Thứ Hai, 5 tháng 6, 2023

NHÂN THỨC RÕ BẢN CHẤT CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

 Trước những luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực

thù địch đã và đang hiện hữu, rất nhiều câu hỏi đặt ra cho chúng ta và cho cả bạn

bè quốc tế là: Bản chất, vai trò của hoạt động tuyên giáo - tuyên truyền là gì?

Phải chăng chỉ có Cộng sản, chỉ có Việt Nam mới có công tác tuyên truyền?

Công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước ta, liệu có giống như lời rêu rao

của các thế lực thù địch...?

Thứ nhất, về bản chất của hoạt động tuyên truyền.

Theo Từ điển Tiếng Việt thì tuyên truyền là “Giải thích rộng rãi để thuyết

phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo”. Như vậy, tuyên truyền (propagate)

là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh

thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành

nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng; thôi thúc đối tượng hành động theo

những định hướng, những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra. Mục tiêu

quan trọng nhất của hoạt động tuyên truyền không dừng lại ở thay đổi suy nghĩ

hay thái độ của quần chúng, mà cần phải tạo hành động trong quần chúng.

Rõ ràng, bản chất, vai trò của công tác tuyên truyền là một hoạt động thiết

yếu của bất cứ tổ chức, quốc gia nào. Nếu không có hoạt động này thì tất yếu tổ

chức, chính quyền, quốc gia đó sẽ tự cô lập chính mình với nhân dân trong

nước, cô lập mình với các tổ chức, chính quyền, quốc gia khác. Và khi đã không

có sự kết nối, nguy cơ đe dọa về tính chính danh, về sự an toàn… sớm muộn

cũng sẽ hiện hữu.

Thứ hai, phải chăng chỉ có Việt Nam mới có công tác tuyên giáo, tuyên

truyền?


Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, với tư cách là chủ thể về lãnh

thổ, chính quyền, dân cư, về khả năng tham gia vào quan hệ với các quốc gia

khác, về quyền dân tộc tự quyết… đương nhiên trong hoạt động đối nội và đối

ngoại, phải tiến hành các hoạt động tuyên truyền để đảm bảo về quyền và lợi ích

của mình.

Ví dụ như, ở Trung Quốc, công tác tuyên truyền luôn được nước này xem

là một bộ phận quan trọng trong công tác Đảng; luôn coi tuyên truyền và quản lý

thông tin là ưu tiên hàng đầu, dành nguồn lực vật chất và bộ máy nhân lực đáng

kể cho công tác tuyên truyền; chú trọng việc kết hợp ngoại giao nhà nước với

ngoại giao văn hóa để định hướng và quản lý dư luận. 

Tại Nga, hoạt động tuyên truyền được hiểu là sự lan truyền thông tin đại

chúng nhằm thúc đẩy quan điểm, nhận thức hoặc chương trình nghị sự của chính

phủ. Theo đó, Chính phủ nước này tăng cường đầu tư cho các kênh tuyên truyền

như Rossiya Segodnya (tổ hợp truyền thông chính thống của Nga, trong đó có

đài Sputnik và hãng thông tấn RIA), mạng lưới truyền hình RT (Russia Today)

và nhiều các kênh báo chí, truyền hình khác.

Ở Anh, hoạt động truyền bá hình ảnh của vương quốc được tiến hành ở

hầu hết các lĩnh vực. Riêng lĩnh vực truyền thông thì hãng BBC (thông tấn xã

quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) đóng vai trò chủ đạo.

Cùng với ngôn ngữ tiếng Anh, tất cả các hoạt động tuyên truyền của vương quốc

này đã mang đến cho họ một hình ảnh “siêu cường văn hóa, và London được mô

tả như một thủ đô văn hóa thế giới”.

Tại Áo, nhắc đến đất nước này, hầu như cả thế giới đều cho rằng đây

chính là kinh đô thế giới về âm nhạc cổ điển. Sở dĩ như vậy là vì quốc gia này

cũng đã sử dụng các cơ quan, tập đoàn báo chí - truyền thông (đặc biệt là 3 tập

đoàn: Đài Truyền hình quốc gia Áo - ORF, Báo Wiener Zeitung, Hãng thông tấn

xã Áo - APA) thường xuyên tiến hành tổ chức các chương trình văn hoá, nghệ

thuật nhằm tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, đất nước con người và âm nhạc cổ

điển Áo ra thế giới…


Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công tác tuyên

truyền còn diễn ra rất mạnh mẽ và sôi động trên không gian mạng Internet. Hầu

hết các quốc gia, tôn giáo, tổ chức xã hội… đã khai thác triệt để ưu thế của công

nghệ số để xây dựng các website, cổng thông tin điện tử, các trang mạng xã

hội… để tuyên truyền, hướng người dân và công chúng theo mục đích, con

đường phát triển của mình. Dù khác nhau về hình thức, cách  thức tương tác

(thực, ảo)... nhưng bản chất vẫn là hoạt động tuyên truyền, quảng bá. Như vậy,

với bất cứ quốc gia nào, để người dân tin tưởng và làm theo chính quyền, để

khẳng định được vị thế quốc gia trên trường quốc tế thì tất yếu phải có công tác

tuyên truyền.

Thứ ba, công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước ta liệu có như

những lời rêu rao của các thế lực chống đối, thù địch?

Có thể thấy rằng, đối với công tác tư tưởng của Đảng ta, tuyên truyền là

một trong ba bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng (lý luận, tuyên truyền, cổ

động), có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân. Công tác

tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức, hình thành và củng cố niềm tin cho

mọi tầng lớp nhân dân; cổ vũ, động viên, thúc đẩy và biến nhận thức, niềm tin,

nhiệt huyết của quảng đại quần chúng thành hành động cách mạng, góp phần

xây dựng con người mới, cuộc sống mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác

tuyên truyền đã cổ vũ, động viên phong trào thi đua yêu nước giúp bảo vệ an

ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại; giúp uốn nắn những nhận thức lệch

lạc, đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái, bảo vệ nền tảng tư

tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kể từ khi ngành tuyên giáo ra đời (1/8/1930) đến nay, công tác tuyên

truyền đã khẳng định vai trò và sức mạnh của mình trên mặt trận tư tưởng - văn

hóa của Đảng. Thực tiễn đã chứng minh, công tác tuyên truyền của chúng ta

không phải tự nhiên sinh ra, mà trải qua một chặng đường lịch sử, trong đó “có

sự cống hiến, đóng góp công sức của các thế hệ cán bộ tuyên huấn, nhà văn, nhà


báo, nhà giáo, nghệ sĩ, nhà khoa học... đã vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh,

làm nên những thành tích vẻ vang, đóng góp vào công cuộc bảo vệ độc lập dân

tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới, phát triển đất nước”(1). Đặc biệt,

trong đối nội và đối ngoại, công tác tuyên truyền của Đảng ta được tiến hành bài

bản, khoa học, đem lại những hiệu quả, lợi ích to lớn, quan trọng cho quốc gia -

dân tộc.

