc năm 2019 tại Tam Chúc, tỉnh Hà Nam đã thu hút sự tham dự của hơn 3.000 đại biểu chính thức, trong đó có 570 đoàn quốc tế, với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 04 nguyên thủ quốc gia, Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc, đại diện các tổ chức quốc tế, đại sứ quán các nước tại Việt Nam; đại diện các tổ chức, tông phái Phật giáo trên thế giới; chức sắc, tăng ni, phật tử tiêu biểu trong và ngoài nước thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam; đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương và địa phương(10). Trong 03 ngày diễn ra đại lễ, mỗi ngày có khoảng 50.000 lượt tăng ni, phật tử tham gia các hoạt động.

Năm là, về in ấn xuất bản kinh, sách

Năm 1998, Chính phủ đã chấp thuận việc thành lập Nhà xuất bản Tôn giáo thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, có trách nhiệm xuất bản các xuất bản phẩm phục vụ công tác tôn giáo và đồng bào có đạo. Cho đến năm 2014, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp phép xuất bản cho 4.347 ấn phẩm tôn giáo, trong đó Phật giáo 2.869, Công giáo 1.828, Tin lành 680 ấn phẩm, ngoài ra 205 văn hóa phẩm liên quan đến tôn giáo như: lịch, băng đĩa(11).

Từ năm 2018 đến năm 2020, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp quyết định xuất bản cho 1.457 xuất bản phẩm, với 5.47 triệu bản in, riêng Công giáo và Tin lành số lượng bản in của Kinh thánh là 1 triệu bản. Kinh thánh Cựu ước và Tân ước của đạo Tin lành không chỉ được dịch ra tiếng Việt, mà còn được dịch ra 15 ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số khác của Việt Nam như: Cơ ho, Bru - Vân kiều, Êđê, Gia-rai, Bana, Xtiêng, Mnông, Chăm, H’rê, Nùng, Hoa, Tày v.v.. nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của đồng bào.

Các tôn giáo lớn đều có báo, tạp chí, các trang wibsite... hoạt động liên tục để truyền tải các thông tin liên quan đến các hoạt động của tổ chức tôn giáo, riêng Phật giáo được cấp phép cho 08 đơn vị thuộc lĩnh vực thông tin truyền thông: Báo Giác ngộ, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, Tạp chí Khuông Việt, Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy, các trang tin điện tử Phật sự online, Cổng thông tin Phật giáo, phatgiao.org.vn; Công giáo có tờ tập san Hiệp thông, báo Công giáo và Dân tộc, báo Người Công giáo Việt Nam; Tin lành có tờ Mục vụ, Thông công; Phật giáo Hòa Hảo có tạp chí Hương Sen...

Sáu là, về mở trường đạo chức sắc tôn giáo

Trước năm 1990 chỉ có một số cơ sở đào tạo chức sắc của Phật giáo, Công giáo hoạt động, từ năm 1990 đến nay, nhiều cơ sở đào tạo của tổ chức tôn giáo được thành lập, đáp ứng việc đào tạo chức sắc tôn giáo để hướng dẫn hoạt động tôn giáo của tín đồ. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, tính đến tháng 12-2021, cả nước có 65 cơ sở đào tạo người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, trong đó: Phật giáo 48 cơ sở, Công giáo 11 cơ sở; Tin lành 04 cơ sở; Cao đài 01 cơ sở và Phật giáo Hòa Hảo 01 cơ sở. Mỗi năm có hàng nghìn người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp tốt nghiệp các trường đào tạo của tôn giáo. Năm 2021, cả nước có 8.884 người tốt nghiệp ra trường, 13.350 người đang theo học. Không chỉ đào tạo chức sắc tôn giáo ở trong nước, các tổ chức tôn giáo còn cử chức sắc tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài ở các bậc thạc sĩ, tiến sĩ, nhằm nâng cao chất lượng chức sắc, đồng thời tạo ra sắc diện mới cho sự phát triển của các tôn giáo.

Nhờ đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành, những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, số chức sắc, chức việc, nhà tu hành tôn giáo tăng nhanh. Chỉ tính riêng số lượng chức sắc tôn giáo, năm 1995 có 31.548 người, năm 2021 là 54.125 người, chỉ trong hơn 20 năm qua, số lượng chức sắc tôn giáo đã tăng lên trên 20 nghìn người.

Bảy là, về hoạt động quốc tế của các tổ chức tôn giáo

Từ năm 1990 đến nay, hoạt động quốc tế của các tôn giáo đa dạng và phong phú trên nhiều phương diện: quan hệ đồng đạo thông qua việc giao lưu, hỗ trợ tín đồ, chức sắc, chia sẻ thông tin, thăm viếng, đào tạo chức sắc; quan hệ về tổ chức, như hướng dẫn sinh hoạt tôn giáo, phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm chức sắc; quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo dựa trên tinh thần đối thoại, liên tôn trước những vấn đề như đói nghèo, chiến tranh, môi trường, công bằng xã hội. Nhà nước Việt Nam hỗ trợ, giúp đỡ các cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia các chương trình đối thoại, hội thảo về tôn giáo. Trong các năm 2011 - 2020 đã có hàng trăm đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam và nhiều cá nhân, tổ chức tôn giáo Việt Nam tham gia hoạt động quốc tế ở nước ngoài. Việt Nam chấp thuận Vatican cử đại diện không thường trú tại Việt Nam.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 539 (tháng 01-2023)

Ngày nhận bài: 06-12-2022; Ngày bình duyệt: 07-01-2023; Ngày duyệt đăng: 27-01-2023.

 

(1) Xem Chu Văn Tuấn (Chủ biên): Đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021, tr.123.

(2), (7), (8), (11) Nguyễn Thanh Xuân: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2020, tr.428-433, 436-437, 437-438, 439.

