Thứ Năm, 2 tháng 11, 2023

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GIÚP DÂN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO

 

   Một số kết quả hoạt động giúp dân xóa đói, giảm nghèo trong những năm qua, công tác xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội là một nội dung cơ bản, quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta; được cụ thể bằng chính sách, pháp luật và chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước qua các thời kỳ. Nhận thức sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”1. Bác chỉ rõ: Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”2, “Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”3. Bước sang thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người chỉ rõ: “Mục đích của Chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn, dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”4. Người yêu cầu Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để “phát triển kinh tế và văn hoá”, “làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ”5. Giúp dân xóa đói, giảm nghèo, là một trong những chính sách lớn, có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, giúp nhau vượt qua khó khăn là thể hiện truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc; đồng thời thiết thực góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Giai đoạn nào cũng vậy, Đảng ta xác định, con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. “Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”6. Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên phải phục vụ lợi ích của nhân dân”7. Cùng với đó, Quốc hội, Chính phủ đã và đang triển khai hàng loạt chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các khu kinh tế mới, đảm bảo an sinh, công bằng xã hội trên địa bàn cả nước, “giúp dân xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào ở những vùng đất còn hoang hoá, các xã đặc biệt khó khăn nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo”8. Trọng tâm là phát triển hạ tầng và dịch vụ thiết yếu, thúc đẩy sản xuất, nâng cao thu nhập cho các huyện nghèo, hộ nghèo và người nghèo.

Kết quả xóa đói giảm nghèo đã tạo thêm cơ sở vững chắc cho Việt Nam bảo đảm các quyền và lợi ích của người dân. Nổi bật là về nhà ở, đi lại, đến năm 2020, cả nước đã xây dựng, củng cố được hàng vạn ngôi nhà, căn hộ cho người nghèo, xóa bỏ hầu hết nhà tạm ở các thôn, bản; 99% địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng biên giới có đường giao thông từ tỉnh đến huyện, xã. Về chăm sóc sức khỏe, trên 90% người dân đều có thẻ bảo hiểm y tế và được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe với chi phí thấp. Với hệ thống bệnh viện, trạm y tế và dịch vụ y tế thông suốt từ trung ương đến cơ sở, Việt Nam đã khống chế, đẩy lùi nhiều bệnh dịch nguy hiểm; tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 64 tuổi trong thập kỷ 90 (thế kỷ XX) lên 73-75 tuổi năm 2020.

Những kết quả này được nhân dân ta ghi nhận, được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Nhiều nước và tổ chức quốc tế coi Việt Nam là điểm sáng văn hóa, thành công trong thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững. Từ thực tiễn đã tổng kết, chúng ta rút ra được nhiều kinh nghiệm quý, có giá trị; đặc biệt là bài học để xóa đói, giảm nghèo có kết quả phải kết hợp chặt chẽ các yếu tố: Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng, Nhà nước; sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của cả hệ thống chính trị cùng với các tầng lớp nhân dân, bạn bè quốc tế và sự nỗ lực vươn lên của người nghèo, vùng nghèo.

 Về phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ Đại hội XIII và những năm tiếp theo, Đảng ta đã chỉ rõ: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả hơn chính sách xóa đói, giảm nghèo phù hợp với từng giai đoạn; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo và các vùng đặc biệt khó khăn. Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, có chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo. “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người”9 và đề ra mục tiêu phấn đấu giai đoạn 2021 - 2025, bình quân mỗi năm giảm từ 1,5% - 1,7% tỷ lệ hộ nghèo, các xã đặc biệt khó khăn giảm bình quân 3,5% trở lên. Đến năm 2025 giảm 40% - 50% các xã thuộc diện khó khăn và giảm trên 50% thôn, bản đặc biệt khó khăn; đồng thời khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với giảm nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giầu - nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư. Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội. Theo đó, “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững”10.

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH GIỮ VỮNG AN NINH CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ BIỂN ĐẢO

 

Trước diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt trước sự chống phá của các thế lực thù địch, Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”(1). Đảng ta nhấn mạnh mục tiêu, yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên vị trí hàng đầu; trong đó khẳng định ý chí quyết tâm, “kiên quyết, kiên trì” đấu tranh để giữ vững chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; không để đất nước bị động, bất ngờ, không để mất đất, mất đảo, mất dân.

Linh hoạt tận dụng bối cảnh, điều kiện hiện nay, tính toán giải pháp, bước đi mang tính “đột phá” để đạt được những tiến triển mang tính “bước ngoặt” quan trọng trong đàm phán giải quyết vấn đề Biển Đông. Đề phòng, giảm thiểu khả năng xung đột, không để Biển Đông trở thành “điểm nóng” đối đầu giữa các cường quốc về an ninh, quân sự. Phải chủ động nắm chắc, sâu sát tình hình, phối hợp chặt chẽ với các lực lương liên quan, nhất là với Quân đội, Ngoại giao có những biện pháp đấu tranh để giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới, đặc biệt là chủ quyền ở Biển Đông. Trên quan điểm giảm căng thẳng, tránh đối đấu, cần giải quyết vấn đề tranh chấp biên giới lãnh thổ, Biển Đông bằng đàm phán, thương lượng hòa bình và những biện pháp, sức mạnh mềm khác. Chú trọng sử dụng sức mạnh quốc tế, trong đó, có các biện pháp tăng cường liên kết, tạo sự đồng thuận cao trong khối ASEAN, thúc đẩy xây dựng và thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử các bên ở Biển Đông (COC), tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ chủ quyền biển đảo; chủ động và kiên trì đàm phán, hợp tác để Trung Quốc tích cực tham gia hợp tác với ASEAN giải quyết vấn đề Biển Đông; tranh thủ sự quan tâm của Mỹ và các nước liên quan tham gia giải quyết vấn đề Biển Đông theo luật pháp quốc tế… Đồng thời, cần có chiến lược để đầu tư, phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh, nâng cao sức mạnh tự bảo vệ; tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác của nhân dân, tạo đồng thuận và quyết tâm toàn dân bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động xâm phạm ANQG Việt Nam của các cơ quan tình báo nước ngoài từ đó góp phần bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước, phòng chống hoạt động lật đổ, chuyển hóa, thực hiện tốt phương châm “chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính”. Tích cực tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền chỉ đạo các ban ngành coi trọng công tác bảo vệ nội bộ; tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch gắn liền với đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tăng sức đề kháng về tư tưởng - chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; thường xuyên rà soát, kịp thời phát hiện và khắc phục những sơ hở, yếu kém từ cơ chế, chính sách đến tổ chức thực hiện, không để địch lợi dụng tấn công, thâm nhập, phá hoại nội bộ ta. Đặc biệt, phải chú trọng công tác đấu tranh chống gián điệp; kiểm soát, vô hiệu hóa các hoạt động thu thập tình báo của cơ quan đặc biệt nước ngoài; chú trọng công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động thâm nhập, cài cắm nội gián, nhất là các hoạt động cài cắm nội gián trong các cơ quan nghiên cứu, hoạch định chính sách, pháp luật và trong những người nắm giữ nhiều bí mật nhà nước hoặc có vai trò chỉ đạo, điều hành trong Đảng, chính quyền ở các cấp, các ngành, các địa phương của nước ta. Nâng cao khả năng đấu tranh ngăn chặn các hoạt động tình báo kỹ thuật, các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao. Vì vậy, cần đẩy mạnh nghiên cứu, dự báo, nắm chắc tình hình, kịp thời đề xuất với Đảng, Nhà nước những đối sách phù hợp với từng đối tác, đối tượng, từng tình huống có thể xảy ra.

Hai là, nếu như trước đây, chúng ta mới nhấn mạnh việc kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế và kinh tế với quốc phòng, an ninh thì Đại hội XII yêu cầu phải kết hợp chặt chẽ cả kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây là giải pháp thiết thực để giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Việc kết hợp này cần được thực hiện trong từng chiến lược, quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội, cần phải kiên quyết, kiên trì thực hiện trên tất cả mọi vùng, miền của Tổ quốc, trong đó chú trọng các đô thị lớn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Ba là, cần thiết phải xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng, củng cố vững chắc thế trận an ninh nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân, nhất là ở các địa bàn chiến lược trọng yếu, đô thị lớn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Việc điều chỉnh thế trận, bố trí các lực lượng tác chiến ngày càng hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn; việc xây dựng thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân có bước phát triển vững chắc. Kết quả là an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững, chủ động ngăn ngừa và chuẩn bị tốt mọi phương án, đối phó thắng lợi mọi tình huống có thể xảy ra. Vì thế, ở một số điểm nóng, địa bàn trọng yếu, chiến lược, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội dần dần ổn định. Nhờ đó, tiềm lực quốc phòng, an ninh ngày càng được củng cố vững chắc, được nhân dân tin tưởng, đồng tình ủng hộ và giúp đỡ. Đây là cơ sở để chúng ta bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá. Hoạt động chống phá của các đối tượng phản động có nhiều nột mới, phức tạp hơn; cường độ, phạm vì chống phỏ tăng; việc sử dụng các công cụ của một cuộc “cách mạng màu”, đặc biệt là Internet, mạng xã hội được đẩy mạnh. Các tổ chức phản động lưu vong liên kết chặt chẽ với số chống đối trong nước điều chinh phương thức, thủ đoạn chống phá theo hướng kết hợp giữa “đấu tranh bất bạo động” với sử dụng bạo lực, hoạt động manh động, khủng bố phá hoại, nhằm tạo bất ổn bên trong, tạo đà thúc đẩy “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” ở Việt Nam. Gia tăng các hoạt động liên kết, phối hợp trong - ngoài, giữa phản động lưu vong với số chống đối, bất món bên trong, số cực đoan trong Tôn giáo, dân tộc, luật sư “cấp tiến”, “xã hội dân sự”... để tiến hành các hoạt động chống phá.

