Thứ Tư, 12 tháng 7, 2023

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: SAO CHO ĐÁNG MẶT LÀM ANH!

     Hồi tháng Năm năm nay, bảy nước giàu có nhất trong thế giới tư bản tụ họp nhau lại ở Hiroshima, Nhật, để làm gì? Trời ạ, những tưởng nhà giàu gặp nhau sẽ bàn chuyện làm ăn, chuyện kinh tế. Nhưng không, họ bàn cách chống Nga thế nào, chống Trung quốc ra sao. Còn chuyện kinh tế, đáng chú ý là nếu không có biện pháp hữu hiệu, thì vào đầu tháng Sáu, cái đầu tàu kinh tế của NATO - là nước Mỹ ấy, sẽ bị vỡ nợ. Vậy thì còn lãnh đạo được ai? Rồi những chuyện đáng chú ý khác là dân chúng trong cái xứ sở G7 cứ biểu tình lên, biểu tình xuống, thậm chí biểu tình ngay trong cuộc họp quốc hội của Pháp, thì chẳng có ý kiến nào để úy lạo dân chúng của họ.

Để lôi kéo thêm mấy nước ở các châu lục (tuy chưa được gia nhập G7) cũng được mời đến dự để lôi kéo họ vào mặt trận chống Nga và Trung quốc, song mấy nước ngoài G7 (out of G7) không hưởng ứng. Họ cứ liên tục nói, chúng tôi chỉ chọn lẽ phải chứ không chọn phe. Lẽ phải thì mấy nước trong G7 đang bị thiếu trầm trọng rồi, như anh Putin nói, phương Tây đang chìm đắm trong kỷ nguyên dối trá đó.

Để xứng đáng là những người anh có một gia sản giàu có, thì phải xử sự với láng giềng như một đấng trượng phu. Đằng này, cách xử sự của mấy người chẳng khác chi một kẻ tiểu nhân. Tôi không vu oan cho họ đâu. Cứ lấy ngay mối quan hệ của Mỹ với nước ta mà coi. Có phải Mỹ giàu hơn Việt Nam, Mỹ mạnh hơn Việt Nam, nước Mỹ lớn hơn nước Việt Nam? Có phải Mỹ đang muốn chúng ta phải chống lại Nga và Trung quốc? Vậy họ đã thể hiện thiện chí ra làm sao? 

Dưới đây là mấy ví dụ. Chính quyền Mỹ không công nhận Trường sa, Hoàng sa và những gì mà chúng ta đang làm chủ ở Biển Đông là của Việt Nam. Chính vì thế nên Mỹ không ký tên vào UNCLOS 1982, có lẽ Mỹ cũng muốn độc chiếm Biển Đông như Trung quốc vậy. Tiếp đến, ai đang nuôi dưỡng những tổ chức và cá nhân chống lại Việt Nam làm cho xã hội Việt Nam kém ổn định và nếu nhà nước Việt Nam không vững tay chèo thì, chính quyền đã sụp đổ rồi. Ai làm chuyện đó? Chính quyền Mỹ đó. Cho nên, đã có bài tôi viết, chính quyền Mỹ không bao giờ đối xử một cách chân thành với bất kỳ quốc gia nào, kể cả đồng minh của Mỹ.

Cái anh hàng xóm phương Bắc của chúng ta cũng thế. Tiểu nhân bỏ mẹ! Vơ được cái gì thì cứ vơ, chiếm được cái gì thì cứ chiếm. Vơ luôn, chiếm luôn của các nước nhỏ hơn mình, nghèo hơn mình, yếu hơn mình và thậm chí cả bạn bè của mình. Chẳng từ cái gì! Trong một bài nói chuyện của thiếu tướng Trương Giang Long, tôi thích nhất câu, “gien tốt của người Trung quốc thì thấp, còn gien xấu thì vượt trội”. Chẳng thế mà hiện nay có hàng trăm kẻ sẵn sàng làm những gì mà Trung quốc mong muốn, song cũng rất may là phía an ninh của ta nắm rất chắc những đối tượng đó.

Qua 23 cuộc chiến tranh trong lịch sử cổ đại và cận đại thì trong đó có 21 cuộc Việt Nam phải chống sự xâm lược của Trung quốc. Ngay cả khi Trung quốc không lộ mặt nhưng ai cũng biết, kẻ đứng sau Khmer đỏ là Trung quốc. Trong khi dân Việt phải gồng mình lên chống Mỹ, thì anh chơi trò bẩn, kích thích và giúp đỡ bọn thảo khấu Khmer đỏ gây sự với Việt Nam. Ông anh thấy đám thảo khấu thua thì trực tiếp đem quân sang đánh thằng em vửa mới ốm dậy. Tiểu nhân bỏ mẹ!

Cho nên những bậc cha mẹ ở nước ta, đã dạy con - những đứa con trai là anh của những đứa em, trong bài thơ, “Làm anh”, có câu:

“Làm anh khó đấy
“Đâu phải chuyện đùa
“Với em gái bé
“Phải người lớn cơ” …

Chả biết thế nào, riêng người anh có tên là Nga, có vẻ xứng đáng làm anh. Khi đứa em Việt vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh tàn phá, người anh bảo, anh xóa cho chú khoản nợ 13 tỷ USD nhé. Rồi mới đây anh Nga lại liên tục cử người sang thăm em Việt, coi em nó có khó khăn gì không, mặc dù người anh cũng đang phải dốc sức đối phó với mấy chục nước, song vẫn sẵn sàng giúp chú em phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật. 