(3) Ban Tôn giáo Chính phủ: Báo cáo 03 năm thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2021, tr.10.

(4) Nguồn: Phòng Tổng hợp thống kê, Văn phòng Ban Tôn giáo Chính phủ.

(5) Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch: Thống kê lễ hội, truy cập ngày 10-01-2023.

(6) Ban Tôn giáo Chính phủ: Báo cáo 03 năm thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2021, tr.2.

(9) Ban Chỉ đạo Tổng kết Nghị quyết số 25 về công tác tôn giáo: Báo cáo Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo.

(10) Bộ Nội vụ: Báo cáo Kết quả công tác tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hợp quốc 2019 tại chùa Tam Chúc, Kim Bảng, Hà Nam, Hà Nội, 2019.

Phê phán quan điểm về “dân tộc bản địa” ở Việt Nam.

  Những năm gần đây, các phần tử có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng bản Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa của Liên hợp quốc để vận động các quốc gia phương Tây, các tổ chức quốc tế công nhận ở Việt Nam có “dân tộc bản địa”. Đồng thời, kích động các dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào Chăm, Khơme và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đòi quyền tự quyết. Bài viết phản bác quan điểm “ở Việt Nam có dân tộc bản địa”, đồng thời làm rõ về “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền của các dân tộc thiểu số”, từ đó đề xuất giải pháp đấu tranh phòng, chống âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

Phê phán quan điểm về “dân tộc bản địa” ở Việt Nam

Thiếu nữ đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc hòa mình trong không gian lễ hội Hoa Ban, tỉnh Điện Biên - Ảnh: chinhphu.vn

1. Ở Việt Nam không có “dân tộc bản địa”

Ngày 13-9-2007, Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 61/295: Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa, với 46 điều.

Cụm từ “dân tộc bản địa” được dịch từ văn bản gốc của Liên hợp quốc là Indigenous peoples (dân tộc bản địa hay dân tộc bản xứ). Thuật ngữ “dân tộc bản địa” xuất hiện cùng với quá trình tìm kiếm thị trường, truyền bá tôn giáo và xâm lược thuộc địa từ khoảng thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX của các nước tư bản châu Âu đối với các quốc gia ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh.

Ví dụ, những người thổ dân ở châu Úc đã sinh sống lâu đời trước khi người Anh xâm lược; những người Mỹ gốc thổ dân thường được gọi là người da đỏ (hay Anh điêng) bởi đó là những người đã sinh sống lâu đời trên vùng đất Hoa Kỳ trước khi người châu Âu đến chiếm đóng. Khu vực Mỹ Latinh trước kia là lãnh thổ của các bộ lạc da đỏ. Nghị quyết 61/295 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc chính là đề cập tới các nhóm thổ dân này.

Không phủ nhận rằng, trong lịch sử hình thành các quốc gia - dân tộc, đặc biệt là ở khu vực Mỹ Latinh, sau mỗi cuộc chiến tranh xâm lược, quá trình di dân từ “chính quốc” đến thuộc địa đã hình thành những quốc gia - dân tộc mới. Ngay từ khi mới hình thành, ở những quốc gia này vẫn luôn tồn tại hai nhóm xã hội: nhóm người di cư và nhóm người bản xứ. Những nhóm xã hội này thường vẫn muốn duy trì phong tục, tập quán, ngôn ngữ, lối sống riêng của mình. Có thể xem Hoa Kỳ, Canađa và Ôxtrâylia là những ví dụ. Trong những quốc gia này, khái niệm “người bản địa” vẫn tồn tại và còn có những ý nghĩa nhất định(1).

Sau khi Nghị quyết 61/295 của Liên hợp quốc ra đời, ngày 22-9-2012, tại North Carolina, Hoa Kỳ, ba tổ chức phản động lưu vong là: Hội đồng Dân tộc Thượng, Hội đồng tối cao Campuchia - Krom, Hội đồng phát triển văn hóa xã hội Chămpa đã thống nhất thành lập một liên minh đấu tranh của các dân tộc bản địa Việt Nam với tên gọi là “Hội đồng tối cao các dân tộc bản địa Việt Nam ngày nay” (tên tiếng Anh là The Supreme Council of Indigenous Peoples of Today’s Vietnam, hay SCIP-TVN). SCIP-TVN thể hiện rõ âm mưu qua việc xác định ba mục tiêu chính là: 1) “Kêu gọi Chính phủ Việt Nam phải công nhận dân tộc Thượng, Campuchia - Krom và Chăm là dân tộc bản địa”; 2) “Yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải thực thi những điều khoản nêu trong Tuyên ngôn về Quyền của các dân tộc bản địa mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết”; 3) “Kêu gọi các tổ chức của Liên hợp quốc đóng vai trò tích cực trong cuộc vận động đấu tranh của SCIP-TVN phù hợp với Tuyên ngôn về Quyền của các dân tộc bản địa của Liên hợp quốc”(2).

Như vậy, có thể thấy rõ, âm mưu của các tổ chức phản động lưu vong đòi chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc Chăm, Khơme và các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên là “dân tộc bản địa”, không xuất phát từ lợi ích của đồng bào các dân tộc thiểu số, mà xuất phát từ mưu đồ phá hoại khối đại đoàn kết của các dân tộc, chia cắt sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme, Việt - Mường và một bộ phận của nhóm Tày - Thái được cho là phát triển từ các nhóm người cổ đại hình thành ở Việt Nam và các khu vực khác của Đông Nam Á. Các dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao, Hán, Tạng - Miến, một bộ phận của nhóm ngôn ngữ Tày - Thái và Mã Lai - Đa Đảo được xác định là di cư từ phía Nam Trung Quốc hoặc từ vùng hải đảo tới từ hàng nghìn năm đến hàng trăm năm trước.

