Thứ Tư, 12 tháng 7, 2023

LUÔN VÌ NƯỚC VÌ DÂN, VIỆC ĐẢNG, VIỆC QUÂN ĐỀU TỐT

 LUÔN VÌ NƯỚC VÌ DÂN,

VIỆC ĐẢNG, VIỆC QUÂN ĐỀU TỐT
Là một trong những học trò xuất sắc của Bác Hồ, Đại tướng Văn Tiến Dũng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng. Gần 70 năm đi theo cách mạng, dù ở bất kỳ cương vị công tác, điều kiện, hoàn cảnh nào, đồng chí cũng cũng cố gắng vượt qua khó khăn, chịu khó rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; là tấm gương sáng về phẩm chất của người cán bộ cách mạng, suốt đời “tận trung với Đảng, tận hiếu với dân”, chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân.
1. Đại tướng là người chiến sĩ cách mạng kiên trung, đã sớm giác ngộ và bước vào hoạt động cách mạng. Năm 1936, khi mới 17 tuổi, đã là thợ dệt ở Hà Nội, tham gia phong trào dân chủ do Đảng Cộng sản Đông Dương phát động, đòi các quyền dân chủ, dân sinh của người lao động; khi tròn 20 tuổi, được Đảng giao nhiệm vụ trong Ban lãnh đạo Hội Ái hữu thợ dệt... Ba lần bị bắt, bị bỏ tù, giam cầm và tra tấn dã man nhưng thực dân Pháp và tay sai không khuất phục được ý chí cách mạng của đồng chí. Khi thời cơ đến, đồng chí đã dũng cảm vượt ngục, bị mất liên lạc với tổ chức, nhưng vẫn kiên trì hoạt động và liên lạc với Đảng.
Đồng chí được Đảng giao nhiều trọng trách quan trọng: Thư ký Ban Thường trực Liên đoàn Lao động Hà Nội (1939), Bí thư Đảng bộ Bắc Ninh (1-1944), Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ (4-1944), Ủy viên Thường vụ Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ (1945) và trực tiếp phụ trách xây dựng và chỉ huy Chiến khu Quang Trung (gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa), nhằm chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân. Nhờ đó, khi Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc phát lệnh tổng khởi nghĩa, các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa đã đồng loạt vùng lên, giành chính quyền.
2. Đại tướng Văn Tiến Dũng là người cán bộ chính trị mẫu mực, tài năng, có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển CTĐ, CTCT, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Năm 1946, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) - người đứng đầu cơ quan chỉ đạo chiến lược về CTĐ, CTCT trong Quân đội, đồng chí đặc biệt chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị toàn quân. Trong đó, xác định vấn đề đầu tiên là phải “coi trọng công tác giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức tư tưởng, giác ngộ giai cấp cho mọi cán bộ, chiến sĩ”. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí, Hội nghị Chính trị viên toàn quốc lần thứ nhất (2-1947) đã đề ra 12 điều kỷ luật dân vận, 10 nhiệm vụ của công tác chính trị trong Quân đội ta. Từ đây, xác định đại đội là đơn vị căn bản của công tác chính trị trong Quân đội.
Để khắc phục tư tưởng tuyệt đối hóa vai trò của quân sự, dẫn tới thói kiêu căng, thắng thì kiêu, bại thì nản, coi thường hệ thống công tác chính trị trong Quân đội. Tại Hội nghị “Rèn luyện cán bộ, chấn chỉnh Quân đội” (5-1949), đồng chí đã phê phán quan điểm quân sự thuần túy và phân định rõ ràng trách nhiệm giữa đội trưởng và chính trị viên; góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; xây dựng hệ thống cơ quan công tác chính trị và cán bộ chính trị ngày càng vững mạnh trong Quân đội.
3. Đại tướng Văn Tiến Dũng là vị tướng mưu lược, người chỉ huy quân sự tài ba của Quân đội trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với cương vị là Chính trị Ủy viên Liên khu 3, rồi Chính ủy kiêm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng bằng), sau là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí đã sáng tạo quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng, dựa vào dân mà chiến đấu; thắt chặt mối quan hệ quân - dân. Đây là một chủ trương rất quan trọng để đánh “nở hoa trong lòng địch”, khiến thực dân Pháp và tay sai bất ngờ, bạt vía, kinh hoàng.
Tháng 11-1953, đồng chí được Đảng, Bác Hồ giao nhiệm vụ là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và tham gia Tổng Quân ủy. Trên cương vị này, đồng chí đã cùng với các đồng chí trong Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tham mưu hoạch định và tổ chức thực hiện thành công nhiều kế hoạch tác chiến chiến lược Đông - Xuân 1953-1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968); cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đồng chí là một tài năng quân sự xuất chúng, nhà tham mưu chiến lược tài ba; trực tiếp chỉ đạo tác chiến, điển hình là Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Chiến dịch Trị - Thiên (1972), Chiến dịch Tây Nguyên (3-1975)... Đặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4-1975), đồng chí đã được cử làm Tư lệnh. Cùng với Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Chỉ huy Mặt trận, đồng chí đã quyết định chuyển hướng tiến công của Quân đoàn 4 nhằm phá toang “Cánh cửa thép” - tuyến phòng thủ cuối cùng của ngụy quyền, tạo điều kiện thuận lợi để quân ta thọc sâu vào nội đô, làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, đồng chí tiếp tục có những cống hiến quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Cống hiến nổi bật của Đại tướng Văn Tiến Dũng là góp phần hoàn thiện lý luận quân sự, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam; nghệ thuật tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân, nòng cốt là Quân đội nhân dân; nghệ thuật tác chiến chiến dịch, chiến lược với các loại hình cơ bản: tiến công, phòng ngự, phản công... Đó cũng là dấu ấn sâu sắc về tư duy quân sự, nghệ thuật chỉ đạo, chỉ huy tác chiến của Đại tướng đối với nền khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Kỷ niệm 21 năm ngày mất của Đại tướng Văn Tiến Dũng, ôn lại những cống hiến to lớn của Đại tướng đối với cách mạng Việt Nam, đối với dân tộc và Quân đội ta; cán bộ, chiến sĩ toàn quân thêm tự hào về người chiến sĩ cộng sản kiên trung, mẫu mực, vị Đại tướng mưu lược, văn võ song toàn; có thêm ý chí, nghị lực, củng cố niềm tin, ra sức phấn đấu, rèn luyện và học tập, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.

BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG VỀ TÂY NGUYÊN VÀ NGƯỜI THƯỢNG

 BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG VỀ TÂY NGUYÊN VÀ NGƯỜI THƯỢNG