Ai nói xấu nước Nga như thế nào thì kệ họ, riêng tôi, tôi vẫn cho rằng nước Nga đối với Việt Nam là tốt nhất./.
Ảnh: Đội quân nhà Phật tại Campuchia.
Yêu nước ST.

SỸ QUAN TRẺ - TỪ NHÀ TRƯỜNG ĐẾN ĐƠN VỊ: HỌC Ở TRƯỜNG KHÔNG PHẢI LÀ “CÂY ĐŨA THẦN”!

     Để khắc phục hạn chế, giúp sĩ quan trẻ (SQT) có đủ trình độ, năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ thì trước hết cần tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường. Tuy nhiên, học ở trường không phải là “cây đũa thần” mà rất cần sự quan tâm, tạo điều kiện, bồi dưỡng về mọi mặt của cấp ủy, chỉ huy đơn vị và đặc biệt là tinh thần tự học, tự rèn của mỗi cán bộ trẻ...

Chuẩn chương trình, chuẩn đầu ra
Có mặt tại Đại đội 29, Tiểu đoàn 10, Trường Sĩ quan Chính trị (SQCT), chúng tôi được chứng kiến một buổi tập bài “Hội nghị chi ủy thông qua dự thảo nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ trọng tâm tháng 6-2023” của nhóm học viên năm thứ ba. Trung sĩ Dương Văn Duy, Tiểu đội 1, Trung đội 1, Đại đội 29 trên cương vị bí thư chi bộ điều hành hội nghị khá “trơn”, khẩu khí, tác phong rất chững chạc. “Đảm nhận vai trò bí thư chi bộ trong tập bài không những giúp tôi nắm chắc nội dung bài học mà còn góp phần rèn luyện bản lĩnh, tác phong, rất có ích trong quá trình công tác sau này”, Trung sĩ Dương Văn Duy chia sẻ. Theo Thiếu tá Nguyễn Vi Đạt, giảng viên Bộ môn Tổ chức, Khoa Công tác Đảng, công tác chính trị, Trường SQCT, với mỗi nội dung học tập, ngoài học lý thuyết, thực hành mẫu trên giảng đường, các đại đội quản lý học viên còn tổ chức ôn luyện, tập bài cho học viên dưới sự hướng dẫn, giám sát của giảng viên. Cùng với đó, đơn vị thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa (văn hóa văn nghệ, sinh nhật đồng đội, diễn đàn thanh niên, vẽ bảng tin, giảng bài chính trị, rèn thể lực...) để “đưa” học viên vào hoạt động thực tiễn... Việc gắn lý thuyết với thực hành như nói trên được Trường SQCT nói riêng, các trường sĩ quan nói chung chú trọng nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, khắc phục hạn chế về bản lĩnh, tác phong, kỹ năng mềm... cho học viên.

Đổi mới quy trình, chương trình đào tạo trong nhà trường là một trong các giải pháp quan trọng nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao chất lượng “đầu ra”, tạo nền tảng để SQT hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trao đổi với chúng tôi, Thiếu tướng Phạm Quốc Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 cho biết, thời gian qua, nhà trường đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị tổ chức khảo sát, lấy ý kiến phản hồi; mời lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị tham gia hội thảo xây dựng chuẩn đầu ra, góp ý xây dựng nội dung, chương trình đào tạo... Trên cơ sở đó, xây dựng chuẩn đầu ra; bổ sung, điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ của các đơn vị. Theo đó, thời gian huấn luyện thực hành, huấn luyện đêm, ôn luyện, luyện tập, diễn tập được tăng lên (năm học 2022-2023, thời gian huấn luyện đêm các nội dung thực hành tăng gần 6% so với năm học trước); tăng cường huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật sát thực tế chiến đấu, hành quân, trú quân dã ngoại, các nội dung huấn luyện hỏa khí đi cùng; chú trọng rèn học viên về phương pháp huấn luyện bộ đội; nội dung, phương pháp diễn tập chiến thuật vòng tổng hợp cũng từng bước được đổi mới... Đồng thời, chương trình đào tạo được bổ sung một số nội dung như: Chính phủ điện tử, quyền con người, các vấn đề về an ninh phi truyền thống...

Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Chung, Phó hiệu trưởng Trường SQCT, nhìn chung chương trình đào tạo của trường bảo đảm tính khoa học, thực tiễn, tính kế thừa, đáp ứng xu hướng phát triển của giáo dục hiện đại và yêu cầu đào tạo. Tuy nhiên, cũng còn những hạn chế nhất định, như việc rèn kỹ năng mềm cho học viên còn hạn chế; cá biệt, có nội dung chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị; một số môn học chưa bảo đảm tính liên thông. Trong xây dựng chương trình đào tạo 4 năm, Trường SQCT đặc biệt chú trọng đến việc chuẩn hóa, hiện đại hóa chương trình, nội dung đào tạo; rà soát, khắc phục triệt để tình trạng trùng lắp; lược bỏ những nội dung, những môn học không thật sự thiết thực; bổ sung những môn học mới, sát với yêu cầu nhiệm vụ của người sĩ quan, cán bộ chính trị, như: “Khoa học lãnh đạo quản lý”, “Kỹ năng mềm của cán bộ chính trị cấp phân đội”, “Quản lý kinh tế”...; đồng thời, điều chỉnh giảm lý thuyết, tăng thực hành, tăng thời gian tập thể lực, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp dạy học, ôn luyện để rèn tác phong, phương pháp công tác cho học viên.