Mặc dù có nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán riêng, cư trú ở Việt Nam vào những thời gian khác nhau, nhưng các dân tộc đã chung sống hài hòa và phân bố rộng khắp từ miền Bắc đến miền Nam, từ đồng bằng đến miền núi, từ biên giới đến hải đảo, các dân tộc cư trú xen kẽ, không có dân tộc nào hoàn toàn tách riêng về mặt địa lý. Ðiều này đã làm cho sự hòa hợp trở thành đặc điểm lịch sử, văn hóa; tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc, dù đa số hay thiểu số, cùng phát triển trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, tương trợ, giúp đỡ nhau.

Ở Việt Nam, thuật ngữ “dân tộc bản địa” gắn liền với các thời kỳ nước ta bị đô hộ, xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc, tên nước Việt Nam bị xóa trên bản đồ thế giới, bị chia cắt thành ba kỳ trong xứ Đông Dương thuộc Pháp; thuật ngữ “người bản xứ” (hoặc “người bản địa”) được dùng để chỉ tất cả các cộng đồng dân tộc Việt Nam (kể cả người Kinh và các dân tộc thiểu số). Khi ấy, người dân nước ta không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giàu hay nghèo, trí thức hay lao động chân tay đều bị gọi chung bằng tên gọi miệt thị “Annammit”.

Như vậy là, khái niệm “người bản xứ” (hoặc “người bản địa”) chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân và nó chỉ tồn tại với chế độ đó.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, người dân Việt Nam làm chủ đất nước của mình, không còn là “dân bản địa” hay “bản xứ” nữa. Thay vào đó là khái niệm “quyền công dân” - là quyền của tất cả mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc thiểu số hay đa số. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, Điều 6 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa”.

2. Nhận diện các thủ đoạn lợi dụng, đánh tráo khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền của các dân tộc thiểu số”

Ở Việt Nam, vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền của các dân tộc thiểu số” thường bị các thế lực phản động, thù địch xuyên tạc, lôi kéo, kích động ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, đánh tráo khái niệm “quyền dân tộc tự quyết của dân tộc - quốc gia” với quyền của “dân tộc - tộc người”.

Các thế lực thù địch thường đánh tráo khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của các “quốc gia - dân tộc” (nation-state) với quyền của “dân tộc - tộc người” (ethnic groups) nhằm kích động, tuyên truyền tư tưởng ly khai tự trị trong vùng dân tộc thiểu số, như kích động thành lập “nhà nước Hmông tự trị” ở vùng Tây Bắc, “nhà nước Tin lành Đề ga” ở Tây Nguyên, “nhà nước Khơme - Krom” ở Tây Nam Bộ.

Trong Hiến chương Liên hợp quốc, dân tộc tự quyết được coi là nguyên tắc để duy trì hòa bình và hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc. Khoản 2, Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc”(3).

Ngày 14-12-1960, Đại Hội đồng Liên hợp quốc ban hành Nghị quyết số 1514 (XV) thông qua Tuyên bố về “Trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa”, trong đó, tại Điều 2, Nghị quyết khẳng định: “Tất cả các dân tộc có quyền tự quyết, xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”(4).

Công ước quốc tế về “Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16-12-1966 của Đại hội đồng Liên hợp quốc), Điều 2 quy định: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá”(5).

Như vậy, trên bình diện quốc tế, quyền dân tộc tự quyết là việc một quốc gia - dân tộc có quyền tự chủ đối với vận mệnh của dân tộc mình, quyền quyết định về thể chế chính trị và con đường phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội... Dân tộc tự quyết còn thể hiện ở quyền tách ra thành một quốc gia độc lập, hay quyền liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của dân tộc ấy.

Khái niệm “quyền dân tộc thiểu số” được chính thức ghi nhận tại Điều 27 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1966): “Ở những quốc gia tồn tại các nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ, những người thuộc các nhóm thiểu số đó sẽ không bị từ chối quyền, trong cộng đồng với các thành viên khác trong nhóm của họ, được hưởng nền văn hóa của họ, tuyên xưng và thực hành tôn giáo của họ, hoặc sử dụng ngôn ngữ riêng của họ”(6).

Có thể thấy, chủ thể của quyền dân tộc tự quyết là quốc gia - dân tộc chứ không phải là một dân tộc thiểu số trong quốc gia - dân tộc đó. Pháp luật quốc tế không công nhận một dân tộc thiểu số ở một quốc gia được ly khai, được thành lập một quốc gia độc lập với quốc gia được quốc tế công nhận mà họ là công dân trong quốc gia đó(7).

Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm đa số, với tỷ lệ 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số(8). Điều 4, khoản 2 Nghị định về Công tác dân tộc, quy định: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; khoản 3 quy định: “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia”; khoản 4 quy định: “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”(9). Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc là nhất quán: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển...”(10).

Hiến pháp năm 2013, Điều 5 quy định: “1) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; 2) Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; 3) Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; 4) Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”(11).

Thứ hai, các thế lực thù địch thường lợi dụng sự khác biệt và phát triển không đồng đều giữa các dân tộc nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam không quan tâm tới đồng bào các dân tộc thiểu số, từ đó kích động tư tưởng ly khai, tự trị.

Ở Việt Nam, các dân tộc - tộc người, mặc dù có nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán khác nhau, cư trú ở Việt Nam vào những thời điểm khác nhau, nhưng các tộc người đều chịu chung sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, nên đã sớm có ý thức tự giác chung sống đoàn kết trong một quốc gia, dân tộc. Truyền thống đoàn kết được hình thành dựa trên hai yếu tố cơ bản: chinh phục tự nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm.

Một đặc điểm nổi bật về bức tranh phân bố dân cư của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là hình thái cư trú phân tán, xen kẽ làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng. Vì vậy, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn. Tình hình cư trú phân tán, xen kẽ của các tộc người gắn liền với quá trình phát triển lâu dài của đất nước.