Những suy diễn, nhận định không khách quan, không đúng bản chất vấn đề về Tây Nguyên và người Thượng của các thế lực thù địch là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chống phá Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhân sự kiện 2 nhóm đối tượng sử dụng vũ khí tấn công trụ sở công an xã Ea Tiêu và Ea Ktur trên địa bàn huyện Cư Kuin ngày 11/6/2023, mạng xã hội xuất hiện không ít những bài viết nhân danh tôn giáo, nhân quyền để xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Tây Nguyên là “bị ngăn cách với thế giới”, “bị cô lập”, bị “chính quyền áp đặt văn hóa và mị dân”. Đồng thời, bôi đen sự thật khi cho rằng người Thượng bị “o ép”, bị “ngăn cản” cấm không được ra nước ngoài, bị “cấm không được theo đạo Tin Lành”, bị “người Kinh cướp đất” nên bức xúc “tấn công chính quyền vì tức nước vỡ bờ”’… Song sự thật thì “đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nằm trong âm mưu, hoạt động của số phản động Fulro lưu vong nhằm thành lập “Nhà nước Đề ga”, gây ra bất ổn đối với Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung” như đồng chí Trương Thị Mai, Thường trực Ban Bí thư đã nhấn mạnh tại Hội nghị đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến địa bàn Tây Nguyên, tổ chức ngày 7/7/2023 vừa qua.
TÂY NGUYÊN KHÔNG BAO GIỜ BỊ CÔ LẬP MÀ NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN
Tây Nguyên gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng là một vùng lãnh thổ đặc thù của Tổ quốc - nơi bên chân dãy Trường Sơn đại ngàn, đồng bào các dân tộc thiểu số anh em đã tạo dựng lên vùng đất Tây Nguyên kiêu hãnh, hào hùng. Trong hàng ngàn năm kiến tạo, người dân Tây Nguyên bao đời phải chống chọi với gian nan, thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên và sự tàn bạo, coi thường của kẻ thù. Không cam chịu đắm chìm trong đói nghèo, lạc hậu, trong cảnh bị đối xử kỳ thị, bất công của chính sách ngu dân, chia để trị nhằm gây mâu thuẫn, chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em, đồng bào Tây Nguyên nghe theo tiếng gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đất nước đứng lên, kề vai sát cánh chiến đấu chống lại thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược để thống nhất đất nước.
Vì thế, Tây Nguyên không bao giờ bị “ngăn cách với thế giới”. Bởi, trước năm 1975, dân số Tây Nguyên chưa đến 1 triệu người, nhưng hiện nay do nhiều đợt di dân, nên đã có hơn 5 triệu người (tăng hơn 5 lần trong vòng 40 năm qua). Theo Tổng cục Thống kê, địa bàn Tây Nguyên hiện có đủ 54 dân tộc anh em cùng sinh sống và là vùng có đông thành phần dân tộc nhất Việt Nam/nơi duy nhất có đủ các nhóm ngôn ngữ - dân tộc của Việt Nam cùng sinh sống (đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chỉ còn chiếm 26,58%, đồng bào Kinh chiếm 64,69%, các dân tộc nơi khác đến chiếm 8,73%). Thực tế cho thấy, những dòng người di cư từ khắp nơi đã không chỉ mang đến Tây Nguyên những phương pháp canh tác sản xuất khác cư dân tại chỗ, mà còn mang đến vùng đất này những lối sống, những bản sắc văn hóa vùng miền khác nhau, tạo nên một bức tranh đa dạng, sinh động về lối sống, văn hóa, tôn giáo…; trong đó, đáng lưu ý nhất là từ năm 1986 đến nay đã có khoảng 50. 000 người Hmông từ phía Bắc di cư vào Tây Nguyên (đa số người Hmông di cư là tín đồ theo Đạo Tin lành).
Một Tây Nguyên suốt chiều dài lịch sử luôn là một phần “máu thịt” của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; từng đồng cam cộng khổ và kiên cường đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột của triều đình nhà Nguyễn, chống lại sự thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để được giải phóng, để thống nhất trong lòng Tổ quốc chắc chắn không bao giờ bị “ngăn cách với thế giới” như các thế lực thù địch bịa đặt. Một Tây Nguyên là địa bàn chiến lược, giữ một vị trí trong yếu trong quốc phòng, an ninh và sự phát triển bền vững của quốc gia luôn là “miền đất hứa” mà các thế lực muốn xâm chiếm Đông Dương, đe dọa sự tồn vong của Việt Nam, Lào, Campuchia và châu Á nhòm ngó. Và thực tế là, mặc dù các thế lực thù địch liên tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, kỳ thị sắc tộc để gây ra cuộc biểu tình, bạo loạn (tháng 2/2001, tháng 4/2004 và gần đây là cuộc tấn công trụ sở công an xã trên địa bàn huyện Cư Kuin ngày 11/6/2023), hòng làm cho Tây Nguyên bất ổn, để từ đó xuyên tạc sự thật tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của vùng đất này; nhất là bôi đen vấn đề thực thi nhân quyền và tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, song có thể khẳng định rằng: Tây Nguyên không chỉ ổn định mà còn tiếp tục phát triển.
Với việc triển khai thực hiện Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 18/1/2002 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên”, hệ thống chính trị các cấp ở Tây Nguyên đã không chỉ tập trung giải quyết những vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách, mang tính đột phá như đất đai, nhà ở, việc làm, nước sinh hoạt, xóa đói nghèo, y tế… cho bà con các dân tộc thiểu số, mà còn chú trọng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống bản địa, đặc sắc của cộng đồng các dân tộc anh em. Cùng với đó, việc huy động mọi nguồn lực phát triển mạng lưới giao thông như hệ đường bộ toàn vùng kết nối các tỉnh Tây Nguyên, mở rộng cơ hội giao thương với các trung tâm lớn cả nước và các nước trong khu vực. Hệ thống giao thông liên cửa khẩu nối liền Tây Nguyên với Campuchia và Lào, qua các cửa khẩu quốc tế ĐĐắk Ruê (Đắk Lắk), Lệ Thanh (Gia Lai), Bờ Y (Kon Tum). Đường hàng không phát triển với ba sân bay Liên Khương, Buôn Ma Thuột và Pleiku; đường Hồ Chí Minh cùng đường hành lang kinh tế Đông - Tây đi qua các tỉnh vùng Tây Nguyên… đã không chỉ tạo điều kiện để các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới được thông thương thuận tiện, mà còn góp phần phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và nâng cao đời sống nhân dân vùng Tây Nguyên.
Thực tế, những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng Tây Nguyên đều tăng cao hơn so với bình quân chung của cả nước. Cụ thể, “giai đoạn 2016 - 2020, tăng trưởng bình quân của vùng Tây Nguyên đạt 6,55%; GRDP bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 55,6 triệu đồng/người, gấp 1,4 lần so với năm 2016. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ. Tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, thuế trợ cấp sản phẩm năm 2020 tương ứng là 33,51%; 21%, 40,83% và 14,66%”(1). Vì thế mà, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã ngày càng chuyển biến tích cực, khởi sắc; cuộc sống du canh, du cư, ốm đau bệnh tật được khắc phục dần; đời sống văn hóa, tinh thần ngày càng phong phú, đa dạng... Cũng vì thế, Tây Nguyên không phải “là vùng đất gần như đóng cửa với thế giới” mà là kết nối để phát triển bền vững. Bởi, đánh giá đúng vị trí chiến lược và vai trò đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Tây Nguyên, Đảng và Nhà nước Việt Nam không chỉ quan tâm lãnh đạo, chăm lo đầu tư xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng Tây Nguyên sau hai cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm (1945-1975) đã để lại hậu quả nặng nề, mà còn đặc biệt quan tâm phát triển vùng đất này trên tinh thần làm tốt kinh tế, xã hội sẽ góp phần quan trọng vào ổn định chính trị, trật tự xã hội; và ngược lại, tình hình ổn định tốt thì mới yên tâm phát triển kinh tế-xã hội như Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 6/10/2022 của Bộ Chính trị về “Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Nghị quyết 23).
Quan điểm “phát triển Tây Nguyên nhanh, bền vững là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và là nhiệm vụ xuyên suốt, trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển của các địa phương trong vùng và cả nước” và “xây dựng và phát triển Tây Nguyên kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường gắn chặt với quốc phòng, an ninh và đối ngoại” đã, đang được triển khai. Đó chính là, phát triển hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông, góp phần phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây, hàng lang kinh tế Bắc - Nam để kết nối vùng, tạo không gian phát triển mới; phát triển hạ tầng y tế, giáo dục và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… Đó là thực hiện các chính sách để nâng cao trình độ dân trí, đời sống vật chất và tinh thần của người dân; hình thành nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong đồng bào các dân tộc. Đồng thời, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống tốt đẹp, các di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu các dân tộc Tây Nguyên gắn liền với việc duy trì, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa tiêu biểu đặc trưng của vùng và di sản văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số… với dự kiến tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 là khoảng 7-8%.
Các con số “cơ cấu kinh tế năm 2025: nông nghiệp 29,6%; công nghiệp - xây dựng 25,4%; dịch vụ 40,4%; thuế sản phẩm 4,6%. GRDP bình quân/người đến năm 2025 khoảng 85 triệu đồng. Tập trung huy động mọi nguồn lực để đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng, hạ tầng đô thị, công nghệ thông tin; chú ý phát triển giao thông kết nối các cảng biển miền Trung và Vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, tập trung đầu tư phát triển các công trình thủy lợi lớn, kênh dẫn kết nối, các hồ chứa nhằm đảm bảo nước tưới cho sản xuất; tăng cường phối hợp và liên kết vùng, xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả nhằm khai thác được các tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, của vùng”(2) … đã cho thấy: Mọi quyết sách liên quan đến Tây Nguyên là nhằm để chuyển khu vực Tây Nguyên từ trạng thái “ổn định để phát triển” sang “phát triển để ổn định” như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định tại Hội nghị triển khai Nghị quyết 23 ngày 20/11/2022. Vì thế, luận điệu Tây Nguyên bị “cô lập”, bị “đóng cửa”, bị “ngăn cách” đều là không khách quan; là xuyên tạc sự thật.
NGƯỜI THƯỢNG VÀ ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC ĐỀU CÙNG CHUNG SỨC XÂY DỰNG, BẢO VỆ TỔ QUỐC
Người Thượng là danh từ gọi chung những nhóm sắc tộc bản địa sinh sống tại vùng Tây Nguyên, dãy Trường Sơn, vùng Đông Nam Bộ và một phần lãnh thổ của Campuchia và Lào. Người Thượng (Bahnar, Sedang, Hré, Mnong, Stieng thuộc ngữ hệ Môn Khmer/Nam Á và Djarai, Rhadé, Raglai thuộc ngữ hệ Malayo Polynésien/Nam Ðảo) cũng là con dân của dân tộc Việt Nam; từng chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như bảo vệ vùng đất mà họ cư trú. Tuy nhiên, vì vị thế địa chính trị đặc biệt của những vùng đất nơi sinh trú của người Thượng có tầm quan trọng đối với sự ổn định, phát triển bền vững của Việt Nam, Lào, Campuchia và khu vực, cho nên, người Thượng luôn là “đối tượng” mà các thế lực xâm lược, thù địch muốn lợi dụng, lôi kéo, kích động, thống trị, bóc lột… Thực tế, dưới thời Pháp thuộc, đồng bào Thượng ở Tây Nguyên cũng như các dân tộc anh em khác chỉ là những nô lệ, quanh năm suốt tháng làm thuê, làm mướn, sống cuộc đời tăm tối. Đến thời Mỹ - ngụy xâm chiếm thì cùng với việc thực hiện chính sách ngu dân, chia để trị, gây mâu thuẫn, nghi kỵ, chém giết giữa các dân tộc, người dân Tây Nguyên không chỉ bị đối xử bất bình đẳng mà các phong tục, tập quán bị kỳ thị và bản sắc văn hóa cũng bị xóa nhòa…
Chỉ đến khi có Đảng lãnh đạo, đi theo Đảng cùng đồng bào các dân tộc anh em đoàn kết tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thì đồng bào Thượng ở Tây Nguyên mới thoát khỏi kiếp lầm than đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy độc lập càng cần phải đoàn kết hơn nữa”(3) và “đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”(4) …
Đặc biệt, khẳng định vị thế của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào Thượng nói riêng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và nêu rõ trách nhiệm của đồng bào cả nước trước họa ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục. Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ” để săn sóc cho tất cả các đồng bào. Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta”(5). Vì thế, tất cả dân tộc anh em phải đoàn kết chặt chẽ để “giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta” và “chúng ta phải yêu thương nhau, kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”(6).
Có thể khẳng định rằng, đánh giá đúng vị trí, vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào Thượng/người Thượng nói riêng trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng, tình cảm và sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là động lực để đồng bào Thượng ở Tây Nguyên tin tưởng vào Đảng và Chính phủ cũng như thủy chung, son sắt đi theo Đảng, chịu sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết với đồng bào cả nước để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong cuộc trường chinh đầy gian khổ, hy sinh dài 30 năm (1945-1975), đồng bào các dân tộc Tây Nguyên/đồng bào Thượng đã không chỉ phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất để kề vai, sát cánh cùng đồng bào Kinh xây dựng, bảo vệ căn cứ cách mạng, anh dũng chiến đấu chống kẻ thù chung, mà còn làm rạng rỡ mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ với những tên tuổi của các anh hùng Đinh Núp, dân tộc Ba Na; Kpă Klơng, Kpă Ó, dân tộc JRai; Y Buông, A Tranh, dân tộc Xơ Đăng; A Mét, dân tộc Giẻ Triêng; N’Trang Lơng, dân tộc M’Nông; với những vị cách mạng tiêu biểu sau này như Y Ngông Niê Kđăm; Y Bih Alêô, dân tộc Ê Đê; Nay Đer, dân tộc JRai; Bi Năng Tắc, dân tộc Raglai; Điểu Ong, dân tộc Xtiêng…
Mấy thập niên phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của những người con núi rừng, cùng đồng bào cả nước kiên cường đấu tranh vì một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, “quân và dân Tây Nguyên, già, trẻ, gái, trai, Kinh, Thượng đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua giết giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn, cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”(7) và “đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch”(😎 để xây dựng, bảo vệ vùng đất Tây Nguyên và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.
Suốt dòng lịch sử, Tây Nguyên luôn là mạch nguồn truyền thống anh hùng, keo sơn gắn bó trong tình anh em, nghĩa đồng bào của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và luôn một lòng sắt son với Đảng, với Bác Hồ. Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp nối truyền thống của những N’Trang Lơng, Ama Jhao, N’Trang Gưh, Đinh Núp, A Sanh, Bi Năng Tắc, K’Đen… đồng bào các dân tộc Bahnar, Sedang, Hré, Mnong, Stieng, Djarai, Rhadé, Raglai,v.v.. sinh sống lâu đời ở vùng Tây Nguyên cùng đồng bào Kinh và các dân tộc thiểu số khác tiếp tục trọn niềm tin vào Đảng, vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng để kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, dù phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách.
Tuy nhiên, có một sự thật không thể phủ nhận là, ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, Tây Nguyên chính là một trong những địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch lựa chọn để thực hiện “diễn biến hòa bình” và người Thượng chính là “đối tượng” để các phần tử phản động, cơ hội, thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động. Song, kiên trung với Đảng và không phụ lòng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không chỉ nếm mật, nằm gai cùng cả nước trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, viết nên những trang sử chói ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam vì sự nghiệp giải phóng, mà còn tiếp tục chung sức, đồng lòng xây dựng, bảo vệ và phát triển Tây Nguyên bền vững trên con đường đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời, tận dụng tối đa mọi nguồn lực, phát huy lợi thế và tiềm năng sẵn có của mình để cùng đồng bào cả nước xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Vì thế, mọi luận điệu cho rằng “người Thượng bị tước đoạt đất đai, bị ép từ bỏ đạo Tin Lành”, bị người Kinh “thượng đẳng o ép”, bị “ngăn cản khi muốn sang định cư ở nước ngoài”; “chính quyền bắt đầu truy quét các nhà thờ Tin Lành ở Tây Nguyên” và “các cuộc biểu tình rầm rộ của người Thượng chính là nhằm để đòi tự do tôn giáo và được trả lại đất đai” hay Đảng Cộng sản Việt Nam “luôn đi ngược lại chính sách đại đoàn kết dân tộc” và “giờ đây lại còn đổ vấy trách nhiệm về biến cố xả súng ở huyện Cư Kuin là do các thế lực thù địch” đều không phải là sự thật, đều là phản động. Đồng thời, những chiêu trò, thủ đoạn lợi dụng, núp bóng nhân quyền, tôn giáo, lợi dụng những vấn đề lịch sử để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai, tự trị trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số và đòi thành lập “Nhà nước Đềga độc lập” ở Tây Nguyên của các thế lực thù địch đều là nhằm mục đích chia rẽ người dân tộc thiểu số với người Kinh; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ. Ở Việt Nam, không có chuyện Tây Nguyên và người Thượng bị “đóng cửa với thế giới”, bị “đàn áp”, mà chỉ có một sự thật là nếu nhân danh tôn giáo, nhân quyền để hoạt động gây rối, vi phạm pháp luật thì tất yếu sẽ bị xử lý nghiêm minh./.