        Để tạo dựng lực lượng chống đối trong nước, các đối tượng phản động triệt để sử dụng Internet, mạng xã hội để móc nối, lôi kéo người tham gia tổ chức; tiến hành huấn luyện, giao nhiệm vụ và chỉ đạo hoạt động. Thành phần móc nối, gây dựng cơ sở, tác động ảnh hường mở rộng vào hầu hết các giai tầng xã hội, trọng tâm là thanh niên, sinh viên, luật sư, trí thức, văn nghệ sĩ có quan điểm bất mãn chế độ, thậm chí cả cán bộ, đảng viên có dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; địa bàn tác động cả thành thị, nông thôn, duyên hải, các vùng chiến lược, địa bàn vùng giáo, các khu công nghiệp, khu kinh tế tập trung. Thời gian gần đây, có xu hướng đi vào số đối tượng lưu manh, hình sự để thực hiện âm mưu khủng bố, gây rối an ninh, trật tự.

Liên tục triển khai các “chiến dịch truyền thông”, chiếm lĩnh “trận địa” mạng xã hội, truyền thông “lề trái” để tuyên truyền phá hoại tư tường, làm giảm sút, từng bước xói mòn lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước; tác động phá hoại nội bộ bằng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn. Từng bước xây dựng nền tảng cho tình trạng “bất tuân dân sự”, tâm lý sẵn sàng biểu tình phản đối chỉnh sách pháp luật, coi thường kỷ cương pháp luật, chuẩn bị cơ sở tiến hành “cách mạng màu” thay đổi chế độ.

Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, theo chúng tôi cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau:

Thứ nhất, sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc.        

 

THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG

 

Nước ta là một trong các quốc gia nhiều dân tộc, trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, các dân tộc luôn kề vai sát cánh, gắn bó máu thịt bên nhau trong đấu tranh chống ngoại xâm, chống thiên tai địch họa và dựng xây đất nước. Các dân tộc nước ta là một cộng đồng thống nhất trong đa dạng; bản sắc văn hóa từng dân tộc tạo nên sự phong phú của nền văn hiến Việt Nam. Ðoàn kết các dân tộc là đường lối của Ðảng ta đã xác định ngay từ những ngày đầu mới thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Báo cáo của BCH T.Ư Ðảng khóa IX về các văn kiện Ðại hội X của Ðảng do đồng chí Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh trình bày ngày 18-4-2006 đã khẳng định:  Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam; giải quyết vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam. Vì, đây là cơ sở để động viên nguồn lực con người, tài trí của tất cả các dân tộc; đảm bảo ổn định chính trị - xã hội cho sự phát triển. Mặt khác, trong bối cảnh chính trị-xã hội thế giới diễn biến rất phức tạp như hiện nay, các thế lực thù địch đang lợi dụng các đặc điểm trong quan hệ dân tộc - tộc người, nhất là lợi dụng tính nhạy cảm của tâm lý dân tộc, tâm lý tôn giáo, những khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm kích động chia rẽ đoàn kết các dân tộc, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Đại hội XII khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực, nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc”  “Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết dân tộc.

Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống gia tăng, ngày càng gay gắt, đặt ra yêu cầu cao và đứng trước cả cơ hội thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen. Tình hình đó, đòi hỏi cần tăng cường hơn nữa việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân trong tình hình mới. Vấn đề dân tộc ở nước ta cùng với các vấn đề về đoàn kết các dân tộc và công tác dân tộc ngày càng được Ðảng ta xác định, bổ sung và khẳng định toàn diện, đầy đủ hơn: "Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn" (Ðại hội VIII). Tiếp đó là "Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng" (Ðại hội IX, sau đó Hội nghị Trung ương bảy khóa IX (tháng 1-2003) xác định: "Vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng". Ðại hội X (tháng 4-2006): "Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta". Ðó là những định hướng hết sức quan trọng cho việc hoạch định chính sách dân tộc và thực hiện công tác dân tộc. Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc ở nước ta là đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, từ đó xây dựng các chính sách dân tộc phù hợp và đưa các chính sách đó vào thực tế, nhằm khai thác mọi tiềm năng đất nước để phục vụ nhân dân, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, đưa đồng bào các dân tộc thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, thực hiện cho được mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Ðó chính là thực tiễn sinh động khẳng định ở nước ta, "các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ". 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC TÔN GIÁO

 

         Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở nước ta hiện nay rất cần sự quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa của Đảng, Chính phủ về cơ chế, chính sách; sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả của các ngành, các cấp, các địa phương và đặc biệt là sự nỗ lực, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức của toàn thể đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, “Về công tác tôn giáo”, tính đến tháng 6-2017, Nhà nước đã công nhận 41 tổ chức thuộc 15 tôn giáo, với khoảng 25,3 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số trong cả nước), gần 61 nghìn chức sắc, 134 nghìn chức việc, 28 nghìn cơ sở thờ tự và 56 trường đào tạo. Trong đó, Phật giáo có trên 14 triệu tín đồ, trên 30 nghìn chức sắc, 42 trường đào tạo và gần 18,5 nghìn cơ sở thờ tự; Công giáo có trên 7 triệu tín đồ, gần 7,5 nghìn chức sắc, 10 trường đào tạo và gần 7,8 nghìn cơ sở thờ tự; Cao đài có trên 1,1 triệu tín đồ, gần 13,5 nghìn chức sắc, 1 trường đào tạo và gần 1,2 nghìn cơ sở thờ tự; Tin lành có trên 1 triệu tín đồ, trên 2 nghìn chức sắc, 1 trường đào tạo và trên 600 cơ sở thờ tự...

Trong quá trình hoạt động và phát triển, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, thực hiện chủ trương, chính sách nhất quán là tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Ở mỗi giai đoạn cách mạng, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo được thể hiện ở những mức độ khác nhau và theo hướng ngày càng đầy đủ, hoàn thiện hơn. Từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới (năm 1986), công tác tôn giáo được Đảng và Nhà nước rất chú trọng, thông qua việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến công tác này, cơ bản đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và các chức sắc tôn giáo, có tác dụng động viên các tổ chức tôn giáo tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, vì cộng đồng, thực hiện nhiều hoạt động thiết thực, thể hiện rõ phương châm “lợi đạo - ích đời”.

Để có thể triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với tôn giáo trong đời sống xã hội nói chung, trong các tổ chức tôn giáo và đồng bào có đạo nói riêng, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân liên quan đến tôn giáo được thực hiện đầy đủ và hiệu quả; đồng thời đấu tranh với các thế lực thù địch, thiếu thiện chí lợi dụng niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận đồng bào có đạo để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo, kích động gây rối, làm ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ tôn giáo, đến mối quan hệ đạo - đời, làm phương hại đến cuộc sống ổn định của người dân..., Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.

Năm 1955, cơ quan đầu tiên có chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 566/NĐ-TTg, ngày 2-8-1955, của Thủ tướng Chính phủ, về “Lập Ban Tôn giáo, một đơn vị trong Ban Nội chính Chính phủ và trực thuộc Thủ tướng phủ”, tiền thân của Ban Tôn giáo Chính phủ ngày nay. Cùng với việc quan tâm xây dựng tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, trong đó chủ yếu là xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, ở các ngành, các cấp, tại Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, “Về công tác tôn giáo”, Đảng ta xác định: “Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn. Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn”. Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 10-1-2018, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới” tiếp tục khẳng định: “Sắp xếp hợp lý, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo; tăng cường cán bộ làm công tác tôn giáo..., tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác tôn giáo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn, nâng cao năng lực quản lý, thực thi pháp luật; bảo đảm kinh phí hoạt động và có chế độ, chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ làm công tác tôn giáo”.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, nhưng để làm tốt công tác tôn giáo, cùng với việc Đảng, Nhà nước ban hành những chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp đối với các hoạt động tôn giáo, thì vai trò của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo cũng rất quan trọng. Tuy nhiên, thời gian qua đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo vẫn còn có những bất cập, thể hiện ở 3 phương diện cơ bản sau:

Thứ nhất, về đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.