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều thể hiện giữa các vùng, và giữa các tộc người. Sự phát triển không đều này do những nguyên nhân của lịch sử, do điều kiện tự nhiên, không gian sinh tồn, đặc điểm văn hóa truyền thống... Do đó, khắc phục sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các tộc người là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng dân tộc thiểu số. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(12).

3. Tăng cường đấu tranh làm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác dân tộc, tôn giáo. Mỗi cấp ủy đảng, theo chức năng, nhiệm vụ của mình cần làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền và cấp ủy cấp dưới thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo. Đối với cấp xã, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, cần linh hoạt các phương thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm về ngôn ngữ, phong tục, tập quán và điều kiện tự nhiên của địa phương, của cộng đồng các dân tộc thiểu số(13).

Thứ hai, quan tâm đầu tư, hỗ trợ các dân tộc thiểu số, tổ chức thực hiện sáng tạo, hiệu quả chính sách dân tộc, phù hợp với thực tiễn của từng địa phương và từng dân tộc thiểu số. Kiện toàn, củng cố hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cơ sở; làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng, bố trí hợp lý cơ cấu cán bộ dân tộc thiểu số vào các chức danh chủ chốt ở cơ sở; phát huy vai trò của bí thư chi bộ, trưởng dòng họ, già làng, trưởng bản, người có uy tín; phân công cán bộ hiểu biết phong tục tập quán đồng bào về công tác ở vùng dân tộc thiểu số.

Thứ ba, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Công tác nghiên cứu lý luận về vấn đề tôn giáo; điều tra cơ bản, tổng kết thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo có vai trò hết sức quan trọng và cần được quan tâm, thực hiện thường xuyên. Qua tổng kết thực tiễn, phát hiện những bất cập trong quá trình thực hiện các chính sách địa phương, từ đó có những đề xuất với Trung ương và các cơ quan chuyên trách điều chỉnh, bổ sung chính sách. Để đấu tranh có hiệu quả với hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, các cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc và tôn giáo nói riêng, toàn hệ thống chính trị nói chung cần tăng cường công tác nắm tình hình, từ đó đề ra các phương thức đấu tranh ngăn chặn hoạt động truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng dân tộc, tôn giáo, kích động gây mất đoàn kết dân tộc và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thứ tư, chủ động, tích cực đấu tranh ngoại giao trong các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Chủ động lồng ghép các nội dung vận động, đấu tranh về dân tộc, tôn giáo trong công tác đối ngoại, đặc biệt là trong các hoạt động ngoại giao quy mô lớn và trong lộ trình thúc đẩy quan hệ ổn định, lâu dài với các nước, các tổ chức quốc tế.

Tăng cường thông tin, tuyên truyền đối ngoại về chính sách, pháp luật và thành tựu của Việt Nam trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; vừa kiên quyết đấu tranh, vừa bày tỏ thiện chí đối thoại và hợp tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp công việc nội bộ của mỗi nước. Chủ động đưa nội dung dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo vào nội dung làm việc của lãnh đạo cấp cao của nước ta khi đi thăm các nước hoặc trong dịp đón lãnh đạo các nước thăm Việt Nam, qua đó giúp quốc tế hiểu rõ các thành tựu bảo đảm quyền con người và chủ động đấu tranh trên các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo(14).

Thứ năm, tiếp tục thể chế hóa các quy định trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Cụ thể, trước hết cần tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, thúc đẩy cải cách tư pháp, củng cố thể chế, chính sách, pháp luật về quyền con người phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định dân tộc và tôn giáo là vấn đề chiến lược, cơ bản và lâu dài. Việt Nam luôn tích cực tuân thủ đầy đủ các quy định quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người thông qua việc cụ thể hóa các quyền này trong quy định của Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, ở Việt Nam không có dân tộc bản địa. Sự hình thành, tồn tại, thống nhất và phát triển của quốc gia gắn liền với sự tồn tại và phát triển trong sự đa dạng và phong phú của các dân tộc. Trong suốt quá trình lịch sử, xu hướng chủ đạo, hợp quy luật là hòa hợp, thống nhất, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc. Đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước của Việt Nam.

Trong giai đoạn hiện nay, việc làm có ý nghĩa quyết định là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy truyền thống đoàn kết, tập trung xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh và xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; sớm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về các mặt giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc thiểu số, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát triển đất nước bền vững theo định hướng XHCN.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận: 30-01-2023; Ngày bình duyệt: 15-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1) Bắc Hà: “Ở nước cộng hòa xã hội nghĩa Việt Nam không tồn tại “Quyền của người bản địa”, https://tuyengiao.vn/tuyen-truyen/o-nuoc-chxhcn-viet-nam-khong-ton-tai-quyen-cua-nguoi-ban-dia-1993, ngày 21-9-2008.

(2) Xem: Phan Văn Hùng: Luận cứ phê phán quan điểm: vấn đề quyền của dân tộc bản địa, https://khanhhoa.gov.vn/Resources/Docs/file/2014/Thang5/10Luan%20cu%20phe%20phan%20quan%20diem%20%20Van%20de%20Quyen%20vau%20dan%20toc%20ban%20dia.pdf.

(3) Hiến chương Liên hợp quốc, ngày 26-6-1945.

(4) Đại Hội đồng Liên hợp quốc: Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa (Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) của Đại Hội đồng Liên hợp quốc), ngày 1-4-1960.

(5) Đại Hội đồng Liên hợp quốc: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa theo Nghị quyết số 2200 A (XXI) ngày 16-12-1966.

(6) Bản gốc: “In those States in which ethnic, religious or linguistic minorities exist, persons belonging to such minorities shall not be denied the right, in community with the other members of their group, to enjoy their own culture, to profess and practise their own religion, or to use their own language”.

