VIỆT NAM NGÀY NAY

Diễn đàn Việt Nam ngày nay

  • TRANG CHỦ
  • THỜI SỰ
  • BÀN CHUYỆN NƯỚC
  • CN MÁC-LÊNIN
  • DIỄN BIẾN HÒA BÌNH
  • LỊCH SỬ
  • THƠ - VĂN
  • THƯ GIÃN

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

Đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền.

 Đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền là một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng nhằm bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế.

Các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền thường xuất hiện ở một số cán bộ, đảng viên trước kia hoạt động cách mạng hoặc trước đây hay đang công tác trong cơ quan Đảng, Nhà nước, nhưng vì lý do nào đó (tham nhũng, tiêu cực, sa đọa về đạo đức, lối sống, bất mãn, ảo tưởng bản thân, bị các thế lực chống đối mua chuộc, lung lạc,...) đã quay lại nói xấu Đảng, Nhà nước và xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử của Đảng, của đất nước, của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) hoặc phụ họa cùng với các thế lực phản động, thù địch; và ở mức độ khác nhau trực tiếp xuyên tạc, công kích, chống đối công tác tư tưởng chính trị của Đảng trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền.

Các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về tư tưởng, chính trị: Mặc dù nhiều khi mang danh mơ hồ, lưng chừng, “phái giữa” tư tưởng tư sản và tư tưởng XHCN, song các biểu hiện này thực chất là hệ tư tưởng tư sản. Nội dung có tính bản chất của loại biểu hiện này là: Quan niệm một cách phiến diện, thậm chí tuyệt đối hóa quyền cá nhân; coi nhẹ quyền của tập thể, của dân tộc và chủ quyền quốc gia; coi nhẹ tính bình đẳng của các chủ thể quyền và các nội dung quyền, nhất là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, vốn chiếm vị trí cơ bản và là yêu cầu có tính bức thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Về mặt chính trị, đây là biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc về văn hóa, coi tư tưởng nhân quyền phương Tây mang tính phổ quát toàn nhân loại, thậm chí cao hơn chủ quyền quốc gia.      

Các biểu hiện này dao động hoặc mơ hồ, lưng chừng nằm giữa hai loại hình giá trị tư tưởng XHCN và tư sản về dân chủ và nhân quyền. Nó cho thấy, loại biểu hiện này không có giới tuyến địch - ta rõ ràng, mà nằm ngay trong nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên, trong mỗi tổ chức đảng và chính trị - xã hội. Vì thế nhân dân, trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên, đều là chủ thể đấu tranh với các biểu hiện này. Trong phương thức đấu tranh với các biểu hiện này cần coi trọng cách thức, phương pháp, biện pháp tư tưởng chính trị, như truyền thông, vận động nhằm nâng cao nhận thức, tích cực phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và coi trọng cách thức kết hợp đấu tranh với đối thoại hay ngược lại.

Thứ hai, về mục đích hoạt động: Các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường hùa theo các thế lực phản động, thù địch trong việc: Tuyên truyền xuyên tạc, kích động, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn về quyền con người (QCN) để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; tiến hành các hoạt động chống phá thực tiễn bảo đảm QCN trên tất cả lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, dân tộc, thông tin, truyền thông, giáo dục, đào tạo, văn hóa - nghệ thuật, tư pháp,... kể cả hợp tác quốc tế, nhằm thúc đẩy sự chệch hướng XHCN của sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Tuyên truyền, ca ngợi các giá trị của nhân quyền tư sản nhằm kích động, cổ vũ việc phân hóa, chuyển hóa tư tưởng chính trị XHCN, đồng thời thúc đẩy “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản, trước tiên trong nội bộ Đảng, Nhà nước. Tạo dựng “ngọn cờ” về nhân quyền thông qua việc tuyên truyền, ca ngợi nhiều nhân vật chống đối nhằm kích động hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong và ngoài nước và tìm cách xác lập cơ chế “đa nguyên, đa đảng” trong thực tế ở nước ta.

Thứ ba, về chủ trương chống phá: Các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường phụ họa với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch về lấy chống phá chính trị, tư tưởng làm khâu đột phá; dùng sự suy thoái về đạo đức, lối sống để hỗ trợ, hậu thuẫn; lấy mua chuộc kinh tế làm mũi nhọn; lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ. Họ cũng thường phụ họa, xuyên tạc, thậm chí lu loa kích động rằng: Đảng không thể chống tham nhũng thành công, vì chế độ độc đảng sẽ thủ tiêu đấu tranh; muốn chống tham nhũng thành công thì phải mở rộng dân chủ, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; chia sẻ trên các phương tiện truyền thông xã hội những bài viết có nội dung xuyên tạc, phỉ báng Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN ở nước ta; nói xấu, xúc phạm lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, bôi nhọ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chê bai quản lý yếu kém, tham nhũng; bịa đặt, suy diễn thiếu căn cứ gây hiểu lầm, hoang mang trên cộng đồng mạng và trong nhân dân hòng làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ,... Trên thực tế ở nơi này, nơi khác, có một số đảng viên vẫn còn sinh hoạt đảng, lại đi phê phán đường lối, chủ trương của Đảng là thiếu căn cứ. Cá biệt, còn có người nói rằng, còn ở trong Đảng là vì quyền lợi chính trị của gia đình mình, chứ thật tình không thiết tha với lý tưởng của Đảng.

Thứ tư, về phương thức chống phá: Các thế lực phản động, thù địch với sự phụ họa của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường sử dụng truyền thông đại chúng, đặc biệt là internet, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam, xuyên tạc, kích động về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Chúng lợi dụng các sai sót trong quản lý để xuyên tạc, kích động biểu tình trái phép; tổ chức các hội thảo để xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử, tuy âm thầm, nhưng thâm độc và tác hại lâu dài. Các thế lực phản động, thù địch dùng chiêu bài “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, làm suy thoái về tư tưởng, chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; chúng tập trung xuyên tạc cái gọi là: nhân quyền gắn với xã hội tư sản, còn QCN là quyền tập thể gắn với chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu chủ nghĩa Mác  - Lê-nin chứ không có tư tưởng “cao siêu”, thậm chí còn không đề cập đến tư tưởng về nhân quyền, xã hội công dân trong tư tưởng thời trẻ của C.  Mác, Ph. Ăngghen (!?),....

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, các thế lực phản động, thù địch tăng cường móc nối, cấu kết với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, với ý đồ làm lung lay nhận thức, niềm tin của nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng; lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc sự thật đổi mới theo định hướng XHCN,....

Thời điểm các thế lực phản động, thù địch với sự phụ họa của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường xuyên tạc, kích động, chống đối là vào những dịp, những sự kiện lớn, như đại hội đảng các cấp, toàn quốc, các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, dịp kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.... Chẳng hạn về bầu cử, luận điệu nói xấu, kích động của các thế lực phản động, thù địch với sự phụ họa, xuyên tạc, kích động của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện  “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rêu rao rằng, bầu cử ở nước ta chỉ là hình thức, không minh bạch, không dân chủ (!?); phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử; bịa đặt, tung tin sai sự thật về công tác nhân sự; kích động, kêu gọi người dân không tham gia bầu cử; lợi dụng việc “tự ứng cử” để gây rối; kêu gọi cử tri “tẩy chay bầu cử”, “không đi bỏ phiếu”, “bỏ phiếu trắng”,... nhằm thực hiện ý đồ tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử thấp. Hơn thế nữa, thông qua đó, các thế lực phản động, thù địch, với sự phụ họa, xuyên tạc, kích động của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, muốn phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ cho các âm mưu, hoạt động chống phá của chúng. Còn vào dịp kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoạt động chống phá của các thế lực phản động, thù địch là nhằm hạ thấp ý nghĩa to lớn của chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Cán bộ, đảng viên là những người tiên phong đưa Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị vào cuộc sống, vào thực tiễn đấu tranh tư tưởng trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Trước hết, họ là những người phải quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, góp phần xây dựng thành nghị quyết, kế hoạch thực hiện tại tổ chức, đơn vị của mình. Họ cũng là những người trực tiếp tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục quần chúng, xây dựng nhận thức đúng đắn cho mình và cho quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, trong đó có lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Họ cũng là những người trực tiếp, thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, phê phán những suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sai trái, lệch lạc; chấn chỉnh những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Đó là cơ sở để cán bộ, đảng viên được phân công làm nhiệm vụ nòng cốt, chuyên trách đấu tranh tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, góp phần củng cố hệ tư tưởng của Đảng nói chung, phát huy tài năng và trí tuệ của mình vào thực tiễn đấu tranh tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hằng ngày; từ đó chủ động, tích cực góp phần hoàn thành các mục tiêu đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền mà Nghị quyết số 35-NQ/TW đề ra.

Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân phổ biến về Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 cho đồng bào tại xã Kim Cúc, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng _Ảnh: Tư liệu

Ba phương hướng cần tập trung đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền thời gian tới:

Một là, đấu tranh với các biểu hiện suy  thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống,  “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền được hiểu là sự chủ động, tích cực nhận diện, phê phán, phản bác, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm minh bằng pháp luật nhằm làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn sử dụng quyền con người gắn với các lĩnh vực chính trị (dân chủ) như một công cụ có tính phổ biến và liên thông trong với ngoài nước, đặc biệt là với một số nước phương Tây, để chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Hai là, nhận diện rõ hạn chế của công tác tư tưởng chính trị trong điều kiện Đảng cầm quyền. Hiện nay, công tác tư tưởng chính trị không chỉ xây dựng niềm tin vào Đảng, vào chế độ, mà còn phải chăm lo xây dựng đời sống tinh thần của xã hội, trong đó có cán bộ, đảng viên, do đó, nội dung tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị chịu sự tác động to lớn của việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Vì thế, để giành được niềm tin của cán bộ, đảng viên và lòng dân, công tác này dễ sa vào chủ nghĩa thực dụng, mị dân vì những mục tiêu trước mắt. Khi Đảng cầm quyền, công tác tư tưởng chính trị trong nội bộ Đảng được xem như công tác tư tưởng đối với nhân dân. Từ chỗ phải lắng nghe, chia sẻ, thuyết phục cán bộ, đảng viên và người dân, công tác tư tưởng rất dễ biến thành tuyên truyền áp đặt, một chiều không xuất phát từ nhu cầu và lợi ích thiết thực của cán bộ, đảng viên và người dân. Những hạn chế này của công tác tư tưởng chính trị cần phải được khắc phục để đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Ba là, nâng cao nhận thức về nền tảng tư tưởng và công tác tư tưởng chính trị. Tiếp tục bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học - công nghệ, nhất là thực tiễn đổi mới theo định hướng XHCN ở nước ta; đồng thời, tích cực ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, nhân phẩm của cán bộ, đảng viên qua một số biểu hiện cụ thể, như phai nhạt lý tưởng cách mạng; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; không gắn quyền cá nhân với quyền tập thể; mắc vào tham nhũng, hối lộ, vi phạm thuần phong, mỹ tục và đạo đức,....

Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của công tác tư tưởng chính trị của Đảng. Tăng cường các hoạt động bổ sung, phát triển, hoàn thiện, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với việc đẩy mạnh tập hợp, lôi cuốn, phát động phong trào hành động của cán bộ, đảng viên thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng nhằm xây dựng thành công xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. 

Để đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, chúng ta cần có những giải pháp tổng thể, đồng bộ sau:

Thứ nhất, phân loại các đối tượng là chỗ dựa của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

Các lực lượng phản động, thù địch: gồm lực lượng cực hữu ở một số nước phương Tây, lực lượng cực hữu người Việt Nam ở ngoài nước và những cá nhân người Việt Nam ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam.

Các lực lượng khác bao gồm những người nghiên cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam. Cuộc đối thoại, đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản không chỉ diễn ra trên phạm vi thế giới, mà ngay tại Việt Nam hiện nay. Trong đó phải coi trọng đấu tranh với những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng chính trị, trong đó gồm cả cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây thực chất là những đối tượng thù địch “giấu mặt” đóng vai “phái giữa” nên có sức nguy hại rất lớn, vì họ “đánh từ trong đánh ra” theo kiểu “người của ta”, gián tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “chệch hướng” nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ nội bộ. 

Thứ hai, chú trọng hóa giải các âm mưu, thủ đoạn chống phá chủ yếu trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền.

Đối với các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn về QCN và lợi dụng các hiệp định, dự án hợp tác với nước ngoài nhằm phá hoại và làm chệch hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: Cán bộ, đảng viên phải ý thức rõ trách nhiệm trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi danh dự và uy tín của Đảng không thể tách rời danh dự, uy tín của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong sinh hoạt hằng ngày, khi giao tiếp với mọi người thuộc nhiều thành phần trong xã hội, không thể không nghe những ý kiến về sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý, điều hành xã hội của Nhà nước. Mỗi cán bộ, đảng viên cần chủ động nhìn cho đúng bản chất của từng sự việc để đấu tranh, phê phán, phản bác với các luận điệu sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Đối với các hoạt động kích động, xuyên tạc vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam, phải tập trung vạch trần âm mưu, luận điệu xuyên tạc, kích động về cái gọi là “chính sách bảo đảm trên hình thức và chính sách không bảo vệ, không bảo đảm trong thực tế” thông qua  “cơ chế xin - cho” nhằm tạo lập các “tôn giáo quốc doanh” của các thế lực phản động, thù địch.

Đối với các hoạt động kích động, xuyên tạc Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp: Các luận điểm phản bác cần căn cứ vào luật pháp Việt Nam và luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước phương Tây, coi tự do ngôn luận không phải là một quyền tuyệt đối, mà bị chế ước bởi pháp luật, đạo đức, dư luận xã hội.

Thứ ba, thực hiện các giải pháp liên ngành nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ

Cần tách các bộ phận tiến hành công tác tư tưởng thành một cơ quan độc lập để thực hiện đồng bộ các khâu của quy trình công tác tư tưởng và bám sát thực tiễn luôn luôn biến động của cuộc sống. Tiếp tục kiện toàn việc xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, đủ mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị: Ban hành cơ chế tuyển chọn những cán bộ làm công tác tư tưởng thực sự tiêu biểu về lý luận chính trị, thuần thục các kỹ năng truyền thông, thông tin hiện đại. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, phân rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp; vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp trong đối thoại, đấu tranh trong lĩnh vực tư tưởng.

Cách thức tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hữu hiệu nhất là: Nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tăng cường khắc phục tác động tiêu cực của kinh tế thị trường kết hợp với tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ theo nguyên tắc dựa vào dân, gắn bó mật thiết với nhân dân nhằm củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân.

Cán bộ Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu tuyên truyền, phổ biến pháp luật tới đồng bào trên địa bàn hai xã Húc Động và Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh _Nguồn: baovephapluat.vn

Các tỉnh ủy, thành ủy, các ban đảng và cấp ủy các cấp xây dựng nghị quyết, kế hoạch, chỉ thị về lãnh đạo đấu tranh tư tưởng thông qua hai loại nghị quyết: nghị quyết lãnh đạo theo nhiệm kỳ, hằng năm, hằng quý, là nghị quyết lãnh đạo chung, trong đó có nội dung lãnh đạo công tác đấu tranh tư tưởng; nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo công tác đấu tranh tư tưởng. Trên cơ sở đó lãnh đạo triển khai, thực hiện nghị quyết, kế hoạch về lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, như phát huy vai trò của chính quyền, các đoàn thể chính trị  - xã hội và thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm đấu tranh tư tưởng. Những điển hình tốt, những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế là cơ sở để cấp ủy xây dựng nghị quyết, kế hoạch về lãnh đạo đấu tranh tư tưởng chính trị nhằm thu được thắng lợi lớn hơn.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin điện tử tuyên giáo (VCNET): Cần nghiên cứu, đưa vào khai thác sử dụng các phần mềm phục vụ kiểm soát, phân loại thông tin tích cực, tiêu cực trên internet, mạng xã hội liên quan đến cơ quan, đơn vị; cảnh báo luồng dư luận quan tâm và nguy cơ xảy ra biểu tình ở các “điểm nóng”; phát triển rô-bốt mạng tham gia các chiến dịch truyền thông chủ động (phát tán nhiều thông tin tích cực; pha loãng, làm phân tán luồng thông tin tiêu cực, xấu, độc), nhất là ở các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện mạng lưới cộng tác viên công tác tư tưởng chính trị trong Đảng và trong xã hội: Cần xây dựng đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội về tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân; và tăng cường phối hợp giữa các cấp, ngành, đoàn thể, nhất là các hội viên công tác xã hội về tư tưởng tại địa phương nhằm đổi mới công tác quản lý, giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ này để họ tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tích cực học tập đường lối, chủ trương của Đảng. Đối với chính quyền, cần đưa công tác thông tin, tuyên truyền thành truyền thông chính sách và quan hệ công chúng, nhằm huy động đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia vào tất cả các khâu của chu trình chính sách, pháp luật và phản hồi ý kiến, đánh giá của người dân để hoàn thiện chính sách, pháp luật./.

Người đăng: Vì dân vào lúc 19:28 1 nhận xét:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Tính thống nhất giữa phát triển con người về mặt tự nhiên và xã hội.

 Trong lịch sử tiến hóa lâu dài của con người, sự phát triển về mặt tự nhiên và xã hội trong con người có sự thống nhất chặt chẽ, không tách rời. Hai mặt này làm tiền đề cho nhau, nương tựa vào nhau, giúp con người không ngừng hoàn thiện cả thể chất và tinh thần, góp phần nâng cao khả năng thích nghi với môi trường, thúc đẩy sự phát triển.

Từ thời cổ đại đến nay, con người được không ít nhà tư tưởng đánh giá “như một bí ẩn không thể đạt tới” của tồn tại. Chính vì vậy, vấn đề con người luôn nằm trong trung tâm của sự suy tư, trăn trở, bàn luận, tìm tòi, khám phá của các nhà triết học, các nhà tư tưởng lớn ở cả phương Đông và phương Tây. Một trong số những bí ẩn được bàn đến nhiều là cái gì trong con người là bẩm sinh, do thiên phú; cái gì là do tập nhiễm từ cuộc sống, xã hội mà trong đó con người được sinh ra, được xã hội giáo dục để hành động và trưởng thành.