Chúng ta cần có tầm nhìn, sự định hướng về những giá trị cao đẹp cho lớp trẻ hiện nay

Chúng ta đang sống trong một môi trường có nhiều cơ hội để thách thức, để dấn thân, đang hòa mình vào giai đoạn hội nhập quốc tế, văn hóa đa dạng với đầy đủ những mặt tốt, xấu. Sự cuốn hút của đồng tiền cũng đã tác động vào tư tưởng, suy nghĩ của lớp trẻ, kích thích lối sống vật chất ở nhiều bộ phận của giới trẻ, điều đó chúng ta không hề phủ nhận. Sống trong một xã hội đang chuyển giao, chẳng trách nhiều bạn trẻ có suy nghĩ hỗn độn, kể cả sự mâu thuẫn trong nhiều giá trị cũ và mới làm cho giới trẻ có phần “lo lắng” và trong số đó không ít bạn đã “hoang mang” và phần nào mất định hướng. Nhưng không vì thế mà chúng ta không tin tưởng vào giới trẻ, không vì thế mà vội phê phán giới trẻ sống thực dụng, sống không lí tưởng. Hơn ai hết, chúng ta đang nhận thấy giới trẻ phải chịu áp lực mạnh mẽ bởi vì để định hình xu hướng sống, giới trẻ cần có bản lĩnh và sự tỉnh táo. Giới trẻ biết cách hoạch định mục tiêu rõ ràng, biết dấn thân và có trách nhiệm với chính quyết định của mình, rõ ràng và thẳng thắn: như thế có phải là thực dụng hay thật ra giới trẻ chỉ đang sống rất thực tế, rõ ràng hơn những bậc đàn anh đi trước mà thôi. Giới trẻ hiện nay đang chịu tác động như thế nào từ cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập quốc tế. Sống cuộc sống sau chiến tranh, cách quá khứ không xa nhưng cũng đủ cho chúng ta chiêm nghiệm về những ảnh hưởng của chiến tranh, lớn lên trong thời bao cấp với nhiều khốn khó của một xã hội đang “thay da đổi thịt”, đang từng bước “quá độ”, thay đổi liên tục buộc chúng ta cũng phải thích ứng liên hồi. Nghe đến “thực dụng”, người ta nghĩ đến việc bạn trẻ yêu thực dụng, học thực dụng, sống thực dụng. Bản thân từ thực dụng, không biết từ khi nào đã trở thành từ nghĩa “xấu” dành riêng cho giới trẻ và bị người khác lên án, phê phán. Tôi cho rằng, giới trẻ sống rất thực tế chứ không thực dụng như mọi người nghĩ. Các bậc đàn anh đi trước cũng như thế nhưng họ ý nhị hơn, họ khéo léo hơn nên không bị “gán ghép” còn giới trẻ thì thẳng thắn, bộc trực, có hoạch định rõ ràng, sự hoạch định dựa trên những điều có trong tay. Họ không lợi dụng ai, không “đè bẹp” ai để leo lên, không mưu mô, toan tính để đạt được mục tiêu. Phải chăng, lớp trẻ hiện nay do chưa có tầm nhìn toàn cục nên chỉ vạch ra mục tiêu gần, đây cũng có thể là điều cần suy ngẫm. Nhưng nếu vì thế lại đánh giá họ là “không có lí tưởng”, “sống vụ lợi cá nhân hơn là vì cộng đồng” thì có thể là hơi “nặng tay”. Dung hòa giữa cái nhìn chung và cái nhìn riêng, giữa định hướng lý tưởng và nhu cầu là điều thực sự cần thiết. Giới trẻ hay nói bông đùa rằng: “Không sống vì mình thì trời tru đất diệt”, nhưng qua đó chúng ta thấy rằng, nếu cá nhân sống thật tốt, sống có ích, không gây thiệt hại cho người khác thì có nghĩa là cá nhân đang làm cho cộng đồng, xã hội tiến bộ. Bản thân sống không tốt thì nói gì đến sự tiến bộ xã hội. Khoan vội nói đến lí tưởng xa vời, xây dựng và biến đổi xã hội thật cao siêu khi sức mình chưa kham nổi. Luân lý ở chỗ là lý tưởng sẽ mang tính chủ quan của con người trong sự định hướng của toàn cục. Sống tốt cho mình và biết hướng đến những giá trị cao cả trong sự cân đối cũng là cái nhìn hợp lý. Lí tưởng rất gần gũi quanh chúng ta, đơn giản như một người trẻ miệt mài kiếm tiền, đặt khát vọng làm giàu chân chính lên trước hết hoàn toàn có thể là một người sống có lí tưởng rồi.

CÂU LẠC BỘ GẮN KẾT TÌNH ĐỒNG ĐỘI

 

Mỗi năm huyện Châu Thành có khoảng 150 quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trở về địa phương. Đây là lực lượng đông đảo liên tiếp được bổ sung nên cũng liên tục tăng cả về số lượng lẫn chất lượng. Do đã được rèn luyện trong quân ngũ, có sức khỏe và phẩm chất tốt, nên lực lượng này nếu được tiếp tục giúp đỡ, tạo điều kiện để phát huy bản chất, truyền thống của bộ đội “cụ Hồ” thì sẽ là lực lượng nòng cốt trong các phong trào cách mạng ở địa phương. Nhận thức được ý nghĩa quan trọng đó, Hội Cựu chiến binh (CCB) huyện Châu Thành đã phát huy trách nhiệm chủ trì phối hợp với cơ quan quân sự, Đoàn thanh niên các cấp tham mưu và tiến hành vận động, tập hợp Cựu quân nhân (CQN) tham gia sinh hoạt, hoạt động trong các Câu lạc bộ CQN ở cơ sở. Tuy nhiên do đa số các quân nhân khi xuất ngũ đều ở độ tuổi bắt đầu khởi nghiệp hoặc là trụ cột kinh tế gia đình, vận động họ tham gia sinh hoạt là rất khó khăn, nên cán bộ hội viên CCB trong huyện đã phải đến từng nhà, gặp từng người, kiên trì vận động thuyết phục, từ đó các Câu lạc bộ CQN phát triển dần lên về số lượng và chất lượng. Đến nay, huyện Châu Thành đã vận động và thành lập được 75 Câu lạc bộ CQN với 855/927 CQN tham gia đạt 92,23% tổng số CQN trong huyện, số CQN nhân còn lại chưa tham gia vào CLB chủ yếu là do họ đi làm ăn xa, hoặc tiếp tục theo học ở các trường cao đẳng, đại học, trường nghề xa địa phương.