(7) Quốc An: Không thể đánh đồng quyền dân tộc tự quyết và quyền của dân tộc thiểu số, https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/khong-the-danh-dong-quyen-dan-toc-tu-quyet-va-quyen-cua-dan-toc-thieu-so-535752, ngày 09-04-2018.

(8) Ban Chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương: Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2019.

(9) Chính phủ: Nghị định về Công tác dân tộc, số 05/2011/NĐ-CP, Hà Nội, ngày 14-01-2011.

(10), (12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, 2021, tr.170, 170-171.

(11) Quốc hội: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013.

(13) Vũ Trường Giang: Nhận diện và đấu tranh với âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, Tạp chí Dân tộc, số 249, tháng 12-2021, tr.13.

(14) Hoàng Nam: Tăng cường công tác đối ngoại, đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, góp phần bảo đảm ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở nước ta, https://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 10-11-2020.

Đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc về phòng, chống tham nhũng.

  Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là cuộc chiến lâu dài. Thời gian qua, cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, đưa ra ánh sáng nhiều vụ án lớn, liên quan đến nhiều người, kể cả những cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại lợi dụng cơ hội này để tuyên truyền xuyên tạc chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Bài viết khái quát những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về phòng, chống tham nhũng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống những luận điệu này.

Đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc về phòng, chống tham nhũng

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đồng chí Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - Ảnh tư liệu TTXVN

Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị tiếp tục đẩy mạnh thực hiện, ngày càng quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành với quan điểm “không có vùng cấm”, “không có hạ cánh an toàn” và đã đạt được những kết quả rõ rệt, được người dân đồng tình, ủng hộ, các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Trước thành quả đó, một số phần tử thù địch, phản động lợi dụng bôi nhọ, xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta. Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, bóp méo chủ trương, kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ Đảng, Nhà nước.

1. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cuộc chiến vừa mang tính cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta

Ở Việt Nam, tham nhũng được Đảng ta coi là kẻ thù, giặc “nội xâm”, một trong bốn nguy cơ lớn của sự nghiệp cách mạng, của chế độ XHCN; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp.

Theo định nghĩa của Luật Phòng, chống tham nhũng Việt Nam, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ lợi. Người có chức vụ, quyền hạn ở đây là những người làm việc trong cơ quan, tổ chức và các đơn vị trong hệ thống chính trị sử dụng vốn và tài sản, ngân sách nhà nước.

Các hành vi tham nhũng là: tham ô, nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi sai trái; dùng tài sản đưa hối lộ; sử dụng trái phép tài sản, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ; giả mạo trong công tác để vụ lợi; lạm dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác...

Hậu quả của tham nhũng là vô cùng nguy hại. Tham nhũng gây thất thoát nguồn lực của quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị - xã hội. Về mặt chính trị, tình trạng tham nhũng trong cơ quan nhà nước sẽ khiến nhân dân mất lòng tin với Đảng và hệ thống chính trị, gây cản trở đất nước tiến lên CNXH. Về mặt kinh tế, tham nhũng làm chậm nhịp độ phát triển, phá vỡ chiến lược phát triển, hạn chế nguồn lực đầu tư, gây thiệt hại lớn cho Nhà nước và người dân, doanh nghiệp. Về mặt văn hóa - xã hội, tham nhũng là nguyên nhân phá hoại những giá trị đạo đức tốt đẹp, làm tha hóa đạo đức cán bộ, gây bất bình trong xã hội, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo.

Vì vậy, ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết phòng, chống tham ô, tham nhũng. Người từng nhắc nhở: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó, phải thực hiện cần kiệm liêm chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc”(1). Như vậy, việc chống tham nhũng không phải bây giờ chúng ta mới làm, mà đã làm từ lâu, làm thường xuyên và hiện nay đang được Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt.

Trải qua các giai đoạn lịch sử, đến Đại hội VI (năm 1986), Đại hội mở đầu công cuộc đổi mới đất nước, cùng với tập trung khắc phục các mặt tiêu cực, hạn chế, yếu kém, cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục được Đảng ta nhấn mạnh. Đại hội VI thẳng thắn chỉ rõ: “Hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển. Công bằng xã hội bị vi phạm. Pháp luật, kỷ cương không nghiêm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước... chưa bị trừng trị nghiêm khắc”(2). Tiếp đó, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng: Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 12-9-1987 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện “Cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội”; Nghị quyết Trung ương 8 khóa VI về tiến hành cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng; Chỉ thị của Bộ Chính trị khóa VII về việc tiếp tục ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng, buôn lậu; Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VII (15-5-1996) về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng...

Trong các Văn kiện Đại hội VIII, IX và X, Đảng ta tiếp tục chỉ rõ sự nguy hại của tham nhũng đến sự tồn vong của chế độ. Đại hội X nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng”(3).

Đại hội XI, trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn, Đảng ta khẳng định, trên lĩnh vực đấu tranh chống tham nhũng đã có những chuyển biến rõ nét. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhiều quan chức cấp cao, kể cả thuộc diện Trung ương quản lý cũng chịu hình phạt nghiêm khắc của pháp luật. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng quyết định đưa 8 vụ án tham nhũng trọng điểm, làm thất thoát tài sản lớn của đất nước từ vài trăm đến hàng nghìn tỷ đồng ra xét xử trước kỳ Đại hội XII của Đảng(4).

Đại hội XIII đã đưa ra nhiều chủ trương và giải pháp căn cơ, quyết liệt về phòng, chống tham nhũng: “Triển khai đồng bộ có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt, nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”(5). Đảng ta cũng có những bước phát triển mới về phòng, chống tham nhũng, với nhiều biện pháp, như: hoàn thiện pháp luật, chính sách về kê khai tài sản; kiên trì, kiên quyết và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đặc biệt nhấn mạnh vấn đề phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng: “Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng. Thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ, hiệu quả về kê khai, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp”(6). Đại hội XIII đã chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng”; “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn và hiệu quả hơn”.

