Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đáp ứng tiêu chí trường chính trị chuẩn.

  Chất lượng đội ngũ giảng viên các trường chính trị có vai trò quan trọng,mang tính quyết định đến kết quả đào tạo. Trong những năm qua, đội ngũ giảng viên các trường chính trị đã được nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, để đáp ứng tiêu chí trường chính trị chuẩn theo Quy định số 11 -QĐ/TW ngày 19-5-2021 thì chất lượng đội ngũ giảng viên còn bộc lộ nhiều vấn đề cần khắc phục. Bài viết làm rõ thực trạng chất lượng và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường chính trị trong giai đoạn hiện nay.

Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đáp ứng tiêu chí trường chính trị chuẩn

Trường Chính trị Nghệ An - Ảnh: LLCT

Việc xây dựng trường chính trị chuẩn theo Quy định số 11-QĐ/TW ngày 19-5-2021 nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học cũng như bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay là hết sức cấp thiết. Trong đó, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận chính trị (LLCT) có ý nghĩa quyết định.

1. Tầm quan trọng của nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường chính trị

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(1), “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(2). Theo Người, cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, công tác cán bộ là vấn đề trọng yếu, có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng, góp phần quyết định thành công quá trình tổ chức và lãnh đạo cách mạng của Đảng.

Nhận thức rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của cán bộ trong sự phát triển của đất nước, Đảng ta yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có phẩm chất đạo đức cách mạng, vừa có năng lực chuyên môn. Để đáp ứng yêu cầu đó, Đảng thường xuyên quan tâm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên,… gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Để xây dựng đội ngũ cán bộ trường chính trị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, trước hết phải tập trung xây dựng đội ngũ giảng viên có phẩm chất đạo đức, có kiến thức chuyên môn, thành thạo kỹ năng giảng dạy và có thái độ đúng đắn với nghề nghiệp. Bởi, trường chính trị tỉnh là nơi đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của Đảng. Hệ thống trường chính trị thực sự là cái nôi giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, hình thành và phát triển thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản, nuôi dưỡng và phát triển nhiệt huyết cách mạng, niềm tin lý tưởng và bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở. Để làm được việc đó, những người giảng viên, cán bộ trường chính trị phải có trình độ chuyên môn sâu, nghiệp vụ vững vàng về lý luận chính trị, phải thực sự là một chuẩn mực về đạo đức, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân.

Việc xây dựng đội ngũ giảng viên trường chính trị được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Ngày 17-5-2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 587/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2019-2030 với mục tiêu cơ bản là: xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viện và các trường chính trị cấp tỉnh đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp mẫu mực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, có năng lực sư phạm, phong cách làm việc khoa học, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và hội nhập quốc tế. 

Ngày 26-9-2019, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã ban hành Kết luận số 479-KL/HVCTQG “về xây dựng trường chính trị chuẩn đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học giai đoạn hiện nay” và đưa ra dự thảo cụ thể hóa các tiêu chí của một trường chính trị chuẩn, trong đó có tiêu chí về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, giảng viên.

Ngày 19-5-2021, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 11-QĐ/TW về trường chính trị chuẩn, xác định 2 mức độ của trường chính trị chuẩn. Trong đó, đều đặt tiêu chí xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, giảng viên trường chính trị lên hàng đầu.

Như vậy, xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng là mục tiêu của các trường chính trị. Đây cũng là một tiêu chí của trường chính trị đạt chuẩn mức độ 1, 2 theo Quy định số 11-QĐ/TW về trường chính trị chuẩn.

2. Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên của các trường chính trị hiện nay

Đội ngũ giảng viên của các trường chính trị được đào tạo từ nhiều cơ sở, trong đó có nhiều giảng viên được đào tạo tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Thời gian qua, đội ngũ giảng viên trường chính trị đã đáp ứng khá tốt yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối với việc đào tạo trung cấp LLCT và các hệ đào tạo, bồi dưỡng khác. Chất lượng đội ngũ giảng viên từng bước được nâng lên, thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, phần lớn đội ngũ giảng viên có kiến thức LLCT tương đối chuyên sâu; có trình độ chuyên môn từ thạc sĩ trở lên. Giảng viên được bồi dưỡng, cập nhật thường xuyên về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng. Hơn nữa, đa số giảng viên đều đã trải qua chương trình cao cấp LLCT. Điều này đã mang lại sự tự tin nhất định cho đội ngũ giảng viên các trường chính trị khi đứng lớp để truyền thụ kiến thức và trao đổi, thảo luận với học viên.

Thứ hai, nhiều giảng viên có kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy tích cực, hấp dẫn, lôi cuốn người học. Đó là các giảng viên biết tích lũy kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, biết kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, có khả năng liên hệ giữa khoa học lý luận với khoa học chuyên ngành xã hội và nhân văn.

Thứ ba, một số giảng viên có tâm huyết với nghề, với sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy LLCT. Chính điều này đã làm cho họ đam mê nghiên cứu, học tập không ngừng để cống hiến cho sự nghiệp đào tạo cán bộ.

Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ giảng viên các trường chính trị vẫn còn những hạn chế và bất cập. Đó là:

So với Quy định số 11-QĐ/TW ngày 19-5-2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về trường chính trị chuẩn, đến nay mới có 02 trường đạt mức độ 1 trên 63 trường chính trị của cả nước (Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, Trường Chính trị tỉnh Nghệ An). Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ là 302/3.899, chiếm 7,7%; thạc sĩ là 2.354/3.899, chiếm 60%; giảng viên cao cấp là 40/3.899, chiếm hơn 1%; giảng viên chính là 863/3.899, chiếm 22%; giảng viên có bằng cao cấp lý luận chính trị là 1.661/3.899, chiếm 42%; giảng viên có bằng trung cấp lý luận chính trị là 1.122/3.899 chiếm 29%(3).

Hiện nay, vẫn còn một số giảng viên chưa tích cực nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, nắm bắt được sự phát triển của thực tế. Từ đó, dẫn đến thiếu chủ động, thậm chí lơ là công tác tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Một bộ phận giảng viên còn yếu về LLCT; năng lực nghiên cứu, vận dụng lý luận vào thực tiễn chưa cao. Một bộ phận giảng viên trẻ, tuổi đời, tuổi nghề còn ít, sự trải nghiệm, vốn sống còn hạn chế, nên trong quá trình đứng lớp chưa tự tin, khiến cho bài giảng không đạt được sức hấp dẫn, thuyết phục, thậm chí còn sơ sài.

Còn có tình trạng giảng viên thiếu tu dưỡng, dẫn đến sa sút ý chí chiến đấu, nhạt phai lý tưởng, ảnh hưởng đến uy tín trường Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(4).

3. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận chính trị

Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giảng dạy LLCT trong giai đoạn hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng

Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng là vô cùng quan trọng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(5). Người cũng nêu rõ, con người ta không phải là thánh thần, ai cũng có phần tốt, phần xấu, trong cuộc sống khó tránh hết những khuyết điểm sai lầm, vì vậy, vấn đề là phải nhận thức được những điểm yếu để sửa chữa, khơi dậy phần tốt đẹp của con người, đẩy lùi cái xấu, cái ác. Chính vì vậy, việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải thực hiện thường xuyên, bền bỉ, kiên trì, đòi hỏi sự quyết tâm cao, sự khổ công rèn luyện.