Công tác tuyên truyền - thông tin đối ngoại đã góp phần tạo sự lan tỏa

hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, giúp bạn bè quốc tế biết đến một Việt

Nam Khát vọng hòa bình và Phát triển bền vững; biết đến một Việt Nam có

hàng nghìn năm lịch sử, có nền văn hóa mang bản sắc riêng và độc đáo, có

truyền thống tốt đẹp; là quốc gia có đóng góp tích cực góp phần nâng cao vai trò

của Liên hợp quốc trong thời kỳ mới; là nơi an toàn lý tưởng để các nhà đầu tư

quốc tế lựa chọn, là nơi mà du khách có thể cảm thấy an toàn, thân thiện và hạnh

phúc khi đặt chân đến… và là “Điểm đến của thiên niên kỷ mới”!

Cũng từ các hoạt động định hướng, tuyên truyền thiết thực, khoa học mà

chất lượng tuyên truyền biển, đảo và biên giới trên đất liền ở nước ta được nâng

cao, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài

nước, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Nội dung công tác tuyên truyền biển,

đảo và biên giới trên đất liền luôn được thực hiện đúng đắn, phù hợp với tình

hình thực tiễn; được bạn bè, cộng đồng quốc tế ủng hộ, thừa nhận tính chính

danh và chính nghĩa của Việt Nam.

Công tác tuyên truyền - thông tin đối nội cũng đã đạt được nhiều thành

tựu vẻ vang đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, “góp phần giáo

dục, tuyên truyền và bảo vệ đường lối Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã

hội của cách mạng nước ta”(2) đồng thời bảo vệ, gìn giữ sức sống của chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực tư tưởng - lý luận, tuyên

truyền, khoa giáo, văn hóa - văn nghệ; là vũ khí đấu tranh, phản bác có hiệu quả

trước các quan điểm sai trái, thù địch.


Có thể thấy, nhờ có hoạt động tuyên truyền mà chủ trương, đường lối của

Đảng, pháp luật của Nhà nước đã đến với nhân dân một cách kịp thời, hiệu quả

và thiết thực. Các vấn đề quan trọng của đất nước, từ kinh tế - xã hội, quốc

phòng - an ninh, văn hóa… cho đến đời sống tư tưởng tình cảm, thực hành tôn

giáo tín ngưỡng… của nhân dân được phản ánh kịp thời, sinh động. Đây chính

là vai trò “cầu nối” giữa “Ý Đảng” với “Lòng Dân” của ngành tuyên giáo; góp

phần tăng cường bồi đắp, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước;

góp phần nâng cao vị thế quốc gia, lòng tự hào dân tộc, khát vọng Việt Nam.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ không ngừng xuyên tạc, chống

phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của chúng ta. Trong bối cảnh

đó, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng được xác định là nhiệm vụ và

nội dung tất yếu, cơ bản, hệ trọng, quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn

quân, toàn dân ta. Trong đó công tác tuyên truyền phải luôn được xác định là

nòng cốt, tự giác, thường xuyên và thiết thực như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí

Minh: “Tuyên truyền là đem một phần việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân

theo, dân làm, nếu không đạt được mục tiêu đó thì tuyên truyền thất bại”(3)./.

NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Trong những năm gần đây, các tổ chức phản động người Việt Nam ở

nước ngoài; các lực lượng cạnh tranh về tư tưởng, chính trị (những người nghiên

cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả

những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam…);

các cá nhân người Việt ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua

chuộc, lợi dụng, núp bóng dưới ngọn cờ “dân chủ, nhân quyền”… ngày càng

tăng cường xuyên tạc, phủ nhận và tiến hành chống phá nền tảng tư tưởng và


chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, khi công tác

tuyên truyền của chúng ta ngày càng khẳng định được vai trò nòng cốt trong quá

trình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì các thế lực này lại càng ráo riết

chống phá bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, trong đó việc sử dụng triệt để

tiện ích của Internet qua các website, mạng xã hội, các kênh thông tin truyền

thông… là hình thức phổ biến nhất.

Có thể nhận diện điều này qua các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng, hoạt động tuyên giáo - tuyên

truyền của Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ là “kỹ năng lừa gạt”, “ru ngủ nhân

dân”(!?)

Để “minh họa” cho luận điệu này, họ đã tạo dựng lên cái gọi là ý kiến của

“một số nhà quan sát và phân tích thời sự, chính trị Việt Nam” để chia sẻ với

báo chí chống cộng ở hải ngoại những “quan điểm” về công tác tuyên giáo -

tuyên truyền của Đảng ta. Qua đó bóp méo, xuyên tạc về thành tựu sau hơn 35

năm đổi mới của ngành Tuyên giáo. Từ những nhận định hết sức hồ đồ của một

số người bất đồng chính kiến như Nguyễn Quang A, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn

Nguyên Bình… rồi cho rằng, Tuyên giáo “đã thành công trong việc định khung

(framing) tư duy cho nhiều người Việt Nam để tin vào đường lối của Đảng Cộng

sản Việt Nam, nhưng đó là nghệ thuật tuyên truyền chứ không hề khoa học gì

cả”; “Vai trò của tuyên giáo... chỉ là “trò tuyên truyền” chứ không phải lý luận

khoa học gì cả, càng không “đi trước-mở đường””…(!).

Nhân sự kiện ngày 1/8/2020, khi Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức kỷ

niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo, các thế lực chống đối, thù

địch đã tìm mọi cách xuyên tạc. Điển hình như, trước ý kiến của TS. Vũ Ngọc

Hoàng (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI, nguyên Phó trưởng ban

Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương) khẳng định rằng: “mục đích đầu tiên

và quan trọng nhất của công tác tuyên giáo là nhằm tham gia khai hóa văn minh

cho cộng đồng dân tộc và thực hiện nhiệm vụ chính trị”, thì trên một số trang

mạng và báo điện tử ở hải ngoại đã dùng chiêu trò giật tite câu view bằng một số


bài viết kiểu như “Lời lừa dối hoành tráng” rồi lu loa rằng “tuyên truyền của

tuyên giáo lừa dối dân”, rằng “từ trước đến giờ cộng sản luôn có một lối ru ngủ

nhân dân duy nhất, làm cho người dân dù bất mãn cỡ nào cũng không phản

kháng hoặc phản kháng yếu ớt…” (!?).

Thứ hai, các thế lực thù địch cho rằng công tác tuyên truyền của Việt

Nam hiện nay chỉ là một sự “tụt hậu” và bản chất là “làm người dân mụ

mẫm”(!?)