Tại kỳ họp thứ 20 ngày 05-8-2021 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, công tác phòng, chống tham nhũng vẫn không ngừng, không nghỉ, thậm chí ngày càng quyết liệt hơn, ngày càng có hiệu quả hơn và thêm nhiều bài học quý, kinh nghiệm tốt hơn... Thời gian tới phải làm mạnh hơn nữa, quyết liệt hơn nữa, hiệu quả cao hơn nữa... Đây là vì sự nghiệp chung, không thể không làm, cắt một vài cành sâu để cứu cả cây, làm rất quyết liệt nhưng rất nhân văn, nhân đạo, rất có lý, có tình, tâm phục, khẩu phục... Nhiệm vụ sắp tới còn nặng nề, khó khăn, không được chủ quan và mong mỏi của nhân dân vẫn là phải tiếp tục cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng không được dừng.

Với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, từ năm 2013 đến 2020, các cơ quan tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm hơn 11.700 vụ án tham nhũng, lạm dụng chức vụ, kinh tế, trong đó có 1.900 vụ án tham nhũng, với gần 4.400 bị cáo, trong đó có 18 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự (1 Ủy viên Bộ Chính trị, 7 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 bộ trưởng, nguyên bộ trưởng, 7 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang...)(7).

Năm 2021, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 32 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó 26 cán bộ liên quan đến các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 3.725 vụ/7.066 bị can (tăng 1.186 vụ/2.652 bị can so với năm 2020) về tội tham nhũng, lạm dụng chức vụ, kinh tế; trong đó, riêng án tham nhũng, lạm dụng chức vụ đã khởi tố 390 vụ/1.011 bị can. Cơ quan chức năng đã khởi tố nhiều vụ án lớn, mở rộng điều tra, khởi tố thêm nhiều bị can là cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Trong đó, tập trung điều tra, xử lý nghiêm nhiều vụ án, vụ việc tiêu cực xảy ra trong lĩnh vực giáo dục, y tế, như vụ án Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á (Công ty Việt Á). Qua đó, tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng(8). Điều đó thể hiện công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay là nhiệm vụ rất quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài.          

2. Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước

Trong khi cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta được nhân dân đồng tình và quốc tế ca ngợi thì các thế lực phản động, thù địch lại lợi dụng để tuyên truyền nói xấu chế độ, nói xấu Đảng và Nhà nước ta, nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, thông qua các phương tiện truyền thông, mạng xã hội tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc đó là:

Một là, chúng xuyên tạc rằng “tham nhũng là bản chất của chế độ cộng sản” và cho rằng “chỉ có ở các nước tư bản nạn tham nhũng mới được dẹp bỏ”

Thực tế, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí không phải bây giờ mới có, mà đây là căn bệnh xấu đã có từ lâu trong xã hội. Ở đâu có quyền lực, ở đó có tham nhũng. Ngay từ rất sớm, các triều đại phong kiến đã xác định tham nhũng là hành vi xâm hại trật tự pháp luật, đạo đức và sự tồn vong của triều đại, phải bị lên án và trừng trị nghiêm khắc. Thí dụ, dưới triều đại vua Lê Thánh Tông (1442-1497) và vua Minh Mạng (1791-1840), phòng, chống tham nhũng được triều đình hết sức quan tâm.

Phòng, chống tham nhũng trở thành một nhiệm vụ cấp bách trong chính sách cai trị của nhà Lê sơ (1428-1527), đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông. Năm 1483, Lê Thánh Tông cho ban hành Quốc triều hình luật (hay Lê triều hình luật/Luật Hồng Đức) - bộ luật quan trọng và chính thống nhất dưới triều Lê sơ, cũng là bộ luật tiến bộ và hoàn chỉnh nhất ở Việt Nam thời phong kiến. Một trong những nội dung chủ yếu trong bộ luật là phòng, chống tham ô, tham nhũng.

Đến thời nhà Nguyễn (1802-1945), sau khi lên ngôi, vua Gia Long (1762-1820) đã ban hành Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), bao gồm 22 quyển, chia thành 7 chương, 398 điều và 30 điều tỷ dẫn; trong đó, 17 quyển và 79 điều quy định riêng về luật hình đối với các tội tham ô, nhũng nhiễu và gần 20 điều khoản quy định cụ thể về vấn đề này với những quy định rất hà khắc(9). Những quy định đó cho thấy, ý thức, chủ trương và quyết tâm của các vị vua và triều đại phong kiến Việt Nam trong việc loại trừ một cách kiên quyết tệ nạn này.

Ở các nước tư bản phát triển có tham nhũng không? Theo một số nghiên cứu mới đây, vấn nạn tham nhũng ở gần một nửa số quốc gia trên thế giới không được cải thiện nhiều. Thậm chí ở nhiều quốc gia, nạn tham nhũng đang ngày càng tăng lên, ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống ở các dân tộc, ở mọi châu lục(10).

Thí dụ, vụ Watergate - vụ bê bối về quyền lực chính trị để trục lợi từ năm 1972 - 1974 của Tổng thống Mỹ Richard Nixơn. Trước nguy cơ bị Quốc hội phế truất ngày 09-8-1974, Tổng thống Mỹ Richard Nixơn buộc phải từ chức. Đây là tổng thống đầu tiên và duy nhất trong lịch sử nước Mỹ phải từ chức khi đang là tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. Cựu Tổng thống Philíppin Joseph Estrad phạm tội tham nhũng, phải ngồi tù chung thân. Cựu Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye bị Quốc hội Hàn Quốc phế truất chức tổng thống vào tháng 12-2016 do bị buộc tội tham nhũng, dính líu đến vụ bê bối chính trị dùng quan hệ cá nhân để tăng ảnh hưởng và trục lợi tài chính.