Ở bất cứ xã hội nào, nghề dạy học luôn được coi là “nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo”. Do vậy, người thầy phải không ngừng rèn đức, luyện tài để hoàn thành trọng trách vẻ vang mà xã hội tin tưởng giao phó. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức”(6). Thầy cô là tấm gương sáng trong xã hội và học viên.

Hai là, không ngừng học tập, nghiên cứu để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

Những bài giảng hay là những bài giảng gắn kết lý luận và thực tiễn. Để làm được điều đó, giảng viên LLCT phải không ngừng học tập, nghiên cứu, thông qua việc tham gia các chương trình đào tạo cao học, nghiên cứu sinh; các lớp bồi dưỡng, tập huấn…, thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

Bên cạnh đó, phải tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, góp phần luận giải những vấn đề lý luận mới, đang đặt ra. Tích cực tham gia công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, nâng cao bản lĩnh chính trị cho giảng viên lý luận chính trị

Để nâng cao bản lĩnh chính trị cho giảng viên, cần tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của giảng viên về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phối hợp với các sở, ngành, địa phương để đưa giảng viên các trường chính trị đi thực tế tại các địa phương. Thời gian thực tế ít nhất từ 03 tháng đến 01 năm. Đây là môi trường để giảng viên rèn luyện, phát huy tính tích cực và nâng cao kiến thức, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn.  

Bốn là, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động, thù địch

Vai trò của giảng viên các trường chính trị trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là vô cùng quan trọng.Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, trong đó có biểu hiện thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. Hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên thấy sai, biết có sự vi phạm mà không lên tiếng đấu tranh. Đây là cách ứng xử tiêu cực, làm giảm sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.

Quy định số 37 - QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương, quy định về những điều đảng viên không được làm, trong đó “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh” là cần thiết và là sự cụ thể, phát triển thêm một bước nội dung Nghị quyết Đại hội XII và XIII của Đảng để đẩy lùi sự thờ ơ, vô cảm trong một số cán bộ, đảng viên hiện nay.

Do đó, bên cạnh đấu tranh với những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, giảng viên LLCT cần thẳng thắng đấu tranh với những biểu hiện sai trái trong đời sống; đấu tranh trên không gian mạng… với quan điểm: thấy đúng phải được bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, để tránh sự thờ ơ, vô cảm.

Như vậy, giảng viên giảng dạy LLCT phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc về vai trò, trách nhiệm của mình; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận chính trị, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao kỹ năng sư phạm để đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chính trị chuẩn, tham gia vào mặt trận tư tưởng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

_________________

Ngày nhận: 10-02-2023; Ngày bình duyệt: 20-02-2023; Ngày duyệt đăng: 10-4-2023.

 

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. X, 309.

(3) Phụ lục số 15: Kết quả xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường chính trị, trường bộ, ngành năm 2022 (ban hành kèm theo Báo cáo số: 1747 - BC/HVCTQG ngày 15-02-2023.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.168

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.612.

(6) Hồ Chí Minh: t.12, Sđd, tr.270.

Phát huy vai trò của các trường chính trị trong tham gia tổng kết thực tiễn.

 Tham gia tổng kết thực tiễn là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là trường chính trị cấp tỉnh). Bài viết làm rõ vai trò của tổng kết thực tiễn trong phục vụ nâng cao chất lượng dạy học của trường chính trị - trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở địa phương; đồng thời, từng bước đẩy mạnh, nâng cao chất lượng tham mưu, cung cấp luận cứ xây dựng các chủ trương, chính sách, cơ chế của địa phương, cơ sở. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, bài viết đề xuất giải pháp phát huy vai trò của trường chính trị cấp tỉnh trong tham gia tổng kết thực tiễn địa phương, cơ sở, đồng thời đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của hệ thống trường chính trị cấp tỉnh hiện nay.

Phát huy vai trò của các trường chính trị trong tham gia tổng kết thực tiễn

Học viện Chính trị khu vực II - Ảnh: hcma2.hcma.vn

1. Vai trò của trường chính trị cấp tỉnh trong tham gia tổng kết thực tiễn ở địa phương, cơ sở

Xây dựng đường lối chính trị đúng là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ quá trình lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để có đường lối chính trị đúng, Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Đảng Lao động Việt Nam khi định ra đường lối chính trị của mình, luôn luôn cố gắng kết hợp chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời khiêm tốn học tập kinh nghiệm quý báu của các đảng anh em”(1). Tổng kết thực tiễn vừa cung cấp “chất liệu” cho hoạch định, bổ sung, phát triển đường lối, đồng thời cũng là cách thức, phương pháp để kiểm nghiệm đường lối sau quá trình triển khai thực hiện.

Tổng kết thực tiễn là việc khó, đòi hỏi sự tham gia hợp lực của toàn Đảng, trong đó chủ trì là những cơ quan, tổ chức chuyên trách và các đơn vị có chức năng, điều kiện nghiên cứu về khoa học lý luận chính trị. Các cơ quan tham mưu chiến lược ở Trung ương giúp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo tổng kết thực tiễn trên mọi phạm vi, tập trung ở quy mô lớn và ở tầm  khái quát lý luận. Tổng kết thực tiễn ở các địa phương đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và của ban chấp hành đảng bộ cấp tỉnh, trực tiếp là ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh. Các cơ quan tham mưu và đơn vị trực thuộc giúp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo quá trình tổng kết thực tiễn trên địa bàn.

Ngày 13-11-2018, Ban Bí thư ban hành Quy định số 09-QĐi/TW “về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, trong đó khẳng định trường chính trị cấp tỉnh là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy. Trường chính trị cấp tỉnh có chức năng: tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ, công chức, viên chức ở địa phương về lý luận chính trị - hành chính; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; kiến thức về một số lĩnh vực khác; tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương.

Tổng kết thực tiễn góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác của trường chính trị, đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, như Kết luận số 479-KL/HVCTQG ngày 26-9-2019 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nêu: “Đối với trường chính trị, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn không chỉ phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập mà quan trọng hơn phải gắn với tư vấn cho cấp ủy, chính quyền địa phương hoạch định chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh”.

Trước đây, các trường chính trị cấp tỉnh tập trung chủ yếu vào công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thì trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu khoa học và tham gia tổng kết thực tiễn được xác định là nhiệm vụ quan trọng. Trường chính trị cấp tỉnh có vai trò là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và là “trung tâm nghiên cứu lý luận” và tham gia tích cực công tác tổng kết thực tiễn của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học, tham gia tổng kết thực tiễn tác động nhau trong quá trình vận động, phát triển của các trường chính trị cấp tỉnh. Với chức năng, nhiệm vụ và nguồn nhân lực của mình, trường chính trị cấp tỉnh tham gia tổng kết thực tiễn vừa giúp cung cấp luận cứ cho cấp ủy trong hoạch định chủ trương, chính sách, đồng thời góp phần cung cấp “chất liệu” cho Trung ương trong tổng kết thực tiễn và khái quát lý luận ở tầm rộng và cao hơn.