Bài học “học suốt đời”
Việc học tập, rèn luyện trong nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp trang bị cho học viên sĩ quan những kiến thức, kỹ năng cơ bản cũng như khả năng tư duy, phương pháp làm việc khoa học, tạo cơ sở, nền tảng để thực hiện tốt nhiệm vụ sau khi ra trường. Tuy nhiên, không một cơ sở đào tạo nào có thể cung cấp toàn diện, đầy đủ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho người học. Mặt khác, thực tiễn luôn vận động, biến đổi không ngừng; công tác quản lý, huấn luyện, rèn luyện bộ đội ở đơn vị cơ sở cũng luôn nảy sinh nhiều tình huống đa dạng nên học ở trường không phải là “cây đũa thần” để cán bộ, SQT thỏa mãn, dừng lại mà đòi hỏi mỗi người phải luôn có tinh thần khiêm tốn, cầu thị, nỗ lực tự học, tự rèn để nâng cao trình độ mọi mặt. Đây là quan điểm chung của lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị và các học viện, trường sĩ quan mà chúng tôi có dịp trao đổi, làm việc.

Bài học “học suốt đời” được Thượng úy Trần Văn Chiến, Chính trị viên Đại đội 8, Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn 201 (Binh chủng Tăng thiết giáp) rất thấm thía. Tốt nghiệp Trường SQCT, Trần Văn Chiến được điều động đảm nhận cương vị chính trị viên phó đại đội ở Lữ đoàn 201. Mặc dù được đào tạo cơ bản, nắm chắc kiến thức liên quan đến hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị nhưng thời gian đầu, anh vẫn gặp không ít khó khăn, bỡ ngỡ vì đặc thù của một đơn vị binh chủng chuyên ngành xe tăng. Hơn nữa, quân số của đơn vị phần lớn là QNCN hơn anh cả tuổi quân, tuổi đời và kiến thức chuyên môn kỹ thuật. Tuy nhiên, nhờ chịu khó học hỏi, khả năng thích ứng nhanh, Thượng úy Trần Văn Chiến luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, được bổ nhiệm chức vụ chính trị viên đại đội sau một thời gian công tác. Thượng úy Trần Văn Chiến là một trong những SQT tiêu biểu của đơn vị, đoạt nhiều giải thưởng trong các hội thi, như: Giải nhất Hội thi cán bộ giảng dạy chính trị cấp Binh chủng Tăng thiết giáp năm 2023; giải ba toàn năng, giải ba thực hành chuyên ngành Hội thi cán bộ huấn luyện giỏi cấp Binh chủng Tăng thiết giáp năm 2022; giải ba Hội thi cán bộ đoàn toàn quân năm 2021... “Bí quyết của tôi là luôn tự học, tự rèn. Học ngay ở cấp trên, ở đồng đội về phương pháp làm việc, tác phong chỉ huy, kiến thức chuyên ngành, về cách gần gũi, nói chuyện với bộ đội... Thời gian đầu mới về đơn vị, tôi thường xuyên gặp gỡ, tâm sự với đồng chí đại đội trưởng, chính trị viên đại đội để nghe các anh nói chuyện, truyền thụ kinh nghiệm trong công việc, trong xử lý hài hòa các mối quan hệ nhằm vừa giữ đúng nguyên tắc, vừa bảo đảm hiệu quả công việc...”, Thượng úy Trần Văn Chiến chia sẻ.

Từ kinh nghiệm thực tiễn, Thiếu tướng Phạm Quốc Tuấn cho rằng, để việc tự học, tự rèn mang lại kết quả tốt, SQT phải nhận thức đúng và xác định tốt trách nhiệm, yêu mến, gắn bó với đơn vị, khiêm tốn, biết lắng nghe trên tinh thần cầu thị, dám nghĩ, dám làm, xây dựng cho mình kế hoạch cụ thể và phương pháp học tập phù hợp... Đồng tình với quan điểm trên, Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Chung nhấn mạnh thêm, cần tạo môi trường thuận lợi và bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn cho SQT; quan tâm, tạo điều kiện cho SQT được tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên, được đi học, đi thực tế, luân chuyển để nâng cao trình độ, kiến thức, kinh nghiệm. Đặc biệt, rất cần hoàn thiện cơ chế chính sách, quan tâm hơn đến vấn đề nhà ở, cải thiện thu nhập, môi trường làm việc, về hợp lý hóa gia đình cũng như những vấn đề hậu phương Quân đội khác... giúp SQT yên tâm học tập, rèn luyện và cống hiến xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc./.




Yêu nước ST.