Tuyệt đại đa số cán bộ làm công tác tôn giáo không được đào tạo cơ bản về công tác tôn giáo. Các cơ quan, đơn vị làm công tác tôn giáo đều phải tuyển và nhận người về làm việc từ các ngành gần với chuyên ngành tôn giáo học (như triết học, sử học, văn hóa học...); sau đó họ phải vừa làm việc, vừa tự học và học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước, hoặc được cơ quan, đơn vị cử đi tiếp tục đào tạo. Tình trạng này là do trước đây chỉ có một số trường đại học, học viện đào tạo chuyên ngành tôn giáo học, như Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đào tạo sau đại học chuyên ngành tôn giáo học; Viện Nghiên cứu tôn giáo và tín ngưỡng thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đào tạo cử nhân chính trị chuyên ngành tôn giáo học và đào tạo sau đại học chuyên ngành tôn giáo học; Học viện Hành chính quốc gia có Khoa Quản lý nhà nước về xã hội có một môn học về tôn giáo. Đến năm 2017, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội mới đào tạo hệ cử nhân chuyên ngành tôn giáo học.

Từ thực tế chưa có chuyên ngành đào tạo công tác tôn giáo, trong khi yêu cầu cấp thiết là phải bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, năm 2007, trên cơ sở đề nghị của Ban Tôn giáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 83/QĐ-TTg, ngày 08-6-2007, “Phê duyệt “Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo, cán bộ, công chức quản lý nhà nước về tôn giáo” giai đoạn 2006 - 2010”. Kết thúc Đề án (được kéo dài đến năm 2012), Ban Tôn giáo Chính phủ đã tổ chức được 46 lớp bồi dưỡng kiến thức về tôn giáo với 7.663 lượt người tham dự và các địa phương đã tổ chức được 998 lớp bồi dưỡng với 6.685 lượt người tham dự. Trên cơ sở đánh giá hiệu quả của việc thực hiện Đề án này, ngày 9-2-2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 174/QĐ-TTg về “Phê duyệt “Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo giai đoạn 2017 - 2020” cho đối tượng làm công tác tôn giáo ở các ngành, các cấp và các địa phương.

Hai đề án nêu trên đã và đang được triển khai thực hiện có hiệu quả, từng bước nâng cao được chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, nhưng về cơ bản, đây mới chỉ là biện pháp giải quyết mang tính tình thế, chưa phải là giải pháp căn cơ và đồng bộ trong việc bảo đảm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác tôn giáo.

Thứ hai, về tâm huyết, sự gắn bó của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo đối với công tác tôn giáo nói chung, ngành quản lý nhà nước về tôn giáo nói riêng.

Tôn giáo là một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội, bởi vậy công tác tôn giáo luôn đặt ra yêu cầu cao và tương đối toàn diện đối với người làm công tác tôn giáo, như phải có sự hiểu biết về tôn giáo, am hiểu những quy định có liên quan đến hoạt động tôn giáo và những quy định về các lĩnh vực văn hóa, di sản, xây dựng, tài nguyên môi trường, y tế, giáo dục, từ thiện - nhân đạo... Ngoài ra, cán bộ làm công tác tôn giáo còn cần có những phẩm chất để giao tiếp với những công dân đặc biệt, đó là các chức sắc, chức việc hoạt động trong lĩnh vực tâm linh và có ảnh hưởng trong một bộ phận quần chúng tín đồ tôn giáo; có khả năng vận động, thuyết phục, hướng dẫn các tín đồ tôn giáo,... Họ cũng phải dành thời gian cho công việc nhiều hơn so với các ngành, nghề khác, vì các hoạt động, sự kiện của tôn giáo thường diễn ra vào ngày nghỉ, ngày lễ, ngày tết, ngoài giờ làm việc. Những người làm công tác tôn giáo phải chịu nhiều vất vả, khó khăn và phải đáp ứng yêu cầu cao như vậy, nhưng cho đến nay vẫn chưa được hưởng chế độ đãi ngộ đặc thù. Đó là lý do khiến nhiều người làm công tác tôn giáo chưa tâm huyết, gắn bó với nghề. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo Trung ương xây dựng Đề án “Tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo các cấp”, chỉ tính riêng ngành quản lý nhà nước về tôn giáo, trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến tháng 6-2012, có gần 50% số cán bộ từ Trung ương đến địa phương nghỉ hưu, chuyển công tác hoặc bỏ ngành. Điều đó cũng có nghĩa là, khoảng 50% số cán bộ làm công tác tôn giáo là cán bộ mới. Đây là con số đáng báo động về một ngành công tác đặc thù cần lớp cán bộ kế cận có kinh nghiệm, đáp ứng được yêu cầu công tác.

Thứ ba, về áp lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.

Người làm công tác tôn giáo ngoài việc thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, còn phải có phẩm chất, bản lĩnh chính trị vững vàng và kiến thức tổng hợp, có khả năng đối thoại, thuyết phục không chỉ đối với tổ chức, cá nhân tôn giáo mà còn đối với quần chúng tín đồ, những người tin theo tôn giáo.

Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo hiện nay phải chịu áp lực rất lớn từ công việc, đặc biệt là từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, ngày 30-12-2017, của Chính phủ, về “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo” có hiệu lực (từ ngày 1-1-2018), Chính phủ đã chính thức quy định chức năng quản lý nhà nước về tín ngưỡng và giao trách nhiệm cho các cơ quan liên quan thực hiện. Theo đó, cùng với việc được quy định thêm chức năng quản lý nhà nước về tín ngưỡng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cũng tăng lên rất nhiều (từ 57 nội dung lên 91 nội dung), đồng thời những công việc cần có sự phối hợp với các bộ, các ban, ngành ở Trung ương và địa phương cũng tăng lên. Trong khi đó, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo không được bổ sung mà vẫn phải thực hiện chủ trương chung về tinh giản biên chế; có địa phương còn thu gọn đầu mối cơ quan tham mưu về công tác tôn giáo. Điều này phần nào ảnh hưởng tới tâm lý và sự nỗ lực công tác của đội ngũ làm công tác tôn giáo.

 

KHẮC PHỤC 4 NGUY CƠ LỚN, TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

     Hội nghị Đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khoá VII (20 - 25/1/1994) xác định 4 nguy cơ thách thức lớn là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Dưới góc độ thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc gia, Bộ trưởng Tô Lâm cho rằng: “Đất nước đang đứng trước 3 thách thức lớn đe dọa trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ”. Cụ thể, theo ông Lâm, thách thức đầu tiên là âm mưu hoạt động chống phá, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch, phản động ngày càng thâm độc, nguy hiểm hơn. Thứ hai là nguy cơ đe dọa chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông, gắn với thách thức trong xử lý quan hệ với các nước lớn và giữ vững uy tín của Đảng, chế độ trước nhân dân ngày càng gia tăng. Thách thức thứ ba là nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với suy giảm lòng tin của nhân dân diễn biến phức tạp.

“Trong 3 thách thức nêu trên, nguy cơ mất an ninh chính trị nội bộ, suy giảm thế trận lòng dân, làm suy yếu sức chiến đấu của Đảng, của chế độ ta từ gốc, từ bên trong là nguy hiểm nhất”, ông Lâm khẳng định.

Dẫn lại câu nói nổi tiếng của Lênin từ đầu thế kỷ 20: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”, PGS-TS Nguyễn Viết Thảo, nguyên Phó giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cho rằng sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cũ là do những sai lầm của chính đội ngũ những người cộng sản cầm quyền từ phương diện chính trị, tư tưởng, tổ chức và đặc biệt là xây dựng Đảng.

Ông Thảo cho biết, Báo cáo chính trị Đại hội XIII vừa qua đã khẳng định, tình trạng suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; tình trạng tham nhũng, tiêu cực không chỉ là nguy cơ mà còn là thách thức không thể xem thường, đe dọa sự tồn vong của công cuộc đổi mới và chế độ xã hội. “Nhận định ấy tôi cho là đủ sức cảnh tỉnh, đánh giá đúng tầm của nguy cơ này”, ông Thảo nhìn nhận và cho rằng, để vượt qua được nguy cơ này, điều tiên quyết là phải nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, tính gương mẫu của đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo cầm quyền của Đảng.