Điển hình nhất là vào thời cổ đại ở phương Đông, trong các trước tác của mình, Khổng Tử (551 - 479 TCN) đã đề cập đến những nội dung lớn và cơ bản về con người, như nguồn gốc, vai trò, vị trí và nhất là về bản tính của con người trong thế giới nói chung và trong xã hội nói riêng. Coi bản tính của con người là tính thiện, đề cao giáo dục, coi giáo dục có thể giúp con người tránh được cái ác, ông nêu ra quan điểm “học không biết chán, dạy không biết mỏi”; rằng xã hội phải coi trọng giáo dục với hy vọng giáo dục có thể giúp con người tăng thêm tính thiện để từ đó ngăn ngừa cái ác, giảm thiểu tội lỗi, góp phần cải biến xã hội, xây dựng một “xã hội hòa mục”.

Đặc biệt, nhà triết học, nhà tự nhiên học, nhà bách khoa, cha đẻ của nhiều ngành khoa học Hy Lạp nổi tiếng là A-ri-xtốt (Aristotle, 384 - 322 TCN) đã từng coi “con người là một động vật mà do bản tính tự nhiên phải sống trong một nhà nước (con người là một động vật chính trị)” và coi “con người là một sinh vật chính trị, và là một sinh vật chính trị ở mức độ cao hơn loài ong hay các loài thú sống bầy đàn khác”(1). Dựa trên quan điểm quan trọng này, người ta coi A-ri-xtốt là người đầu tiên nêu lên một cách sáng rõ mối quan hệ khăng khít, về tính thống nhất giữa sự phát triển về mặt tự nhiên và mặt xã hội trong con người, trong đó chính mặt xã hội là cái làm nên sự khác biệt căn bản, cái làm nên “mức độ cao hơn” của con người so với tất cả các loài sinh vật khác.

Sau A-ri-xtốt, có rất nhiều nhà tư tưởng và nghiên cứu khoa học từ những lập trường khác nhau cũng đưa ra các quan niệm đáng chú ý về con người, về nhiệm vụ nghiên cứu con người. Nổi bật nhất là vào thế kỷ XVIII, I. Can-tơ (I. Kant, 1724 - 1804), nhà triết học nổi tiếng, người mở đầu nền triết học cổ điển Đức, đã khái quát rất ngắn gọn, nhưng thật sự súc tích mục đích tối hậu của triết học “KHÔNG GÌ KHÁC HƠN LÀ TOÀN BỘ VẬN MỆNH CỦA CON NGƯỜI”(2). Đến thời mình, khi xem xét vấn đề con người, C. Mác và Ph. Ăng-ghen, một mặt, kế thừa những quan điểm của các nhà khoa học và triết học tiền bối; mặt khác, các ông đã vượt họ, đi xa hơn họ rất nhiều. Cụ thể là, cùng với việc thừa nhận nguồn gốc tự nhiên và tổ tiên động vật của con người, các ông đặc biệt nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, coi con người là một thực thể sinh học - xã hội. Các luận điểm hết sức quan trọng này đã được C. Mác và Ph. Ăng-ghen trình bày rõ trong nhiều tác phẩm lớn, như Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Gia đình thần thánh, Luận cương về Phoi-ơ-bắc, Hệ tư tưởng Đức, Tư bản hay Biện chứng của tự nhiên, Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức,... Đối với C. Mác và Ph. Ăng-ghen, sự tiến hóa về mặt tự nhiên và sự phát triển về mặt xã hội của con người có sự thống nhất chặt chẽ, không tách rời nhau, làm tiền đề cho nhau, nương tựa vào nhau, thúc đẩy lẫn nhau trong suốt quá trình hình thành, tiến hóa lâu dài, liên tục biến đổi và hoàn thiện không ngừng của loài người trên trái đất này dưới những tác nhân lợi và hại khác nhau, đôi khi đó là những tác nhân tự nhiên vô cùng mạnh mẽ và nguy hiểm. 

Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, khi nói về mặt tự nhiên, về vai trò của giới tự nhiên đối với cấu tạo, sự hình thành và sự biến đổi của cơ thể con người cũng như của tất cả các loài động vật nói chung, C. Mác đã khẳng định mạnh mẽ rằng, “giới tự nhiên... là thân thể vô cơ của con người... Con người sống bằng giới tự nhiên... con người là một bộ phận của giới tự nhiên”(3). Một năm sau, vào mùa Xuân năm 1845, trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc (Bản thảo năm 1845), khi xem xét mối quan hệ giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội trong con người, C. Mác còn quả quyết mạnh mẽ hơn: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa tất cả các quan hệ xã hội”(4).

Các luận điểm quan trọng trên đây của C. Mác chỉ cho chúng ta thấy rằng, cần phải xem xét nguồn gốc phát sinh loài người và bản chất của con người từ các góc độ khác nhau, cả từ góc độ tự nhiên lẫn góc độ các quan hệ xã hội; bởi vì, đối với C. Mác, con người là một thực thể thống nhất sinh học  - xã hội. Một khi đã thừa nhận như vậy thì đương nhiên phải thừa nhận vai trò quan trọng của môi trường mà trong đó con người sống và hoạt động, cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, cả mặt tự nhiên và mặt xã hội đối với sự hình thành, xuất hiện, sự tiến hóa lâu dài và phát triển của con người với tính cách một loài trên trái đất qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Luận điểm coi con người là một thực thể thống nhất sinh học - xã hội đóng vai trò gợi mở và định hướng quan trọng cho các ngành khoa học nghiên cứu về con người và về việc giáo dục, đào tạo con người.

C. Mác và Ph. Ăng-ghen tại tòa soạn Die Neue Reinische Zeitung _Nguồn: sputnikmediabank.com

Tuy nhiên, vào thời mình, đúng như C. Mác đã khẳng định, các khoa học cụ thể cùng tham gia nghiên cứu con người chưa thể xác định được thật cụ thể và chính xác những chất vô cơ nào, những nguyên tố hóa học nào vốn có trong giới tự nhiên, bằng một cách nào đó, đã kết hợp lại được với nhau để tạo nên các cấu trúc hết sức hợp lý của cơ thể con người nói riêng và của các loài động vật nói chung, nên việc các ông chưa thể bàn luận nhiều và chưa thể luận chứng đủ sâu sắc về vai trò của chúng cũng là điều có thể giải thích được. Có lẽ vì thế mà C. Mác đã phải thẳng thắn thừa nhận rằng, “chúng ta không thể đi sâu nghiên cứu thể chất của bản thân con người”(5).

Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, vấn đề con người ngày càng cuốn hút mạnh mẽ hơn sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau, kể cả khoa học chính trị và các chính trị gia. Tuy rằng phương pháp và mục đích nghiên cứu có thể khác nhau, song đều xoay quanh các vấn đề quan trọng, như nguồn gốc phát sinh con người; bản tính, bản chất, mặt cấu tạo sinh học, mặt xã hội trong con người; ảnh hưởng và vai trò của môi trường sống, cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, đối với sự hình thành, tiến hóa, phát triển, vận mệnh và tương lai của các thế hệ người kế tiếp theo thời gian, nhất là trước những hiểm họa khó lường về nhiều mặt do sự biến động bất thường của điều kiện tự nhiên và những tác động ngày càng rõ nét hơn, mạnh mẽ hơn do chính con người gây ra.

Thành tựu khoa học từ giữa thế kỷ XX đến nay, trước hết là của vật lý học, lý - sinh học, hóa học, hóa - sinh học; các ngành sinh học khác, như cổ sinh vật học, sinh học phân tử, di truyền học phân tử và di truyền học quần thể; khảo cổ học,... đã cung cấp cho chúng ta nhiều bằng chứng khá xác thực về nguồn gốc và nơi phát sinh, về cấu tạo, về sự tiến hóa - cả tiến hóa vĩ mô và tiến hóa vi mô - của loài người. Tất cả tài liệu do các khoa học hiện đại cung cấp đưa chúng ta đến kết luận chắc chắn rằng, con người là một chỉnh thể, một sản phẩm cao nhất trong sự tiến hóa của vật chất, là một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên đã sản sinh ra. Đặc biệt, về mặt thể chất, cơ thể con người, không phân biệt màu da hay chủng tộc, đều được cấu tạo giống nhau chỉ từ những gì vốn có sẵn trong thiên nhiên. Luận điểm này giờ đây đã được các khoa học, trước hết là hóa - sinh học, lý - sinh học và nhất là di truyền học hiện đại xác nhận là hoàn toàn đúng đắn(6). Thành tựu của các khoa học này đã phản bác một cách có căn cứ đối với mọi loại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thượng đẳng và chủng tộc hạ đẳng vốn là cơ sở của chủ nghĩa phát-xít cũ và mới.