Thực hiện “7 dám” chính là giữ gìn và phát huy bản chất Bộ đội Cụ Hồ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu hay nói cách khác là quân đội của dân, do dân và vì dân trong suốt chiều dài lịch sử chống xâm lược, đặc biệt là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Thời đại Hồ Chí Minh thì Quân đội luôn luôn tiên phong và làm nòng cốt trên mặt trận chiến đấu, xây dựng, rồi trong vấn đề hội nhập thì Quân đội càng phải quyết tâm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước sự nghiệp cách mạng của Đảng. Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng phát biểu xây dựng đội ngũ quân đội có "7 dám" tôi thấy là rất đúng và rất trúng. 7 vấn đề này chính là chúng ta đã kế thừa và phát huy truyền thống đánh giặc của cha ông và truyền thống trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Quân đội nhân dân Việt Nam phải thực hiện những chỉ đạo và kết luận, phát biểu của Tổng Bí thư cũng là rất đúng và rất trúng. Chúng ta cần phát huy mạnh mẽ hơn với tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với những khó khăn, gian khổ và phải luôn luôn tiên phong trên mọi lĩnh vực quân sự cũng như là làm chủ được khoa học công nghệ, làm chủ được kỹ thuật, các trang bị hiện có của Quân đội và phải tiếp tục xây dựng quân đội theo hướng chính quy, hiện đại, bảo đảm được các tình huống chiến lược có thể là xảy ra. Chúng ta, chính chúng ta xây dựng quân đội mạnh, chúng ta dám làm chủ khoa học, chúng ta dám đổi mới chính là chúng ta là đã góp phần đẩy lùi chiến tranh. Sức mạnh Việt Nam đó là sức mạnh của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, của truyền thống và văn hóa dân tộc Việt Nam. Nên tôi nói về đổi mới trong điều kiện hiện nay, chúng ta cần phải phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm và phải đổi mới. Nhưng điều quan trọng hơn, chính là Quân đội phải xây dựng bản chất của Bộ đội Cụ Hồ. Chính cái bản chất của Bộ đội Cụ Hồ đó là sức mạnh để xây dựng được trận địa trong lòng dân. Quân đội chúng ta phải luôn luôn giữ được phẩm chất cách mạng. Đó là trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, của dân tộc. Trong bất luận trường hợp nào thì quân đội cũng phải giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và giương cao truyền thống anh hùng và tinh thần quyết chiến, quyết thắng, không ngại khó khăn, gian khổ để hoàn thành các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, mãi mãi xứng đáng là quân đội của dân, do dân, vì dân và là một đội quân anh hùng trên các mặt trận, nhất là chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cũng như trong xây dựng đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng, đó là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam - Không để mất niềm tin vào những người đứng đầu

Những năm qua, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện, khiến dư luận nhân dân phấn khởi, đồng lòng ủng hộ và nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận. Thành công đó có sự đóng góp vô cùng quan trọng của đội ngũ cán bộ chủ chốt, nhất là những người đứng đầu các cấp. Thế nhưng, với dã tâm thâm độc, các thế lực thù địch, phản động đã và đang cố tình xuyên tạc, "đổi trắng thay đen", phủ nhận hoàn toàn vai trò, vị trí và đóng góp của những cán bộ chủ chốt, người đứng đầu trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm”. Mới đây, trên một số trang mạng, các đối tượng phản động đăng bài viết có nội dung đả kích, xuyên tạc, rêu rao rằng: Những người đứng đầu các cơ quan nhà nước đang “nêu gương đạo đức giả" trước người dân; tham nhũng ở Việt Nam diễn ra tràn lan là do hỏng từ người đứng đầu; đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ "tắm từ vai xuống" và thực chất là "cuộc chiến phe phái"... Một số bài viết của những kẻ chống phá đã cố tình vu khống, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội, người đứng đầu các cấp. Chúng tung tin nhảm rằng: Cán bộ A, cán bộ B đã nhúng chàm, cán bộ C đang bị giam lỏng... Ở khía cạnh khác, có đối tượng phản động, bất mãn lại rêu rao: Ngoài hầu hết cán bộ đứng đầu tham nhũng thì số còn lại do “thế hèn sức mọn” nên cố tình né tránh, không dám đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Chúng còn đưa ra luận điệu vu cáo cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là "bỏ sâu to, bắt sâu nhỏ” và "sâu to bắt sâu nhỏ”... Rồi chúng dùng chiêu bài "phỏng vấn những người yêu nước” (thực chất là những người đang có tư tưởng bất mãn, phản động) để những người này bày tỏ ủng hộ những điều vu khống, xuyên tạc, quy chụp của chúng, bịa đặt rằng "người dân Việt Nam đã mất niềm tin vào những người đứng đầu"... Điều ai cũng nhận thấy là các thế lực thù địch, phản động, bất mãn đều tập trung vu khống, quy chụp, xuyên tạc, nói xấu đội ngũ cán bộ chủ chốt, nhất là người đứng đầu, bởi âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng vô cùng nham hiểm, tinh vi: Làm mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt. Chúng coi đó là biện pháp hiệu quả nhất, con đường ngắn nhất để làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng triệt để lợi dụng việc nhiều người dân không có điều kiện tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao, khó kiểm chứng thông tin... để tăng cường thực hiện "mưu hèn kế bẩn" này. Thực tế đã chứng minh, trong những năm qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả mang tính đột phá với rất nhiều vụ án, vụ việc được phát hiện, xử lý nghiêm khắc từ Trung ương đến cơ sở. Nhận rõ thực tế đằng sau nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thường có bóng dáng của một số cán bộ đứng đầu đơn vị, địa phương, ngành, thậm chí cả cán bộ Trung ương, Đảng, Nhà nước ta đã kiên quyết chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, thanh tra, điều tra làm rõ và xử lý nghiêm khắc, triệt để; kiên quyết không để sót lọt người vi phạm và những cán bộ làm ngơ, dung túng, tiếp tay, bao che. Chỉ riêng năm 2022 đã thi hành kỷ luật 539 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 47 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (tăng 15 trường hợp so với năm trước); cho thôi giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng (khóa XIII) đối với 5 đồng chí; cho thôi giữ chức vụ đối với 2 phó thủ tướng Chính phủ, 3 thứ trưởng và tương đương; các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm 3 chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND tỉnh theo chủ trương sắp xếp, bố trí công tác đối với cán bộ bị xử lý kỷ luật, uy tín giảm sút. Qua công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, đã chuyển 557 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật (tăng gấp hơn hai lần so với năm 2021). Trong năm 2022, trên cả nước đã khởi tố mới 493 vụ/1.123 bị can về tội tham nhũng (tăng 163 vụ/328 bị can so với năm 2021). Khác hẳn những luận điệu mà một số đối tượng thù địch, chống phá rêu rao, trong phòng, chống “giặc nội xâm”, tuyệt đại đa số cán bộ đứng đầu các cấp trong hệ thống chính trị ở Việt Nam đã và đang gương mẫu đi đầu. Họ không chỉ là tấm gương sáng để cán bộ, đảng viên, cấp dưới noi theo, mà còn thường xuyên giáo dục, quán triệt, nhắc nhở, yêu cầu cấp dưới thực hiện đúng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng thời chỉ đạo ban hành các quy định, quy chế, duy trì cơ quan, đơn vị thực hiện chặt chẽ, tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp tham nhũng, tiêu cực.