“Thời gian qua, chúng ta thấy rằng, hầu như không có một vụ án lớn nào được phát hiện, phanh phui ra thông qua sinh hoạt Đảng thường kỳ tại các chi bộ, Đảng bộ cơ sở. Tại sao lại thế? Do thiếu thông tin, thiếu hiểu biết hay là thiếu trách nhiệm? Hay là an phận thủ thường, là thờ ơ chính trị của đảng viên?”, ông Thảo nêu và cho rằng, dù nguyên nhân thế nào thì đây cũng là dấu hiệu sa sút về sức chiến đấu rất đáng lo ngại trong Đảng và đây là vấn đề cần ưu tiên số 1 để vượt qua nguy cơ tham nhũng, suy thoái trong nội bộ Đảng.

Đặc biệt coi trọng nguy cơ tụt hậu về kinh tế

Trong khi đó, GS-TS Trần Ngọc Đường, Chủ nhiệm Hội đồng Dân chủ - Pháp luật, Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, thì cho rằng nguy cơ về tham nhũng, suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống... là nguy cơ trong nội bộ Đảng, Nhà nước. “Nhiệm kỳ vừa qua sở dĩ làm được một số việc rất tốt trong chống tham nhũng, củng cố lòng tin trong nhân dân là vì chính Đảng khởi xướng, chủ động và quyết liệt trong vấn đề này”, ông Đường nhận định và cho rằng, để vượt qua nguy cơ này, Đảng phải tiếp tục, quyết tâm mạnh mẽ hơn với tinh thần thực sự “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” như nhiệm kỳ vừa qua.

Tuy nhiên, theo GS-TS Trần Ngọc Đường, nguy cơ “phải đặc biệt coi trọng” cần phải khắc phục chính là nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế. Ông Đường phân tích, hiện nay khoa học công nghệ phát triển rất nhanh, nhất là với cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã làm thay đổi các quan hệ xã hội, suy nghĩ, tư duy của con người. Bên cạnh đó, thế giới ngày nay cũng diễn biến rất khó lường với những vấn đề an ninh phi truyền thống, từ thiên tai cho tới dịch bệnh.

“Nếu không vượt qua nguy cơ tụt hậu về kinh tế, trong đó có nguy cơ tụt hậu về khoa học, công nghệ thì khó mà đạt được các mốc mục tiêu quan trọng mà Nghị quyết Đại hội XIII đã nêu ra là đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao”, ông Đường nói, đồng thời cho rằng để vượt qua được nguy cơ này, cần phải có sự đề phòng, chuẩn bị chu đáo, chủ động, linh hoạt chứ không thể dựa vào chiến lược chung chung.

 

CẦN CẢNH GIÁC VỚI VĂN HÓA NGOẠI LAI KHÔNG PHÙ HỢP, LÀM LAI CĂNG, XÓI MÒN VĂN HÓA VIỆT NAM!

     Văn bản hay nhất về Halloween hôm qua là văn bản đến từ trường học Đoàn Thị Điểm của Hà Nội, theo đó trường này đã thông báo với cha mẹ học sinh rằng, nghiêm cấm các cháu đưa các đồ chơi nguy hiểm đến trường, trường không tổ chức lễ hội và không được phép hóa trang thành các hình hài kinh dị, rùng rợn.

Những hiểu biết về lễ hội này, sẽ được phổ biến trong tiết học tiếng Anh.

Cái này rất đúng và tớ ủng hộ. Chúng ta hoà nhập chứ không hoà tan, phải giữ văn hoá bản sắc của mình, không để văn hoá ngoại lai xâm lấn. Thời chúng tớ và kể cả thế hệ 8X, 9X sau này, không hề có một tý hiểu biết gì về Hallloween, nhưng ai cũng có những ngày tháng tuổi thơ đẹp và trong sáng, cần gì phải cổ suý những thứ kinh dị, ma mãnh này đâu. 

Chúng ta không thiếu trò chơi, không thiếu những ngày lễ mang đậm bản sắc dân tộc. Ô ăn quan, nhảy dây, múa sạp,…. hay quá và dễ thực hiện quá, cần gì phải giả ma, giả quỷ cơ chứ. 

Phim ảnh phương Tây du nhập, dẫn theo nhiều lối sống, văn hoá ngoại lai du nhập, khiến chúng ta quên mất nguồn cội và giá trị của văn hoá dân tộc. Đó mới thực sự là điều đáng quan ngại./.


Môi trường ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: THỦ TƯỚNG HÀ LAN VÀ THỦ TƯỚNG VIỆT NAM ĐI XE ĐẠP THAM QUAN KHÔNG GIAN VĂN HÓA PHỐ PHƯỜNG VÀ THƯỞNG LÃM SẮC THU HÀ NỘI!

     Cung đường đạp xe của hai Thủ tướng gồm các con phố quanh trung tâm chính trị Ba Đình và khu vực Hoàng thành Thăng Long, như Hùng Vương, Phan Đình Phùng, Nguyễn Tri Phương, Điện Biên Phủ, Tôn Thất Đàm.

Đạp xe trên những con đường rợp bóng cây xanh, qua những góc phố yên bình, hai Thủ tướng đã thân mật trò chuyện, chia sẻ cho nhau những câu chuyện, vấn đề cùng quan tâm.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đã giới thiệu với Thủ tướng Hà Lan về các công trình văn hóa-lịch sử trong khu vực như Hoàng thành Thăng Long - di sản thế giới, Cột cờ Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam… 

Về phần mình, Thủ tướng Hà Lan bày tỏ ấn tượng với vẻ đẹp yên bình và không gian văn hóa-lịch sử trong khu vực Ba Đình./.



Yêu nước ST.

BÀI HỌC KHÓ QUÊN

 


Vào một ngày nghỉ, tôi đến thăm nhà anh bạn mới được điều động về công tác gần nhà. Ngắm nhìn căn nhà cấp 4, lợp ngói 3 gian của gia đình anh đã rêu phong, xập xệ, tôi hỏi: Ông định khi nào làm lại căn nhà này? Anh bạn tôi nhoẻn cười: Ông thấy hơn hai mươi năm công tác xa nhà, lương “ba cọc ba đồng”, vợ ốm con đau, thiếu thốn đủ đường, lấy đâu ra mà xây với sửa?... Nghe vậy tôi thoáng chạnh lòng.


Nhân chuyện nhà cửa, anh bạn tôi “dốc bầu” tâm sự:


Vừa qua để xoay xở chuyển công tác về dưới này, vợ chồng tôi cũng cố thu xếp một món kha khá… để đến gặp “sếp”. Sau khi trò chuyện, hỏi han tình hình gia đình và nghe tôi trình bày nguyện vọng chuyển công tác về một cơ sở gần nhà, “sếp” nói: “Cán bộ trên này đang rất thiếu… để tôi bàn với các anh ấy xem”. Rồi “sếp” bắt tôi mang gói quà về với thái độ kiên quyết. Tôi ngại quá, cố thuyết phục “sếp” nhận và giúp tôi. Không sao từ chối được, “sếp” đành nhận và bảo tôi cứ yên tâm làm việc cho tốt.


Tôi ra về mà lòng vui phấp phỏng. “Sếp” đã nhận là yên tâm. Tôi vừa lặng lẽ chờ đợi, vừa kiên trì làm việc cho tốt.


Bẵng một thời gian, bỗng một hôm “sếp” ghé thăm nhà tôi. Ngồi trò chuyện chút ít, “sếp” thông báo việc chuyển công tác của tôi đã được cấp ủy đồng ý và đã có quyết định. Vừa nói, ông vừa trao lại gói quà mà trước đây tôi đã mang đến biếu. Tôi ngập ngừng, không dám nhận lại, nhưng với thái độ kiên quyết của “sếp”, tôi không thể khác được… “Sếp” căn dặn tôi: Là cán bộ lãnh đạo, tôi rất hiểu hoàn cảnh của anh em cấp dưới. Việc gì giúp được anh em tốt hơn, thuận lợi hơn tôi cũng không ngần ngại gì và không yêu cầu anh em phải vất vả tốn kém. Đó là trách nhiệm của tôi. Cậu cầm lại gói quà này mà thêm thắt sửa sang lại nhà cửa cho chắc chắn...


Nghe xong câu chuyện, tôi thầm vui và ghé sát tai anh bạn: Ông được một bài học rồi đấy… Anh bạn tôi gật đầu: Đúng, bài học nhớ đời không thể nào quên. Cũng còn may, gặp được “sếp” xử lý tế nhị, kín kẽ, chứ nếu vào ông “sếp” khác tính tình cương trực mà gọi cơ quan lên giao gói quà trả lại thì “hết chỗ chui”…


Nhân một buổi sinh hoạt chuyên đề của chi bộ, tôi kể lại câu chuyện anh bạn. Mọi người bàn luận khá sôi nổi. Một số người liên hệ, dẫn chứng ra một số ví dụ tương tự và cho rằng, chính những người như anh bạn tôi đã tự khởi đầu cho những biểu hiện không lành mạnh, tiêu cực trong công tác cán bộ. Nhưng cũng có đảng viên còn phân vân, cho đó là trường hợp hy hữu… Rồi một vài người lại kể ra những biểu hiện tiêu cực từ chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy tuổi… đi cửa trước, cửa sau. Có người chạy hết chức này đến chức khác… Có cán bộ lợi dụng vị trí công tác, khi giúp ai việc gì cũng khéo dùng nghệ thuật “rung chài” hoặc cứ phải có “đếm… đếm”.