Đài BBC News Tiếng Việt, Đài Châu Á Tự do thường xuyên đăng phát

những nội dung xuyên tạc, phủ nhận vai trò của ngành Tuyên giáo đối với sự

nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta. Họ tập hợp "những ý kiến độc lập” để

đưa tin sai lệch, bôi xấu về tình hình trong nước nhằm tung hê cho luận điệu:

Tuyên giáo “làm người dân mụ mẫm(!?). "tẩy não người dân, thuyết phục người

dân, lừa bịp để làm người dân mụ mẫm”.

Gần đây nhất, liên quan đến việc chúng ta đặt tên đường phố, công trình

công cộng, trong đó có sự cân nhắc về một số nhân vật lịch sử còn có những ý

kiến trái chiều, thì ngay lập tức, thế lực thù địch đã lấy đó làm cơ hội để thực

hiện ý đồ xuyên tạc, chống phá. Một mặt, họ cố tình lờ đi nội dung quan trọng là

“một số nhân vật lịch sử còn có những ý kiến trái chiều”, mặt khác, nhân danh

“giới nghiên cứu” rồi ấu trĩ viện dẫn lịch sử “thời pháp thuộc” thời “Việt Nam

Cộng hòa”… và tiến hành trích dẫn ý kiến của những kẻ hời hợt, bảo thủ, kém

hiểu biết để rêu rao rằng: “văn bản này của Ban Tuyên giáo Trung ương đi

ngược lại sự thật của lịch sử và gây hoang mang trong nhân dân”(!?).

Thứ ba, xuyên tạc về công tác nhân sự của ngành tuyên giáo.

Đây là một trong những chiêu bài mà các thế lực chống đối, thù địch

thường xuyên sử dụng, nhất là đối với những nhân sự chủ chốt của ngành tuyên

giáo. Chúng bôi nhọ thông tin, dẫn dắt sai lệch bản chất để đưa ra những nhận

định xuyên tạc về việc sắp xếp cán bộ lãnh đạo của ngành.

Tất cả những luận điệu mà các thế lực phản động, thù địch đưa ra đều thể

hiện cái nhìn định kiến, hằn học với mục đích sâu xa là xuyên tạc, phủ nhận,


chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước

ta, từ đó hòng thực hiện âm mưu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, tiến

tới phá hoại, lật đổ chính quyền, lật đổ chế độ XHCN, xóa bỏ những thành quả

cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã dày công xây dựng.

Nhận diện đúng và thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”

 Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng

ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn

biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ

nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa

mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ

đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên

và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt

chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng

viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin,

quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công

tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất

là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô

hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ

nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do

Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan,

đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập

trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ,

đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị;

đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của

cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng

nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định

hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là


yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến

hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các

nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân

phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức

đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo

các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi

dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện

nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ

động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của

địch.

Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các

thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập

trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng

cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là

tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo

vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng

sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là

mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”,

“bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp

chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả

nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi

chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng,

phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị,

mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu

của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và

công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ


công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ

Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh

phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn

biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí

lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học,

nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả

mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng,

đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên

sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang

được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu

hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ

chức, quan điểm chính trị đối lập.

Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh

đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công

tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục

lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán

bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội

đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với

công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư

tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát

huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần

tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên

quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu

hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc.

Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội

chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và

nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế,


chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa

thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo

dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới

cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên

tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào

việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội

trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế

hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu,

công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc

phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị

không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông

tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự

nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng

sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh

đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa

những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo

niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không

còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/.

Âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch không mới nhưng được đẩy mạnh và điều chỉnh

 Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi

người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ

nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch,


nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời

từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là

“chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên

hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến

tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định

“Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể

chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung

trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu

nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta thấy ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ nghĩa

đế quốc phát kiến, nhưng hiện là “sản phẩm” của họ và trên cơ sở tiếp thu tư

tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của

từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc

chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.

Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa

xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt

ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin,

thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”,

“đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ,

phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn

chính trị; (4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi

phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; (5) Chuyển

hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây;

(6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để “vô hiệu hoá” quân đội trong các

nước xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật

đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa


từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và

các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành.

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch

đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn

nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội

chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm

phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh

đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực

hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an…

Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh

thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình

“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn

lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản

chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc

và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm

cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội

khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc

công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây

mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta

“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt

về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng

để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi

phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang

mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh,

trật tự...

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với

từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng

việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo


khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin

với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn

định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân

tộc.

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính

trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng

liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô

nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt,

công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang

mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người

dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới

trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản

đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt

và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay,

các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải

luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản

chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất

cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng

đầy cam go, quyết liệt này.

Cuộc đấu tranh này được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn tiếp

tục. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có

phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời,

chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh

mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các

thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào.

Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong

mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính


họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn,

phương thức chống phá của các thế lực thù địch.

Nhận diện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù trong thời kỳ mới

 Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập

quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn

“diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận

diện đúng, xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng,

chống hiệu quả. Tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị

động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết

liệt này.

Trong tình hình mới, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" luôn nhiệm vụ

cấp bách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta

để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, năm 1994

Đảng xác định âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là “4 nguy

cơ trước mắt” của Đảng. Tới nay, cùng với các nguy cơ đã được Đảng chỉ ra,

nguy cơ âm mưu “diễn biến hòa bình” vẫn đang tồn tại, thậm chí có phần gay

gắt, phức tạp hơn.

Đáng chú ý, thời gian gần đây các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược

“diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt, hòng làm gây hỗn

loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư

tưởng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch tập trung lợi dụng triệt để sử dụng

Internet, các trang mạng xã hội, để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin

xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa

đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn

kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Lời Bác dạy năm xưa

 

“Mọi người phải ra sức trau dồi đạo đức xã hội chủ nghĩa. Cải tạo xã hội cũ xấu xa trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói tại Hội nghị toàn Đảng bộ khu Việt Bắc tháng 6-1959. Thời kỳ này, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, song cũng đặt ra những khó khăn, thử thách mới trong cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.

Lời nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, chỉ rõ tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài của nhiệm vụ cải tạo xã hội cũ thành xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp lâu dài, vất vả, nhưng rất vẻ vang. Do đó, đòi hỏi cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần phải có ý thức giác ngộ cách mạng cao, một lòng một dạ phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng cách mạng; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thực hành tự phê bình một cách nghiêm túc, từ trong cấp ủy ra ngoài đảng bộ, từ trên xuống dưới để loại bỏ tư tưởng cũng như chủ nghĩa cá nhân ra khỏi mỗi con người.