Cấp ủy, chính quyền địa phương cũng đã quan tâm để các Câu lạc bộ CQN hoạt động. Hàng năm, đều tổ chức họp mặt truyền thống nhân kỷ niệm ngày thành lập quân đội, hoặc kỷ niệm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất tổ quốc. Thông qua sinh hoạt Ban CHQS và Hội CCB kết hợp thông tin tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật và chính sách hậu phương quân đội, thực hiện nghĩa vụ quân sự. Từ đó, CQN cũng trở thành những tuyên truyền viên trong khóm, ấp; vận động người dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương. CQN còn là lực lượng nòng cốt trong phong trào tự quản về an ninh trật tự, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, tham gia hòa giải mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. 

Các Câu lạc bộ CQN cũng quyên góp kinh phí để thăm hỏi, động viên, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu hợp pháp. Việc xây dựng quỹ của CLB đều do hội viên thảo luận và được đa số đồng ý đóng góp và từ nguồn do các đoàn thể hỗ trợ, các Mạnh Thường Quân ủng hộ.  Hội CCB huyện Châu Thành cũng đã vận động CQN xây dựng “quỹ hỗ trợ hội viên qua đời” với nguồn vốn huy động được trên 1,5  tỷ đồng trong đó có 381/855 CQN tham gia đạt 41,56%, tiêu biểu như Câu lạc bộ CQN ấp Đồng Tre xã An Lục Long, ấp Bình Xuyên xã Bình Quới…. Hướng tới huyện tiếp tục vận động số CQN còn lại tham gia quỹ hội viên qua đời đạt trên 60% tổng số CQN.

  Được tập hợp vào các Câu lạc bộ, hầu hết CQN đều tích cực tham gia sinh hoạt, tích cực tham gia các phong trào tại địa phương như: xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa ở nơi cư trú, an ninh nông thôn, phòng chống tội phạm, an toàn giao thông… Nhiều CQN làm kinh tế giỏi, hỗ trợ nhau giảm nghèo, cùng nhau tạo quỹ xoay vòng, hỗ trợ nhau con giống, khoa học kỹ thuật… Những mô hình phát triển kinh tế có hiệu quả của hội viên từng bước được nhân rộng, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động Câu lạc bộ CQN. Chủ tịch Hội CCB huyện Châu Thành Đoàn Văn Được cho biết: Mô hình Câu lạc bộ CQN của địa phương đã từng bước tập hợp được các CQN để bồi dưỡng, giáo dục, động viên CQN giữ gìn, phát huy bản chất truyền thống  Bộ đội “cụ Hồ”, đoàn kết tượng trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương. Những CQN là quân dự bị, luôn chấp hành lệnh động viên tập trung huấn luyện, diễn tập, ứng cứu thiên tai, 100% đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Hằng năm có hơn 95% gia đình CQN đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” được lãnh đạo địa phương đánh giá cao và nhân dân tin yêu.


Trung Dũng 

St# Trường Tồn 

KỶ NIỆM 73 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG HẬU CẦN QUÂN ĐỘI (11/7/1950 - 11/7/2023).

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay đã ra đời và nhanh chóng phát triển lực lượng, tiến công tiêu diệt địch, cùng toàn dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Song, thực dân Pháp chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, đã đưa quân ồ ạt trở lại, buộc dân tộc Việt Nam phải cầm súng đứng lên. 


Cùng với sự phát triển của các binh đoàn chủ lực, công tác hậu cần đòi hỏi ngày càng lớn, vì vậy ngày 11 tháng 7 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 121/SL thành lập Tổng cục Cung cấp và cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng làm chủ nhiệm Tổng cục, đến tháng 01 năm 1955 đổi thành Tổng cục Hậu cần.


Ngay sau khi được thành lập Ngành Hậu cần đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho các lực lượng của Quân đội ta tác chiến tại chiến dịch biên giới năm 1950, các chiến dịch ở chiến trường Trung du và đồng bằng Bắc Bộ (1950-1951), các chiến dịch tiến công trên khắp các chiến trường (1952-1953) và cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là tập trung bảo đảm hậu cần đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, góp phần to lớn vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi.


Sau năm 1954 đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chủ trương củng cố, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước; giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị ở miền Nam, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng, nhằm thực hiện mục tiêu chung là hoàn thành độc lập, thống nhất đất nước. Cùng với các lực lượng vũ trang nhân dân, Ngành Hậu cần đã tích cực tham gia khôi phục kinh tế, tăng cường tiềm lực mọi mặt và bảo đảm phục vụ quân đội xây dựng chính quy, từng bước hiện đại.


Ngành Hậu cần đã có bước phát triển mới cơ bản, toàn diện về tổ chức, kỹ thuật, nghiệp vụ, cơ sở vật chất trang bị, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn được từng bước đào tạo cơ bản. Khi cách mạng chuyển sang thế tiến công mở đầu bằng phong trào “Đồng khởi”, theo chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Ngành Hậu cần đã nhanh chóng tổ chức lực lượng chi viện cho miền Nam.


Hai tuyến đường vận tải được mở ra, tuyến đường bộ vượt Trường Sơn và tuyến đường biển vượt biển Đông. Nhiệm vụ của tuyến vận tải chiến lược được xác định là đưa cán bộ quân sự, lực lượng chiến đấu, vũ khí, cơ sở vật chất hậu cần vào phục vụ bộ đội, phục vụ chiến đấu. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước các tuyến đường vận tải trên cả hai miền Nam, Bắc đều trở thành mục tiêu đánh phá hết sức ác liệt của địch, gây cho Ngành Hậu cần nhiều khó khăn, tổn thất, hy sinh.


Vận dụng đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo, của Đảng, Ngành Hậu cần đã kết hợp giữa hậu cần quân đội với hậu cần nhân dân tạo nên những kỳ tích, sức mạnh để chiến thắng. Trên khắp cả hai miền Nam - Bắc, từ hậu phương đến tiền tuyến lực lượng hậu cần đã vừa trực tiếp cầm súng chiến đấu, vừa khai thác, vận chuyển vật chất hậu cần, cứu chữa thương bệnh binh, phục vụ bộ đội chiến đấu. Được rèn luyện trong chiến tranh, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên các lực lượng thuộc Ngành Hậu cần từ cơ quan đến cơ sở, từ các nhà máy quốc phòng đến các tuyến đường vận tải; từ hậu phương đến mặt trận đã nêu cao tinh thần đoàn kết, hiệp đồng, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh hết lòng phục vụ bộ đội.


Hàng trăm đơn vị, chiến sĩ lái xe, gùi thồ, nuôi quân, quân y, xăng dầu, thợ sửa chữa được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và các phần thưởng cao quý khác; hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, thanh niên xung phong anh dũng hy sinh, âm thầm chịu đựng khi làm nhiệm vụ trên trận tuyến hậu cần, tiêu biểu cho phẩm chất và tinh thần tận tuỵ phục vụ của bộ đội hậu cần.


Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng. Trong sự nghiệp vĩ đại đó của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nghệ thuật tổ chức, bảo đảm hậu cần, khoa học hậu cần - kỹ thuật đã phát triển lên một trình độ mới. Những chiến công, kinh nghiệm trong thời kỳ này là những yếu tố quan trọng, là tiền đề thuận lợi để Ngành Hậu cần hoàn thành nhiệm vụ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Sau khi nước nhà thống nhất, từ năm 1975 đến năm 1989, Ngành Hậu cần vừa tổ chức xây dựng lại lực lượng, vừa bảo đảm hậu cần phục vụ các đơn vị chiến đấu bảo vệ biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia và Lào. Đồng thời, tích cực sản xuất, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế đất nước và xây dựng cơ quan, đơn vị hậu cần toàn quân vững mạnh toàn diện.


Ai đã từng đi qua các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bảo vệ Tổ quốc mới thấm thía hết tình nghĩa, công lao, sự hy sinh của những người lính hậu cần. Trong khói lửa chiến tranh có khá nhiều ca khúc, bài thơ rất xúc động viết về chiến sĩ lái xe, anh nuôi, cô y tá...như “Chào em cô gái Lam Hồng”, “Lê Anh nuôi”, “Nổi lửa lên em”, “Đưa anh đi hái măng rừng”....,”Tiểu đội xe không kính”, “Nhớ”...Những người lính hậu cần trong chiến tranh chịu đựng vất vả hy sinh không kém những người lính các quân binh chủng khác. 


Chỉ tính riêng đường Hồ Chí Minh ở Trường Sơn và đường Hồ Chí Minh trên biển đã có hàng chục nghìn chiến sĩ ta ngã xuống. Bản anh hùng ca bi tráng ấy đã vang vọng, đang vang vọng và chắc chắn sẽ còn vang vọng mai sau. Nó tiếp thêm sức mạnh, năng lượng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.


(Duyên Nguyễn)#St. Trường Tồn 

Cúc lại lộng ngôn, nói xàm

 - Ngày 28/6/2023, trên trang Facebook Chân Trời Mới Media có đăng bài “Tiếng súng Cư Kuin còn cho thấy điều gì và nó phục vụ cho ai?” của Thu Cúc. Đọc bài viết, độc giả dễ dàng nhận thấy, Thu Cúc đã lợi dụng vụ tấn công khủng bố tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023 vừa qua để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây chia rẽ mối quan hệ bang giao tốt đẹp giữa Việt Nam với các nước.

Trước hết, các cơ quan chức năng của Việt Nam đều khẳng định: vụ việc nổ súng vào 02 trụ sở ủy ban nhân cấp xã tại huyện Cư Kuin (tỉnh Đắk Lắk) ngày 11/6/2023 vừa qua là vụ tấn công khủng bố. Bởi, những kẻ tấn công khủng bố  đã cướp đi sinh mạng của những người dân vô tội, các đồng chí công an, cán bộ cấp xã. Hành động dã man, không có nhân tính của những kẻ khủng bố không chỉ dư luận trong nước mà cả quốc tế đều cực lực lên án. Vì vậy, bất kỳ đối tượng nào chỉ đạo hay trực tiếp tấn công khủng bố cũng không thể chấp nhận được, cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật, qua đó lấy lại niềm tin, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân các dân tộc Tây Nguyên.