Nhận diện, dập tắt "Bệnh” thiếu niềm tin, là nguy cơ của mọi nguy cơ, là mất tất cả

Ông cha ta đã dạy “... mất niềm tin là mất tất cả”. Những người không tin tưởng vào chính mình, không có niềm tin vào cuộc sống, nhất là những điều tốt đẹp sẽ không biết bản thân nên làm gì, hành động thế nào. Từ đó, họ sinh ra tâm lý chán nản, không muốn làm việc tốt, không có động lực dấn thân, cống hiến. Khi một cá nhân không có niềm tin sẽ không tin vào phẩm chất, năng lực của chính mình; không còn khả năng đương đầu với khó khăn, thử thách, dễ dàng buông xuôi. Tổ chức, cơ quan, địa phương có những cá nhân mất niềm tin thì công việc sẽ đình trệ, nội bộ mất đoàn kết. Vì thiếu niềm tin vào người tốt, cái tốt của xã hội nên không ít cá nhân nhìn nhận xã hội này bằng những gam màu xám xịt. Nhiều người sinh ra bất mãn, tự ti, cực đoan. Khi đó, họ so sánh xã hội này với xã hội khác, xã hội hiện nay với xã hội ngày xưa... Điều này tiềm ẩn nguy cơ lớn của việc đòi hỏi thay đổi chế độ, đòi hỏi dân chủ quá trớn, tự do quá đà. Trong xã hội có những cá nhân mất niềm tin như vậy như những đốm lửa nhỏ cháy âm ỉ, từng ngày lan truyền tạo thành đám lửa lớn, sinh ra những xung đột kiểu “đại dịch... thiếu niềm tin”. Lợi dụng "Bệnh” thiếu niềm tin, các thế lực thù địch, phản động luôn tung ra những luận điệu xuyên tạc, quy chụp về các hiện tượng tiêu cực, cá nhân sai phạm, từ đó hướng lái dư luận xã hội mất niềm tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, vào sự lãnh đạo của Đảng, đòi thay đổi chế độ. Trong thời đại của “xã hội ảo”, lợi dụng internet, mạng xã hội, những kẻ hiềm khích, chống phá dựng nên nhiều “tấm gương tốt” ở bên kia chiến tuyến, dựng nên cuộc chiến tranh tâm lý, tạo ra sự nghi ngờ bao trùm trong xã hội, thật-giả, tốt-xấu lẫn lộn khiến người dân hoang mang, mất niềm tin. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Đó là nguy cơ của mọi nguy cơ, vì mất niềm tin là mất tất cả! Ngày nay, trong cuộc sống náo nhiệt với sự đa dạng về văn hóa, ứng xử... chắc hẳn không ít người từng bắt gặp những con người, hành vi chưa tốt, để rồi chép miệng “xã hội tốt-xấu lẫn lộn, chẳng thể tin ai”. Cũng không phải tự nhiên mà người ta nghi ngại như vậy. Bởi đôi khi, sự giả tạo vẫn tồn tại trong cuộc sống và trong nhiều trường hợp có phần lấn át cái hay, cái đẹp, khiến chúng ta khó nhận ra cái tốt trước mắt. Đặc biệt, khi người ta đánh giá con người qua “xã hội ảo” nhiều hơn xã hội thực thì việc kiểm chứng thông tin càng trở nên khó khăn gấp bội. Cái đẹp, cái thiện vẫn âm thầm, lặng lẽ tồn tại xung quanh chúng ta. Người tốt là người biết lo nghĩ cho người khác, sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng, quê hương, đất nước. Tuy nhiên, để phát hiện người tốt-việc tốt, để “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp” thì công tác tuyên truyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không ít cơ quan truyền thông, báo chí vẫn xem đó là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, cũng là việc cần kíp để nhân lên niềm tin tốt đẹp trong xã hội. Ví như ở Báo Quân đội nhân dân, với trách nhiệm vinh danh, nhân lên phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và những giá trị cao đẹp chân-thiện-mỹ trong đời sống xã hội, liên tục hơn 14 năm qua, tờ báo chiến sĩ đã duy trì hiệu quả Cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý”, phát hiện hàng nghìn tấm gương sáng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để cán bộ, quần chúng soi chiếu, học tập, làm theo. Như vậy, để khắc phục, khống chế “đại dịch... thiếu niềm tin” đang lan tràn rộng khắp thì giải pháp cần kíp và lâu dài vẫn là quan tâm kiếm tìm, tôn vinh, nhân lên những tấm gương sáng, hành động đẹp trong đời sống xã hội. Phần việc này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, mà trước hết cần phải thay đổi tư duy, quan niệm về sự ghi nhận, đón nhận, tán dương cái hay, cái tốt, cái đẹp bằng sự lạc quan, tin tưởng tuyệt đối của cả cộng đồng xã hội.