Thực hiện lời Bác dạy, các thế hệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên đã ra sức học tập, trau dồi phẩm chất đạo đức, mục tiêu lý tưởng cách mạng; tích cực lao động sản xuất, xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc, cung cấp sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên mới: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, trước sự tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân sa vào chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm, sùng bái quyền lực và đồng tiền; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, lối sống… làm cản trở sự phát triển bền vững của đất nước, cần phải đấu tranh, lên án.

Do vậy, học tập và làm theo lời Bác dạy về đạo đức cách mạng càng có giá trị thực tiễn sâu sắc, là cơ sở để cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, một lòng, một dạ thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

HAIVAN

Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2023

Một số giải pháp khắc phục biểu hiện lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên

 

ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay chủ yếu do người học chưa xác định được mục tiêu, động cơ học tập lý luận chính trị; chưa nhận thức được tầm quan trọng của lý luận chính trị và học tập lý luận chính trị. Bên cạnh đó, một số nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chậm được đổi mới, bổ sung, cập nhật, còn trùng lặp, thiếu hấp dẫn, không thiết thực. Hình thức giáo dục, học tập lý luận chính trị một số nơi chưa phong phú, chưa đa dạng; tổ chức học tập chưa phù hợp. Phương pháp giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, nặng về truyền đạt tri thức, chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học viên. Do đó, khắc phục tình trạng lười học, ngại học tập lý luận chính trị ở một bộ phận cán bộ, đảng viên cần triển khai thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và cán bộ, đảng viên.

Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa cao là nguyên nhân của tình trạng lười học tập lý luận chính trị. Do đó, cần chú trọng hơn nữa công tác giáo dục, tuyên truyền để các cấp ủy, tổ chức đảng và nhất là người đứng đầu, cán bộ, đảng viên nhận thức rõ việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận là quyền lợi và trách nhiệm của mình; coi đó là nhu cầu tự thân, việc làm thường xuyên, liên tục, bền bỉ suốt cuộc đời, không bao giờ là đủ. Phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị nhận thức rõ vai trò quan trọng của lý luận trong nâng cao năng lực, trình độ và phương pháp tư duy, năng lực lãnh đạo, để từ đó xây dựng động cơ, ý thức, trách nhiệm trong học tập lý luận chính trị. Cần lựa chọn nội dung, thời gian, hình thức bồi dưỡng phù hợp cho từng cấp, từng đối tượng. Kiên quyết đấu tranh, khắc phục triệt để cách nhìn nhận học lý luận chính trị vì lý do thăng tiến, để được đề bạt, bổ nhiệm.

Hai là, coi trọng hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp.

Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên là người trực tiếp tương tác, truyền thụ thông tin, kiến thức, truyền cảm hứng và gợi mở cho cán bộ, đảng viên, học viên. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ làm công tác này có phẩm chất đạo đức và tài năng, thực sự là tấm gương “tự học và sáng tạo”, am tường lý luận sâu sắc, dày dạn kinh nghiệm thực tiễn, có năng lực sư phạm tốt, phương pháp truyền đạt hấp dẫn, cuốn hút người học sẽ góp phần khắc phục bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên.

Ba là, cấp ủy các cấp duy trì thực hiện nghiêm quy định, chế độ học tập lý luận chính trị hằng năm cho cán bộ, đảng viên.    

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng yêu cầu: “Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương”. Theo đó, cấp ủy các cấp phải duy trì và thực hiện đúng các quy định, chế độ về học tập lý luận chính trị trong Đảng, phải coi đó là nghĩa vụ đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành chế độ để mọi người tự giác thực hiện nghiêm túc. Đưa chế độ tự học tập, nghiên cứu lý luận chính trị thành tiêu chí bắt buộc trong hoạt động của cán bộ, đảng viên; phòng, chống triệt để tình trạng lười học, ngại học tập lý luận chính trị. Phát huy vai trò nêu gương học tập lý luận chính trị của người đứng đầu, của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động của mỗi cán bộ, đảng viên trong tự học tập, tự nghiên cứu lý luận chính trị.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời... Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần lời dạy đó của Người, thường xuyên học tập, trau đồi phẩm chất đạo đức chính trị, gắn việc học lý luận với thực tiễn công việc hằng ngày. Mỗi cán bộ, đảng viên cần dành thời gian nghiên cứu, thu hoạch các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Gắn những tri thức thu được vào thực tiễn cuộc sống, vào nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị, tránh lý luận suông. Mỗi cán bộ, đảng viên cần khiêm tốn học hỏi, chống tự cao, tự đại, thỏa mãn với những kiến thức đã có. Trong học tập, nghiên cứu lý luận chính trị cần tránh giáo điều, tiếp thu lý luận một cách máy móc “kinh viện”, không biết vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời, phải tránh chủ nghĩa kinh nghiệm, tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm, coi nhẹ, phủ nhận vai trò của lý luận. Gắn việc tự học, tự nghiên cứu với tích cực, chủ động đấu tranh, phê phán với các quan điểm sai trái, thù địch để làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hiện nay.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá; lấy kết quả học tập lý luận chính trị làm thước đo để đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên.

Các cấp ủy, tổ chức đảng ở các cơ quan, đơn vị cần tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng học tập lý luận chính trị, quán triệt triển khai các nghị quyết của Đảng bảo đảm nền nếp, thực chất, hiệu quả thiết thực. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời biểu dương những tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên gương mẫu thực hiện nghiêm, chấp hành tốt việc học tập lý luận chính trị. Đồng thời, phê bình, nhắc nhở nghiêm khắc đối với các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có biểu hiện lơ là, chưa nghiêm túc, vi phạm quy chế, kỷ luật, kỷ cương trong học tập lý luận chính trị. Căn cứ vào ý thức, thái độ, trách nhiệm và kết quả học tập lý luận chính trị để đánh giá, xếp loại, phân loại cán bộ, đảng viên và bình xét thi đua khen thưởng hằng năm thực chất, hiệu quả, không hình thức.

HAIVAN

Biểu hiện lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay

 

Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được những biểu hiện của bệnh ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên, đó là: “Chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập;… phàn nàn trước những khó khăn của việc đọc tài liệu, khó khăn đào sâu suy nghĩ”. Nhận thấy những nguy hại của căn bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, Đảng ta đã chỉ rõ, lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới cũng là biểu hiện của sự suy thoái. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra một trong chín biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, cần “khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”. Việc nhận diện đúng các biểu hiện của căn bệnh này là cơ sở quan trọng để đưa ra những biện pháp khắc phục kịp thời. Có thể thấy, bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay tập trung ở những biểu hiện sau:

Thứ nhất, không ít cán bộ, đảng viên không nhận thức đầy đủ về sự cần thiết, tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị mà thường tập trung cho học tập chuyên môn, nghiệp vụ; thậm chí có người còn cho rằng đó là việc làm “vô ích” gây lãng phí thời gian, công sức. Đã có không ít người thiếu tự giác, không chủ động tham gia học tập lý luận chính trị, thậm chí tìm mọi lý do để trốn tránh không tham gia học tập.