Thứ hai, việc cơ quan Công an Việt Nam mỗi thời điểm công bố một số liệu cũng là hoạt động hết sức bình thường, bởi vụ việc đang trong quá trình điều tra. Ngày 23/6/2023, Trung tướng Tô Ân Xô đưa ra số liệu cụ thể của vụ tấn công khủng bố tại Đắk Lắk là số liệu chính xác, số liệu này đã được cơ quan chức năng của Việt Nam đã điều tra, làm rõ.

Thứ ba, tàu hải quân của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ,… ghé thăm Cảng Đà Nẵng của Việt Nam thời gian vừa qua là hoạt động giao lưu, trao đổi thường niên giữa Hải quân nhân dân Việt Nam với hải quân các nước trong khu vực và trên thế giới đã được lên kế hoạch từ trước và được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vậy nên, tàu Hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan của Mỹ thăm Đà Nẵng từ ngày 25 đến ngày 30/6/2023 cũng là hoạt động giao lưu trao đổi thường niên chứ không phải là hoạt động “ban ơn nghĩa tình” của Mỹ đối với Việt Nam như Cúc đã rêu rao.

Thứ tư, việc các cơ quan chức năng của Việt Nam cho rằng vụ tấn công khủng bố tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023 vừa qua có liên quan đến một tổ chức khủng bố tại Mỹ điều bình thường, bởi trong quá trình điều tra, xét hỏi, các đối tượng tiến hành khủng bố tại Đắk Lắk đã thừa nhận. Do đó, không thể kết luận Việt Nam “lấy oán, trả ơn” đối với Mỹ, bởi việc tàu Hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan thăm Đà Nẵng và vụ tấn công khủng bố tại Đắk Lắk là hai lĩnh vực không liên quan gì đến nhau. Ngoài ra, theo Tre Việt, việc Cúc cho rằng dư luận trong nước và quốc tế hướng sự chú ý vào câu hỏi: “Vậy cuối cùng, tiếng súng Chư Quynh (Cư Kuin) hôm 11/6 còn cho thấy điều gì và nó phục vụ những ai?” là sự suy luận để ngụy biện cho luận điệu xuyên tạc, hòng gây chia rẽ mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới.

Vì vậy, đề nghị các cơ quan chức năng của Việt Nam cần có biện pháp xử lý nghiêm các hoạt động xuyên tạc, chống phá của Cúc, không để Cúc “lộng ngôn, nói xàm”./.

Nguyễn Trung Thành NCS 30A

 

CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VÀ TÍCH CỰC THAM GIA BẢO VỆ LỊCH SỬ ĐẢNG

 

Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng không những là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả cách mạng mà còn là bảo vệ uy tín của Đảng đối với nhân dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ.


Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về lịch sử Đảng, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin; kêu gọi từ bỏ lý tưởng cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng còn xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam; thổi phồng sai lầm, khuyết điểm của Đảng; bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta;...


Chính vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thanh niên, sinh viên cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về lịch sử Đảng để “tự miễn dịch” trong lập trường, quan điểm chính trị và tích cực tham gia đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các tổ chức cơ sở Đảng, MTTQ, các đoàn thể, hội sinh viên cần tăng cường tổ chức hội thảo, tọa đàm; xây dựng chuyên đề lồng ghép vào sinh hoạt thường kỳ, câu lạc bộ, đội, nhóm; tổ chức các cuộc thi, diễn thuyết, kể chuyện về tấm gương cán bộ, đảng viên chiến đấu, hy sinh anh dũng, bị tù đày; tổ chức viết bài đấu tranh (chính danh và ẩn danh);... Đặc biệt, coi trọng đấu tranh trực diện trên không gian mạng với hình thức phong phú, đa dạng, hấp dẫn, hiệu quả; tranh thủ những người có ảnh hưởng lớn đối với cư dân mạng để thông qua họ đưa tin về cái tốt, lên án cái xấu.


Tri thức lịch sử, trong đó có lịch sử Đảng cung cấp cho chúng ta hiểu biết quá khứ để phục vụ cuộc sống hiện tại và đoán định tương lai. Bởi vậy, các nhà sử học Hy Lạp cổ đại từng kết luận: “Lịch sử là cô giáo cuộc sống, là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”. C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng: “Sử học là khoa học duy nhất vì mọi khoa học đều phải dựa vào sự kiện từ lịch sử”. Lênin cũng khẳng định: “Sử học là một bộ phận của khoa học xã hội kết hợp với giai cấp vô sản trở thành vũ khí mạnh mẽ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng làm nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử khi ở Liên Xô và Người đã căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta”.


Nhà văn Nga Trécnưsepki từng viết: “Có thể không biết, không cảm thấy say mê học tập môn Toán, tiếng Hy Lạp hoặc Latinh, môn Hóa học, có thể không biết hàng ngàn môn khoa học khác nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ”.


"Ǎn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta... Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khǎn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta". Lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng nhắc nhở chúng ta phải nâng cao trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, nhân dân; kiên quyết bảo vệ “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng; vững tin vào thắng lợi con đường cách mạng do Đảng lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

St# Trường Tồn 

Lối sống thực dụng - Vấn đề đáng quan tâm với một bộ phận giới trẻ hiện nay

Vấn đề đáng quan tâm đã và đang hiện hữu đối với một bộ phận giới trẻ hiện nay là sự xuất hiện của lối sống thực dụng. Lối sống này là dùng lý trí để sống nhưng luôn đặt cao vấn đề vật chất lên trên, sống không có tình cảm và nghĩ đến người khác, luôn muốn giành những gì có lợi cho mình, bất chấp đó là hành động đúng hay sai. Lối sống này đang là vấn đề đáng báo động, lên án. Nó không chỉ xuất hiện ở một bộ phận không nhỏ giới trẻ mà còn trở thành một vấn đề tiêu cực của nhiều đối tượng trong xã hội hiện đại. Từ một đứa trẻ ngoan hiền, lễ độ, chăm chỉ học tập, hướng đến ước mơ, hoài bão về tương lai tạo sự hãnh diện, yên tâm của các bậc phụ huynh. Thế nhưng, trong đời sống sinh hoạt tiếp cận qua bạn bè, mạng xã hội, nhất là internet thông qua việc chơi game dẫn đến nghiện game; xem những bộ phim, video clip, tiktok... phản cảm nhưng lại thích thú, dần dần sa đà vào bất kể việc học hành; để đối phó và tránh sự phát hiện của cha mẹ, trong tiềm thức trong trắng của giới trẻ bỗng phút chốc biến thành mảng tối, dùng hành vi qua mặt cha mẹ, khởi đầu bằng những câu nói dối, nhiều lần và thậm tệ hơn còn có lời lẽ vô lễ, xấc xược xúc phạm, bất chấp sự khuyên dạy của đấng sinh thành. Lý trí mơ mộng hão huyền muốn có gia tài, sự nghiệp lớn nhưng bản thân thì “sợ cực, sợ khổ, sợ khó”, tiếp cận công việc gì mới, thấy khó là bỏ cuộc, chỉ hướng đến những công việc tầm thường, đơn giản, dễ làm, nhẹ nhàng không có mục tiêu phấn đấu; lười biếng không chịu khó học hỏi trau dồi kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ; thụ động ngồi chờ ai giao việc gì thì làm việc nấy, xem việc có tính chất cấp thiết và việc bình thường như nhau; không chủ động tiếp cận công việc, diện kiến, học hỏi người đi trước, người có kinh nghiệm để thạo việc... Từ đó, dẫn đến mất niềm tin từ chủ thể sử dụng lao động, thậm chí đi nhiều nơi, làm nhiều việc nhưng không nơi nào tiếp nhận và công việc không ra sao, bởi không thể hiện được chất lượng, hiệu quả bất cứ việc gì. Thất nghiệp là điều hiển nhiên, tệ hơn có thể suy nghĩ nông cạn, mù quáng, để có tiền nuôi sống bản thân và tiêu xài thực hiện hành vi trái đạo đức xã hội vi phạm pháp luật. Đây là một căn bệnh nguy hiểm có thể làm băng hoại đạo đức con người. Sống thực dụng luôn đặt cao vấn đề vật chất lên hết, sống từ có tình cảm chuyển sang không có tình cảm và nghĩ đến người khác, sẵn sàng chấp nhận thủ đoạn vô đạo đức để đạt mục tiêu. Sống buông thả, thờ ơ, ăn chơi, đua đòi, lấy bản thân làm trung tâm, mọi suy nghĩ, hành động lấy lợi ích vật chất tầm thường của bản thân làm tiêu chí phấn đấu. Ý thức của bản thân là tính ích kỷ cá nhân, ít chịu tu dưỡng, rèn luyện. Có nhiều nguyên dân dẫn đến lối sống thực dụng, trong đó một số nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ: Môi trường giáo dục còn chưa chú trọng đến đạo đức, nhân cách, kĩ năng sống; gia đình thiếu sát sao, quan tâm; ảnh hưởng từ mặt trái của cơ chế thị trường; xã hội chưa tổ chức được những hoạt động hữu ích thu hút giới trẻ,... Thực tiễn phản ảnh tác hại của lối sống thực dụng đã làm tha hóa con người, khơi dậy những ham muốn bản năng, cơ hội, chạy theo hưởng lạc, những lợi ích trực tiếp trước mắt, xa rời những mục tiêu phấn đấu; trong quan hệ giữa người với người, những tình cảm lành mạnh bị thay thế bằng quan hệ vụ lợi, vật chất; trong đời sống, họ vô trách nhiệm, bàng quan, vô cảm, không đấu tranh chống cái sai và cũng không ủng hộ cái đúng, cái tốt... Một số vấn đề đặt ra góp phần khắc phục dần và hướng đến loại trừ lối sống thực dụng của giới trẻ: Một là, kết hợp chặt chẽ 3 môi trường “nhà trường, gia đình và xã hội”: Nhà trường cần quan tâm giáo dục kỹ năng sống, giáo dục lối sống lành mạnh cho học sinh, phê phán những biểu hiện lệch lạc; gia đình cần thường xuyên quan tâm và giáo dục cho con có cách sống phù hợp, điều chỉnh kịp thời những biểu hiện không đúng trong cách sống và suy nghĩ. Khắc phục tình trạng thương con, chiều con, tin tưởng tuyệt đối con, đặt mọi niềm tin hy vọng nhưng thiếu kiểm tra, giám sát, theo dõi để con tự tung, tự do đến khi phát hiện ra sự sa đà của con, khởi điểm từ lúc nào không hay biết; xã hội cần quan tâm hơn tới việc thu hút, trọng dụng giới trẻ vào những việc làm có ích. Hai là, tuổi trẻ phải biết biến ước mơ thành hành động cụ thể, năng động, dám nghĩ, dám làm, không uổng phí thời gian, loại bỏ lối sống ích kỉ, vượt qua cám dỗ đời thường. Ba là, tăng cường giáo dục giới trẻ sống phải có khát vọng, lí tưởng, có hoài bão, mục đích sống, động lực để phấn đấu. Bốn là, học tập và noi theo cách sống phù hợp của người lớn, người có uy tín trong xã hội.

HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 

🌸🏵🌼🌺🌻💐🌸🏵🌼🌺🌻💐Bqk7

II. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng hiện nay


Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, là một trong những nguyên nhân mang lại những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, với nhiều yếu tố mới tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, Đại hội XIII của Đảng sẽ tổng kết lý luận và thực tiễn, đề ra các giải pháp tăng cường xây dựng lực lượng cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.


Quán triệt sâu sắc và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh, giải pháp xây dựng lực lượng cách mạng trong giai đoạn mới cần tập trung vào các điểm chính sau đây:


🔸️ Một là, đề cao chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam.


Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh cần đề cao chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, coi đó là sức mạnh tinh thần to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “đã là người Việt Nam thì ai cũng ít nhiều có lòng yêu nước”, và “dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của ta…”. Phát huy chủ nghĩa yêu nước chân chính để khơi dậy tinh thần tự cường dân tộc, “niềm tin và khát vọng phát triển” vươn lên, đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển trên thế giới, để Việt Nam "bước lên đài vinh quang, sánh vai với cường quốc năm châu" như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán, rõ ràng quan điểm đặt lợi ích quốc gia, dân tộc là mục đích tối thượng để tạo cơ sở xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu chung "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Xây dựng con người và nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hoá thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Khơi dậy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước


🔸️ Hai là, chăm lo bồi dưỡng sức dân, xây dựng thế trận lòng dân.


Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, để phát huy tài lực, sức mạnh toàn dân cần thực hiện đầy đủ quan điểm Nhà nước bảo đảm quyền “tự do làm ăn theo pháp luật”, “khuyến khích làm giàu cho mình cho đất nước” để phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, định hướng lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện quan điểm phát triển bền vững, bao trùm, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển, từng chính sách xã hội; xây dựng một xã hội hài hòa, đoàn kết tương trợ lẫn nhau.


Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người, giải quyết hài hoà các quan hệ xã hội, kiểm soát sự phân hoá giàu - nghèo, kiểm soát và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Tập trung giải quyết nhóm nghèo nhất, vùng nghèo nhất, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn giao thông. Trên cơ sở đó để huy động mọi tiềm lực trong nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


🔸️ Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.


Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gắn bó với nhân dân, trung thành vô hạn với Tổ quốc và nhân dân. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm lực lượng nòng cốt bảo đảm quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, thế trận lòng dân trong bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội; trong đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào các công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.


Bồi dưỡng, đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang có bản lĩnh chính trị, trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, có trình độ nắm bắt, khai thác, làm chủ khoa học, công  nghệ, vũ khí, trang bị hiện đại. Chú trọng hiện đại hóa, “trí tuệ hóa” lực lượng vũ trang. Tập trung tổ chức xây dựng lực lượng, vũ khí, trang bị, xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, đi thẳng vào hiện đại và ứng dụng công nghệ cao, nghiên cứu sản xuất các trang bị, vũ khí hiện đại của Việt Nam. Phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới, phòng chống chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh kiểu mới. Xây dựng quân chủng Hải quân, Phòng không Không quân, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có trang bị vũ khí, phương tiện tiên tiến, hiện đại. Nâng cao sức mạnh tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, công tác của lực lượng vũ trang đủ sức bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển, đảo của Tổ quốc.


🔸️ Bốn là, nâng cao chất lượng hoạt động đối ngoại hội nhập quốc tế.


Thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết quốc tế, với tinh thần Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế và các tổ chức quốc tế đang tham gia. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng vì lợi ích của dân tộc và đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ hòa bình, độc lập dân tộc, tiến bộ trên thế giới.


Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại. Bảo đảm lợi ích của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng, đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước. Nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh, khả năng thích ứng của đất nước, tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Xây dựng nền ngoại giao hiện đại vì lợi ích quốc gia - dân tộc, lấy phục vụ người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.


🔸️ Năm là, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh vì đất nước, vì nhân dân.


Để thực hiện giải pháp này, việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, là những nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm sự thành công của công cuộc đổi mới.


Xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực sự là liên minh chính trị tự nguyện của tất cả các giai cấp và tầng lớp nhân dân trong xã hội, tham gia giám sát, phản biện xã hội, xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền nhân dân. Phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh, trình độ, kỹ năng nhằm thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp. Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần dân tộc, có đạo đức và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi. Phát huy vai trò của Thanh niên, Phụ nữ, Cựu chiến binh trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tôn trọng và phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, trong nước và nước ngoài vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Thực hiện tốt, có hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, dân chủ cơ sở trên thực tế, theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Thực hành và phát huy rộng rãi vai trò tự quản của nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.


***


Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp của toàn dân tộc tiến hành công cuộc đổi mới định hướng lên chủ nghĩa xã hội. Phương pháp đúng đắn nhất, hiệu quả nhất kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là nghiên cứu, vận dụng thành công các luận điểm, phương pháp và kinh nghiệm nêu trên trong xây dựng lực lượng cách mạng ở Việt Nam hiện nay./.


GS,TS, Phùng Hữu Phú

PGS, TS, Ngô Văn Thạo


Nguồn: Trang thông tin hội đồng lý luận Trung ương www.hdll.vn

St# Trường Tồn 

THÁNG BẢY TRI ÂN

 

Tháng 7 về bất chợt mưa ngâu

Như nỗi nhớ ở hai đầu gặp lại

Tiếng vọng xưa đồng đội ơi gọi mãi

Giữa đại ngàn bom đạn ở Trường Sơn.


Tháng 7 về xin thắp nén hương thơm

Phút tưởng niệm những anh hùng Liệt sĩ

Đã một thời lên đường đi đánh Mỹ

Hiến tuổi xuân cho đất nước thanh bình.


Tháng 7 về vang khúc hát Thương binh

Đời để lại "dấu chân tròn trên cát"

Dáng liêu xiêu nghiêng khoảng trời nắng nhạt

Lối đi về khập khiễng bước đường quê.


Tháng 7 về còn nhớ kỷ niệm xưa

Dòng Thạch Hãn nước hòa trong máu đỏ

Bao đồng đội nằm lại nơi Thành Cổ

Cầu Hiền Lương chia nỗi nhớ hai đầu.


Tháng 7 về bạn đang ở nơi đâu?

Tây Nguyên xanh hay Trường Sơn hùng vĩ

Tôi đứng lặng trước tượng đài Liệt sĩ

Nghe nhạc chiêu hồn lệ thấm ướt bờ mi.


Tháng 7 về ai có nhớ Người đi

Khi đất nước chao nghiêng miền Đông hải

Nửa vầng trăng một khoảng trời còn mãi

Đồng đội ơi? Chung nhịp bước quân hành.


Tháng 7 về biết không có bóng anh

Trong đội ngũ điệp trùng hoa chiến thắng

Ngôi sao sáng giữa bầu trời tỏa nắng

Lời tri ân xin thắp nén hương lòng.


Tháng 7 về triệu triệu ngọn nến hồng

Thắp sáng nghĩa trang trải dài theo đất nước

Viếng các Anh linh thiêng hồn Tổ Quốc

Đất Tiên rồng vững bước mãi ngàn năm.


(St)# Trường Tồn 

Thứ Ba, 11 tháng 7, 2023

 

Hoạt động truyền thông của cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Truyền thông của cơ quan nhà nước giúp cung cấp thông tin, giải trình về chính sách, pháp luật, định hướng dư luận... Thời gian qua, các cơ quan nhà nước Việt Nam đã thực hiện công tác này một cách chuyên nghiệp, chủ động và hiệu quả hơn nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Thông qua phân tích tình hình thực hiện, những kết quả, hạn chế trong công tác truyền thông của cơ quan nhà nước, bài viết đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này.


Nhà nước nắm giữ nhiều nguồn lực, phương tiện và công cụ truyền thông để phát đi thông điệp, tuyên truyền, định hướng dư luận cũng như tạo ra các cuộc thăm dò, thu thập ý kiến để đưa ra các chính sách, quy định phù hợp. Truyền thông của nhà nước thường gồm các nội dung chính: truyền thông chính sách, pháp luật, kết quả hoạt động, xây dựng hình ảnh, uy tín, xử lý các sự cố/khủng hoảng truyền thông, định hướng dư luận xã hội. Các nội dung này được thực hiện thông qua các hoạt động như thông tin báo chí của cơ quan báo chí ngành, của bộ phận truyền thông, theo dõi báo chí, nghiên cứu dư luận xã hội, họp báo và cung cấp thông tin cho báo chí, quan hệ với báo chí bên ngoài, sử dụng người phát ngôn, quản lý và xử lý khủng hoảng thông tin, tổ chức các sự kiện và hoạt động truyền thông khác. Các kênh truyền thông nhà nước khá phong phú như báo, tạp chí, cổng thông tin điện tử, người phát ngôn, tài liệu, các cuộc họp, hội thảo, hội nghị, các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội. 

Cơ quan nhà nước (CQNN) tổ chức, điều phối công tác truyền thông của mình thông qua việc xây dựng cơ sở pháp lý, chiến lược, kế hoạch, bảo đảm về tài chính, thiết lập bộ phận chuyên trách, định hướng nội dung nhằm truyền đạt, trao đổi thông tin với người dân. Đó là quá trình tương tác hai chiều, nhà nước truyền đạt thông tin, thông điệp, quan điểm tới người dân, doanh nghiệp và thu nhận phản hồi, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp để phục vụ cho hoạt động của CQNN.