2. Thực trạng tham gia tổng kết thực tiễn của các trường chính trị cấp tỉnh

Quy định số 09-QĐi/TW của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị cấp tỉnh xác định chức năng tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Ðảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương và trong thực tế, hoạt động này đã được Trung ương, tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo và trường chính trị cấp tỉnh thực hiện từ nhiều năm trước. Với những hình thức và mức độ khác nhau trong tham gia tổng kết thực tiễn ở địa phương, cơ sở, trường chính trị cấp tỉnh đã có những đóng góp nhất định cho việc xây dựng chủ trương, nghị quyết lãnh đạo của tỉnh ủy, thành ủy. Qua đó, góp phần cung cấp tư liệu giúp các cơ quan Trung ương tiếp tục nghiên cứu, khái quát lý luận, cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tuy nhiên, nhìn chung công tác tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học của hệ thống trường chính trị cấp tỉnh còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu, chất lượng, hiệu quả còn hạn chế. Kết luận số 117-KL/TW, ngày 20-11-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng tại các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ rõ: “hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn chưa được chú trọng”.

Thực tế cho thấy, kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn vẫn chưa ngang tầm với vị thế, tiềm năng, yêu cầu, nhiệm vụ của các trường chính trị cấp tỉnh. Hoạt động tổng kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ, giảng viên phần lớn là để phục vụ việc giảng dạy, học tập tại trường; tổng kết thực tiễn để tư vấn, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương hoạch định chủ trương, xây dựng nghị quyết, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị còn ít.

Với vị thế là đơn vị đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu lý luận chính trị ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, uy tín, vị thế của trường chính trị cấp tỉnh trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở địa phương được thể hiện, khẳng định rõ nét, tuy nhiên, trong tham gia tổng kết thực tiễn còn chưa tương xứng. Sự tham gia của trường chính trị cấp tỉnh vào tổng kết thực tiễn ở địa phương, cơ sở còn chưa sâu rộng, chưa thành nền nếp thường xuyên, hiệu quả đạt được còn khiêm tốn.

Việc Trung ương lần đầu tiên chính thức xác định chức năng, nhiệm vụ tham gia tổng kết thực tiễn địa phương của trường chính trị cấp tỉnh, một mặt thể hiện vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này, mặt khác, yêu cầu phải thúc đẩy, phát huy vai trò của trường chính trị cấp tỉnh trong tham gia hoạt động này.

3. Giải pháp đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả tham gia tổng kết thực tiễn địa phương, cơ sở của các trường chính trị cấp tỉnh

Tổng kết thực tiễn là công việc đòi hỏi nhiều yếu tố chủ quan, khách quan, trong khi “nội lực” của trường chính trị cấp tỉnh cũng như những điều kiện, tiền đề cho trường chính trị cấp tỉnh trong tham gia tổng kết thực tiễn cũng còn hạn chế. Để phát huy vai trò của trường chính trị cấp tỉnh trong tham gia tổng kết thực tiễn địa phương, cơ sở cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Trước hết, xây dựng lực lượng trực tiếp và gián tiếp tham gia. Xây dựng lực lượng trong nhà trường và lực lượng phối hợp thực hiện ngoài nhà trường; từ xây dựng con người đến tổ chức lực lượng; từ năng lực, nghiệp vụ chuyên môn đến đạo đức công vụ; từ nhận thức đến kỹ năng tổ chức thực tiễn;... Để thực hiện việc này, đòi hỏi phải có một kế hoạch, lộ trình rõ ràng, vừa tổng thể, bao quát vừa cụ thể, tuần tự, nhanh nhưng không nóng vội.

Nâng cao nhận thức của chủ thể trong tham gia tổng kết thực tiễn địa phương, cơ sở. Để tham gia tổng kết thực tiễn đúng hướng và đạt hiệu quả, trước hết, trường chính trị cấp tỉnh phải tạo lập được ở chủ thể trung tâm của hoạt động này - đội ngũ giảng viên - nhận thức đúng đắn và ngang tầm về chức năng, nhiệm vụ tham gia tổng kết thực tiễn của trường chính trị cấp tỉnh. Một trong những nguyên nhân khiến cho tổng kết thực tiễn chưa trở thành hoạt động phổ biến, thường xuyên trong hoạt động của trường chính trị cấp tỉnh là do đội ngũ giảng viên chưa ý thức đầy đủ đó là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng của mình. Vì thế, cần tiếp tục quán triệt Quy định số 09-QĐi/TW cho đội ngũ giảng viên, gắn liền với đó, cần triển khai các hoạt động tham gia tổng kết thực tiễn địa phương, cơ sở với yêu cầu nghiêm túc, thông qua hoạt động thực tiễn đó để tác động nâng cao nhận thức.

Định hướng cho đội ngũ giảng viên nhận thức đúng đắn về nội dung và hình thức tham gia tổng kết thực tiễn địa phương, cơ sở của trường chính trị cấp tỉnh. Quan niệm về tổng kết thực tiễn với những hoạt động ở tầm mức vĩ mô, khái quát hóa lý luận rất cao dẫn đến một bộ phận giảng viên xem đó là công việc của Trung ương.

Cần xác định rõ trong nhận thức của giảng viên, việc tổng kết thực tiễn là công việc của toàn hệ thống chính trị. Việc tổng kết thực tiễn nhằm đánh giá quá trình thực hiện các hoạt động trên nhiều lĩnh vực, từ đó, rút ra kinh nghiệm tạo tiền đề cho việc hoạch định phương hướng, bước đi trong tương lai. Ở các trường chính trị cấp tỉnh, tổng kết thực tiễn thể hiện ngay trong quá trình giảng viên liên hệ thực tế vào giảng dạy, ở hoạt động đi nghiên cứu thực tế hằng năm, ở quá trình thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học,...

Đối với các trường chính trị cấp tỉnh, hoạt động tổng kết thực tiễn không chỉ được xem một cách giới hạn là để phục vụ cho hoạt động nội bộ nhà trường mà còn phục vụ cho hoạch định chủ trương, chính sách phát triển địa phương. Hơn nữa, trong những điều kiện nhất định, cần hướng việc tham gia vào tổng kết thực tiễn vùng và cả nước góp phần xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Như vậy, ngoài việc quán triệt, nâng cao nhận thức về nội dung, hình thức tham gia tổng kết thực tiễn cho chủ thể thực hiện, cần chú ý đến tổ chức lực lượng thực hiện phù hợp. Ở phạm vi nội bộ thì tất cả giảng viên thực hiện; phạm vi tỉnh, vùng, cả nước thì phải sàng lọc, tuyển chọn người đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu.

Thứ hai, phát huy vai trò của tập thể lãnh đạo trường chính trị cấp tỉnh, nhất là người đứng đầu trong việc nâng cao nhận thức của tập thể nhà trường về công tác tổng kết thực tiễn. Từng thành viên ban giám hiệu, đảng ủy các trường chính trị phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong lãnh đạo và tích cực tham gia thực hiện tổng kết thực tiễn để trở thành tấm gương tác động, cải biến, nâng cao nhận thức về chức năng, nhiệm vụ tổng kết thực tiễn. Mỗi thành viên đảng ủy phụ trách các chi bộ phải trở thành “đầu tàu” định hướng, củng cố và phát triển nhận thức của đảng viên, lan tỏa nhận thức đúng đắn trong toàn nhà trường.