Thứ hai, một bộ phận cán bộ, đảng viên học tập lý luận chính trị chưa thực sự nghiêm túc, còn thực hiện qua loa, đại khái, hình thức. Vẫn còn tư tưởng học để có đủ bằng cấp, đủ điều kiện để được đề bạt, bổ nhiệm, nên chưa thật sự toàn tâm, toàn ý cho việc nghiên cứu, học tập. Một số người chấp hành kỷ luật học tập không nghiêm, đi học thì “đánh trống ghi tên”, gượng ép, đối phó; vi phạm quy chế học tập, như nhờ đi học, nhờ thi hộ, bỏ học, bỏ thi, sử dụng điện thoại, làm việc riêng trong lớp học; thiếu tích cực, thiếu chủ động nghiên cứu tài liệu trong học tập; ngại trao đổi, thảo luận, quay cóp khi thi, sao chép khi làm bài thu hoạch.

Thứ ba, một bộ phận cán bộ, đảng viên không vận dụng tri thức đã học để xem xét giải quyết các vấn đề của địa phương, cơ quan, đơn vị mình; không sử dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn công việc theo chức trách, nhiệm vụ; học không đi đôi với hành; lý luận chưa gắn với thực tiễn.

HAIVAN

Khắc phục biểu hiện lười học, ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên hiện nay

 

“Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Học tập lý luận chính trị là nghĩa vụ đối với mọi cán bộ, đảng viên, tuy nhiên, vẫn có hiện tượng một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện ngại học lý luận chính trị. Vì thế, nhận diện rõ biểu hiện này và có những giải pháp khắc phục kịp thời là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng

Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân thế giới đã chứng minh rằng, bất kỳ chính đảng nào muốn lãnh đạo phong trào cách mạng thành công đều phải có một lý luận cách mạng soi đường. Nói cách khác, một chính đảng mạnh bao giờ cũng phải có chủ nghĩa “làm cốt” và nền tảng lý luận khoa học dẫn đường. Nếu không, chính đảng ấy sẽ mất phương hướng, “lúng túng như nhắm mắt mà đi” và tất yếu, cách mạng sẽ khó thành công, thậm chí thất bại. Lý luận cách mạng là điều kiện tiên quyết để hình thành và thúc đẩy phong trào cách mạng. Khẳng định điều này, V.I. Lê-nin cho rằng: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”. V.I. Lê-nin còn chỉ rõ sự cần thiết phải học tập lý luận chính trị: “Xem kinh nghiệm của các đảng anh em, thì chúng ta càng thấy sự bức thiết, sự quan trọng của việc tổ chức học tập lý luận cho Đảng, trước hết là cho các cán bộ cốt cán của Đảng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Đảng ta còn có nhiều nhược điểm mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp kém... vì trình độ lý luận thấp kém cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm”. Người còn chỉ rõ: “Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”. Do đó, “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”.

Như vậy, có thể khẳng định, việc học tập lý luận chính trị có vai trò rất quan trọng; là công việc cấp bách, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài. Lý luận chính trị là hệ thống tri thức về lĩnh vực chính trị; mang tính đảng, tính giai cấp, đồng thời có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa và tính dự báo khoa học cao. Lý luận chính trị giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; có phương thức lãnh đạo và tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,... phù hợp với quy luật khách quan. Không có lý luận chính trị thì tinh thần và ý chí kém cương quyết, không nhìn xa trông rộng, dễ lạc phương hướng và “mù chính trị”, thậm chí xa rời cách mạng. Với ý nghĩa đó, việc học tập lý luận chính trị không chỉ góp phần để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận dụng hiệu quả những tri thức lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, mà còn là cẩm nang để giúp mỗi cán bộ, đảng viên thâm nhập, đi sâu vào quần chúng, gần dân, hiểu dân và trọng dân, xứng đáng là người lãnh đạo gương mẫu, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Học tập lý luận chính trị, bao gồm nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Đây là yêu cầu thường xuyên, hằng ngày, cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Học tập lý luận chính trị là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, do đó, nếu nhận thức lơ là hoặc sai lệch về tầm quan trọng của lý luận và việc học tập lý luận chính trị, tất yếu dẫn đến lười học, ngại học, học đối phó. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên chẳng những không nắm vững và vận dụng được các nguyên lý khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà còn không thể hình thành và phát triển tư duy khoa học khách quan. Thực tế cho thấy, học tập lý luận chính trị là vấn đề hệ trọng, có ảnh hưởng lớn; nếu không học tập lý luận có thể kéo theo hàng loạt những vấn đề phức tạp khác, như suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... và từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

HAIVAN

Nâng cao hiệu quả việc cụ thể hóa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

 

Để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm và bất cập nêu trên, trong những năm gần đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi và ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn... nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xác định rõ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền của tập thể và cá nhân; quy định cụ thể những việc, những vấn đề phải đưa ra tập thể thảo luận, quyết định và chịu trách nhiệm; những việc cá nhân, trong đó có người đứng đầu, được đề xuất hoặc quyết định và chịu trách nhiệm về đề xuất, quyết định của mình, làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực của tập thể và cá nhân từ Trung ương đến địa phương, cơ sở. Cụ thể là:

Thứ nhất, sau mỗi kỳ Đại hội Đảng, tại hội nghị trung ương lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương đều bổ sung, sửa đổi và ban hành Quy chế làm việc của Trung ương; trong đó, quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và thẩm quyền, trách nhiệm của Tổng Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương... Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng bổ sung, sửa đổi và ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ của Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ, các đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương và ban hành quy chế làm việc mẫu của đảng đoàn, ban cán sự đảng trực thuộc Trung ương để thực hiện.

Thứ hai, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19-12-2017, “Về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”, nhằm xác định rõ nguyên tắc, đối tượng, nội dung công tác cán bộ và quy trình thực hiện việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử theo quy trình 5 bước và quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp; chỉ rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và của mỗi thành viên trong tập thể lãnh đạo đó, nhất là thẩm quyền của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và trách nhiệm của tập thể, cá nhân khi để xảy ra sai phạm. Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2018, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”, quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi thành viên trong tập thể đó; thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và các cá nhân trong việc tham mưu, đề xuất về công tác cán bộ; quy định rõ những việc tập thể và cá nhân có thẩm quyền trong công tác cán bộ phải làm và những việc không được làm; việc xử lý đối với tập thể và cá nhân khi để xảy ra sai phạm, kể cả khi cán bộ đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác. Quy định số 10-QĐi/TW, ngày 12-12-2018, của Bộ Chính trị, về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp tỉnh và của mỗi thành viên trong tập thể đó. Đồng thời, chỉ rõ những nhiệm vụ cụ thể thuộc thẩm quyền quyết định của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp tỉnh trên các lĩnh vực: Phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, công tác đối ngoại, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; những việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi thành viên và của người đứng đầu cấp ủy; các mối quan hệ công tác của cấp ủy và việc xử lý trách nhiệm đối với tập thể và cá nhân cấp ủy viên khi để xảy ra sai phạm...