Trong quá trình tiến hóa, con người hiện đại vẫn không hoàn toàn tách biệt khỏi những mối liên hệ về nguồn gốc phát sinh với tổ tiên xa xôi của mình. Cụ thể, đó là những yếu tố vật chất, những yếu tố hữu cơ; những yếu tố làm cho con người hình thành và hoạt động như một cá thể, như một hệ thống có cấu trúc vô cùng phức tạp phục tùng các quy luật sinh học; nói tóm lại, đó là toàn bộ các tiền đề sinh học của con người. Các tiền đề sinh học ấy là cơ sở quan trọng thúc đẩy sự hình thành, sự tiến triển, sự biến đổi và sự hoàn thiện của bản tính con người, nhất là của các yếu tố tạo thành mặt xã hội của con người. Có thể nói, những yếu tố xã hội ấy chính là những gì xuất hiện dưới ảnh hưởng của các điều kiện và quy định xã hội khác nhau tạo nên con người với tư cách một cá thể, cá nhân, mà trong nhiều trường hợp nếu thiếu chúng thì rất nhiều phẩm chất, đặc tính, cấu trúc đặc biệt, như ngôn ngữ, khả năng tư duy trừu tượng, quy phạm đạo đức, cung cách và hành vi ứng xử,... của một con người - cá nhân sẽ không thể hình thành được.

Sự phát triển bước ngoặt về mặt xã hội của con người được đánh dấu bằng việc con người bắt đầu biết sử dụng các dụng cụ có sẵn trong tự nhiên, tiến dần đến chỗ chế tạo được các công cụ hoàn toàn mới, tạo ra các tư liệu sinh hoạt hoàn toàn mới phục vụ cuộc sống của mình. Từ thời điểm ấy, con người đã thoát ra khỏi trạng thái động vật để bước vào lịch sử xã hội loài người. Về điều này, trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen đã viết rằng: “Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định”(7). Trải qua thời gian, nhờ có lao động và sự giao tiếp xã hội thường xuyên mà con người hình thành tiếng nói, ngôn ngữ, từ đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình con người thoát khỏi giới động vật để hình thành xã hội loài người. Do vậy, các nhà khoa học thống nhất quan điểm rằng, con người tuy là “một bộ phận của giới tự nhiên”, “sống trong lòng tự nhiên” như C. Mác nói, nhưng nếu không được giao tiếp với cộng đồng người trong xã hội, không được giáo dục thì không thể phát triển bình thường, không thể trở thành con người theo đúng nghĩa. Bởi vậy, đúng như I. Can-tơ đã khái quát rất chính xác: con người chỉ có thể trở thành người thông qua giáo dục. Con người không gì khác hơn là những gì được giáo dục tạo nên. Nói cách khác, một con người với cấu tạo cơ thể và thể chất sinh học, đặc biệt là có một bộ não bình thường, vẫn phải nhờ sự giao tiếp xã hội, giao tiếp với cộng đồng người, nhất là nhờ có giáo dục thì mới có thể phát triển để trở thành con người theo đúng nghĩa. Nói tóm lại, tác động của các yếu tố xã hội đến con người thông qua các cơ quan, tổ chức bình thường của cơ thể, đồng thời cũng thông qua việc học tập và rèn luyện, thông qua quá trình giáo dục và lao động.

Lịch sử từ xa xưa đến nay cho thấy rõ, giáo dục là một hiện tượng đặc trưng, đặc biệt của xã hội loài người, đồng thời cũng là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người trong xã hội, gắn liền với tiến trình vận động, phát triển của xã hội loài người. Giáo dục tồn tại và phát triển không ngừng cùng với sự tồn tại và phát triển không ngừng của xã hội. Ảnh hưởng của giáo dục đối với con người, nhất là đối với thế hệ trẻ, là vô cùng quan trọng. Bởi vậy, tất cả xã hội đều coi trọng giáo dục. Trong một xã hội tiến bộ thì giáo dục là chức năng quan trọng bậc nhất của cả gia đình, xã hội và nhà nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Người nhấn mạnh: “Giáo dục các em là việc CHUNG của gia đình, trường học và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách; trước hết là phải làm gương mẫu cho các em trước mọi việc”(8). Người cũng chỉ rõ các nội dung giáo dục gồm có thể dục để làm cho thân thể khỏe mạnh; giáo dục trí dục, mỹ dục và đức dục để trẻ em lớn lên thành những người công dân tốt.

Nhà triết học giáo dục nổi tiếng người Mỹ Giôn Đi-uy (John Dewey, 1859 - 1952) cũng từng viết: “Tiến trình truyền dạy này diễn ra thông qua việc người lớn tuổi hơn truyền đạt cho người trẻ tuổi những tập quán làm việc, suy nghĩ và bày tỏ tình cảm. Nếu không có việc truyền đạt những lý tưởng, hy vọng, kỳ vọng, tiêu chuẩn, quan điểm từ những người đã từng trải qua cuộc sống cộng đồng cho những người đang bước vào cuộc sống ấy, thì đời sống xã hội sẽ không thể tiếp tục duy trì”(9). Xã hội không thể tồn tại, chứ chưa nói đến phát triển, nếu thiếu sự truyền đạt hay sự truyền dạy này. Cũng chính Giôn Đi-uy đã viết: “Xã hội không chỉ tiếp tục tồn tại nhờ vào tiến trình truyền dạy, nhờ vào sự truyền đạt; mà hoàn toàn có thể nói rằng xã hội quả đang tồn tại trong tiến trình truyền dạy, trong sự truyền đạt”(10). Khi biết được điều kiện xã hội, điều kiện sống tác động ra sao đối với từng lứa tuổi, chúng ta có thể làm cho việc rèn luyện, giáo dục, học tập có kết quả hơn, nhất là giai đoạn con người ở độ tuổi vị thành niên.

Một xã hội tiến bộ và phát triển vì con người thì con người phải luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong các chương trình, kế hoạch xây dựng và phát triển của đất nước, dân tộc, trong đó có chương trình và kế hoạch phát triển giáo dục. Trái lại, một xã hội chậm tiến, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu, không có những điều kiện xã hội thiết yếu phục vụ con người thì con người, nhất là thế hệ trẻ, không thể phát triển cả về thể chất, năng lực trí tuệ và tinh thần. Nói tóm lại, con người không thể sống biệt lập, cũng không thể phát triển ở bên ngoài cộng đồng người, không thể thiếu sự giao tiếp thường xuyên với cộng đồng xã hội. Chính vì vậy mà bản chất con người mang tính xã hội sâu sắc.

Chăm lo con người phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần, nhất là thế hệ trẻ _Ảnh: Tư liệu

Cuộc sống của con người trong thời hiện đại đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất khó lường xuất phát cả từ phía giới tự nhiên lẫn từ phía các quan hệ xã hội. Dưới tác động vô cùng mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của những biến động to lớn do các cuộc cách mạng xã hội tạo nên, thì cả hệ sinh thái tự nhiên và xã hội con người đều không thể tránh được những biến đổi. Điều này đòi hỏi khả năng thích nghi kịp thời và sự đồng tiến hóa của cả mặt tự nhiên và mặt xã hội trong con người. Sự đồng tiến hóa này là nét đặc trưng tiêu biểu nhất diễn ra trong suốt lịch sử loài người, có thể là cùng với sự ra đời của các nền văn minh nhân loại từ xa xưa, nhưng mạnh mẽ nhất là dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại bắt đầu từ những năm giữa thế kỷ XX đến nay. Chính sự đồng tiến hóa này là bằng chứng rõ rệt nhất về tính thống nhất giữa sự phát triển của con người cả về mặt tự nhiên và về mặt xã hội.

Một vấn đề quan trọng được đặt ra ở đây là dù với những cấu tạo, cả vi mô và vĩ mô của bộ máy cơ thể cực kỳ phức tạp, hết sức tinh vi, hoàn chỉnh tuyệt vời như hiện thời, nhưng liệu con người có đủ khả năng để thích nghi với tất cả tác nhân khác nhau, nhất là các tác nhân có hại, như các chất phóng xạ, các hóa chất cực kỳ độc hại đang gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, thực phẩm? Đây là những mối lo mà cả xã hội và từng con người đang phải đối mặt và xã hội không thể không tìm cách giải quyết rốt ráo trước khi quá muộn. Hằng ngày, hằng giờ chúng ta đang chứng kiến việc con người phải chống chịu những tác động hết sức bất lợi do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự tàn phá không thương tiếc các cánh rừng đại ngàn nguyên sinh, dẫn đến nạn hạn hán kéo dài và các trận lũ lụt khủng khiếp, làm biến đổi khí hậu của trái đất, đe dọa cuộc sống bình thường của con người và mọi sinh vật. Thời gian qua, con người đã và đang khai thác tự nhiên quá mức, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo chỉ vì mục tiêu phát triển kinh tế đơn thuần, đặc biệt là việc con người sản sinh ra những tác nhân vô cùng độc hại từ các chất thải công nghiệp; những hóa chất phát ra từ nhiều loại vũ khí được sử dụng trong các cuộc chiến tranh ở nhiều khu vực trên thế giới... đang đẩy chính con người vào thế bị động. Bởi vậy, ngoài việc con người buộc phải biết học cách tự giác thích nghi thì còn buộc các cấu trúc tinh vi của cơ thể, như phân tử, tế bào, mô cho đến cơ quan, hệ thống trong cơ thể phải có những biến đổi mà chính con người không thể sớm tự mình nhận biết. Chắc chắn là con người như một thực thể sinh học - xã hội không thể có những đột biến đủ khả năng để thích nghi kịp thời, ngay lập tức, tuyệt đối và vô điều kiện với tất cả tác nhân có hại ấy.