Buổi sinh hoạt chi bộ trở nên rất sôi nổi. Cuối cùng, các đảng viên cũng đi đến đồng lòng, cho rằng việc làm của ông “sếp” ấy rất đáng được học tập. Còn những biểu hiện tiêu cực của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có anh bạn tôi, thì cần phải nghiêm khắc sửa chữa, nếu không sẽ nhanh chóng dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, rất nguy hiểm.


Qua chuyện này, anh em trong chi bộ tôi càng thấm thía sâu sắc lời dạy của Bác: Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những đức tính tốt ngày càng thêm.


Thiết nghĩ, nếu cán bộ, đảng viên nào cũng tự giác, trung thực học và làm theo lời Bác thì Đảng ta sẽ luôn rất mạnh từ cơ sở./. 


Tạp chí Cộng sản

LẠI NÓI VỀ CÁI SỰ YÊU VÀ GHÉT


Ca dao nước ta có câu: “Yêu nhau yêu cả đường đi. Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng”, đó là cái sự yêu ghét rất chi là cực đoan. Nói về cá nhân thì ai cũng có tính tốt và chưa tốt (thậm chí là xấu và rất xấu); nói rộng ra đến quốc gia cũng vậy. Mỹ có xấu không? Trung quốc có xấu không? Người nay bảo Mỹ là xấu, người khác chỉ có Trung quốc là xấu. Nói thế là cào bằng tất cả. Cá nhân lão thì nước nào đó bị mang tiếng xấu thì chỉ có bộ máy cầm quyền, mà trong bộ máy cầm quyền thì người “cầm lái” mới là người đáng trách nhất.


Đã có bài lão nói rằng, người nào cũng có, quốc gia dân tộc nào cũng có, những điều hay chúng ta cần học, điều dở chúng ta nên biết mà tránh. Đừng trách nhân dân Mỹ, nhân dân Trung quốc hay bất cứ nhân dân nước nào. Ở đâu cũng có người tử tế xen lẫn kẻ bất nhân. Việt Nam ta có không? Đi đâu cũng gặp người tử tế, dù họ thuộc bất kể tầng lớp nào trong xã hội, và cũng không thiếu kẻ bất nhân dù chúng có địa vị cao trong xã hội hay không. 


Nhiều người thích dùng chữ “Mỹ nô”, “Tàu nô” một cách chung là không thỏa đáng. Nước Mỹ, nước Tàu và các nước tư bản chủ nghĩa, dân tộc chủ nghĩa có gì đáng để cho chúng ta học không? Có khối. Cái gì chứ về mặt khoa học kỹ thuật thì chúng ta còn phải học họ dài dài, làm sao cho đất nước mình phát triển mạnh mẽ thì lại có người đến đất nước ta mà học. Tất nhiên học ai thì cũng phải có sự chọn lọc chứ đừng học tính ích kỷ chỉ biết “lợi mình mà hại người”. Lão nói chung chung như vậy.


Lão không thể nào quên được những nước đã đem quân xâm lược nước ta, gây ra cho dân tộc ta biết bao đau khổ. Kẻ gây ra tội ác ấy là những kẻ điều hành đất nước và đem quân đi xâm lược; biết bao thanh niên của nước ấy, dân tộc ấy đã phải bỏ xác trên đất nước ta; song có kẻ nào đứng đầu quốc gia đó bị chết không, tuyệt nhiên không nhé. Chỉ tính trong cuộc Mỹ xâm lược Việt Nam, có trên 58 ngàn thanh niên Mỹ chết trên chiến trường nước ta, chẳng hề thấy những cái tên như Kenedy, Johnson, Nixxon …; chẳng những thế, nhờ vào những cuộc chiến do chính quyền Mỹ gây ra trên khắp địa cầu lại chính là nguồn lợi to lớn của giới tài phiệt Mỹ. Vì vậy, lính Mỹ cũng chính là nạn nhân của nhà cầm quyền Mỹ và giới tài phiệt Mỹ.


Còn đế quốc là còn chiến tranh, còn thói ích kỷ là còn chiến tranh, mà để gây ra các cuộc chiến tranh thì cần phải đề cao sự dối trá. Điều cần nhất hiện nay là tìm ra cho được sự dối trá trong các lời hứa, trong những cái bắt tay, trong những cái ôm hôn thân thiết. Các cụ nhà ta đã nói, “tỉnh ăn, nhầm thua, vô ý mất tiền” là vậy đó./.


Hình trong bài: Sự dối trá dẫn đến sự hủy diệt đất nước và nhân dân Iraq.

Ngày 25/10/2023

Ngã Thị Dã

LÀ CÁN BỘ KHÔNG THỂ NÉ TRÁNH, SỢ TRÁCH NHIỆM



Sáng 24/10, phát biểu ý kiến thảo luận tại tổ trong chương trình Kỳ họp 6, Quốc hội khóa XV, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã nêu một số ý kiến về tình hình kinh tế - xã hội của năm 2023.


Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội, trong đó cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra và tiếp tục trở thành điểm sáng của kinh tế toàn cầu.


"Nói điều này không phải tự khen đất nước mình nhưng những kết quả đạt được rất ấn tượng. Vừa qua, tôi tham gia một số hoạt động đa phương, gặp gỡ một số lãnh đạo các nước thì cơ bản đánh giá rất cao nỗ lực, kết quả của chúng ta và có sự rất chân thành trong trao đổi khi nói về ấn tượng đối với phát triển kinh tế Việt Nam trong thời gian vừa qua", Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nêu.


Bên cạnh đó, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cũng chỉ rõ hạn chế, khó khăn của chúng ta còn rất nhiều, rất lớn nhưng khả năng giải quyết, tháo gỡ của các cơ quan Nhà nước chưa đáp ứng được.


"Thị trường bất động sản trong gần 2 năm qua, chúng ta đã tháo gỡ được dự án nào lớn chưa? Điển hình như Đà Nẵng vô cùng khó khăn. Hay thị trường trái phiếu doanh nghiệp, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém thì 10 năm qua, với các ngân hàng 0 đồng, chúng ta vẫn chưa giải quyết được.


Hay là chúng ta có chủ trương nhiều, kỳ vọng rất lớn nhưng thực hiện thì chậm. Tại diễn đàn Quốc hội có đại biểu cũng nói con đường dài nhất là con đường giữa nói và làm", Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nêu vấn đề.


Theo Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, chương trình phục hồi phát triển kinh tế xã hội sau COVID-19, Quốc hội thảo luận rất quyết tâm nhưng triển khai thì rất chậm. Câu chuyện đầu tư công tưởng như cái khó là không có tiền để chi tiêu nhưng có tiền rồi vẫn không chi tiêu được.


Chủ tịch nước cũng cho hay, tình hình thế giới và khu vực cũng tác động rất nhiều. Ví dụ, việc nâng chuẩn hàng tiêu dùng xanh và sạch hơn của cộng đồng châu Âu hay đời sống kinh tế khó khăn ở một số nước làm cho nhu cầu tiêu dùng giảm đáng kể và ảnh hưởng rất lớn đến hàng xuất khẩu của chúng ta. Nhiều đơn hàng phải dừng lại. Việc xung đột vũ trang chiến tranh ở một số nơi cũng làm cho khách du lịch ít đi hơn, chi tiêu ít hơn và cũng làm cho chúng ta sản xuất chậm lại.


Nêu một số vấn đề, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chỉ ra một số nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó có tác động từ bên ngoài và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu.


Việc phân cấp, phân quyền đạt kết quả chưa cao, chưa rõ ràng, chưa khích lệ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hệ thống chính trị.


Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhấn mạnh, kết luận của Đảng có nêu một vấn đề là phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền rõ ràng, minh bạch theo hướng là từng cấp phải xác định rõ được cái thẩm quyền và trách nhiệm của mình.


"Việc này để cấp dưới không đi hỏi cấp trên cái chuyện của mình và để cấp trên không phải với tay xuống làm những việc của cấp dưới. Khi cần thiết phải hỏi thì phải trả lời là rõ ràng, minh bạch. Nhưng điều này chúng ta chưa thực hiện được.


Có nhiều việc, chúng ta thấy là quyền hạn không rõ, mà cứ mỗi lần đi hỏi thì mất tối thiểu là 3 tháng, trung bình là 6 tháng và thậm chí có vấn đề 9 tháng để nhận được một văn bản trả lời là làm theo quy định của pháp luật". Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cho biết.