Thứ ba, Ban Bí thư khóa XII đã ban hành Quy định số 202-QĐ/TW, ngày 2-8-2019, về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện”, nhằm quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện và của mỗi thành viên trong tập thể đó; chỉ rõ những nhiệm vụ thuộc thẩm quyền quyết định của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện trên các lĩnh vực: Phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, công tác đối ngoại, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở địa phương; những việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi thành viên và của người đứng đầu cấp ủy cấp huyện; các mối quan hệ công tác của cấp ủy và việc xử lý trách nhiệm đối với tập thể và cá nhân cấp ủy viên khi để xảy ra sai phạm... Đối với cấp cơ sở, Ban Bí thư các khóa gần đây đã ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các loại hình tổ chức cơ sở đảng để thực hiện, trong đó có 2 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn; 3 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng cơ quan; 3 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng đơn vị sự nghiệp; 10 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị quân đội; 6 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị công an; 7 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình doanh nghiệp.

Thứ tư, ngoài các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các cấp ủy, tổ chức đảng nêu trên, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XI, khóa XII đã ban hành các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ chủ chốt và người đứng đầu các cấp, với phương châm “cán bộ có chức vụ càng cao, thì càng phải gương mẫu” để thực hiện và đem lại những kết quả tích cực.

Qua thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế... của Trung ương nêu trên, các cấp ủy, tổ chức đảng đã có chuyển biến tích cực trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; từng bước xác định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, bảo đảm sự lãnh đạo của tập thể và đề cao trách nhiệm cá nhân, hạn chế các sai phạm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong thực hiện nhiệm vụ chính trị vẫn còn một số hạn chế, bất cập và chưa được như mong muốn; vì thế, cần tiếp tục cụ thể hóa để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.

HAIVAN

Thực trạng việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

 

Thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm qua cho thấy, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đã có nhiều cố gắng trong việc thể chế hóa, cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xác định chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và của mỗi cá nhân, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền để thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và kết quả bước đầu đạt được, việc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nhất là việc xác định trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với tập thể cấp ủy, ban lãnh đạo cơ quan, đơn vị vẫn chưa thật rõ ràng và còn những hạn chế, bất cập. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; có vai trò “là thủ lĩnh”, là “đầu tàu” để dẫn dắt, truyền cảm hứng và lôi cuốn đối với tập thể cấp ủy, lãnh đạo và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhưng người đứng đầu cũng chỉ là một thành viên dự họp và khi biểu quyết cũng chỉ có một phiếu như các thành viên khác.

Trong thực tế, cũng có không ít cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đơn vị hành chính chưa thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Một mặt, một số cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu thiếu gương mẫu, uy tín thấp, phẩm chất, năng lực chưa ngang tầm nhiệm vụ, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, độc đoán, chuyên quyền, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, nhưng không được tập thể theo dõi, giám sát, giúp đỡ kịp thời, dẫn đến vi phạm nguyên tắc tổ chức và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Mặt khác, cũng do chưa cụ thể hóa và phân định thật rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu nên còn có sự lúng túng giữa thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở nhiều nơi. Cũng có nơi đã xảy ra sai phạm do nhầm lẫn giữa thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy (thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định theo đa số) với người đứng đầu cơ quan, đơn vị (thực hiện nguyên tắc thủ trưởng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó), nhất là đối với những đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Vì thế, nhiều nơi có biểu hiện là, khi địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị có ưu điểm, thành tích thì ai cũng thấy có công lao, thành tích của mình đóng góp ở trong đó; nhưng khi có sai lầm, khuyết điểm, thậm chí để xảy ra sai phạm, thì không xác định được trách nhiệm của tập thể và cá nhân đến đâu, nhất là của người đứng đầu; và cuối cùng là đổ cho nguyên nhân khách quan và lỗi chung của tập thể, mà không có cá nhân nào chịu trách nhiệm.

Cũng không ít nơi còn biểu hiện dân chủ xuôi chiều, dân chủ hình thức, ý kiến phát biểu của các thành viên lãnh đạo chủ yếu dựa theo ý kiến của người đứng đầu, theo kiểu “gió chiều nào che chiều ấy”. Đây thực chất là thông qua cơ chế dân chủ của tập thể để hợp thức hóa ý chí áp đặt và sự chỉ đạo của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ quan, đơn vị. Vì vậy, trong công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, đã xảy ra không ít trường hợp là, mặc dù thực hiện “đúng quy trình” nhưng vẫn không lựa chọn được đúng người, đúng việc, trong khi đó có một số trường hợp được bổ nhiệm “thần tốc” lại là con, em, người thân của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, nên đã gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực trạng trên có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có nguyên nhân chủ quan là việc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và việc phân định chưa thật rõ ràng trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể.

HAIVAN

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

 

Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, luôn coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và coi đó là nguyên tắc số một về tổ chức và hoạt động của một Đảng Cộng sản. Điều lệ của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng, những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, đều khẳng định và chỉ rõ những nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng 92 năm qua, Đảng ta luôn xác định tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua ngày 19 tháng 1 năm 2011) nhấn mạnh: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong điều kiện Đảng cầm quyền ở nước ta, biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ chính là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong Đảng thống nhất với thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bộ máy nhà nước và trở thành một phong cách làm việc cần thiết của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Hiện nay, việc thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và phong cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Thực chất, việc cụ thể hóa nguyên tắc này là xử lý hài hòa mối quan hệ giữa cấp ủy, tập thể lãnh đạo và mỗi thành viên, mà quan trọng nhất là đối với vị trí, vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ quan, đơn vị đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó... Vì sao cần phải cá nhân phụ trách? Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho 1 người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy”. Trong hoạt động lãnh đạo, một mặt, nếu tập thể lãnh đạo cùng tham gia, đóng góp ý kiến, thảo luận, bàn bạc thấu đáo, kỹ lưỡng, thì quyết định lãnh đạo, chủ trương, chính sách mới sẽ bảo đảm được tính khách quan, chính xác hơn, khắc phục được tình trạng chủ quan, duy ý chí; mặt khác, khi tập thể đã thảo luận một cách dân chủ, kỹ lưỡng và có quyết định chính xác, đúng đắn về chủ trương, thì không thể hô hào chung chung, mà tất cả mọi người phải cùng thực hiện, phải phân công, giao nhiệm vụ cho từng thành viên phụ trách trong từng lĩnh vực, từng công việc cụ thể. Chỉ có như vậy, hoạt động của cơ quan, đơn vị sẽ vừa phát huy được dân chủ, tập hợp trí tuệ của các thành viên và nâng cao vai trò lãnh đạo của tập thể, vừa đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, phát huy được năng lực, sở trường và tính chủ động, sáng tạo của mỗi thành viên khi được phân công phụ trách, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.