Trong tình hình đó, hơn lúc nào hết, các ngành khoa học và công nghệ hiện đại cùng với bộ máy quản lý nhà nước cần có những hiểu biết thật sự chính xác, tìm ra những biện pháp xử lý và những phương tiện vật chất đủ khả năng ngăn chặn một cách hiệu quả những tác động có hại, những ảnh hưởng xấu đối với các cấu trúc sinh học vốn rất bền vững, nhưng cũng cực kỳ tinh vi, nhạy cảm của con người, làm sao để con người kịp thời có những thay đổi trong lối sống vừa thuận theo thiên nhiên, vừa chủ động góp phần làm tăng dần từng bước khả năng thích nghi của mình. Bởi vì, như các khoa học sinh học nói chung và ngành di truyền học hiện đại nói riêng đã chứng minh rằng, các đặc tính, những khả năng và phẩm chất của một cá nhân con người không chỉ phụ thuộc vào cấu trúc di truyền được bố mẹ trao truyền lại, mà còn phụ thuộc và chịu những sự tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ khác nhau của cả môi trường xã hội cũng như môi trường vật lý mà trong đó con người đã được sinh ra, tồn tại và phát triển; nghĩa là sự tồn tại và phát triển của con người vừa không cưỡng lại được các quy luật sinh học, các quy luật tự nhiên, vừa bị các yếu tố khác nhau trong môi trường xã hội chi phối. Bởi vậy, ngày nay, con người vừa là đối tượng trực tiếp của khoa học tự nhiên, vừa là đối tượng của liên ngành các khoa học xã hội. Một phức hợp các khoa học nghiên cứu con người cả từ góc độ tự nhiên lẫn góc độ xã hội thực sự đã hình thành và tiên đoán của C. Mác về thời đại mà “khoa học tự nhiên bao hàm trong nó khoa học về con người cũng như khoa học về con người bao hàm trong nó khoa học tự nhiên: đó sẽ là một khoa học”(11) đã trở thành hiện thực. Như vậy, khoa học nhất thiết phải xem xét sự phát triển con người từ góc độ thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội, tránh sự tuyệt đối hóa một trong hai mặt đó. 

Thực tế lịch sử và đòi hỏi ngày càng cao của thời đại đặt ra cho chúng ta hôm nay nhiệm vụ vừa phải chăm lo phát triển mặt thể chất cho con người, nhất là cho thế hệ trẻ, vừa phải chăm lo phát triển giáo dục. Một xã hội phát triển vì con người phải bảo đảm các điều kiện tốt nhất để con người phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần./.

-------------------------

(1) A-ri-xtốt: Chính trị luận, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2013, tr. 47
(2) I. Can-tơ: Phê phán lý tính thuần túy, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2004, tr. 1176
(3), (4) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 42, tr. 135, 372
(5) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 29
(6) Xem: Nguyễn Trọng Chuẩn: Một số vấn đề về triết học - con người - xã hội, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002
(7) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 29
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 175
(9), (10) Giôn Đi-uy: Dân chủ và giáo dục - Một dẫn nhập vào triết lý giáo dục (Phạm Anh Tuấn dịch), Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2008, tr. 19, 20
(11) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 42, tr. 179

Người đăng: Vì dân vào lúc 19:27 1 nhận xét:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Tăng cường công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địchTăng cường công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 Gieo rắc hoài nghi, xét lại lịch sử hòng dẫn tới dao động, mất niềm tin vào hiện tại, gây hoang mang về sự phát triển trong tương lai là ý đồ thâm độc mà các thế lực phản động, thù địch, bằng những chiêu trò, thủ đoạn khác nhau, ra sức tấn công trên mặt trận tư tưởng. Do đó, công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng càng có vị trí rất quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Nhận diện một số thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo lịch sử Đảng

Lịch sử càng lùi xa, các chứng nhân lịch sử dần không còn; với ngày càng nhiều những sự kiện quan trọng xảy ra trong thực tiễn, ký ức, nhận thức, tư tưởng con người có thể bị phai mờ về một số nội dung, sự kiện lịch sử. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động thường ra sức cắt xén, thêm bớt, đánh tráo khái niệm, xét lại lịch sử, “đổi trắng thay đen”, bôi nhọ lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trong bối cảnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, cùng với những thuận lợi cơ bản, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, đất nước ta cũng phải đối diện với những khó khăn và trở lực không nhỏ. Các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” hòng gây bạo loạn, lật đổ, chống phá cách mạng Việt Nam. Một trong những thủ đoạn thâm độc, tinh vi của chúng là tấn công vào nền tảng lịch sử của Đảng, hòng xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam.

Thông qua các bài viết, nhân danh cái gọi là các “công trình khoa học”, các diễn đàn, hội thảo,... viện lý do nghiên cứu làm rõ lịch sử, các thế lực thù địch, phản động ra sức tấn công vào lịch sử Đảng. Chúng xoáy vào một số sự kiện lịch sử, một số thời đoạn của lịch sử, với những đánh giá sai lệch, hoặc thổi phồng sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, bịa đặt, bôi nhọ các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử,... hòng phủ nhận những thành quả cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Các thế lực thù địch, phản động ra rả mấy luận điệu mang tính chủ quan, khiên cưỡng, như Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên nền tảng tư tưởng “du nhập”, “vay mượn” từ bên ngoài; Việt Nam đã “độc lập từ tháng 3-1945”, những người cộng sản Việt Nam và Việt Minh “cướp công” trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; thổi phồng những sai lầm của Đảng trong cải cách ruộng đất; đánh giá sai lệch về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968; phê phán Việt Nam đưa quân sang “xâm lược Cam-pu-chia” năm 1979 (!?),...

Bám vào sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch, phản động rêu rao rằng: chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai(?!); chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”(!?),...

Bên cạnh đó, cũng xuất hiện một số cách nhìn, nghiên cứu sai trái, thiển cận, cả những dấu hiệu của căn bệnh lười học tập, nghiên cứu lý luận, điển hình như biện luận rằng dân tộc Việt Nam không cần thiết tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giành nền độc lập trọn vẹn, tiến tới thống nhất đất nước, mà Việt Nam vẫn có thể thực hiện được sự thống nhất đất nước theo mô hình của Đức ở châu Âu...; có hiện tượng đáng ngại là xuất hiện những ý kiến “đánh giá lại lịch sử”; ngại viết, ngại nói về lịch sử Đảng, cho rằng viết về Đảng là “không khách quan”, “không khoa học”; đòi xem xét, đánh giá lại những vấn đề lịch sử, thậm chí còn hàm hồ cho rằng những nhân vật phản diện cũng là những “người yêu nước”(!?)... Những luận điệu xuyên tạc, những nhận định lệch lạc, sai lầm, ấu trĩ về lịch sử Đảng, lịch sử đấu tranh cách mạng, lịch sử dân tộc diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại, kéo dài với nhiều hình thức, nhiều biểu hiện, vừa ráo riết, vừa âm thầm; đáng quan ngại nhất là được che đậy dưới chiêu bài “khách quan”, “khoa học”.

Hiện nay, tận dụng lợi thế của các phương tiện truyền thông xã hội có hiệu ứng rất lớn, rất nhanh; sự kiểm duyệt thông tin khó khăn; có thể thực hiện từ xa, ít bị định chế bởi các biên giới cứng, các thế lực phản động, thù địch, phần tử định kiến triệt để lợi dụng kênh thông tin này để phát tán, tuyên truyền sai sự thật nhiều vấn đề lịch sử hòng gây hoang mang, dao động, hoài nghi, ngả nghiêng trong nhận thức, tư tưởng; kích động sự hận thù giữa nhóm người này với nhóm người kia, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hơn ai hết, các thế lực thù địch, phản động thừa biết rằng, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen lịch sử Đảng chính là đánh phá trực tiếp vào cơ sở thực tiễn, cơ sở chính trị, vào nền tảng lịch sử của Đảng. Lịch sử thuộc về những gì đã qua, ngày càng ít người biết đến, nên việc bịa đặt, dàn dựng, đưa ra các “thuyết âm mưu”,... dễ dàng hơn rất nhiều so với tấn công vào các vấn đề hiện tại - những vấn đề mà tự kết quả, hiệu quả, các con số thống kê có thể lập tức phản bác những ý đồ, âm mưu đen tối. Do đó, các thế lực thù địch, phản động coi lịch sử là một địa hạt, mặt trận quan trọng để tấn công trực tiếp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài học từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cho thấy, việc nhận thức không đúng về lịch sử, hoài nghi về lịch sử, xem xét lại lịch sử có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

Nhận thức sâu sắc những vấn đề đó, trong giai đoạn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam kịp thời đề ra đường lối, chủ trương và có sự chỉ đạo hành động đúng đắn, quyết liệt, là “kim chỉ nam” cho công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng. Quan điểm của Đảng khẳng định rõ, việc củng cố, tăng cường nhận thức về lịch sử Đảng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân luôn là đòi hỏi thường xuyên, cấp bách, tất yếu trong công tác tư tưởng của Đảng; đồng thời, có vị trí rất quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư, “Về tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, khẳng định: Nghiên cứu sâu sắc lịch sử Đảng là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm làm rõ các chặng đường lịch sử và hoạt động đấu tranh của Đảng, tổng kết thực tiễn lịch sử dân tộc. Nghiên cứu lịch sử Đảng không chỉ nêu bật những thắng lợi, những thành tựu của cách mạng, mà còn phải chỉ ra, không tránh né, cả những sai lầm, khuyết điểm, làm sáng tỏ những bài học, những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam, giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng, bồi dưỡng tình cảm yêu nước, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương và toàn thể đảng viên nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng. Nghiên cứu, tổng kết lịch sử Đảng làm cho mọi cán bộ, đảng viên và toàn dân hiểu về Đảng, là giáo dục về Đảng; là tổng kết thực tiễn lịch sử, làm rõ lý luận về con đường cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm rõ bài học và lý luận về xây dựng Đảng là góp phần quan trọng vào công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, lịch sử các đảng bộ địa phương và một số ngành và đoàn thể ở Trung ương do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ban thường vụ các cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt.