Thứ ba, nâng cao năng lực, phẩm chất chủ thể thực hiện. Để chủ thể am hiểu và có năng lực tư duy lý luận tốt, đủ khả năng tham gia hoạt động thực tiễn, cần quan tâm làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, bài bản, thực chất. Đồng thời, thông qua hoạt động tổng kết thực tiễn để tiếp tục củng cố và phát triển năng lực này. Mặt khác, phải đặt ra và kiểm soát chặt chẽ yêu cầu tăng cường liên hệ thực tiễn trong quá trình dạy học, để giảng viên phải luôn trong tư thế phấn đấu không ngừng nhằm nâng cao năng lực và phương pháp thực hiện. Khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để giảng viên tham gia sâu rộng vào hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn của địa phương, sở ngành trên địa bàn để thông qua đó nâng cao hiểu biết và kỹ năng, kinh nghiệm tổng kết thực tiễn.

Rèn luyện năng lực tổng kết thực tiễn của đội ngũ giảng viên phải hướng đến trở thành một nhu cầu tự giác trong hoạt động chuyên môn. Để đạt được điều đó, một trong những cách làm cần được quan tâm vận dụng là lồng ghép những yêu cầu về tổng kết thực tiễn trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng giảng viên cũng như trong quá trình giảng viên thực hiện nhiệm vụ công tác. Trong đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, khi cử tham gia các khóa học, nhất là đào tạo sau đại học, cần định hướng cho cán bộ được cử đi học ưu tiên lựa chọn đề tài luận văn, luận án gắn lý luận với thực tiễn, nhất là thực tiễn của cơ quan, địa phương. Quá trình làm luận văn, luận án cũng chính là quá trình tham gia tổng kết thực tiễn, qua đó, rèn luyện năng lực thực hành công tác này ngay trong quá trình được đào tạo, bồi dưỡng. Để khuyến khích việc lựa chọn đề tài luận văn, luận án gắn với tổng kết thực tiễn địa phương, cơ sở có thể nghiên cứu cơ chế để công nhận như là một đề tài nghiên cứu khoa học ở cấp độ thích hợp. Với việc công nhận này, người thực hiện có thêm “điểm” công trình khoa học, từ đó họ sẽ quan tâm bám sát tổng kết thực tiễn địa phương, cơ sở trong lựa chọn đề tài luận văn, luận án cũng như nghiên cứu nghiêm túc để sản phẩm khoa học có chất lượng.

Trong công tác thường xuyên, bên cạnh các hoạt động liên hệ thực tiễn vào bài giảng và đi nghiên cứu thực tế định kỳ hằng năm, trường chính trị cấp tỉnh cần đẩy mạnh các hoạt động khoa học thông qua tăng số lượng và nâng dần chất lượng các sinh hoạt khoa học, thực hiện đề tài nghiên cứu, hội thảo khoa học. Khuyến khích các chủ đề nghiên cứu ứng dụng bằng cách ấn định tỷ lệ hai phần ba trong tổng số đề tài, hội thảo, sinh hoạt khoa học hàng năm và hỗ trợ kinh phí nhiều hơn.

Trong đánh giá chất lượng giảng dạy của mỗi giảng viên, cần chú trọng nhiều hơn đến yếu tố thực tiễn - mức độ giảng viên liên hệ thực tiễn và giảng viên khai thác, phát huy khả năng cung cấp thực tiễn của học viên trong tiết giảng. Đây là một trong những tác động rất quan trọng buộc giảng viên phải tích cực đầu tư nghiên cứu để liên hệ thực tiễn cũng như tương tác với học viên để khai thác “nguồn” thực tiễn từ họ.

Thứ tư, phát huy vai trò của học viên trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổng kết thực tiễn địa phương, cơ sở bằng cách gia tăng nguồn tài liệu tổng kết thực tiễn các địa phương, ban, ngành từ sưu tầm của học viên. Đến trường dự học, mỗi học viên đóng góp cho nhà trường một số tài liệu (văn kiện đại hội tổ chức đảng, chương trình, kế hoạch, báo cáo...) có vị trí quan trọng đối với hoạt động của cơ quan công tác hoặc địa phương, có mối liên hệ sát với lý thuyết trong nội dung, chương trình giảng dạy của trường chính trị.

Với cách làm này, nguồn tài liệu địa phương, cơ sở trong thư viện của các trường chính trị sẽ dồi dào, đa dạng, phục vụ  cho nhu cầu nghiên cứu thực tiễn để liên hệ, vận dụng trong giảng dạy cũng như tham khảo trong thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học.

Tăng cường thảo luận với phương pháp dạy học tích cực để phát huy việc tham gia ý kiến của học viên, nhất là những ý kiến cung cấp thực tiễn mà họ đã trải nghiệm, qua đó bổ sung, làm giàu vốn thực tiễn cho đội ngũ giảng viên.

Việc ra đề thi cần chú ý gắn lý thuyết với liên hệ thực tiễn. Tổ chức các buổi sinh hoạt khoa học và cử học viên chủ trì cho các tiết thảo luận ở cuối mỗi phần học, qua đó, cung cấp dữ liệu về thực tiễn cho giảng viên. Mặt khác, cần tăng cường quản lý quá trình triển khai thực hiện và đánh giá đi nghiên cứu thực tế của học viên để bảo đảm thực chất, đạt mục tiêu.

Thứ năm, xác lập rõ cơ chế phối hợp giữa trường chính trị cấp tỉnh với các địa phương, sở, ban, ngành ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học. Tỉnh ủy, thành ủy cần chủ trì lãnh đạo xây dựng cơ chế phối hợp giữa trường chính trị với các huyện, thị, thành ủy và sở, ban, ngành trên địa bàn trong tất cả các mặt hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, xác định rõ nhiệm vụ của các bên. Trường chính trị khi đã có đội ngũ cán bộ nghiên cứu mạnh sẽ chủ yếu đảm trách các hoạt động học thuật của quá trình nghiên cứu; các địa phương, ban, ngành sẽ phối hợp thực hiện chủ yếu ở cung cấp cứ liệu thực tiễn, kinh nghiệm và nhận định rút ra qua trải nghiệm thực tiễn, cơ sở vật chất và phương tiện cần thiết. Các sở, ngành và địa phương chia sẻ kinh phí thực hiện tùy theo tính chất, yêu cầu, thỏa thuận đặt hằng với trường chính trị. Điều này cũng khá thuận lợi vì trong ngân sách được cấp hàng năm, các địa phương đều có một tỷ lệ nhất định dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Đây là nguồn lực tài chính cần được tận dụng thông qua thiết lập cơ chế phối hợp giữa trường chính trị với các ngành, các cấp ở địa phương.

Thứ sáu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì phối hợp với các tỉnh ủy, thành ủy trong tổng kết thực tiễn ở các địa phương. Trên cơ sở đó, Học viện tạo điều kiện cho trường chính trị tham gia thực hiện hoạt động này. Mặt khác, Học viện tăng cường giúp các trường chính trị trong bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu có trình độ chuyên môn và tư duy lý luận, kỹ năng nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn. Những đề tài nghiên cứu, tổng kết thực tiễn của Học viện ở các địa phương nên tạo điều kiện cho trường chính trị nơi đó tham gia để tạo môi trường rèn luyện, từng bước nâng cao năng lực.