“Tập thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách” có mối quan hệ gắn bó mật thiết, biện chứng với nhau, là hai mặt thống nhất trong một chỉnh thể không thể tách rời. Khi một tập thể lãnh đạo gương mẫu, thực sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, tất cả vì lợi chung của Đảng, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, sẽ tạo được môi trường thuận lợi cho mỗi thành viên lãnh đạo rèn luyện, phấn đấu, phát huy hết phẩm chất, năng lực, sở trường để đóng góp cho sự nghiệp chung. Bên cạnh đó, khi mỗi thành viên cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, thực sự tiền phong gương mẫu, luôn năng động, sáng tạo, dám đổi mới, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, sẽ làm tăng thêm vai trò, sức mạnh và năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Trong mối quan hệ giữa “tập thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách”, thì mối quan hệ giữa cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và người đứng đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo và vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Khi tập thể lãnh đạo thực sự đoàn kết, thống nhất, gương mẫu, giữ vững nguyên tắc tổ chức và các quy định của Đảng, tất cả vì lợi ích của nhân dân, các thành viên ban lãnh đạo đều đề cao tinh thần trách nhiệm, thẳng thắn đấu tranh với quan điểm và hành vi sai trái..., sẽ làm tăng thêm vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, trở thành chỗ dựa vững chắc để người đứng đầu quyết đoán, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành công việc theo chức trách, nhiệm vụ được giao; đồng thời, sẽ ngăn ngừa, hạn chế được những biểu hiện chủ quan, duy ý chí và hành vi vi phạm nguyên tắc của người đứng đầu. Điều đó là bởi, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền chỉ là một thành viên trong cấp ủy, tập thể lãnh đạo, nhưng có vị trí rất quan trọng, đóng vai trò “thủ lĩnh”, định hướng, dẫn dắt cả tập thể trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thực tiễn cũng chỉ ra rằng, nếu người đứng đầu có phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gương mẫu về mọi mặt, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, sẽ góp phần xây dựng tập thể lãnh đạo đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đưa địa phương, cơ quan, đơn vị vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Ngược lại, nơi nào và lúc nào người đứng đầu thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu, chấp hành không nghiêm chủ trương, đường lối, các nguyên tắc, quy định của Đảng, có tư tưởng vụ lợi, cá nhân chủ nghĩa..., thì sẽ dẫn đến thiếu đoàn kết, thống nhất trong nội bộ lãnh đạo; nhiệm vụ chính trị không được hoàn thành, trong cơ quan, đơn vị thường xảy ra tiêu cực, thậm chí tham nhũng, lãng phí, vi phạm Điều lệ Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không những gây thiệt hại về kinh tế, mà còn làm tổn thất, mất mát về cán bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

HAIVAN

Những vấn đề cần chú ý trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay

 

Như vậy, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng trên các phương diện chính là: Trong công tác tổ chức; trong hoạt động lãnh đạo trong sinh hoạt đảng và trong các mặt khác của công tác xây dựng Đảng. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là việc phức tạp, phạm vi phải xây dựng các quy định rất rộng, cần sự kiên trì và sự chỉ đạo tập trung.

Việc hoàn thiện cơ chế để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay cần tập trung vào xây dựng, hoàn thiện các quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ sao cho khắc phục được những hạn chế, bất cập trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, như tình trạng dân chủ hình thức; bóp méo dân chủ để phục vụ ý đồ cá nhân; không quy được trách nhiệm cá nhân khi có sai phạm xảy ra; nhân danh nguyên tắc tập trung dân chủ nhưng hành xử gia trưởng, độc đoán... Trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay, cần lưu ý một số vấn đề sau:

1. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng, bầu người đứng đầu trong các tổ chức của Đảng.

Cần hoàn thiện các quy định về chế độ bầu cử theo hướng mở rộng bầu cử trực tiếp cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy từ cơ sở đến cấp huyện, tỉnh từ nay đến năm 2030. Để khắc phục tình trạng dân chủ hình thức và bóp méo dân chủ trong bầu cử ở nơi này hay nơi khác, theo tinh thần mở rộng quyền đề cử và tự ứng cử, cần giới thiệu nhiều phương án nhân sự để lựa chọn, quy định bắt buộc có số dư trong giới thiệu ứng cử và bầu cử cấp ủy và cả các chức danh là người đứng đầu. Sự không hài lòng trong dư luận, tính hình thức và nguy cơ làm biến dạng dân chủ do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu ở tình trạng phổ biến là chỉ có một ứng viên cho một chức danh lãnh đạo trong bầu cử hiện nay.

Bên cạnh đó, cũng cần tập trung nghiên cứu thực hiện chế độ để những người tham gia bầu có thể bãi miễn đại biểu do mình bầu ra.

2. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong Đảng.

Cần hoàn thiện các quy chế làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng, trong đó quy định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo (cấp ủy, ban thường vụ, ban cán sự đảng...) theo hướng chỉ bàn và quyết định những vấn đề lớn, chỉ trực tiếp quản lý cán bộ là người đứng đầu; đồng thời, tăng thẩm quyền, trách nhiệm của cá nhân là thành viên tập thể lãnh đạo, người đứng đầu (nhất là bí thư, các phó bí thư cấp ủy), đi đôi với hoàn thiện các quy định, thiết chế kiểm soát quyền lực bằng chế độ kiểm tra, giám sát, bỏ phiếu bất tín nhiệm...

Hoàn thiện quy định về chế độ tổ chức, làm việc của thường trực cấp ủy, ban cán sự đảng và đảng đoàn vì đây là những cơ cấu tổ chức đặc biệt, được hình thành không do bầu cử trực tiếp, nhưng có trách nhiệm, thẩm quyền rất lớn, dễ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ nếu thiếu các quy định cụ thể và chế độ kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Trong trường hợp bí thư cấp ủy đồng thời làm chủ tịch ủy ban nhân dân, vẫn phải bố trí thường trực cấp ủy đủ ba thành viên lãnh đạo để thực hiện được nguyên tắc tập trung dân chủ.

3. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong đại hội đảng.

Cần xây dựng, hoàn thiện các quy định bảo đảm Đại hội đại biểu toàn quốc thật sự là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng; đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên là cơ quan lãnh đạo có vị trí, vai trò cao nhất trong tổ chức đảng, khắc phục biểu hiện hình thức của đại hội đảng các cấp. Ngay trong chính đảng mác-xít đầu tiên do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập là Liên đoàn những người cộng sản, Điều lệ của Liên đoàn năm 1847 đã quy định Ban chấp hành trung ương tham dự Đại hội, nhưng không có quyền biểu quyết. Với quy định này, cho thấy C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã rất quan tâm đến ngăn chặn ảnh hưởng của ban chấp hành đối với đại hội đảng và là chỉ dẫn có ý nghĩa đối với vấn đề hạn chế ảnh hưởng quá mức của ban chấp hành đến đại hội đảng.