Trước tình hình mới, nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và bối cảnh cuộc đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử ngày càng quyết liệt, công tác nghiên cứu, tuyên truyền lịch sử Đảng đứng trước những yêu cầu, thử thách mới. Ngày 18-1-2018, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW, “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng” với những yêu cầu mạnh mẽ, đặc biệt nhấn mạnh phải đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức, trước hết là của người đứng đầu, về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng; chủ động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử Đảng.

Công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng, góp phần đấu tranh chống xuyên tạc lịch sử, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Sau 15 năm thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW, các bộ, ban, ngành, các tỉnh, thành phố đã nghiên cứu, biên soạn, xuất bản 10.325 công trình khoa học lịch sử Đảng; trong đó có 865 công trình cấp tỉnh, 1.336 công trình cấp huyện; 6.385 công trình cấp xã; 1.371 công trình của các sở, ban, ngành, đoàn thể và 365 công trình do Viện Lịch sử Đảng biên soạn và xuất bản(1). Cùng với các công trình lịch sử Đảng bộ, các công trình lịch sử với nhiều thể loại, như lịch sử truyền thống cách mạng của các ban, ngành, đoàn thể, lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang, lực lượng công an,... được xuất bản. Đặc biệt, trong số 365 công trình của Viện Lịch sử Đảng, có những công trình tiêu biểu: Lịch sử Xứ ủy - Trung ương Cục miền Nam (1954 - 1975); Lịch sử công tác dân vận của Đảng (1930 - 2010); Lịch sử Chính phủ Việt Nam (1976 - 2005); Lịch sử phong trào Nông dân và Hội Nông dân Việt Nam (1930 - 2015); Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam (1986 - 2010)... Đảng ta khẳng định: “Sau 15 năm thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW của Ban Bí thư khóa IX, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng đã đạt được kết quả quan trọng, góp phần tổng kết thực tiễn lịch sử cách mạng qua các thời kỳ, rút ra kinh nghiệm, bài học, quy luật của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo; giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp tinh thần yêu nước và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”(2).

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương và các đại biểu tham quan Tủ sách “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” tại Phố sách Hà Nội _Nguồn: zing.vn

Thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, Viện Lịch sử Đảng đã tích cực tổ chức triển khai công tác nghiên cứu, biên soạn và hoàn thành, xuất bản nhiều công trình khoa học lịch sử(3). Bên cạnh đó, nhằm tiếp tục tăng cường nghiên cứu và tổng kết lịch sử Đảng, đúc kết những bài học kinh nghiệm từ lịch sử góp phần vào công tác chính trị, tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chỉ đạo Viện Lịch sử Đảng hoàn thành nhiều đề tài cấp bộ trọng điểm: Nghiên cứu, bổ sung, nâng cao chất lượng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập II (1954 - 1975), Nghiên cứu, bổ sung, nâng cao chất lượng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III (1975 - 2006), viết mới giai đoạn 2006 - 2011, Đấu tranh chống những quan điểm sai trái xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch; tiểu sử của các đồng chí Võ Văn Ngân, đồng chí Nguyễn Duy Trinh; Đề án sưu tầm, khai thác và xác minh tư liệu về đồng chí Phạm Hữu Lầu... Ngoài ra, đội ngũ cán bộ của Viện Lịch sử Đảng đã tham gia nghiên cứu, biên soạn trên 70 cuốn sách chuyên khảo, gần 500 bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo khoa học.

Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương; lịch sử ban, ngành, đoàn thể có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng. Trong 3 năm (2018 - 2020), cả nước có 2.461 công trình đã hoàn thành và xuất bản; trong đó, có 122 công trình lịch sử cấp tỉnh; 358 công trình lịch sử ban, ngành, đoàn thể; 265 công trình cấp huyện; 1.716 công trình cấp xã. Có 7 tỉnh đã biên soạn lịch sử đảng bộ tỉnh đến năm 2020; 8 tỉnh biên soạn lịch sử đảng bộ tỉnh đến năm 2015(4). Một số tỉnh, thành phố đã chủ động biên soạn và xuất bản Văn kiện Đảng bộ tỉnh; Biên niên sự kiện Lịch sử Đảng bộ tỉnh, thành phố, như Lào Cai, Hà Giang, Ninh Bình, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nam. Bên cạnh kết quả về số lượng, chất lượng biên soạn, xuất bản lịch sử đảng bộ các cấp được nâng lên một bước.

Kết quả công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng đã góp phần quan trọng vào việc giáo dục truyền thống, bồi dưỡng tình cảm cách mạng, làm cho lịch sử Đảng và lịch sử truyền thống thấm sâu trong tâm trí mỗi cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân, giúp bạn bè quốc tế hiểu ngày càng đầy đủ, chân thực, sâu sắc hơn về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng góp phần đấu tranh chống các luận điệu sai trái và âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động hòng xuyên tạc lịch sử Đảng và lịch sử dân tộc, phủ nhận sự thật lịch sử và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các công trình nghiên cứu còn tổng kết những kinh nghiệm phong phú của Đảng, góp phần phát triển lý luận, làm sáng tỏ và bổ sung đường lối, chính sách của Đảng.

Những công trình nghiên cứu của Viện Lịch sử Đảng nói riêng và các địa phương nói chung đã làm sáng tỏ quá trình ra đời và lãnh đạo của Đảng, luận giải nhiều vấn đề về lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng những sử liệu tin cậy và các luận cứ khoa học, ngành lịch sử Đảng khẳng định quá trình ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của chính lịch sử, là sự kết hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, bao gồm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một đột phá về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc và phát triển đất nước, vừa tuân thủ những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chắt lọc những giá trị phổ quát của văn minh nhân loại, vừa kết tinh và nhân lên tinh hoa về tư tưởng, về văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hiện thực lịch sử cho thấy, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng trên cấp độ toàn Đảng cũng như ở mỗi địa phương đã làm rõ và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên các chặng đường đấu tranh giành độc lập, tự do, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiến hành 30 năm chiến tranh cách mạng, đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ độc lập, chủ quyền, khôi phục sự thống nhất đất nước, tiến hành xây dựng và bảo vệ đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng...

Các công trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng là lợi khí sắc bén đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc các sự kiện lịch sử. Ví dụ như, với những tư liệu lịch sử đáng tin cậy và phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại, lịch sử Đảng đã phản bác những luận điệu phản động, những ý kiến sai lệch về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khẳng định rằng: Cách mạng Tháng Tám là kết quả đấu tranh cách mạng lâu dài của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc cách mạng đó đã được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng thông qua các phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: 1930 - 1931; 1936 - 1939 và đặc biệt là cao trào 1939 - 1945. Đó là kết quả của sự thay đổi tư duy, phát triển lý luận về giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ của Đảng, là nghệ thuật kết hợp xây dựng, chuẩn bị thực lực với chớp thời cơ, nghệ thuật phát động và lãnh đạo nhân dân nổi dậy... Thực tiễn lịch sử đó đã bác bỏ một cách đanh thép những luận điệu xuyên tạc rằng Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng “ăn may”.

Đối với sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, bằng các dữ kiện lịch sử, các công trình khoa học lịch sử Đảng, các cuộc hội thảo kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 được tổ chức ở nhiều địa phương trên cả nước đã làm rõ: cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 là thắng lợi mang tính quyết định, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược đối với Việt Nam, phải hạn chế và tiến tới chấm dứt hoàn toàn việc ném bom phá hoại miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiến tới rút dần quân Mỹ tham chiến ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành lại nền độc lập dân tộc, tiến tới thống nhất đất nước trong những năm 1954 - 1975, các nhà khoa học lịch sử Đảng đã chỉ rõ rằng đây là thắng lợi vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm dưới sự lãnh đạo của Đảng, là thắng lợi của sự sáng tạo lý luận và luận điểm khoa học, cách mạng, đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, nhất quán một quyết tâm: để đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ chế độ do Mỹ dựng lên, ngoài con đường bạo lực cách mạng, nhân dân miền Nam không còn con đường lựa chọn nào khác. Khoa học lịch sử Đảng qua đó bác bỏ những luận điểm sai lạc cho rằng, còn có con đường thống nhất đất nước theo mô hình của Đức để giải phóng miền Nam.