Như vậy, ở các nước tư bản, ngay cả một số nước tư bản phát triển, vẫn có tình trạng tham nhũng và thậm chí ở cấp cao nhất, do đó, luận điểm “chỉ có ở các nước tư bản thì nạn tham nhũng mới được dẹp bỏ” đã trở nên vô giá trị ngay trên chính thực tiễn của nó. Tham nhũng xuất hiện và tồn tại ở tất cả các hình thức, các kiểu nhà nước đã từng tồn tại và đang tồn tại trong lịch sử nhân loại. Tất cả các hình thức, các kiểu nhà nước muốn tồn tại và phát triển đều phải đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng. Đó là lý do vì sao ở các quốc gia đều có luật phòng, chống tham nhũng.

Hai là, luận điệu xuyên tạc rằng chống tham nhũng là “đấu đá”, là “thanh trừng nội bộ”

Thời gian qua, trên không gian mạng đã xuất hiện những bài viết xuyên tạc về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta, trong đó, có luận điệu “đấu tranh phòng, chống tham nhũng là đấu đá, thanh trừng nội bộ”. Gần như mỗi khi trong nước có sự kiện chính trị gì thì các trang mạng phản động như: Việt Tân, VOA Tiếng Việt, Dân làm báo, RFA, BBC... lại tìm mọi cách tung những luận điệu xuyên tạc, bóp méo thông tin, sự thật và tầm quan trọng của vấn đề này. Đáng chú ý là các trang mạng này dẫn lại những bình luận mang tính võ đoán, xuyên tạc, bịa đặt, những thông tin được “thêu dệt” bởi những thế lực phản động, như: Nguyễn Tường Thụy, Lã Việt Dũng, Lê Công Định... Chúng xuyên tạc rằng, “chống tham nhũng thực chất là đấu đá, thanh trừng nội bộ, phe phái”, là “ông ấy tập trung vào phe kia, ông ấy chưa dám động vào những người thuộc phe ông ấy”.

Không chỉ vẽ ra cảnh đấu đá nội bộ ở cấp Trung ương, các thế lực thù địch còn vẽ ra cảnh đấu đá nội bộ ở các địa phương, dựng lên cái gọi là “cuộc chiến chiếm lĩnh quyền thống trị”. Chúng còn bịa ra những lực lượng, cá nhân được hưởng lợi từ sự đấu đá nội bộ trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự bịa đặt này cũng không nằm ngoài âm mưu, thủ đoạn chia rẽ nội bộ, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng.

Trước đây, chúng hay công kích nước ta yếu kém trong phòng, chống tham nhũng, thờ ơ, bao che hành vi tham nhũng, nhưng giờ đây, khi công cuộc chống tham nhũng của Đảng ta đang vào giai đoạn nóng bỏng, nạn tham nhũng dần được đẩy lùi, thì chúng lại xuyên tạc nhiều hơn.

Chống tham nhũng trong bất cứ thời đại nào cũng nhằm mục đích giữ ổn định chính trị, phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với chế độ, đối với nhà nước. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động đứng dưới mác là “nhà báo độc lập”, “nhà dân chủ” cố tình xuyên tạc mục tiêu, động cơ của công cuộc phòng, chống tham nhũng. Với những luận điệu xuyên tạc, họ đã quy chụp, đánh tráo khái niệm để lôi kéo, dẫn dắt dư luận chống đối. Mục đích của bọn chúng là chia rẽ nội bộ Đảng, làm suy yếu sức mạnh của Đảng và giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước ta, thực hiện các mưu đồ chính trị như phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ định các quan điểm, chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta; phủ định giá trị lịch sử dân tộc và thành quả cách mạng; xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, xã hội, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm; hạ bệ, bôi nhọ, nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước(11).

Thực tế chống tham nhũng nước ta thời gian qua có phải là “thanh trừng nội bộ”? Những kẻ tham nhũng bị xét xử đều là những quan chức vì lòng tham, đã tìm mọi cách đục khoét của công, cuối cùng đều phải cúi đầu nhận tội, “tâm phục, khẩu phục” và thừa nhận rằng pháp luật Việt Nam đã xử đúng người, đúng tội.

Khi cuộc chiến chống tham nhũng ở nước ta càng đi vào chiều sâu, diễn ra ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt, các cơ quan thi hành pháp luật càng đưa ra ánh sáng những vụ án tham nhũng lớn, xét xử những cán bộ cao cấp ở trong bộ máy nhà nước thì nhân dân càng tin tưởng, ủng hộ và hệ thống chính trị nước ta càng ổn định.

Chúng ta phải cảnh giác với các âm mưu phản động, phải nhận thức rõ rằng, đây không phải là “một cuộc đấu đá nội bộ” mà là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, để cho Đảng trong sạch hơn, bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả hơn. Đó cũng chính là thực hiện tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, giữ vững và nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.

Ba là, chúng cho rằng “để bài trừ tham nhũng ở Việt Nam thì phải thay đổi chế độ”

Đến đây, những kẻ xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của nước ta đã phơi bày bộ mặt thật của họ là những kẻ phản động, tuyên truyền cho việc thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, lật đổ chế độ XHCN ở nước ta.

Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi Đảng và Nhà nước ta chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách để bóp méo, bịa đặt với mục đích cản trở sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới; xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phá hoại Đảng và chế độ, làm tan rã mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là các nền tảng mạng xã hội. Thông qua việc thiết lập các website, blog để truyền tải thông tin xấu, độc, nhằm phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân, gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị - xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Chiêu bài chủ yếu của chúng là lợi dụng những vụ việc tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng... Qua đó, tác động, “dương Đông kích Tây” làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và kích động xã hội nảy sinh quan điểm tùy tiện, phản biện vô nguyên tắc, phản đối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin; thúc đẩy lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân (nhất là thế hệ trẻ), làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội... Lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội “nhạy cảm”, việc bắt, xử lý những cán bộ cao cấp về tội tham nhũng; xét xử số đối tượng chống đối vi phạm pháp luật, để lôi kéo, kích động người dân tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, bạo loạn, lật đổ; tuyên truyền kích động các hoạt động ly khai. Móc nối, lôi kéo các đối tượng cơ hội chính trị, có cả cán bộ đương chức, tướng lĩnh đã nghỉ hưu và thành phần chống đối là trí thức, văn nghệ sĩ, tăng cường chống Đảng, cổ xúy cho “dân chủ tư sản”, “xã hội dân sự”, “xã hội dân chủ”(12).

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và toàn dân sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong thời gian tới. Bên cạnh đó, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chống tham nhũng sẽ càng gia tăng, tinh vi và xảo quyệt hơn. Do đó, đấu tranh chống tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch về chống tham nhũng phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đó, chú trọng một số nội dung cơ bản sau:

Một là, tích cực nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân để họ nhận diện rõ âm mưu của các thế lực thù địch, vạch trần bản chất của chúng, định hướng tiếp nhận thông tin trên mạng có chọn lọc, khách quan.

Trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng, để thông tin kịp thời, chính xác, bình luận trung thực, khách quan, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề.

Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù phức tạp đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt việc định hướng thông tin, thì sự việc sẽ được giải quyết ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt, chống phá.

Nâng cao nhận thức để người dân là người dùng mạng xã hội thông thái. Khi tìm hiểu thông tin trên mạng xã hội nên chọn những trang thông tin tin cậy, uy tín; biết đặt nghi vấn đối với các thông tin; chủ động kiểm chứng, không chia sẻ khi chưa kiểm chứng thông tin...

Mỗi tổ chức, cá nhân phải nhận thức rõ phòng, chống tham nhũng là cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, kiên quyết phòng, chống với tinh thần thẳng thắng, quyết liệt. Phòng, chống tham nhũng bằng cả cơ chế, chính sách và hệ thống kiểm soát quyền lực... Có như vậy, tham nhũng, lợi ích nhóm mới bị đẩy lùi. Đồng thời, phải luôn tỉnh táo trước các âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này.

Hai là, xây dựng “mặt trận” thống nhất nhằm phản ứng linh hoạt, chủ động, kịp thời đối với mọi luận điệu tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch về cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng ta.

Mỗi cấp ủy, mỗi đảng viên, mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, trong đó những người làm công tác tuyên giáo, công tác chính trị, tư tưởng, báo chí là những chiến sĩ tiên phong. Sự lên tiếng chính thức, kịp thời của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cũng thể hiện rõ vai trò và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành trước mỗi vấn đề, sự kiện nảy sinh; đồng thời, đây là một biện pháp hiệu quả để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, tạo sức đề kháng chống lại sự tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch.

Công tác tư tưởng lý luận cần nhận diện, phát hiện và dự báo sớm một số vấn đề có thể gây bức xúc về tư tưởng và phải luôn đi trước, đi cùng trong quá trình giải quyết vụ việc. Phải có sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy, chính quyền, ban tuyên giáo các cấp, kịp thời bám sát thực tiễn, bảo đảm tính chính xác, có chiều sâu trí tuệ, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì mới hạn chế thấp nhất những tác động của thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16-9-2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng; Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 17-6-2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23-8-2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng... Đặc biệt là tổ chức triển khai mạnh mẽ Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, xây dựng lực lượng tác chiến trên không gian mạng.

Các cơ quan báo chí phải giữ vững vai trò định hướng thông tin, thực hiện kết nối, tích hợp các ứng dụng truyền thông xã hội phổ biến vào sản phẩm báo chí của mình hoặc tạo dựng những kênh truyền thông xã hội riêng nhằm tận dụng lợi thế của các phương tiện này để lan tỏa thông tin chính thức đến công chúng. Đặc biệt, kịp thời biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có nhiều thành tích, đóng góp trong cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận: 30-12-2022; Ngày bình duyệt: 15-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.457.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.47, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1986, tr.700.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.75.

(4) Nguyễn Trần Thành: Quan điểm của Đảng về phòng, chống tham nhũng trong Văn kiện Đại hội XII, lyluanchinhtri.vn, ngày 22-5-2017.

(5), (6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.145-146, 146

(7) https://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/chong-tham-nhung-khong-co-vung-cam-khong-co-ngoai-le-bat-ke-nguoi-do-la-ai-569834.html, ngày 12-12-2020.

(8) Bùi Thị Tỉnh: Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - vấn đề quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, dangcongsan.vn, ngày 16-8-2022.

(9) Lê Kiều Hoa: Pháp luật về phòng chống tham nhũng thời phong kiến, https://luatminhkhue.vn/phap-luat-thoi-phong-kien-viet-nam-ve-phong-chong-tham-nhung.aspx

(10) Hồng Nhung: Vấn nạn tham nhũng trên thế giới, http://tapchimattran.vn, ngày 28-7-2017.

(11) Anh Quang: Đấu tranh phòng, chống tham nhũng không phải là đấu đá, thanh trừng nội bộ mà là để xây dựng, chỉnh đốn và bảo vệ Đảng, Trang thông tin điện tử công an tỉnh Đắc Lắc, ngày 22-10-2021.

(12) Phạm Thị Vui: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên không gian mạng - trách nhiệm không của riêng ai, http://dukcqtw.dcs.vn/, ngày 10-8-2021.