1. Tình hình công tác truyền thông của cơ quan nhà nước hiện nay

Một là, công tác truyền thông của CQNN khá đa dạng.

Đa phần các bộ/ngành có phòng truyền thông/quan hệ công chúng/tuyên truyền trực thuộc văn phòng bộ như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công thương, Bộ Giao thông vận tải... để làm đầu mối phối hợp với các cơ quan, đơn vị của bộ trong việc truyền thông, phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Một số ít bộ/ngành, nhiệm vụ này được tích hợp vào đơn vị khác như Thanh tra Chính phủ giao cho Vụ Kế hoạch và Tổng hợp...

Một số bộ/ngành đã thành lập vụ chuyên trách về truyền thông như: Ngân hàng Nhà nước (Vụ Truyền thông), Bộ Y tế (Vụ Truyền thông và Thi đua, khen thưởng), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Vụ Thi đua, khen thưởng và Truyền thông); Bộ Ngoại giao (Vụ Thi đua, khen thưởng và Truyền thông ngoại giao); Bộ Tài nguyên và Môi trường (Vụ Thi đua, khen thưởng và Tuyên truyền). Các vụ này thường có chức năng tham mưu, giúp người đứng đầu quản lý và thực hiện hoạt động truyền thông liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của bộ/ngành như tổ chức triển khai các chiến lược, kế hoạch, chương trình truyền thông, thực hiện quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, quản lý về nội dung cổng thông tin điện tử. 

Một số CQNN thành lập trung tâm thông tin/truyền thông làm bộ phận hoạt động truyền thông chuyên biệt. Điển hình là Trung tâm thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) với nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch, thực hiện cung cấp thông tin, tổ chức họp báo, thu thập thông tin từ báo chí, dư luận xã hội, xuất bản ấn phẩm thông tin đa phương tiện... Bộ Tài nguyên và Môi trường có Trung tâm Truyền thông tài nguyên và môi trường nhằm thực hiện công tác truyền thông, tuyên truyền thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ. Bên cạnh đó, một số cơ quan thành lập trung tâm truyền thông để thực hiện truyền thông về một số hoạt động như Trung tâm Truyền thông giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe (Bộ Y tế), Trung tâm Truyền thông và thông tin đường bộ (Tổng Cục Đường bộ Việt Nam). 

Tại địa phương, đa số UBND các tỉnh, thành phố cử cán bộ thuộc văn phòng UBND tiếp nhận thông tin báo chí, phối hợp với các sở ngành liên quan để xử lý thông tin, chuẩn bị nội dung phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Quảng Ninh là địa phương đầu tiên trong cả nước thí điểm mô hình Trung tâm Truyền thông trên cơ sở hợp nhất toàn bộ các đơn vị truyền thông, báo chí (Báo Quảng Ninh, Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Ninh, Báo Hạ Long, Cổng Thông tin điện tử tỉnh) để vận hành cơ quan truyền thông đa phương tiện theo mô hình “Tòa soạn hội tụ”. Đây là đơn vị sự nghiệp thuộc Tỉnh ủy Quảng Ninh, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền, báo chí, là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh, tự chủ gần 90% kinh phí chi thường xuyên, sản xuất sản phẩm báo chí đa loại hình với bộ máy tinh gọn (giảm từ 22 đầu mối phòng xuống 14).

Hai là, hoạt động truyền thông của một số CQNN bước đầu được quan tâm, đổi mới theo hướng chuyên nghiệp, chủ động, hiệu quả hơn.

Nhiều bộ, ngành đã thực hiện tốt công tác truyền thông chính sách, thông qua website, cổng thông tin điện tử... đã cập nhật văn bản pháp luật khá kịp thời và tiếp nhận các ý kiến góp ý sửa đổi, bổ sung. Nổi bật là hoạt động truyền thông chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt là từ khi thành lập Vụ Truyền thông năm 2017 đến nay, các cơ chế, chính sách của Ngân hàng được phổ biến kịp thời và có kế hoạch rõ ràng hơn. Bên cạnh các kênh chính thống như Cổng Thông tin điện tử, họp báo, hội thảo, tọa đàm, nhiều kênh truyền thông mới được đưa ra, như hợp tác với Đài Truyền hình Việt Nam, tham gia các chương trình đối thoại, diễn đàn, phỏng vấn về các vấn đề liên quan đến chính sách, pháp luật của ngành  ngân hàng. Từ đó, giúp tăng niềm tin của người dân, các nhà đầu tư với những chính sách, biện pháp của Ngân hàng Nhà nước. 

Quan hệ với báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, truyền thông bên ngoài cũng được các cơ quan chú trọng hơn. Một số bộ, ngành thực hiện khá tốt hoạt động này như Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Văn phòng Chính phủ... Bộ Tài chính chủ động gặp mặt báo chí, họp báo, gửi thông cáo báo chí, thực hiện phỏng vấn. Lãnh đạo các đơn vị đều chủ động cung cấp thông tin cho báo chí khi có vấn đề nóng, gây bức xúc dư luận, tự làm người phát ngôn và chịu trách nhiệm về phát ngôn. Bộ cũng có phần mềm theo dõi báo chí để kịp thời nắm bắt và xử lý thông tin. Bộ Y tế cũng thực hiện tốt việc xây dựng mạng lưới phóng viên chuyên theo dõi y tế, cung cấp thông tin thường xuyên, đột xuất qua gặp mặt báo chí, hội thảo, tập huấn, đi cơ sở. Bộ có hai bộ phận về giám sát báo chí - monitoring gồm: Bộ phận thông tin trên mạng xã hội và báo điện tử do một đối tác bên ngoài chịu trách nhiệm thực hiện sẽ gửi một báo cáo đến cho tất cả các lãnh đạo vào 5h30 đến 6h sáng; Bộ phận điểm tin trên báo in, thời gian gửi báo cáo từ 8h30 đến 9h30 sáng. Một số bộ khác cũng đã có những ký kết hợp tác với các đối tác để sử dụng các ứng dụng, các công cụ, phần mềm theo dõi báo chí và mạng xã hội.

Đặc biệt, chiến dịch truyền thông bước đầu được một số cơ quan thực hiện. Chiến dịch truyền thông phòng, chống Covid-19 của Bộ Y tế là một thành công và trở thành cẩm nang cho các CQNN học tập. Vụ Truyền thông và Thi đua, khen thưởng của Bộ Y tế đóng vai trò nòng cốt trong việc đề ra chiến lược một cách bài bản. Thông tin được cung cấp nhanh chóng, minh bạch và tin cậy. Kịch bản được xây dựng kịp thời cho các tình huống cụ thể. Bộ Y tế chủ động cung cấp thông tin trên các kênh thông tin của Bộ, thông tin cho báo chí (bản tin chống dịch 2 lần/1 ngày, gặp mặt báo chí, bố trí chuyên gia trả lời phỏng vấn báo chí, đưa phóng viên đi thực tế các điểm nóng phòng, chống dịch, trao đổi, làm việc trực tiếp với lãnh đạo các báo về định hướng thông tin); dùng các phương tiện công nghệ khác để thông tin đến từng người dân, như: 15 tỷ tin nhắn tới thuê bao điện thoại di động, 4 tỷ tin nhắn qua zalo, 9 triệu tin nhắn viber, đường dây nóng, infographic, video, bài hát, tem, tranh cổ động, cuộc thi ảnh,... nhằm truyền thông phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

Việc xử lý khủng hoảng truyền thông cũng được một số cơ quan quan tâm thực hiện. Khi có vấn đề gây bức xúc trong dư luận, một số cơ quan đã chủ động giải trình cho người dân hiểu, xóa tan dư luận sai lệch. Thí dụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong khủng hoảng truyền thông liên quan đến sự cố Formosa Hà Tĩnh, Bộ Y tế trong khủng hoảng truyền thông về vắc xin, về sự cố 9 người tử vong tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình... đã chủ động thông tin nhanh chóng, kịp thời để người dân có cái nhìn đa chiều, đúng đắn về sự việc. Nhiều cơ quan cũng cởi mở trong việc gặp gỡ báo chí, hợp tác với báo chí, không còn né tránh báo chí. Một số bộ còn thành lập tổ xử lý khủng hoảng truyền thông như Bộ Tài chính có Tổ Tham mưu truyền thông để xử lý kịp thời những thông tin nóng được phản ảnh qua các phương tiện thông tin đại chúng. 

Về phát ngôn, trước đây hầu hết các cơ quan đều giao cho Chánh Văn phòng là người phát ngôn của bộ. Hiện nay, đa phần các cơ quan đã sửa đổi quy chế, giao trách nhiệm phát ngôn cho người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu. Một số bộ quy định người phát ngôn là bộ trưởng, các thứ trưởng là người phát ngôn đột xuất, định kỳ, còn chánh văn phòng bộ là người phát ngôn thường xuyên. Điều này giúp cho việc phát ngôn được thực hiện gắn với trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu, bảo đảm thông tin được cung cấp đầy đủ, kịp thời.

Về kênh truyền thông, bên cạnh các kênh truyền thông chính như cổng thông tin điện tử, họp báo, hội thảo, nhiều kênh mới được đưa vào sử dụng. Mạng xã hội như Facebook, Zalo... được một số cơ quan sử dụng, như Chính phủ có trang “Thông tin Chính phủ”, “Diễn đàn cạnh tranh quốc gia”, UBND thành phố Đà Nẵng có trang “Cảnh sát giao thông thành phố Đà Nẵng”, trang Facebook của Bộ trưởng Bộ Y tế, UBND thành phố Hà Nội có trang “Thủ đô Hà Nội - Việt Nam”. Rất nhiều các sự kiện truyền thông được các bộ tổ chức cũng góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của cán bộ và người dân, như Bộ Y tế tổ chức cuộc thi ảnh về vẻ đẹp người thầy thuốc.