Trên cơ sở nghiên cứu, các công trình Lịch sử Đảng đã tổng kết sâu sắc bài học kinh nghiệm trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, khái quát thành những vấn đề lý luận, mang tính quy luật, đúc kết những truyền thống quý báu của Đảng, những tấm gương cộng sản kiên trung, bất khuất, xả thân, cống hiến cho Đảng, cho dân tộc... Các công trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng được xã hội hóa, đưa vào sử dụng trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống giáo dục quốc dân... đã góp phần quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin, lòng tự hào của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào truyền thống quý báu, nâng cao ý thức trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân.

Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 550 tìm hiểu và đọc sách tại thư viện đơn vị hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2023 _Ảnh: TTXVN

Cùng với việc phản bác những luận điệu xuyên tạc, những nhận định sai lạc, các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng với cách tiếp cận khách quan, khoa học đã góp phần làm cho nhân dân hiểu đúng, hiểu đủ về những sự kiện lịch sử Đảng, dẹp tan sự hoài nghi, những nhận thức mơ hồ về lịch sử, góp phần quan trọng vào việc tô thắm truyền thống lịch sử tốt đẹp của dân tộc, chống những âm mưu và hành động xuyên tạc lịch sử nhằm làm giảm uy tín của Đảng, hòng làm cơ sở để tiến tới đòi gạt bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam...

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “giữ chủ nghĩa cho vững”(5), góp phần đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khoa học lịch sử Đảng là một binh chủng trong đội quân lý luận, tư tưởng của Đảng. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng cần khắc phục những hạn chế mà Ban Bí thư đã chỉ ra: “Chất lượng nghiên cứu, biên soạn một số công trình lịch sử Đảng chưa cao; công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ chưa được chú trọng đúng tầm”(6). Công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng cần phải tập trung bổ sung, hoàn thiện, nâng cao chất lượng, tính khách quan, khoa học của các công trình lịch sử Đảng ở các cấp; sưu tầm, khai thác bổ sung tư liệu lịch sử Đảng; đổi mới phương pháp nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng theo hướng gắn liền với nghiên cứu, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nghiên cứu lịch sử dân tộc; làm rõ những vấn đề tồn đọng, trên cơ sở đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm cho toàn Đảng, toàn dân hiểu biết rõ ràng và sâu sắc tất cả vấn đề lịch sử./.

----------------------------

(1) Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 28-8-2002, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” (2002 - 2017), Hà Nội, 2018
(2) Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 18-1-2018, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng”
(3) Như: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I (1930 - 1954), quyển I, quyển II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018; Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - 70 năm xây dựng và trưởng thành, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2019; Đảng Cộng sản Việt Nam - Trí tuệ, bản lĩnh, đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020; 90 năm Xô Viết Nghệ - Tĩnh, Sức mạnh quần chúng làm nên lịch sử (1930 - 2020), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, Biên niên sự kiện Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam gồm 7 tập, xuất bản năm 2022...
(4) Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng”, Hà Nội, 2020
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 280
(6) Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 18-1-2018, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng”

Người đăng: Vì dân vào lúc 19:26 1 nhận xét:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Nguy hại từ căn bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” của cán bộ, đảng viên hiện nay


“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trước những bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân là một trong các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; “căn bệnh” nguy hại tác động sâu sắc đến niềm tin của Nhân dân với Đảng và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Vì thế, cần sớm phát hiện, điều trị triệt để “căn bệnh” này để xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân”. Trong đó, vẫn còn tình trạng thờ ơ, vô cảm, chưa nêu cao ý thức, trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân. “Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” của một số cán bộ, đảng viên thực sự là một “căn bệnh” rất nguy hại, có biểu hiện đa dạng trên các lĩnh vực đời sống xã hội, như: suy nghĩ hẹp hòi, thái độ dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn, bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; sống ích kỷ, vun vén cá nhân, kèn cựa, đố kỵ, có những hành vi trái đạo đức, lương tâm của con người; tranh công, đổ lỗi, không trung thực, không hoàn thành nhiệm vụ được giao, làm việc thì “được chăng hay chớ”, “dân có cần, nhưng quan không vội”, “khó người dễ ta”, hoặc rơi vào tham nhũng, lãng phí, tư duy nhiệm kỳ.

Mối nguy hại của căn bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là rất lớn, nhất là khi nó “chui” vào chính trị để hình thành sự “vô cảm về chính trị”. Bởi lẽ, cán bộ, đảng viên là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là người truyền đạt và tổ chức cho nhân dân thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, nắm bắt và phản hồi thông tin từ Nhân dân để Đảng, Nhà nước có căn cứ hoạch định, điều chỉnh, bổ sung và đưa ra những quyết sách bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi cán bộ, đảng viên thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc, đòi hỏi chính đáng của nhân dân thì vô hình trung đã tự chặt đứt sợi dây gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và giữa Đảng với Nhân dân.

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” còn là căn nguyên gây mất đoàn kết, mâu thuẫn, nghi kỵ lẫn nhau trong nội bộ cơ quan, đơn vị, địa phương dẫn đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ thấp, gây hại cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chính thái độ này dẫn đến thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, kèn cựa địa vị, quan liêu, bao biện, phô trương, lãng phí, tự tư, tự lợi, tham ô, hủ hóa, không quan tâm đến công việc được giao; thậm chí bỏ mặc, né tránh khi được giao nhiệm vụ mới, khó khăn; hoang mang dao động trước những khó khăn, thách thức tác động đến cơ quan, đơn vị, địa phương mình, v.v. Nhưng khi có thành tích lại cố vơ về mình, không tận tâm, tận lực, đồng lòng, đồng sức, thống nhất để tìm ra giải pháp hữu hiệu đưa cơ quan, đơn vị, địa phương mình vượt qua thách thức, khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Điều này gây nguy hại rất lớn đến xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức, nếu để kéo dài, không khắc phục kịp thời sẽ làm chuyển hóa từ bên trong nội bộ từng tổ chức.

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, hiệu quả điều hành của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đây còn là căn bệnh “quái ác” làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”. Do đó, nếu cán bộ, đảng viên mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” với nhân dân sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc và Đảng ta.

Có thể nói, “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” là căn bệnh còn tồn tại khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay và rất nguy hại, giống như sâu mọt đục khoét làm cho “cây mất gốc”, sớm muộn gì cũng sẽ đổ. Nguyên nhân sâu xa của “căn bệnh” này là do cán bộ, đảng viên không quan tâm đến chính trị, lười học lý luận chính trị, nhất là nghị quyết của Đảng, có lối sống thực dụng, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, thờ ơ với thời cuộc và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, đơn vị, địa phương, chỉ chăm lo thu vén cá nhân; ngại va chạm, giữ tâm thế trung dung với tư tưởng “dĩ hòa vi quý”; không tích cực tham gia đấu tranh với những vi phạm, biểu hiện xấu, nhận thức, hành vi lệch lạc ở xung quanh để xây dựng đơn vị, địa phương đoàn kết, vững mạnh, phát triển.

Chính vì vậy, chữa trị triệt để “căn bệnh” này là vấn đề cấp bách, đòi hỏi kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp, trước hết, cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp phải tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, tư tưởng, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là tư tưởng: “lấy dân làm gốc”, tinh thần trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân, chia sẻ với dân, giúp đỡ dân,… làm “điểm mấu chốt” để khắc phục bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị trên thực. Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành, đơn vị, địa phương cần tăng cường rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên về phẩm chất, năng lực, đạo đức cách mạng. Đổi mới và nâng cao chất lượng nhận xét, đánh giá, phân loại cán bộ, đảng viên một cách công khai, minh bạch; kiên quyết sàng lọc, đưa những cán bộ, đảng viên không còn đủ tư cách, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước công việc ra khỏi Đảng, cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Nếu cảm thấy mình không đủ năng lực, trách nhiệm thì dẹp sang một bên để người khác làm”. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện, bồi đắp và nâng cao ý chí để làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao, làm tấm gương sáng để quần chúng học tập, làm theo. Thực tế cho thấy, ở bất cứ cơ quan, đơn vị, địa phương nào mà cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, có năng lực công tác và hết lòng vì dân thì được nhân dân tôn trọng, yêu mến, nể phục, tin tưởng và noi theo.