Học viện không dừng lại ở việc tham mưu cho Ban Bí thư ban hành Quy định 09-QĐi/TW, mà còn có những chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể để các trường chính trị có sự thống nhất trong nhận thức và triển khai thực hiện. Trên cơ sở đó, Học viện cần tiếp tục quan tâm, chỉ đạo để các trường chính trị thực hiện có hiệu quả hơn nhiệm vụ này.

Học viện chủ trì xây dựng cơ chế phối hợp giữa các trường chính trị trong cùng khu vực để hình thành đội ngũ tham gia nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn ở địa bàn vùng. Sự tương tác, chia sẻ, phối hợp giữa các trường chính trị là rất cần thiết để tạo lập môi trường, cọ xát và hỗ trợ nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn của mỗi trường. Bên cạnh đó, các trường chính trị cần tích cực, chủ động trong trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, phối hợp thực hiện với các cơ sở nghiên cứu khoa học và giáo dục - đào tạo khác để mở rộng môi trường khoa học.

Tham gia tổng kết thực tiễn địa phương, cơ sở vừa là nhiệm vụ, vừa là biện pháp quan trọng để các trường chính trị cấp tỉnh vươn lên xứng đáng với vị thế là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương. Đồng thời, tham gia tích cực, có hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, góp phần xây dựng chủ trương, chính sách ở địa phương.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận bài: 16-01-2023; Ngày bình duyệt: 11-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.395-396.

NGƯỜI ĐỌC BẢN TIN CHIẾN THẮNG MÙA XUÂN 30/4/1975NGƯỜI ĐỌC BẢN TIN CHIẾN THẮNG MÙA XUÂN 30/4/1975

 15 phút sau khi xe tăng của Quân đội Nhân dân Việt Nam húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập và Dương Văn Minh chính thức đầu hàng… bản tin chiến thắng Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong ngày 30/4/1975 đã được Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Kim Cúc đọc lên trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam.

MAY MẮN ĐƯỢC LỊCH SỬ LỰA CHỌN
“Mời các bạn nghe tin chiến thắng chúng tôi mới nhận được. Đúng 11 giờ 30 phút, quân ta tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm Dinh Độc Lập. Bộ Tổng tham mưu ngụy - Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng”- đây là bản tin chiến thắng ngắn gọn, chỉ chiếm gần 1 phút trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam cách đây 44 năm. Gần 1 phút đọc bản tin trong hàng nghìn phút của nghề phát thanh viên, nhưng với NSƯT Kim Cúc, đó là 1 phút lịch sử của cuộc đời bà.
Giọng bà vẫn rung lên khi đọc lại từng chữ của bản tin chiến thắng ngày ấy và cho đến hôm nay, bà chia sẻ rằng chưa từng quên cảm xúc trong ngày 30/4/1975.
NSƯT Kim Cúc kể: “Hôm ấy, vào đúng ca trực nhận tin của phóng viên Anh Trang. Cô Trang nhận được tin từ Bộ Tổng tham mưu báo có tin chiến thắng, đề nghị sang nhận ngay, lại được nhắc nhở tin đặc biệt quan trọng. Bình thường các phóng viên sẽ đạp xe sang Lý Nam Đế nhận tin nhưng hôm ấy cô Trang được điều động ô tô.
Vừa đến đầu đường Lý Nam Đế không hiểu vì lý do gì, xe phanh gấp, cô Trang bị đập đầu vào xe, chảy máu đầu. Dù đau nhưng cô Trang vẫn nén đau, ôm đầu chạy đến Bộ Tổng tham mưu nhận tin. Khi về, một tay cô cầm tờ tin chiến thắng, một tay ôm đầu, chạy đến gần cầu thang của Đài Tiếng nói Việt Nam thì cô gục xuống ngất xỉu vì máu chảy nhiều quá”.
Nhận bản tin từ tay phóng viên Anh Trang, phát thanh viên Kim Cúc khi ấy xuống ngay hầm phát trực tiếp, đọc thẳng tin chiến thắng. Bà cho biết, đến tận khi cầm tờ bản tin trên tay bà mới biết đó là tin giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
“Lúc đó tôi run người vì hạnh phúc và vui sướng. Nhưng để truyền tin đến hàng triệu đồng bào, tôi phải kìm nén cảm xúc”- NSƯT Kim Cúc kể.
Hôm ấy, cùng ca trực với bà còn có phát thanh viên Kim Túy, người miền Nam. Hai người cùng hồi hộp khi ngồi xuống chiếc ghế đọc, phát trực tiếp lên sóng phát thanh, trước mặt là dòng chữ “hàng triệu người đang nghe ta” thì chỉ biết động viên nhau kìm nén cảm xúc. “Khi đó, hai chị em ngồi cạnh nhau, nắm tay nhau để cùng giữ bình tĩnh và cũng là cách để nhắc nhở nhau, mọi cảm xúc, tình cảm đều phải kìm nén để cảm xúc không được dâng lên, có thể ảnh hưởng đến dây thanh đới, tin chiến thắng sẽ không được đọc trọn vẹn. Và điều quan trọng nhất, phải đọc để truyền tải được sự hào hùng của chiến thắng, sự hào sảng và tâm thế của người chiến thắng”- NSƯT Kim Cúc bồi hồi.
“Chị Kim Túy đứng trước micro, bắt đầu cất giọng đọc. Giọng chị thật truyền cảm. Vừa đọc, chị vừa nắm chặt tay tôi không rời. Chưa bao giờ tôi thấy chị đọc truyền cảm đến thế, điều đó xóa tan nỗi lo âu của tôi là chị đang xúc động nên có thể đọc không rõ lời. Khi vừa dứt bản tin, chị chuyển ngay sang để tôi đọc lần thứ hai. Khi đó tôi cũng phải nắm tay chị Túy để giữ bình tĩnh khi đọc”- NSƯT nhớ lại.
NSƯT Kim Cúc chia sẻ: “được đọc tin chiến thắng 30/4/1975 với bà là một may mắn của đời làm nghề phát thanh viên. Lịch sử đã chọn thời điểm ấy tôi trực và đọc tin, đó không phải là vinh dự mà tôi tự tạo được cho mình mà là vinh dự được lịch sử lựa chọn”.
Ngay sau khi bản tin chiến thắng phát trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, người dân Hà Nội đã đổ ra đường reo hò, phất cờ, mừng chiến thắng. “Tin chiến thắng được người Hà Nội nghe qua loa lắp đặt trong nhà (thường để nghe báo động máy bay), ngay khi bản tin phát xong, tôi đã thấy bên kia đường mọi người hoan hô, vỗ tay, và hét vang: Chiến thắng rồi! Đại sứ quán Cu-Ba ở ngay gần phòng thu của Đài, họ cũng đổ ra đường nhảy múa, cầm xoong cầm nồi khua tứ tung, và họ cũng hô vang “Viva Việt Nam! Viva Việt Nam (Việt Nam muôn năm)”. Rồi suốt những ngày sau đó, cả Hà Nội không ngủ, cả Hà Nội vui như hội. Ai nấy đều mặc quần áo đẹp, đi ra đường, ra Bờ Hồ để ăn mừng chiến thắng… Cả đất nước hân hoan, rộn ràng mừng lịch sử dân tộc sang trang mới”- NSƯT Kim Cúc kể lại.
VẪN TRUYỀN LỬA QUA GIỌNG ĐỌC
Không chỉ là “người được lịch sử lựa chọn” để đọc bản tin chiến thắng trong ngày giải phóng 30/4/1975, mà trước đó, trong suốt những ngày tháng cao điểm của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các bản tin chiến thắng được phát đi liên tục qua giọng đọc của bà đã trở thành những ký ức không thể nào quên.
Bà kể, mỗi khi có tin bắn rơi máy bay hoặc bắt được một tên địch, Bộ Tổng tham mưu lại thông báo cho các phóng viên đến nhận tin, chuyển đến đài và đọc luôn. Những bản tin ngắn “Xin mời các bạn nghe tin chiến thắng chúng tôi vừa mới nhận được…” được phát liên tục vào mỗi đầu giờ.
Mỗi bản tin được phát đi tuy chỉ chưa đầy 30 giây, nhưng chứa đựng trong đó là biết bao mong mỏi của hàng triệu con tim Việt Nam đang cùng một ý chí hướng về miền Nam ruột thịt. Và rồi sứ mệnh lịch sử đã chọn bà, đó không chỉ là niềm hạnh phúc, tự hào mà với bà cũng như hàng triệu trái tim được nghe tin chiến thắng qua giọng đọc của bà thời điểm đó và bây giờ cũng sẽ mãi không thể nào quên…
NSƯT Kim Cúc chia sẻ, bà đã đọc rất nhiều bản tin. Ngoài bản tin chiến thắng lịch sử đến bây giờ vẫn như mới xảy ra ngày hôm qua, bà cũng rất ấn tượng với những bản tin đọc cho ngụy quyền Sài Gòn. Để có thể đọc chạm đến tâm can, tình cảm của “những người bên kia”, bà đã phải nhiều lần tiếp xúc với tù nhân Mỹ để tìm hiểu và để hiểu họ hơn.
Bởi mục đích tối thượng là truyền tải thông tin và cảm xúc vào những bản tin của mình, để những bản tin ấy “bắn thẳng vào trái tim” những người lính bên kia. Bà còn nhớ hình ảnh những người lính cầm dao còn lúng túng, chứng tỏ họ là những công tử được chiều chuộng nhưng vì số phận, họ buộc phải cầm súng…
Chính từ những quan sát và suy nghĩ này, mỗi khi đọc bản tin cho ngụy quyền, từng lời bà vang lên như thủ thỉ, tâm tình, khuyên nhủ… Nhiều “người lính bên kia” đã từng nói với bà rằng, mỗi khi nghe những gì bà đọc qua đài tiếng nói, họ đều muốn buông súng quay về.
Sau giải phóng miền Nam, thính giả của Đài Tiếng nói Việt Nam trên cả nước hẳn không thể quên được giọng đọc truyện đêm khuya của NSƯT Kim Cúc vào 22 giờ đêm. “Sau đây mời thính giả nghe chương trình Đọc truyện đêm khuya của Đài Tiếng nói Việt Nam”. Câu nói ấy đã trở thành một phần ký ức của thế hệ 7x trở về trước.
Bây giờ, ở thất thập cổ lai hy, nhưng NSƯT Kim Cúc vẫn bận rộn với nghề phát thanh viên. Không chỉ giảng dạy thêm tại trường Đại học sân khấu Điện ảnh, bà cũng đi lại liên tiếp giữa hai miền Nam, Bắc để hướng dẫn, đào tạo nghề phát thanh. Bà chia sẻ, năng lượng để luôn có thể sáng tạo, hứng khởi mỗi ngày là niềm tin, niềm vui với cuộc sống, với nghề mình đã lựa chọn./.
--Sưu tầm--