Cần xây dựng quy định về chế độ thảo luận trong đại hội đảng bảo đảm sự thảo luận, tranh luận thật sự trong đại hội đảng, khắc phục tính hình thức của tham luận tại đại hội.

4. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ ra nghị quyết và chấp hành nghị quyết.

Xây dựng, hoàn thiện quy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể. Các quy định phải bảo đảm để mọi cán bộ, đảng viên thực hiện được quyền tham gia quyết định công việc của Đảng; quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức; khi Đảng đã có nghị quyết thì phải nói và làm theo nghị quyết. Quy định rõ chế độ lãnh đạo các cấp phải lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của đảng viên và nhân dân, hồi đáp các ý kiến góp ý, các kiến nghị.

 Xây dựng, hoàn thiện chế độ thảo luận, tranh luận trong xây dựng nghị quyết bảo đảm khuyến khích mọi đảng viên thảo luận dân chủ tất cả mọi vấn đề trong phạm vi chức năng tổ chức đảng của mình; đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng phải tạo cơ chế để khơi gợi, khuyến khích được đảng viên dân chủ thảo luận, phát huy cao nhất tính sáng tạo và giá trị đóng góp của đảng viên. Bảo đảm tất cả ý kiến của đảng viên phải được tôn trọng, ghi nhận, kể cả có đúng, có sai, dù xuôi chiều hay trái chiều. Không đưa ra các quy định hạn chế ý kiến góp ý, chất vấn, hay đồng nhất việc có ý kiến trái chiều với sự mất đoàn kết trong tổ chức đảng.

Chế độ ra quyết định phải bảo đảm việc ban hành nghị quyết của Đảng đều trên cơ sở được tổ chức thảo luận dân chủ rộng rãi, lấy ý kiến của các tổ chức đảng và đảng viên từ cơ sở trở lên, lấy ý kiến góp ý của nhân dân nếu cần, được cân nhắc nhiều mặt, phân tích thấu đáo, nhất là những vấn đề có ý kiến trái chiều trước khi quyết định. Đối với những vấn đề mới, khó, phức tạp thì cần được tổ chức hội thảo, tọa đàm để tiến hành thảo luận, trao đổi kỹ lưỡng, xin ý kiến chuyên gia trước khi quyết định.

5. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện quyền và nhiệm vụ của đảng viên.

Cần cụ thể hóa các quy định để thực sự thực hiện được các quyền của đảng viên về: Quyền được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng; quyền ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương; quyền phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời; quyền trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình. 

6. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện thẩm quyền của tổ chức đảng các cấp.

Cần xây dựng, hoàn thiện các quy định về việc tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình nhưng không trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên. Điều này sẽ ngăn ngừa được tình trạng vi phạm thẩm quyền khi ban hành các nghị quyết, dẫn đến việc ban hành các nghị quyết sai trái của một số tổ chức đảng như trong thời gian vừa qua. Thực hiện có nền nếp chế độ kiểm tra, giám sát các quyết định của tổ chức đảng các cấp và xử lý các quyết định trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng, nghị quyết của cấp trên và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

7. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ báo cáo và thông báo hoạt động của cấp ủy.

Quy định rõ về chế độ cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp; cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước cấp dưới, bảo đảm thật sự là một “kênh” kiểm soát quyền lực trong Đảng; chế độ định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, thực chất tự phê bình và phê bình.

8. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài. Cơ chế phát hiện, tuyển chọn phải bảo đảm phát hiện từ cơ sở để lựa chọn được người có đầy đủ phẩm chất, năng lực, xứng đáng được bầu vào cấp ủy khóa mới; phát hiện người có tài, đức để tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng.

Thực hiện nghiêm và hoàn thiện chế độ ràng buộc trách nhiệm cả về chính trị, tinh thần và kinh tế với người đề cử, tiến cử trong công tác nhân sự nếu việc đề cử, tiến cử vi phạm các quy định, để chống tư tưởng cục bộ, bản vị, địa phương, thân quen, “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm”; đồng thời, tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc trong công tác cán bộ. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát có nền nếp việc chấp hành nghiêm Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Cần tập trung kiểm tra, giám sát thực hiện quy định về không bố trí những người có quan hệ gia đình (vợ, chồng; bố, mẹ của vợ hoặc chồng; con, anh chị em ruột) cùng đảm nhiệm các chức danh có liên quan như: Bí thư, phó bí thư, trưởng ban tổ chức, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cùng cấp ủy; chủ tịch ủy ban nhân dân và người đứng đầu cơ quan nội vụ, thanh tra cùng cấp ở một địa phương; thành viên trong cùng ban cán sự đảng, đảng đoàn; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong cùng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát để phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp xen ghép ý đồ cá nhân, đề ra tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt, không đúng bản chất, không đúng sự thật nhằm vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình tham mưu thực hiện quy trình công tác cán bộ; để vợ, chồng, bố, mẹ, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để thao túng, can thiệp công tác cán bộ. Cần thực hiện ráo riết các biện pháp trọng tâm như trên để đưa việc chấp hành các quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ đi vào nền nếp, trở thành văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị.

Thường xuyên hoàn thiện cơ chế phát hiện, thay thế kịp thời những cán bộ kém năng lực và kém phẩm chất, có khuyết điểm nghiêm trọng, không còn đủ uy tín. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát có nền nếp việc chấp hành Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”.

9. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tư tưởng.

Xây dựng và hoàn thiện chế độ thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác lý luận theo hướng mở rộng dân chủ trong nghiên cứu lý luận, thu hút và phát huy trí tuệ của đông đảo các chuyên gia trên các lĩnh vực cùng tham gia; tạo môi trường cho nghiên cứu dự báo phát triển. Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới, khó phải được tổ chức nghiên cứu một cách thấu đáo, chuyên sâu, bài bản.

Cần quy chế hóa trách nhiệm và khuyến khích sự cống hiến của đảng viên làm công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, đồng thời cụ thể hóa các điều cấm đối với đảng viên theo Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm” trong nói, viết, tuyên truyền, để tạo thành chế độ vừa phát huy dân chủ, thúc đẩy sáng tạo, vừa bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật trong công tác tư tưởng.

10. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số.

Cần xây dựng quy định về chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số, gồm: Trường hợp được bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số; quy trình và thời gian xử lý bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số; quyền và trách nhiệm của đảng viên có ý kiến được bảo lưu; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nghiêm tình trạng bảo lưu mang tính hình thức; ngăn ngừa sự lợi dụng, lạm dụng quyền dân chủ của một số đảng viên.

HAIVAN