Việc thí điểm mô hình Trung tâm Truyền thông ở Quảng Ninh bước đầu cũng khắc phục được tình trạng dàn trải trong đầu tư, chồng chéo trong tổ chức sản xuất các chương trình, đa dạng hóa các sản phẩm báo chí - truyền thông hiện đại. Số lượng ấn phẩm trên 4 loại hình báo chí phát thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử tăng 30 - 40% so với trước đây. Đặc biệt, chất lượng có sự nâng lên rõ rệt, thông tin đồng bộ, kịp thời, hình ảnh chuyên nghiệp hơn, ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, tích hợp dữ liệu. Song song với đó, đội ngũ cán bộ, phóng viên được đào tạo, bồi dưỡng và đã nhanh chóng tiếp cận được với mô hình “Tòa soạn hội tụ”, phóng viên đa phương tiện. 

Ba là, công tác truyền thông của CQNN trên thực tế còn những hạn chế như:

Chưa có mô hình tổ chức đơn vị chuyên trách về truyền thông chuẩn cho các CQNN. Trong khi mô hình tổ chức các đơn vị tham mưu khác của bộ/ngành đã được định hình rõ ràng thì mô hình tham mưu về công tác truyền thông còn chưa thống nhất. Bộ phận truyền thông đang được tổ chức theo các cách thức khác nhau, có thể riêng biệt hoặc thuộc các đơn vị chức năng khác nhau, phụ thuộc vào nhận thức của lãnh đạo. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu để đưa ra các quy định pháp lý khung thống nhất.

Nhận thức của một số lãnh đạo và công chức chưa đầy đủ, còn nhầm lẫn truyền thông với công tác tuyên truyền, báo chí, chưa coi trọng truyền thông, e dè trong tiếp xúc, làm việc với báo chí, chưa bố trí bộ phận/cá nhân chuyên trách có chuyên môn phù hợp để thực hiện công tác này. Nhiều vụ việc bức xúc trong dư luận xã hội chưa được thông tin, giải trình kịp thời. Người phát ngôn chưa chủ động gặp gỡ báo chí, báo chí không hiểu hết chuyên môn của ngành/lĩnh vực nên đôi khi thông tin chưa đúng. Họp báo đôi khi còn hình thức, chưa thiện chí trả lời phỏng vấn.  

Hoạt động truyền thông của nhiều CQNN còn thiếu chủ động, chưa có chiến lược, kế hoạch và thiếu tính chuyên nghiệp. Với ba cấp độ cơ bản (cấp độ 1: chỉ cung cấp thông tin trên các phương tiện cơ bản; cấp độ 2: quan hệ với báo chí, làm việc với báo chí; cấp độ 3: có chiến lược truyền thông), đa số các cơ quan chỉ dừng lại ở cấp độ 2. Do chưa có kế hoạch truyền thông nên chưa tận dụng được tối đa sức mạnh truyền thông để hỗ trợ cho hoạt động, chưa có những báo cáo tổng kết, đánh giá toàn diện công tác này. 

Công tác truyền thông còn mang tính một chiều, thiếu sự tương tác, tiếp nhận thông tin phản hồi từ xã hội. Nhiều cơ quan chưa quan tâm đến việc chủ động giải trình, minh bạch hóa thông tin cho người dân, chủ yếu phản hồi khi báo chí có nhu cầu cung cấp thông tin. Rất ít CQNN có các diễn đàn, kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân hoạt động một cách thực chất. Đơn cử như Thanh tra Chính phủ là cơ quan quản lý nhà nước về giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng trên Cổng Thông tin điện tử lại không có mục tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân. 

Các kênh truyền thông chưa phong phú, hiện đại, thu hút công chúng. Truyền thông đa phương tiện, công nghệ mới chưa được tận dụng hiệu quả vào việc xây dựng và truyền tải thông tin. Truyền hình, phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội chưa được khai thác để tiến hành các hoạt động truyền thông. Đa phần các CQNN chưa sử dụng các phương tiện truyền thông mới như mạng xã hội, youtube... vào công tác truyền thông nên tốc độ truyền tải thông tin còn chậm, nội dung và hình thức thông tin kém thu hút.

Nhân lực làm công tác truyền thông chưa được chú ý phát triển ngay từ khâu tuyển dụng đầu vào cho tới khâu bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng. Một số nhân viên, thậm chí cán bộ quản lý được điều chuyển từ bộ phận khác để phụ trách công tác truyền thông nhưng không có chuyên môn, kinh nghiệm phù hợp. Cán bộ làm công tác này tuy có được bồi dưỡng về báo chí nhưng còn thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng về truyền thông chính phủ, đặc biệt là truyền thông chính sách, kỹ năng sử dụng các phương tiện, công cụ truyền thông hiện đại. 

Tài chính cho hoạt động truyền thông còn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Định mức chi cho các hoạt động chưa cao nên khó có thể phát triển các nội dung thông tin, truyền thông theo hướng đa phương tiện, phong phú và hấp dẫn. Khó bố trí kinh phí cho các hoạt động sự kiện, xây dựng quan hệ với báo chí.

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông của cơ quan nhà nước

Hiện nay, sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thiết bị thông minh, mô hình truyền thông đa phương tiện và truyền thông xã hội với tốc độ truyền tải thông tin nhanh chóng đã đặt truyền thông của CQNN trước thách thức lớn. Việt Nam hiện có 96,9 triệu dân, 145,8 triệu thuê bao di động, 68,17 triệu thuê bao internet, 65 triệu người sử dụng mạng xã hội(1). Vì vậy, cần phải có giải pháp đổi mới toàn diện công tác truyền thông của CQNN theo hướng chủ động, đa phương tiện để gia tăng trách nhiệm giải trình, sự tương tác giữa chính quyền và người dân. Cụ thể:

Một là, các CQNN, đặc biệt là bộ/ngành cần thiết lập bộ phận truyền thông chuyên trách để quản lý thống nhất hoạt động truyền thông với các nhiệm vụ như tham mưu, trợ giúp người phát ngôn, đầu mối xây dựng, duy trì quan hệ và cung cấp thông tin cho báo chí, theo dõi, phòng ngừa và xử lý khủng hoảng truyền thông, xây dựng và duy trì hoạt động của các kênh truyền thông, các sản phẩm truyền thông... Các cơ quan cũng cần đổi mới tổ chức các đơn vị báo chí ngành theo hướng hợp nhất để thu gọn đầu mối, loại bỏ các nhiệm vụ trùng lắp giữa các đơn vị. Chính phủ cần sớm nghiên cứu sửa đổi văn bản pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các cấp để xác lập mô hình tổ chức truyền thông chuẩn cho các CQNN. 

Hai là, các CQNN cần đa dạng hóa nội dung, xây dựng các kế hoạch cho công tác truyền thông, bảo đảm tốc độ nhanh chóng, sự tin cậy của thông tin. Hình thành các diễn đàn hỏi/đáp, chuyên mục tương tác với người dân trên cổng thông tin điện tử, trang mạng xã hội chính thức; tăng cường các hình ảnh minh họa, các bài phóng sự, phỏng vấn, bình luận của người dân, doanh nghiệp, những đối tượng bên ngoài, chịu ảnh hưởng bởi các chính sách, pháp luật để tạo ra sự khách quan và thu hút hơn với công chúng. 

Ba là, cung cấp thông tin và thiết lập mối quan hệ với báo chí một cách chủ động hơn. Họp báo phải được tiến hành đầy đủ và thực chất, không né tránh câu hỏi của phóng viên, gửi thông cáo báo chí chủ động, kịp thời. Chủ động hình thành và duy trì mối quan hệ thường xuyên, liên tục với báo chí, mời phóng viên tham gia vào các hội thảo lấy ý kiến hoặc phổ biến văn bản pháp luật, các sự kiện của cơ quan để báo chí, truyền thông hiểu hoạt động của CQNN và đưa tin khách quan, kịp thời.

Bốn là, tăng sự tương tác hai chiều, đối thoại với công chúng, xử lý nhanh các sự cố truyền thông bằng cách xây dựng quy trình minh bạch thông tin, phản ứng nhanh khi xã hội cần thông tin. Bố trí các thiết bị, công cụ, các phần mềm theo dõi báo chí, lập các trang fangpage chính thức của cơ quan, kênh hỏi đáp trực tuyến, đường dây nóng. Huy động mọi kênh truyền thông và báo chí để chủ động giải quyết các vấn đề gây dư luận xã hội tiêu cực. Khi có khủng hoảng truyền thông phải vào cuộc để giải trình kịp thời, trấn an dư luận, tránh việc im lặng để mặc dư luận đồn đoán, lan truyền thông tin sai lệch. 

Năm là, đổi mới về nhân sự thực hiện công tác truyền thông, có cơ chế thu hút người có kinh nghiệm từ bên ngoài vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt đơn vị truyền thông của CQNN. Cử nhân sự đi đào tạo chuyên sâu về truyền thông chính sách, truyền thông chính phủ, truyền thông đa phương tiện, kỹ năng họp báo, quan hệ công chúng, tổ chức sự kiện, xử lý thông tin trên báo chí, xử lý sự cố truyền thông, quản lý diễn đàn và sử dụng phần mềm để theo dõi và phân tích thông tin trên mạng xã hội.

Sáu là, đa dạng hóa các kênh truyền thông như thiết lập và vận hành trang mạng xã hội chính thức để chủ động thông tin về chính sách, pháp luật và hoạt động. Điều này phù hợp với yêu cầu của Chính phủ tại Quyết định số 1497/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển thông tin quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn 2030: “Đến năm 2025, 100% cơ quan hành chính nhà nước, đặc biệt là các bộ, cơ quan ngang bộ... sử dụng cổng/trang thông tin điện tử và mạng xã hội để thực hiện tuyên truyền, phổ biến, cung cấp thông tin, tiếp nhận và phản hồi ý kiến của người dân về việc thực hiện quản lý nhà nước của ngành, của địa phương”. Phát triển các tính năng tương tác, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, truyền thông đa phương tiện, tích hợp hình ảnh, video trên cả các nền tảng của thiết bị thông minh. Tổ chức sự kiện truyền thông như hội thảo, cuộc thi tìm hiểu pháp luật, tấm gương điển hình, hợp tác sản xuất phim truyền hình... để tương tác với công chúng.

__________________

(1)  Theo Báo cáo Digital 2020 toàn cầu của We Are Social kết hợp Hootsuite.

Nguồn: TS NGUYỄN THỊ THU NGA

Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra,

Thanh tra Chính phủ