ANH HÙNG BẾ VĂN ĐÀN - LẤY THÂN MÌNH LÀM GIÁ SÚNG!!!


Thân làm giá súng, thân làm cành xuân;

Đang khi trận địa gian truân,

Vai khiêng núi lửa diệt quân bạo tàn.

Quân ta cờ thắm khải hoàn,


Mà người chiến sĩ đã tàn thịt xương.

Mộ Bế Văn Đàn trong sáng trong gương:

Hai đế giày cao su rách sờn.

Giản đơn một cây bút máy.


Một túi ni lông.

Tám khuy cúc áo.

Một mảnh đại bác - còn lại trong người.

Tất cả tình anh đã hiến cho đời.


Không giữ cho mình, dù chỉ là hài cốt.

Mộ Bế Văn Đàn trong sáng trong gương.

Mộ Bế Văn Đàn trong viện Bảo tàng quân đội.

Khách viếng qua đây


Dừng chân đứng lại:

Nơi đây mộ Bế Văn Đàn,

Nơi đây gió nội trăng ngàn,

Nơi đây chim ca hoa nở,


Đất tổ quốc là một nền nhung đỏ,

Nơi đây bốn mùa muôn thuở vãng lai...

Tất cả tinh anh đã hiến cho đời...

_______

Thơ: Xuân Diệu 


Để góp phần vào sự thành công của chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) đã có nhiều tấm gương anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ, những người chiến sỹ mang trên mình một tình yêu Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc như: Bế Văn Đàn lấy vai làm giá súng; Tô Vĩnh Diện dùng thân chèn pháo; Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai; Trần Can hiên ngang dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền duyên để xông vào sở chỉ huy, rồi cắm cờ lên lô cốt Him Lan…

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” mãi mãi là niềm tự hào, là biểu tượng sáng ngời của ý chí quyết tâm và sức mạnh Việt Nam. Chiến thắng ấy đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”.

Dù trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ dù phải hy sinh cả tính mạng khi còn ở tuổi thanh xuân các anh vẫn luôn nêu cao tinh thần bất khuất, chí khí anh hùng, lẫm liệt để gìn giữ lý tưởng sống mà họ đã chọn và truyền lại cho nhiều thế hệ thanh niên viết tiếp trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam.

NTT.

BỘ ĐỘI CỤ HỒ 🌹❤️🌺🇻🇳❤🌹❤️🌺🇻🇳❤🇻🇳❤

 

Ngẩng cao đầu người lính tự hào

Cùng cả nước vui ngày chiến thắng

Nhưng ẩn chứa trong lòng khoảng lặng

Còn đồng đội đi mãi… chưa về.


Sau chiến tranh trên mỗi miền quê

Qua thời gian... biết bao thay đổi

Những dự tính đời thường mong đợi

Cuộc sống mới – Một chặng đường dài


Về đời thường hướng tới tương lai

Tuy khó khăn nhọc nhằn vất vả

Nhưng truyền thống tinh thần cao cả

“ Quyết chiến – Quyết thắng ” đậm trong lòng


Đến hôm nay những điều ước mong

Đã làm được dù chưa thoả mãn

Lòng tin người lính không tản mạn

Vẫn sáng danh “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”.