Một hạn chế khác được Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chỉ rõ đó là tư duy là thích ôm đồm các quyền trong xây dựng chính sách. Lĩnh vực nào cũng muốn mình có quyền trong cái lĩnh vực đó. Cho nên nhiều chuyện không chịu phân cấp hoặc kể cả những vấn đề đã thấy rồi nhưng mà phân cấp rất là khó khăn.


Vấn đề thứ hai là trách nhiệm trong xây dựng pháp luật bao gồm cả luật, nghị định, thông tư, tức là văn bản quy phạm pháp luật, Chủ tịch nước cho rằng cần nâng cao trách nhiệm trong vấn đề này.


Và vấn đề thứ ba mà các đại biểu có nói tới đó là cán bộ né tránh, sợ trách nhiệm, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cho rằng đây là khuyết điểm, "anh là cán bộ anh không thể né tránh, sợ trách nhiệm được".


"Nhưng mà sợ sai thì đúng, làm mà không sợ sai mới chết. Sợ sai để mình làm kỹ hơn, sợ sai để nghiên cứu pháp luật đầy đủ hơn, sợ sai để cân nhắc trước sau lợi hại đến quốc kế dân sinh trước khi mình quyết định là một phẩm chất cần thiết của cán bộ", Chủ tịch nước cho biết.


Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng mong muốn làm sao các vị đại biểu Quốc hội, các lãnh đạo địa phương khi mà làm việc nói là do pháp luật vướng, nghị định vướng thì cần chỉ rõ đó là vướng vào nghị định nào, thông tư nào thì mới cụ thể và rõ ràng được.


Theo VTV

XÂY DỰNG Ý THỨC TÔN TRỌNG NHÂN DÂN


Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng, cấp bách trong cán bộ, đảng viên hiện nay.


Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định bản chất giai cấp, bản chất nhân dân và bản chất dân tộc của Đảng. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân vừa là chủ thể của chế độ mới, vừa là chủ nhân của xã hội, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Theo đó, mọi cán bộ, đảng viên đều là "công bộc" của dân.


Với bản chất, mục tiêu, lý tưởng của Đảng mà mỗi cán bộ, đảng viên đã tuyên thệ, nguyện nỗ lực phấn đấu khi được kết nạp vào Đảng, trước hết, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn có ý thức đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân, gắn bó mật thiết với nhân dân.


Nhân dân là chủ thể lớn nhất, cao nhất và duy nhất mà Đảng phải tôn trọng và phục vụ nhiều nhất. Sự tôn trọng, phục vụ nhân dân là một sứ mệnh cao cả, nhiệm vụ vinh quang được thể hiện qua nhiều loại hình công việc, nhiệm vụ, vị trí việc làm của những cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị, những người được giác ngộ lý tưởng, sẵn sàng hy sinh, cống hiến trí tuệ, sức lực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.


Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò, sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là trong công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước luôn đề cao vai trò, sức mạnh của nhân dân, luôn quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân thông qua nhiều chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh, tiến bộ và công bằng xã hội.


Đến nay, mức sống của người dân đã được nâng lên gấp nhiều lần so với những năm trước đổi mới. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, năm 2019, toàn Đảng đã học tập, quán triệt và thực hiện chuyên đề "Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" đạt những kết quả quan trọng.


Tuy nhiên, thực tế ở nhiều nơi, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo vẫn còn có biểu hiện quan liêu, xa dân, thiếu tôn trọng, thậm chí thờ ơ, vô cảm với đời sống nhân dân. Biểu hiện của sự thiếu tôn trọng đối với nhân dân như: Sống xa dân, không gần gũi, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu dân, coi thường người dân, mất dân chủ, không bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; vô cảm, thiếu trách nhiệm với dân; ngại tiếp dân, không dám đối thoại với dân.


Một số biểu hiện khác của sự thiếu tôn trọng đối với nhân dân là cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm, làm không đến nơi đến chốn, hay biểu hiện nặng hơn là tình trạng suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, tiêu cực, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi… Đó cũng chính là sự bội tín, sự phản bội lợi ích của nhân dân, của đất nước và dân tộc.


Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng, cấp bách trong cán bộ, đảng viên hiện nay. Để tăng cường xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân trong cán bộ, đảng viên, chúng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.


Đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức về trách nhiệm đối với nhân dân, đưa nội dung xây dựng ý thức tôn trọng và tinh thần trách nhiệm với nhân dân vào sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng. Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện hơn nữa các quy định, hướng dẫn về tăng cường ý thức tôn trọng và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân, đưa ý thức tôn trọng, trách nhiệm đối với nhân dân vào các quy chế, quy định cụ thể của cấp ủy, tổ chức đảng và những điều đảng viên không được làm, vào việc kiểm điểm, đánh giá xếp loại tổ chức đảng và đảng viên hằng năm.


Tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên, thường xuyên kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, đảng viên trong thực hiện các quy định của Điều lệ Đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên và những quy định liên quan chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, bảo đảm mọi cán bộ, đảng viên đều được quản lý, giám sát chặt chẽ. Phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong giám sát, góp ý phê bình, xây dựng, nâng cao ý thức tôn trọng nhân dân của cán bộ, đảng viên. Với tư cách là những người làm chủ xã hội, người được phục vụ, hơn ai hết, mỗi người dân đều có thể cảm nhận, đánh giá được mức độ tôn trọng của cán bộ, đảng viên đối với mình.


Đấu tranh phê phán, xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu dân. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Sâu sát cơ sở, tăng cường đối thoại, tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân.


Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng về vị trí, vai trò của nhân dân. Đây là cơ sở tiền đề của ý thức tôn trọng nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên "phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ"(1).


Thực hiện phong cách quần chúng, luôn gần gũi, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Nếu cùng sinh sống trên một địa bàn, một cơ sở, nhưng sống xa cách nhân dân cả về điều kiện, mức sống, mức hưởng thụ, lại không thường xuyên tiếp xúc, gần gũi với dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị, phản ánh của dân là xa dân, khinh dân, thiếu tôn trọng với dân.


Luôn có thái độ ứng xử đúng mực với mọi người dân, không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân tộc, tôn giáo, điều kiện sống, thành phần xuất thân, phong tục, tập quán, tín ngưỡng… Tuyệt đối tránh thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền hay vô cảm với dân, không được nhạo báng, xúc phạm tới tập quán văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật công nhận của nhân dân.


Trong công tác cũng như trong đời sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên phải luôn đấu tranh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, việc gì có lợi cho dân và đúng pháp luật thì quyết làm, những việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Luôn giữ lời hứa với dân, nói đi đôi với làm, không nên làm hoặc nói điều gì có thể làm cho dân hiểu lầm rằng mình xem thường nhân dân. Yêu cầu này đòi hỏi cán bộ, đảng viên khi phát ngôn với nhân dân phải thận trọng, chắc chắn, ngôn ngữ gần gũi, dân dã, dễ hiểu, dễ nhớ, không dùng lời lẽ thô lỗ, ba hoa.


Thật lòng, thật tâm, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đây là những điều kiện rất quan trọng để có được sự tôn trọng cả trong ý thức và hành động thực tế, sự thống nhất giữa nói và làm. Không có tâm, không cần, kiệm, bất liêm, bất chính, tham ô, tham nhũng, tiêu cực, trục lợi, vun vén lợi ích cá nhân là biểu hiện rõ nét của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và đó cũng chính là những biểu hiện của thiếu ý thức tôn trọng nhân dân./.


PGS. TS. DƯƠNG TRUNG Ý


Tạp chí Tuyên giáo

Kiểm soát hiệu quả tài sản của cán bộ có chức, quyền

 


Trong bài viết mở đầu cuốn sách "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh", với tựa đề "Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát một số vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay. 


Nhấn mạnh một số giải pháp, Tổng Bí thư yêu cầu phải có những bước tiến mới, quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn và hiệu quả cao hơn trong thời gian tới. Trong đó, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới và tăng cường giám sát việc thực thi quyền lực.


Thực tế công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng gần đây đã chỉ ra một số hạn chế, vướng mắc cần khắc phục, điều chỉnh trong kiểm soát tài sản của cán bộ có chức, quyền. Ngay trong ngày làm việc thứ nhất Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thi hành kỷ luật đối với 3 đồng chí Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương.


Trong đó, cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre do đã vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương trong việc kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập; giải trình nguồn gốc và biến động tài sản không trung thực, không đúng quy định. Vi phạm của đồng chí mang tính hệ thống, kéo dài trong nhiều năm, đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, dư luận xấu, bức xúc, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, mất uy tín cá nhân.


Từ một số vụ án kinh tế, tham nhũng đã xét xử trước đó đặt ra vấn đề, cần mở rộng diện kiểm soát tài sản, thu nhập của cả người thân cán bộ có chức, quyền; làm rõ nguồn tài sản bất minh đến từ đâu và đi về đâu.