Luận Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta.

Luận điệu xuyên tạc lạc lõng

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Cơ sở khoa học, thực tiễn chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền

Hiện nay, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để làm rõ vấn đề, chúng ta  phân tích và làm rõ những cơ sở khoa học, thực tiễn trên các khía cạnh sau.

Một là, mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh đạo đất nước phát triển.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả sự hợp nhất của 3 tổ chức cách mạng tiền thân là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Trước khi hợp nhất, các tổ chức này hoạt động độc lập và có hiện tượng tranh chấp sự ảnh hưởng trong quần chúng và mỗi tổ chức đều muốn đứng ra thống nhất các tổ chức cộng sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt tình trạng phân tán lực lượng, tạo sự thống nhất về tổ chức trong cả nước, nâng tầm ảnh hưởng và vị thế của Đảng. Đảng trở thành hiện thân đại diện tiêu biểu cho lợi ích của toàn thể giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”(1). Ngoài lợi ích trên, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn lợi ích nào khác.

Mục đích của Đảng là “Xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”(2).

Hai là, Đảng đã tìm ra định hướng phát triển và trực tiếp lãnh đạo các cuộc cách mạng để phát triển.

Trong những năm của thập niên 1920, cách mạng Việt Nam rơi vào bế tắc, tưởng như không có đường ra. Nhiều sĩ phu yêu nước, nhiều phong trào cách mạng đưa ra những lựa chọn để giải phóng dân tộc, phát triển đất nước, song tựu trung, tất cả đều thất bại. Giữa lúc đen tối ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, rẽ đám mây mù, chỉ ra con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc, đưa giống nòi bước qua lầm than, nô lệ. Trong Luận cương chính trị đầu tiên của Đảng (tháng 10-1930) xác định phương hướng chiến lược của cách mạng là: Lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến có quan hệ khăng khít với nhau. Động lực cách mạng là giai cấp vô sản và giai cấp nông dân. Lãnh đạo cách mạng là giai cấp vô sản với đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.

Với đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, vì vậy mới 15 tuổi, Đảng lãnh đạo nhân dân đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lật đổ ách thống trị của chế độ thực dân phong kiến, thiết lập nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam-kỷ nguyên độc lập, tự do.

Sau khi vừa mới ra đời, chính quyền cách mạng non trẻ đã phải đối phó với một tình thế hết sức hiểm nghèo, hàng loạt nguy cơ, thách thức tưởng chừng khó có thể vượt qua. Đó là nguy cơ của “giặc đói”, “giặc dốt” và đặc biệt là “giặc ngoại xâm”. Trong tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quyết sách đúng đắn, sáng suốt trong việc phát huy các yếu tố thuận lợi, hạn chế và vượt qua khó khăn, kịp thời có đối sách thích hợp để ứng phó với những thách thức đe dọa sự tồn vong của chính quyền cách mạng non trẻ, xây dựng chế độ mới, đưa cách mạng đi lên.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với thắng lợi thuộc về nhân dân ta, Hiệp định Geneva năm 1954 được ký kết, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, với hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành, tạo điều kiện cho miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, tháng 5-1956, Pháp rút quân khỏi miền Nam khi chưa thực hiện cuộc hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc. Mỹ vào thay chân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.

Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này được Đảng ta xác định là: Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Đó là quan hệ giữa hậu phương với tiền tuyến.

Với Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, nước ta đã kết thúc thắng lợi 21 năm chiến đấu chống Mỹ, cứu nước và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc (1945-1975), chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất Tổ quốc.

Sau chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn, Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế, vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; đồng thời tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động.

Ba là, thực tế đất nước đạt nhiều thành tựu và phát triển không ngừng.

Trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Những thành tựu của gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Chế độ một đảng lãnh đạo không cản trở dân chủ và phát triển

Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà nó đại diện.

Trong xã hội có phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất. Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị.

Về vấn đề một đảng thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển, cho đến hiện nay, vẫn chưa có cơ sở khoa học nào chứng tỏ được điều này. Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà nước đó có. Có nước một đảng vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển; có nước nhiều đảng vẫn kém phát triển, vẫn mất dân chủ. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia-dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân, vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo.

Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, có hai khả năng phải tính đến: Thứ nhất, một đảng cầm quyền có lợi ích riêng thì đa đảng trong hệ thống chính trị là cần thiết. Trong trường hợp này, nếu chỉ có một đảng là độc tài. Thứ hai, một đảng không có lợi ích riêng khi cầm quyền, cầm quyền vì lợi ích chung thì đa đảng dễ gây bè phái, phân tán.

Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch

Thời gian qua, lợi dụng môi trường internet và truyền thông xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”...