Thơ: Trần Duy Hạnh

NTTst

Tự do phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật


Ngày 24/4, trang facobook Việt Tân đăng bài: Bàn về “Tự do trong khuôn khổ pháp luật”, cho rằng:  Đây là một lý luận kinh điển, nó như một sợi dây thừng buộc vào mũi và khiến mọi ý chí phản kháng bị dập tắt, nó phân biệt loại tự do trong khuôn khổ cho phép với một loại khác được định danh là “tự do quá trớn”. Thực chất, đây là sự xuyên tạc, nố bịch những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong thúc đẩy, bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân.

Có lẽ Việt Tân không biết hoặc cố tình không biết về bản chất của tự do chân chính ở bất cứ nhà nước pháp quyền nào cũng đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật; không thể có tự do “vô chính phủ”, muốn làm gì thì làm. Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay được tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền. Bản chất của nhà nước pháp quyền là tính thượng tôn pháp luật. Pháp luật vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quyền tự do của công dân. Quyền tự do của công dân trong nhà nước pháp quyền được bảo đảm bằng pháp luật. Mọi người sống trong nhà nước pháp quyền được tự do trong khuôn khổ của pháp luật.

Trên thực tế, không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do của con người là tuyệt đối. Bởi lẽ, nếu tự do tuyệt đối thì xã hội sẽ bị loạn khi tự do bắn giết, tự do cướp bóc, tự do hãm hiếp, v.v.  Quyền tự do của mỗi người trong từng quốc gia đều được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật của quốc gia đó. Điển hình là, nước Mỹ, quốc gia mà các nhà “dân chủ” cho là “hình mẫu của tự do”, nhưng tại Điều 2385, Chương 115, Bộ luật Hình sự quy định nghiêm cấm mọi hành vi “in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực”. Theo Hiến pháp Mỹ thì Tòa án tối cao được phép đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện báo chí có hành vi phá hoại, lăng nhục, vu khống, xúc xiểm nhà nước, xã hội và cá nhân. Vì thế, hằng năm có hàng trăm các văn bản lớn nhỏ khác nhau được Tòa án tối cao ban hành để điều hành và kiểm soát báo chí ở Mỹ.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân. Tại Việt Nam, quyền tự do, dân chủ của người dân Việt Nam ngày càng được mở rộng, phù hợp với luật pháp quốc tế; quyền tự do chân chính của người dân luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.  So với hiến pháp của nhiều quốc gia, Hiến pháp (năm 2013) của Việt Nam là bản Hiến pháp ghi nhận số lượng cao về quyền con người, trong đó có quyền tự do (đã nâng tầm chế định quyền con người, quyền công dân thành một chương riêng). Sự tiến bộ này đã được nhiều học giả trên thế giới ghi nhận. Đặc biệt, Điều 20 và 21 của Hiến pháp (năm 2013) đã mở rộng chủ thể và nội dung quyền được bảo vệ về đời tư của người dân, khi quy định rõ: đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của mọi người đều được bảo vệ. Hiến pháp (năm 2013) còn chế định một số quyền mới, như: quyền sống (Điều 19); các quyền về nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (khoản 2, Điều 17). Ở Điều 25, đã thay chữ “được” bằng cụm từ “tiếp cận”; nhờ quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin, cả về các quyền thực định cũng như về hoạt động tư pháp, để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật.

Triển khai và cụ thể hóa những nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến quyền con người, phù hợp với “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị” năm 1966, nhằm nâng cao hơn nữa quyền tự do trong khuôn khổ pháp luật của người dân, Việt Nam đã xây dựng một số dự án luật mới, như: Luật Trưng cầu dân ý (năm 2015), Luật Tiếp cận thông tin (2016), Luật Báo chí (năm 2016), Luật An ninh mạng năm 2018, v.v.

Như vậy, ở Việt Nam quyền tự do của người dân đã và đang được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Lẽ tất nhiên, việc hoàn thiện thể chế, mở rộng hơn nữa các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của chúng ta. Thế nhưng, dù có mở rộng thì sự tự do ấy cũng phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật. Không thể có thứ tự do tuyệt đối, tự do “vô chính phủ”, đứng ngoài pháp luật như các nhà dân chủ rêu rao, cổ xúy.

Xin mượn câu ngạn ngữ nỗi tiếng của nước Pháp: “Tự do tuyệt đối của một cá nhân là điên cuồng, tự do tuyệt đối của một quốc gia là hỗn loạn”, để làm lời kết cho bài viết này./.

 NTTst

HRW lại lộng ngôn

 



         Lợi dụng việc sắp tới đây tại Hà Nội sẽ diễn ra cuộc đối thoại nhân quyền song phương Australia - Việt Nam lần thứ 18, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW) đã ra thông cáo đăng tải ngày 21/4, trên trang facebook Chân Trời Mới Media, kêu gọi: “Chính phủ Australia phải chấm dứt tình trạng làm ngơ trước hồ sơ yếu kém của Việt Nam và sử dụng nhân quyền để khởi động quá trình trao đổi nghiêm túc và có ý nghĩa về cải cách nhân quyền. Việc thiết yếu đối với Australia là gây sức ép về phóng thích tù nhân chính trị,… ”. Đây là sự lộng ngôn, chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam của “HRW”.

Lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam - Australia đã có từ lâu, được xây dựng dựa trên nền tảng là sự hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Đến nay, sau 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (năm 1973 - 2023), hai nước đã ký kết nhiều văn bản hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trở thành đối tác chiến lược của nhau. Chuyến thăm của Toàn quyền Australia David Hurley đến Việt Nam mới đây đã góp phần tăng cường hiểu biết, gắn kết hai nước ở tất cả các cấp, củng cố lòng tin chiến lược ngày càng phát triển; khẳng định mối quan hệ tốt đẹp, tin tưởng lẫn nhau giữa hai nhà nước và nhân dân Việt Nam - Australia. Do đó, việc HRW nêu: Chính phủ Australia phải chấm dứt tình trạng làm ngơ trước hồ sơ yếu kém của Việt Nam và sử dụng nhân quyền để khởi động quá trình trao đổi nghiêm túc và có ý nghĩa về cải cách nhân quyền, sẽ không đạt được mục đích, mà càng bộc lộ bản chất chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ nước khác.

 Trên thực tế, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tích cực, chủ động tham gia ký kết, thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế về nhân quyền; nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm các quyền của công dân. Đồng thời, đảm bảo thực thi tốt nhất các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, như: quyền tự do, dân chủ, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng, v.v. Nhờ đó, đã không ngừng tăng cường, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy vai trò to lớn trong xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thông qua việc Việt Nam đang đảm nhiệm và phát huy tốt vai trò thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023 - 2025. 

Tuy nhiên, trong tiến trình xây dựng, phát triển đất nước, đã xuất hiện một số phần tử đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Họ cố tình lợi dụng hoặc núp bóng dưới chiêu trò đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”,… có hành động, việc làm vi phạm pháp luật và đã bị các cơ quan thực thi pháp luật xử lý nghiêm minh, khách quan, đúng người đúng tội. Đây không phải là tù nhân chính trị hay tù nhân lương tâm, nên HRW yêu cầu: Việc thiết yếu đối với Australia là gây sức ép về phóng thích tù nhân chính trị,… là phi lý, không có cơ sở.