Trong khi cơ chế quản lý tài sản ở nước ta hiện nay còn thiếu chặt chẽ, thiếu minh bạch, các giao dịch kinh tế, dân sự hiện nay vẫn chủ yếu được thực hiện bằng tiền mặt cho nên rất khó kiểm soát được thu nhập, tài sản. Một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng còn mang tính hình thức, hầu hết các bản kê khai tài sản của cán bộ, công chức chưa được kiểm tra, xác minh, kiểm chứng cho nên khó khăn trong việc xác định tài sản tham nhũng và tài sản được hình thành từ tài sản tham nhũng; chưa có cơ sở dữ liệu tập trung đối với thông tin về tài sản phải đăng ký, gây khó khăn cho việc điều tra, xác minh truy tìm tài sản tham nhũng.


Cùng các điều khoản, quy định của pháp luật, việc kiểm soát quyền lực và kiểm soát người thân dùng "ảnh hưởng" của người có chức, có quyền để trục lợi, đã được thể hiện trong các quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm, về trách nhiệm nêu gương.


Tại Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021, Trung ương nêu rõ những điều đảng viên không được làm, đi liền với đó là chế tài xử lý kỷ luật khi đảng viên, nhất là người có chức, có quyền vi phạm. Tại Quy định số 69-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vừa được ban hành, nêu rõ, trường hợp để vợ (chồng), con lợi dụng chức vụ, vị trí công tác của mình tổ chức thực hiện hoạt động vi phạm pháp luật nghiêm trọng; tạo điều kiện để vợ (chồng), bố mẹ, con, con dâu, con rể, anh, chị, em ruột hoặc bên vợ (chồng) hoặc người khác thực hiện dự án, kinh doanh ngành nghề thuộc lĩnh vực, đơn vị do mình trực tiếp phụ trách, theo dõi trái quy định nhằm trục lợi, thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ).


Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư nhấn mạnh, cùng với "nhốt" quyền lực vào trong "lồng" cơ chế, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình là điều kiện tiên quyết để kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng đắn, không bị "tha hóa"... Phải đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện các quy định về công chức, công vụ, kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn để ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực.


Các cấp ủy, tổ chức đảng phải đặc biệt làm tốt công tác cán bộ; phải bằng mọi biện pháp không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã phạm sai lầm hoặc sa sút về phẩm chất đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền. Đồng thời thường xuyên quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên, kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu sai phạm.


Phát huy vai trò giám sát việc thực thi quyền lực thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thanh tra, kiểm toán của Nhà nước; giám sát của cơ quan dân cử và đại biểu dân cử, của cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, của báo chí, nhân dân và xã hội. Chú trọng giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là của người đứng đầu và cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.


TS TRIỆU QUANG MINH (Học viện Chính trị Khu vực 1)

ĐỪNG ĐỂ KHI DÂN KHÓ, DÂN MUỐN LÀM GÌ THÌ NGHĨ “BÂY GIỜ GẶP AI, NHỜ ÔNG NÀO”

 


Chủ tịch nước cho rằng dường như có một bộ phận cán bộ nắm luật, nắm quy định không rõ.


“Tôi có cảm giác một số đồng chí làm công tác quản lý nhà nước chuyên ngành, chuyên môn của một sở, quận, huyện nhưng phát biểu chung chung, nói những lời tốt đẹp nhưng công việc cụ thể giải quyết chưa thấu đáo”, Chủ tịch nước nói và chỉ ra đây là vấn đề cần phải giải quyết, khắc phục.


Theo ông, từng địa phương phải thực sự làm, thực sự nghiên cứu, tháo gỡ xem vướng mắc, khó khăn từ đâu, "chỗ nào mình cũng nói vướng, gặp ai cũng nói vướng" thì dân biết kêu ai. Dân khó phải nghĩ ngay đến chính quyền, nghĩ ngay luật pháp. Đừng để khi dân khó, dân muốn làm gì thì nghĩ “bây giờ gặp ai, nhờ ông nào”.


Chủ tịch nước cho hay để gỡ vấn đề này có trách nhiệm của cả hệ thống cơ quan nhà nước nhưng trực tiếp phải là từng địa phương.


Chủ tịch nước bày tỏ mong muốn các đại biểu Quốc hội, lãnh đạo địa phương phải nói rõ việc pháp luật, nghị định vướng mắc cụ thể điểm nào.


Theo : Vietnamnet

Trị "căn bệnh" cán bộ sợ trách nhiệm



Tại sao khi đang muốn viết về bệnh đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV), nhất là người đứng đầu trong xã hội ta hiện nay tôi lại nghĩ tới mấy câu thơ của Tố Hữu mà mình đã được học thời phổ thông. Bài thơ tôi được học cách đây nửa thế kỷ, trước khi trở thành người lính Trường Sơn. Có lẽ, lý do duy nhất là tôi nghĩ tới điều tốt đẹp về những con người đã nguyện phấn đấu, hy sinh cho Tổ quốc và nhân dân. "Yêu biết mấy những con người đi tới/ Hai cánh tay như hai cánh bay lên/ Ngực dám đón những phong ba dữ dội/ Chân đạp bùn không sợ các loài sên...".


Mấy câu thơ này tôi chép theo trí nhớ, chẳng biết có chuẩn xác tuyệt đối không nhưng tư tưởng của nó chắc chắn không lầm lẫn, chệch hướng được. Những con người đi tới ấy có lý tưởng cách mạng cao đẹp, có phẩm chất đạo đức trong sáng, dám nghĩ, dám làm vì Tổ quốc, vì nhân dân mà kể đến đầu tiên không ai khác chính là đội ngũ trí thức, CB, ĐV.


Cùng dân tộc đi qua các cuộc kháng chiến vĩ đại nhất để giải phóng đất nước, bảo vệ non sông và xây dựng Tổ quốc vô cùng cam go khốc liệt, lớp lớp đảng viên đã làm đúng lời thề cao cả của mình. Họ đi trước và sẵn sàng nhận lấy những khó khăn, gian khổ nhất, không nề hà mất mát, hy sinh. Có thế đất nước mới được độc lập, thống nhất, hòa bình và đổi thay như bây giờ. Nhưng, cũng vì nặng lòng với quá khứ bi tráng ấy mà những CB, ĐV chân chính không khỏi đau buồn, nhức nhối trước thực trạng xuống cấp về phẩm chất đạo đức của một bộ phận (có thể nói là không nhỏ) của CB, ĐV thoái hóa hiện nay. Một trong những biểu hiện của sự xuống cấp đó là căn bệnh đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của CB, ĐV với những hệ lụy trước mắt và lâu dài của nó.


Sòng phẳng mà nói thì cái tính ích kỷ, hám lợi, muốn dễ mình khó người không phải bây giờ mới có. Tôi nghĩ nó cũng là một thuộc tính của con người nhưng ở phần khuất tối. Nó là góc tăm tối cố thủ bền vững nhất trong tâm tính ta mà chỉ cần có cơ hội là ngóc đầu dậy rủ rê, giục giã con người hành động tiêu cực. Cái sự ích kỷ đó đã có từ thuở ngày xửa, ngày xưa: "Cơm ăn chẳng hết thì treo/ Việc làm chẳng hết thì kêu láng giềng" (ca dao). Lợi ích thì mình hưởng, công việc thì kêu người khác làm, ai mà chịu thấu cơ chứ. Trong chiến tranh, bên cạnh những đồng đội biết “chia lửa, chia bom”, lại có những kẻ đùn đẩy sự nguy hiểm cho người khác để mong bảo toàn mạng sống cho mình. Thậm chí, còn tìm mọi cách để trốn nhập ngũ, tách mình khỏi cuộc kháng chiến chính nghĩa, oanh liệt của dân tộc ta.


Gần đây, tôi có đọc tiểu thuyết "Bất chợt mai vàng" của nhà văn Nguyễn Trí Huân. Trong đó có nhân vật là một chiến sĩ sợ chết nên giả ốm để không phải đi đánh trận. Chỉ huy đơn vị đã cử một người bạn cùng quê với người lính hèn nhát ấy đi chiến đấu thay. Anh ra trận và đã hy sinh anh dũng. Nỗi ân hận, dằn vặt đeo bám người lính hèn nhát còn sống sót sau cuộc chiến đến hết đời. Tuy nhiên, nhà văn của chúng ta xây dựng nhân vật ấy cũng không phải để chì chiết, bỉ bôi hay trách móc ai cả. Nhà văn Nguyễn Trí Huân muốn "Sự thật về cuộc chiến tàn khốc đã lùi xa hơn 50 năm và cũng đến lúc nó cần được khép lại. Khép lại để những con người tham gia cuộc chiến ấy ở cả hai phía có thể sống trong sự tĩnh lặng của đời thường, và cũng bởi cuộc đời như một tấm áo họ đang may dở, hãy để cho họ đơm nốt những chiếc khuy áo cuối cùng...".