 

Người đăng: Chung một con đường vào lúc 19:21 1 nhận xét:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đăng ký: Nhận xét (Atom)

https://vietnamtodaynew.blogspot.com/search/label/THUGIAN

  • BANCHUYENNUOC
  • CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
  • DIỄN BIẾN HÒA BÌNH
  • LỊCH SỬ
  • THOISU24
  • THOVAN
  • THUGIAN

Nhãn

  • BANCHUYENNUOC (8899)
  • BIẾN HÒA BÌNH BANCHUYENNUOC (106)
  • CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN (1330)
  • DIỄN BIẾN HÒA BÌN (174)
  • DIỄN BIẾN HÒA BÌNH (4808)
  • DIỄN BIẾN HÒA BÌNH BANCHUYENNUOC (2587)
  • HÒA BÌNH (93)
  • LỊCH SỬ (720)
  • THOISU24 (4114)
  • THOVAN (352)
  • THUGIAN (432)

Tìm kiếm Blog này

Tổng số lượt xem trang

Lưu trữ Blog

  • ▼  2026 (151)
    • ▼  tháng 2 (12)
      • ĐỌC GIÙM BẠN THÔI: TỔNG THỐNG TRUMP VẪN LÀ MỘT GÌ ...
      • CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NGA KIÊN QUYẾT PHẢN ĐỐI MỸ CẤM...
      • VIỆT NAM QUAN NGẠI VỀ VIỆC MỸ ÁP THUẾ BỔ SUNG VỚI ...
      • VIỆT NAM - THẾ GIỚI: HỘI TỤ CHIẾN LƯỢC TẠI “ĐIỂM Đ...
      • TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHÁNH THÀNH CÔNG TRÌNH TRỤ SỞ L...
      • VIỆT NAM LÀ BẠN, LÀ ĐỐI TÁC TIN CẬY CỦA CÁC NƯỚC: ...
      • TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỨC ẢNH QUÝ CHỤP NGUYỄN ÁI QUỐC...
      • TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG!
      • KHÔNG THỂ ĐÁNH TRÁO BẢN CHẤT, XUYÊN TẠC VỊ TRÍ, VA...
      • VỮNG BƯỚC DƯỚI NGỌN CỜ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ...
      • TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - 96 NĂM...
      • TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐƯA SĨ QUAN QUÂN ĐỘI CHÍNH QUY ...
    • ►  tháng 1 (139)
  • ►  2025 (11613)
    • ►  tháng 12 (135)
    • ►  tháng 11 (149)
    • ►  tháng 10 (163)
    • ►  tháng 9 (207)
    • ►  tháng 8 (195)
    • ►  tháng 7 (278)
    • ►  tháng 6 (382)
    • ►  tháng 5 (494)
    • ►  tháng 4 (838)
    • ►  tháng 3 (3121)
    • ►  tháng 2 (3102)
    • ►  tháng 1 (2549)
  • ►  2024 (28851)
    • ►  tháng 12 (3177)
    • ►  tháng 11 (2798)
    • ►  tháng 10 (2646)
    • ►  tháng 9 (2721)
    • ►  tháng 8 (1957)
    • ►  tháng 7 (2818)
    • ►  tháng 6 (2882)
    • ►  tháng 5 (2474)
    • ►  tháng 4 (1842)
    • ►  tháng 3 (2038)
    • ►  tháng 2 (1440)
    • ►  tháng 1 (2058)
  • ►  2023 (23070)
    • ►  tháng 12 (2055)
    • ►  tháng 11 (1760)
    • ►  tháng 10 (1806)
    • ►  tháng 9 (1872)
    • ►  tháng 8 (951)
    • ►  tháng 7 (2002)
    • ►  tháng 6 (2222)
    • ►  tháng 5 (2309)
    • ►  tháng 4 (2254)
    • ►  tháng 3 (2291)
    • ►  tháng 2 (2101)
    • ►  tháng 1 (1447)
  • ►  2022 (22578)
    • ►  tháng 12 (1749)
    • ►  tháng 11 (2073)
    • ►  tháng 10 (1857)
    • ►  tháng 9 (1737)
    • ►  tháng 8 (1739)
    • ►  tháng 7 (2118)
    • ►  tháng 6 (2191)
    • ►  tháng 5 (2187)
    • ►  tháng 4 (2026)
    • ►  tháng 3 (2195)
    • ►  tháng 2 (1299)
    • ►  tháng 1 (1407)
  • ►  2021 (15315)
    • ►  tháng 12 (1390)
    • ►  tháng 11 (1186)
    • ►  tháng 10 (1185)
    • ►  tháng 9 (1183)
    • ►  tháng 8 (1194)
    • ►  tháng 7 (1641)
    • ►  tháng 6 (2242)
    • ►  tháng 5 (2133)
    • ►  tháng 4 (1182)
    • ►  tháng 3 (840)
    • ►  tháng 2 (437)
    • ►  tháng 1 (702)
  • ►  2020 (5198)
    • ►  tháng 12 (621)
    • ►  tháng 11 (660)
    • ►  tháng 10 (662)
    • ►  tháng 9 (484)
    • ►  tháng 8 (424)
    • ►  tháng 7 (548)
    • ►  tháng 6 (487)
    • ►  tháng 5 (335)
    • ►  tháng 4 (329)
    • ►  tháng 3 (303)
    • ►  tháng 2 (219)
    • ►  tháng 1 (126)
  • ►  2019 (1081)
    • ►  tháng 12 (85)
    • ►  tháng 11 (120)
    • ►  tháng 10 (189)
    • ►  tháng 9 (105)
    • ►  tháng 8 (30)
    • ►  tháng 7 (107)
    • ►  tháng 6 (77)
    • ►  tháng 5 (169)
    • ►  tháng 4 (80)
    • ►  tháng 3 (68)
    • ►  tháng 2 (29)
    • ►  tháng 1 (22)
  • ►  2018 (174)
    • ►  tháng 12 (15)
    • ►  tháng 11 (33)
    • ►  tháng 10 (20)
    • ►  tháng 9 (13)
    • ►  tháng 8 (7)
    • ►  tháng 7 (8)
    • ►  tháng 6 (23)
    • ►  tháng 5 (18)
    • ►  tháng 4 (12)
    • ►  tháng 3 (10)
    • ►  tháng 2 (8)
    • ►  tháng 1 (7)
  • ►  2017 (115)
    • ►  tháng 12 (11)
    • ►  tháng 11 (7)
    • ►  tháng 10 (8)
    • ►  tháng 9 (8)
    • ►  tháng 8 (9)
    • ►  tháng 7 (5)
    • ►  tháng 6 (12)
    • ►  tháng 5 (15)
    • ►  tháng 4 (2)
    • ►  tháng 3 (25)
    • ►  tháng 2 (8)
    • ►  tháng 1 (5)
  • ►  2016 (76)
    • ►  tháng 12 (7)
    • ►  tháng 11 (20)
    • ►  tháng 10 (15)
    • ►  tháng 9 (14)
    • ►  tháng 7 (15)
    • ►  tháng 6 (2)
    • ►  tháng 5 (3)
  • ►  2015 (9)
    • ►  tháng 12 (9)

Người đóng góp cho blog

  • An nhiên
  • Anh Đức
  • Ankhe
  • Bảo Minh
  • Bố già
  • Bút Chì
  • C M Hoa
  • Công dân Việt Nam
  • Chỉ một tình yêu
  • Chân lý
  • Chung một con đường
  • Do Quoc Hoa
  • Duoicodang
  • Em bé Hà Nội
  • HOA PHƯỢNG ĐỎ
  • Hướng về Hà Nội
  • HẠNH PHÚC
  • HẬU PHƯƠNG
  • HẬU PHƯƠNG
  • Hà Nội Ngày Nay
  • Hào khí Đông Đô
  • Hanhphuc
  • Hoa bên súng
  • Hoa cỏ may
  • Langtu
  • Mặt trời chân lý
  • Mặt trời chân lý
  • Mùa xuân
  • Người Hà Nội
  • Ngược Nắng
  • Ngòi Bút Chì
  • Nghe An
  • Nguyễn Long
  • Ninh Đỗ
  • QUÊ HƯƠNG
  • Quang Vinh
  • Sức sống
  • SÓNG BIỂN ĐÔNG
  • Tổ quốc tôi
  • Tôi yêu Việt Nam
  • Tôi yêu quê tôi
  • Tanphong
  • Taybac
  • Thế trận lòng dân
  • Trưng Vương ML
  • Trẻ
  • Trực diện
  • Trà Giang
  • Tre Việt Nam
  • Unknown
  • Unknown
  • Vì dân
  • Vì dân
  • Voi Tây Nguyên.
  • Xứ Đoài
  • YÊU VIỆT NAM
  • ĐỘT KÍCH
  • Đa làng
  • đại gia chân đất Việt
  • bọnghonggai
  • cả nước đánh giặc
  • chính kiến
  • diendantoquoc
  • hauphuongxungkich
  • khát vọng việt nam
  • khthcct4n
  • kientruong
  • lòng dân
  • nguoivietnamhqt
  • nhuhoaanh15986
  • nvnhvqp
  • phụ cả thiên hạ
  • quehuong
  • quyetthanghd1970
  • taihahoacomay
  • tamnhinvietnam
  • taptrungdongdao
  • thamtulungdanh403
  • tiengchuong
  • vietnamtoi

Bài đăng nổi bật

Trung Quốc và tham vọng độc chiếm Biển Đông

Căng thẳng ở Biển Đông phát xuất từ những tuyên bố chủ quyền vô căn cứ cũng như việc Bắc Kinh bồi lấp các bãi đá với tốc độ rất lớn, tạ...

Bản quyền của diễn đàn Tổ Quốc. Chủ đề Đơn giản. Hình ảnh chủ đề của tjasam. Được tạo bởi Blogger.