Cũng cần nói thêm rằng, HRW chỉ là tổ chức phi chính phủ, nên không có tư cách tác động, can thiệp vào công việc nội bộ của các nước độc lập, có chủ quyền và càng không thể gây sức ép với Chính phủ Australia để họ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Điều này, sẽ vi phạm vào các công ước, luật pháp quốc tế. Chính vì thế, những hành động, việc làm của HRW là hoàn toàn sai trái, cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.

NTTst

Việt Tân lại diễn trò

 



           Ngày 20/4/2023, trên trang facebook Chân trời mới Media đăng tin London: Lễ giổ tổ Hùng Vương và đại hội thường niên của Hội thân hữu Việt Tân Anh quốc của Anh Nguyễn - Thảo Trương. Theo nội dung tin, bà Kim Lê, Chủ tịch Hội thân hữu VT UK ghi nhận sự hoạt động, đóng góp của các thành viên của Hội thân hữu VT tại UK và sự đồng hành của Hội với cơ sở Việt Tân Anh quốc tại các sự kiện trong năm 2022, như: biểu tình ngày quốc hận 30/4, ngày quốc tế Nhân quyền 10/12; yểm trợ gia đình tù nhân lương tâm, những người hy sinh sự tự do của mình để lên tiếng phản đối sự bất công và đòi quyền tự do dân chủ cho người dân Việt Nam; hội thảo, hội luận về tình hình Việt Nam. Cùng với đó, tin này cũng đưa, ông Huy Phan, một diễn giả đến từ nước Mỹ đã chia sẻ cho các bạn trẻ hiểu thêm về tội ác bán nước của Đảng cộng sản Việt Nam.

Đọc tin, ai cũng biết đây là những chiêu trò của Hội thân hữu VT tại UK, khi chúng lợi dụng sự kiện Quốc giỗ của Việt Nam tập hợp những đối tượng thù địch, phần tử phản động đang sống lưu vong tại nước ngoài chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam.

Trước hết, ngày 30/4/1975 là ngày nhân dân Việt Nam đánh bại quân xâm lược và bè lũ tay sai, thống nhất đất nước - “Bắc Nam sum họp một nhà”. Với dân tộc Việt Nam, ngày 30/4 hằng năm là Ngày Hội thống nhất non sông chứ không phải ngày quốc hận như Việt Tân rêu rao. Người dân Việt Nam ở trong nước hay kiều bào ta ở nước ngoài đều có quyền tự do, quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, vì vậy, người dân Việt Nam không cần những tổ chức phản động như Việt Tân lên tiếng về tự do; và cũng không cần bất kỳ một tổ chức cá nhân nào phải hội thảo, thảo luận về tình hình Việt Nam.

Thứ hai, ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” như Việt Tân cùng các tổ chức phản động khác hay gọi. Những đối tượng bị bắt và xử lý, phạt tù giam đều là những đối tượng vi phạm Hiến pháp, pháp luật Việt Nam; là những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà”, luôn có những bài viết tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam. Những đối tượng này bị xử lý theo pháp luật Việt Nam là điều không phải bàn cãi.

Thứ ba, Huy Phan là đối tượng phản động sống lưu vong tại Mỹ, cho nên y mới sàm ngôn, “nói càn”. Thực tiễn minh chứng: từ khi thành lập đế nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước và nhân dân Việt Nam đã giành và giữ vững nền độc lập, từng bước xây dựng, phát triển đất nước, đồng thời có vị thế, uy tín trên trường quốc tế, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Nổi bật là, Việt Nam hai lần làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009 và 2020 - 2021); là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (2022), v.v.

Sự thực trên là không thể bác bỏ! Vậy nên, Tre Việt đề nghị các cơ quan chức năng của Việt Nam phối hợp chặt chẽ với các quốc gia, vùng lãnh thổ, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân, tuyên truyền phát tán tài liệu và có hành động chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam./.

NTTst

Không ai có thể xuyên tạc được ý nghĩa và giá trị của ngày Chiến thắng 30/4/1975

 



         Như đã trở thành thông lệ, kể từ sau năm 1975, cứ vào dịp kỷ niệm ngày Chiến thắng 30/4 hằng năm, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa chào mừng sự kiện lịch sử trọng đại này của đất nước, thì một số đài, báo và các trang mạng nước ngoài, vốn không có thiện cảm với chế độ chính trị hiện nay ở Việt Nam lại tổ chức các bài viết để phủ nhận giá trị ngày Chiến thắng 30/4/1975 – Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cũng như xuyên tạc bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Và năm nay cũng không phải ngoại lệ. Ngày 22/4, trang facebook Việt Tân đăng bài: “Ý nghĩa thực sự của cuộc Chiến thắng 30/4/1975” của Vũ Việt, xuyên tạc rằng: “Sau ngày 30/4/1975 mọi công dân Việt Nam bị trở thành người dân thấp cổ bé họng. Không chỉ là một thể chế bị xóa bỏ, hơn thế giá trị và nền tảng xây dựng một Quốc gia Việt Nam hiện đại bị xóa sạch... Bởi thế ngày 30/4/1975 Miền Nam đã không hề được giải phóng”. Đồng thời, y phủ nhận những thành tựu của Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bằng luận điệu nố bịch rằng: “Hiện nay, xã hội Việt Nam tràn ngập điều nhảm nhí... thua xa các nước láng giềng Đông Nam Á”.

           Khi nói về ý nghĩa và giá trị của ngày Chiến thắng 30/4/1975, tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam coi Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; đó là thắng lợi to lớn nhất, trọn vẹn nhất, vĩ đại nhất trong hành trình thực hiện mục tiêu cách mạng do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc. Nhân dân ta đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất trong thế kỷ XX của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho đất nước; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước; mở ra thời kỳ phát triển mới của dân tộc - thời kỳ Tổ quốc ta được hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối, cả nước được sống trong hòa bình, tự do để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Sau thắng lợi này, Đảng và nhân dân ta tập trung mọi nguồn lực vật chất và tinh thần để tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới, đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, được nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới thừa nhận, ngợi ca. Về quyền con người, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) đã dành chương II với 36 điều hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Pháp luật Việt Nam bảo đảm mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe,… không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trong thực thi, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người, như: Công ước về Quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, v.v. Trong phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Ngày nay, đất nước đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Theo các số liệu của Ngân hàng Thế giới, năm 2020 GDP của Việt Nam đạt trên 340 tỷ USD, vượt qua Singapore (337,5 tỷ USD) và Malaysia (336,3 tỷ USD); GDP bình quân đầu người đạt 3.500 USD; Việt Nam nằm trong tốp 40 nền kinh tế lớn của thế giới, đứng thứ 4 trong ASEAN; tốp 10 quốc gia tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới và là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc công nhận là một trong những nước đứng đầu thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Những thành tựu đó cho thấy, xã hội Việt Nam không hề “tràn ngập điều nhảm nhí... thua xa các nước láng giềng Đông Nam Á” như Việt Tân xuyên tạc; ngược lại “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Vậy nên, Việt Tân và đồng bọn có cố tình xuyên tạc, chống phá thế nào đi nữa thì ý nghĩa và giá trị của ngày Chiến thắng 30/4/1975 vẫn tiếp tục tỏa sáng, thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường đổi mới, xây dựng một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, hùng cường và hạnh phúc, sánh vai với các nước phát triển./.

NTTst