Thông qua những quan điểm, luận điểm này, chúng đã bộc lộ dã tâm, mưu đồ đen tối là xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thoái lui, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản; từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là niềm tin vào vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là những quan điểm, luận điểm hết sức phản động, sai lầm, phi khoa học, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá; nhiều nhận xét là chủ quan, vô căn cứ.

Đây là một loại luận điệu hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Thực chất những luận điệu này là gì nếu không phải là muốn đa nguyên, đa đảng, chia quyền lãnh đạo dẫn tới tiếm quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mục đích của chúng là phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Đảng luôn cầu thị, không ngừng đổi mới để tự hoàn thiện

Đảng Cộng sản Việt Nam không hề bảo thủ mà luôn đổi mới, cập nhật, nhằm làm cho Đảng mạnh lên, có đường lối đúng đắn, giúp Đảng hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ đặt ra, đưa Việt Nam vượt qua các khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong bối cảnh mới hiện nay.

Thực tiễn đất nước và thế giới không ngừng vận động, biến đổi, rất nhiều vấn đề mới, yếu tố mới xuất hiện đòi hỏi phải được giải quyết, Đảng ta luôn tìm tòi, học hỏi, tổng kết thực tiễn để đề ra đường lối, quyết sách đúng đắn, phù hợp, Đảng luôn quan tâm đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để Đảng hoàn thành mọi trách nhiệm, nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng, nhất là những trách nhiệm, nhiệm vụ mới nảy sinh từ thực tiễn hiện nay, để Đảng luôn giữ được bản chất cách mạng, khoa học, vì lợi ích của quần chúng nhân dân, trước sau giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chất lượng, năng lực của đội ngũ đảng viên có tính chất quyết định đối với chất lượng, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, do vậy, Đảng chú trọng kết nạp những người ưu tú vào Đảng và luôn luôn làm trong sạch Đảng, loại bỏ những phần tử biến chất, xét lại, cơ hội chủ nghĩa ra khỏi Đảng.

Đảng luôn siết chặt kỷ luật Đảng để chống suy thoái, tiêu cực và tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Đảng ta ý thức rõ rằng, một đảng duy nhất cầm quyền, bên cạnh mặt thuận lợi là cơ bản cũng chứa đựng không ít nguy cơ, mà một trong số đó là dễ quan liêu, xa rời quần chúng, dễ chủ quan... Để tránh nguy cơ đó, Đảng luôn kiên định mục tiêu đã lựa chọn, thường xuyên tự đổi mới, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức mạnh về mọi mặt, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, phong cách công tác gần gũi với nhân dân.

Như vậy, lịch sử đã chứng minh và khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc và nhân dân Việt Nam tiếp tục phát triển, bắt kịp xu hướng của thời đại.

Do vậy, những luận điểm sai lầm, suy diễn về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước là quan điểm phản động, sai trái, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận điểm này đã dựa trên những phân tích, nhận xét phi khoa học, không logic, không hệ thống và không toàn diện. Về thực tiễn, quan điểm này cũng hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế khi không thấy rõ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thừa nhận những thành quả phát triển đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt hơn 93 năm qua.

Đảng hội tụ đủ bản lĩnh, tài năng, uy tín để lãnh đạo đất nước và xã hội

 Trong bối cảnh mới hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính Đảng duy nhất hội tụ đầy đủ phẩm chất, năng lực, tiêu chí để lãnh đạo đất nước, dân tộc Việt Nam phát triển.

Hiện nay, bên cạnh những cơ hội vẫn tồn tại nhiều thách thức ảnh hưởng tới sự phát triển của Việt Nam: Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nước, nhất là các nước lớn diễn biến ngày càng phức tạp, có nguy cơ gây mất ổn định trên quy mô toàn cầu; chiến tranh sắc tộc, chiến tranh khu vực, xung đột tôn giáo và khủng bố quốc tế vẫn có khả năng bùng phát dưới những hình thức mới; tình hình Biển Đông có thể diễn biến phức tạp; kinh tế thế giới phát triển chậm lại, nguy cơ rơi vào khủng hoảng, suy thoái; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy ngày càng nổi lên... Điều đó đòi hỏi chính đảng lãnh đạo quốc gia là đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân; có tính tiên phong, cách mạng; có sức mạnh và kỷ luật tập thể; toàn tâm, toàn ý vì lợi ích chung của nhân dân, dân tộc. Ở Việt Nam hiện nay, để có được những điều kiện, nhân tố nêu trên chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo đất nước trong bối cảnh mới.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong giác ngộ, có tổ chức chặt chẽ nhất, Đảng hình thành nên những sức mạnh, phẩm chất nổi trội và nhờ đó lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân ta, đất nước ta vượt qua các khó khăn, thử thách trên con đường phát triển, đó là:

Sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất thành một khối vững chắc cả về chính trị, tư tưởng và hành động trong Đảng, bảo đảm sự tập trung trong lãnh đạo của Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở mục đích, lý tưởng của Đảng, trên cơ sở lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc, trên cơ sở phát huy dân chủ, tôn trọng ý kiến cá nhân. Sự thống nhất về tổ chức và phương thức hành động tạo ra sức mạnh lớn lao cho Đảng vượt qua được các khó khăn, thử thách.

Có tinh thần triệt để cách mạng, sức chiến đấu mạnh mẽ, được tôi luyện và ý thức kỷ luật cao, được tổ chức và hoạt động chặt chẽ, nghiêm ngặt theo tư tưởng, nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sự sẵn sàng hy sinh, chấp nhận những khó khăn, gian khổ, khả năng vươn lên không ngừng của Đảng vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam mới gắn bó mật thiết với nhân dân, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tin và đi theo Đảng.