Vâng, đúng như thế, cần như thế nhưng những bài học về đối nhân xử thế, về trách nhiệm vẫn phải được nhắc lại, nhắc mãi. Quá khứ khép lại thì cuộc sống mới đồng thời cũng được mở ra. Tổ quốc sau những tan nát, thương đau rất cần những con người mới cho sự nghiệp dựng xây đất nước hôm nay và mai sau. Để cho những thành quả của cách mạng được giữ gìn bền vững và cuộc sống nhân dân ngày càng tươi sáng hơn. Để cho những người theo Đảng được tự do và hạnh phúc ngay trên chính mảnh đất mình đang sống. Mục tiêu ấy, rõ ràng rất khó trở thành hiện thực hay chẳng bao giờ trở thành hiện thực sinh động được khi đội ngũ CB, ĐV cứ đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; việc gì thấy có lợi cho mình, gia đình họ hàng, cánh hẩu, phe nhóm thì nhiệt tâm làm, còn ngược lại thì khéo léo chuyển giao sang cho người khác.


Đấy là một thực trạng rất đáng buồn trong một bộ phận không nhỏ CB, ĐV hiện nay. Nó hoàn toàn xa lạ với phẩm chất, đạo đức của CB, ĐV. Những người như Bác Hồ từng dặn rằng: ''Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969). Không có CB, ĐV nào “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” lại biếng nhác, phất phơ, vụ lợi, phung phí, đùn đẩy, chối bỏ trách nhiệm được tổ chức giao cả. Không có CB, ĐV nào “là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” lại ích kỷ, hẹp hòi và tham lam vô độ cả. Sự đùn đẩy, né tránh trách nhiệm là dấu hiệu dễ thấy nhất của chủ nghĩa cơ hội, khi vui thì vỗ tay vào còn khi gian khó thì tìm cách thoái thác, lẩn tránh. Người chân chính trước hết phải yêu nước thương dân, lo cái lo của nước, lo cái lo của dân. Chẳng phải cụ Nguyễn Trãi từ thế kỷ 15 đã "Bình sinh độc bão tiên ưa niệm/ Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên" (Suốt đời một mình ôm cái chí “lo trước thiên hạ”. Ngồi ôm chiếc chăn lạnh, suốt đời không ngủ). Nỗi lo của Ức Trai tiên sinh là nỗi lo làm sao cho dân yên; "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" ấy mà. Bác Hồ cũng từng có những đêm thao thức vì thương nước, thương dân "Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ/ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà".


Có hai trường hợp mà tôi nghĩ rất đáng để cho CB, ĐV hiện nay lấy làm bài học răn mình. Trường hợp thứ nhất liên quan đến quyết định khó nhất trong đời cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông đã bạc tóc khi quyết định đổi chiến thuật “đánh nhanh, thắng nhanh” (đã được thông qua) thành “đánh chắc, tiến chắc” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nếu là người không dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì chắc chắn Đại tướng không bao giờ thay đổi cách đánh đã thông qua rồi.


Trường hợp thứ hai là cố Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc, con người đổi mới, sáng tạo phát triển nông nghiệp. Với nhân dân Việt Nam nói chung và nông dân Việt Nam nói riêng thì những câu chuyện về Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc mãi mãi là huyền thoại trên những thửa ruộng thấm mặn mồ hôi con người. Từ thực trạng “dong công phóng điểm” đến “khoán hộ” ở nông thôn Vĩnh Phúc những năm đất nước còn đánh Mỹ ghi dấu tài đức của người cộng sản chân chính Kim Ngọc. Chính chủ trương “khoán hộ” từ Vĩnh Phúc đã mở ra hướng đi tích cực trong tìm tòi cách thức quản lý mới trong nông nghiệp, gắn lợi ích của người nông dân với kết quả lao động đưa lại nhiều thành tựu to lớn cho nông nghiệp Việt Nam như chúng ta đã thấy. Tôi nghĩ, những CB, ĐV, đặc biệt là người đứng đầu các tổ chức phải soi vào những tấm gương đó để suy nghĩ và hành động. Không có gì cao hơn danh dự con người. Những ai vì nước, vì dân sẽ mãi mãi được nhân dân tôn vinh, tôn thờ. Họ sẽ bất tử trong lòng dân tộc.


Nói đến con người là nói tới văn hóa. Người CB, ĐV phải là người có văn hóa. Văn hóa được thể hiện rõ trong cả nhận thức và hành động, nói và làm. Nhận thức đúng sẽ hành động đúng. Nói hay phải làm tốt. Có thế mới tạo dựng được niềm tin vững bền trong nhân dân. Cốt lõi của văn hóa chính là lòng yêu thương. Trong yêu thương tỏa sáng sự nhân nghĩa. Những mưu mô, lọc lõi, cầu danh, cầu vinh, cầu lợi và làm hại người khác đối nghịch với nhân văn. Nó là mối nguy hại của đất nước, của chế độ. "Quyền mưu bản thị dụng trừ gian/ Nhân nghĩa duy trì quốc thế an" (Nguyễn Trãi); dịch nghĩa: Quyền mưu vốn chỉ dùng để diệt trừ bọn gian ác/ Nhân nghĩa mới giữ gìn cho thế nước được an.


Do đó, Đảng ta, Nhà nước, nhân dân ta muốn giữ vững được đất nước và chế độ để phát triển tốt đẹp, không được mảy may coi thường việc lựa chọn cán bộ. Cán bộ phải được lựa chọn kỹ càng và cần được thử thách nghiêm túc nhất. Phải cho họ được lăn lộn trong những hoàn cảnh gian khó, thậm chí nghiệt ngã để thể hiện phẩm chất và tài năng của mình. Tôi nghĩ, đừng bao giờ, đừng khi nào nghĩ tới chuyện lót đường rải thảm cho họ bước tới chiếc ghế lãnh đạo dù họ xuất thân từ đâu. Hiền tài phải được phát hiện từ quần chúng và được sử dụng xứng tầm tài đức của họ. Đến lúc phải nói không với chủ nghĩa lý lịch, càng kiên quyết loại bỏ việc chạy chức, chạy quyền. Chỉ cần những người có trách nhiệm lựa chọn phải hết sức công tâm và đừng bao giờ bỏ qua tai mắt nhân dân. Những kẻ đùn đẩy, tắc trách cần bị phát hiện và xử lý sớm. Ai không làm được thì tránh ra hoặc buộc phải "bứng đi" để người khác làm. Hãy để vị trí lãnh đạo cho những ai thực sự yêu nước, thương dân, thực sự dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân. Không thể khác được, những CB, ĐV ấy phải là những Con Người viết hoa, dám đứng mũi chịu sào, không quản gian khó, hy sinh, không cong queo, ích kỷ. Họ phải là những con người tiêu biểu của Đảng, của chế độ "Ngực dám đón những phong ba dữ dội"...


NGUYỄN HỮU QUÝ

TẤM LÒNG CỦA BÁC

  


Trong những ngày ra thăm miền Bắc, đoàn anh hùng, dũng sĩ miền Nam được Bác chăm lo, ân cần như cha đối với con. Bác bảo tôi (vì tôi được phụ trách theo dõi sức khoẻ và đời sống của đoàn):


 

- Cô Bi phải chăm sóc các cô, các chú ấy thật tốt, đừng để các cô các chú ấy ốm.

 

Một bữa, đồng chí Huỳnh Văn Đảnh bị sốt rét, Bác biết được, gọi tôi lên hỏi:

 

- Chú Đảnh bị sốt ra sao?

 

Tôi báo cáo tình hình của đồng chí Đảnh cho Bác, Bác nhắc:

 

- Cô phải cho các cô, các chú ấy ăn uống đầy đủ, chú ý các món ăn của địa phương để các cô, các chú ấy ăn được nhiều, sức khỏe mới tốt.

 

Một hôm khác, Bác chỉ vào Trần Dưỡng và hỏi tôi:

 

- Cô Bi, tại sao chú Dưỡng hơi gầy?

 

Bác nghe anh hùng Vai kể chuyện quê hương miền núi nghèo khổ của mình. Bác cảm động nói:

 

- Thống nhất Bác vô Nam, thế nào cũng về thăm quê hương cháu Vai.

 

Trong những ngày sống ban Bác, tôi càng thấm thía hơn tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam. Chị Tạ Thị Kiều nói với tôi.

 

- Càng được gần Bác, càng thấy Bác thương yêu dân miền Nam ta quá chị à.

 

Nói xong, hai chị em lại khóc vì sung sướng và cảm động trước tấm lòng của Bác Hồ.

Theo 117 Chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (Ban Tuyên giáo TW, Nxb. CTQG - 2007)