Vai trò lãnh đạo của Đảng chính là trách nhiệm, nhiệm vụ cao cả mà nhân dân Việt Nam tin tưởng giao phó cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, từ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân đối với Đảng. Mục tiêu lãnh đạo của Đảng là để nhân dân thực sự là người chủ đất nước, để toàn bộ quyền lực “đều ở nơi dân”. Đảng luôn có trách nhiệm với dân và tăng cường mối quan hệ máu thịt với dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đảng được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình, là Đảng của chính mình. Nhân dân thấy rằng lợi ích căn bản của mình gắn liền với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo; mục đích, lý tưởng của Đảng cũng chính là ước mơ, nguyện vọng lâu đời của nhân dân, của dân tộc.

Đảng luôn đặt lợi ích của giai cấp, nhân dân và dân tộc lên trên hết

Bản chất, mục tiêu, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác

Các quốc gia trên thế giới đều có đảng cầm quyền lãnh đạo và nắm giữ nhà nước để tổ chức và quản lý đất nước, triển khai chủ trương, đường lối chính trị của đảng cầm quyền, thực hiện lợi ích của giai cấp thống trị. Để đánh giá vai trò, khả năng lãnh đạo đất nước của một chính đảng cầm quyền cần phải dựa vào và xem xét bản chất, mục tiêu, đường lối lãnh đạo của đảng cầm quyền, đó là tiêu chí cốt lõi để đánh giá vai trò, khả năng lãnh đạo đất nước của chính đảng cầm quyền.

Về bản chất, Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức ưu tú nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân và cả dân tộc. Mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và toàn thể nhân dân Việt Nam. Đảng một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự dân tộc, được nhân dân, dân tộc thừa nhận là đội tiên phong của mình. Mục đích hoạt động, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây dựng xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.

Sự kiểm chứng đúng đắn từ lý luận đến thực tiễn

Xuất phát từ luận điểm khách quan, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của chính đảng vô sản trong tiến trình cách mạng ở các quốc gia. C.Mác và Ph.Ăngghen trong học thuyết cách mạng và khoa học của mình, đã chỉ ra rằng, giai cấp công nhân là giai cấp hiện đại, cách mạng nhất, tiên tiến nhất trong xã hội, nhưng giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình khi thành lập ra được chính đảng đảm đương vai trò lãnh đạo, dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân tiến hành cách mạng thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin cũng nhấn mạnh rằng, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò duy nhất lãnh đạo nhà nước, xã hội, là người định hướng sự phát triển trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội.

Thấm nhuần những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã xác định rằng, cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam muốn thắng lợi trước hết phải có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

Thực tế lịch sử ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh tính tất yếu khách quan vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn của tiến trình cách mạng Việt Nam. Không có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò này của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điểm nhằm hạ thấp hoặc muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam đều trái với điều kiện thực tế của nước ta.

Sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải tự nhiên mà có, nó là tất yếu của lịch sử.

Trong thời kỳ giải phóng dân tộc ở Việt Nam trước đây, ngoài phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và dẫn dắt, đã có những phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc của một số hội, đoàn thể, đảng phái khác như: Duy Tân hội, Việt Nam Quang Phục hội, Việt Nam Quốc dân đảng... Tuy nhiên, những tổ chức, đảng phái này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do đường lối, mục tiêu của các tổ chức, đảng phái đó không phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc, thời đại, không quy tụ, tập hợp được quần chúng nhân dân... nên đã không thể lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam và dần tan rã, thất bại.

Đúc rút từ sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu vào những năm cuối của thập niên 1980, 1990 cũng cho thấy, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị ở các nước này là đã từ bỏ, buông lỏng, phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, để cho các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng, vô hiệu hóa, cướp chính quyền, đưa đất nước đi theo con đường khác khi có những biến cố về chính trị.

Chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương đã chủ động rà soát hệ thống pháp luật về tôn giáo hiện hành, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phù hợp thực tế; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền đối nội kết hợp với tuyên truyền đối ngoại nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về thành tựu của ta trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu, thông tin xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.   

Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ; xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.

Các ban, bộ, ngành chức năng cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; thông qua các phương tiện thông tin truyền thông, qua kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế, làm cho các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới hiểu đúng, hiểu đầy đủ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kết quả xử lý những vụ việc, đối tượng lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền tới đông đảo quần chúng trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng bản chất hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua. Vận động nhân dân tích cực ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của những phần tử xấu.

Nhận diện các thủ đoạn, phương thức thâm độc

Qua nghiên cứu, có thể khái quát một số thủ đoạn, phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian gần đây để chống phá nước ta như sau:

Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam”,“Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, “Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương. Đáng chú ý, kẻ địch triệt để đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, như: Vụ lấn chiếm đất đai trái pháp luật tại Giáo xứ Sở Kiện (Hà Nam); vụ lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái phép tại Giáo xứ Xuân Hòa (Bắc Ninh); vụ dòng Thiên An lấn chiếm đất rừng ở Hương Thủy (Thừa Thiên Huế)... Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn giữa các chức sắc, tín đồ với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình ANCT, TTATXH tại địa phương...

Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng” đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.  

Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...  

Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, “dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.