Thứ Năm, 2 tháng 11, 2023

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC TÔN GIÁO

 

         Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở nước ta hiện nay rất cần sự quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa của Đảng, Chính phủ về cơ chế, chính sách; sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả của các ngành, các cấp, các địa phương và đặc biệt là sự nỗ lực, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức của toàn thể đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, “Về công tác tôn giáo”, tính đến tháng 6-2017, Nhà nước đã công nhận 41 tổ chức thuộc 15 tôn giáo, với khoảng 25,3 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số trong cả nước), gần 61 nghìn chức sắc, 134 nghìn chức việc, 28 nghìn cơ sở thờ tự và 56 trường đào tạo. Trong đó, Phật giáo có trên 14 triệu tín đồ, trên 30 nghìn chức sắc, 42 trường đào tạo và gần 18,5 nghìn cơ sở thờ tự; Công giáo có trên 7 triệu tín đồ, gần 7,5 nghìn chức sắc, 10 trường đào tạo và gần 7,8 nghìn cơ sở thờ tự; Cao đài có trên 1,1 triệu tín đồ, gần 13,5 nghìn chức sắc, 1 trường đào tạo và gần 1,2 nghìn cơ sở thờ tự; Tin lành có trên 1 triệu tín đồ, trên 2 nghìn chức sắc, 1 trường đào tạo và trên 600 cơ sở thờ tự...

Trong quá trình hoạt động và phát triển, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, thực hiện chủ trương, chính sách nhất quán là tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Ở mỗi giai đoạn cách mạng, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo được thể hiện ở những mức độ khác nhau và theo hướng ngày càng đầy đủ, hoàn thiện hơn. Từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới (năm 1986), công tác tôn giáo được Đảng và Nhà nước rất chú trọng, thông qua việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến công tác này, cơ bản đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và các chức sắc tôn giáo, có tác dụng động viên các tổ chức tôn giáo tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, vì cộng đồng, thực hiện nhiều hoạt động thiết thực, thể hiện rõ phương châm “lợi đạo - ích đời”.

Để có thể triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với tôn giáo trong đời sống xã hội nói chung, trong các tổ chức tôn giáo và đồng bào có đạo nói riêng, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân liên quan đến tôn giáo được thực hiện đầy đủ và hiệu quả; đồng thời đấu tranh với các thế lực thù địch, thiếu thiện chí lợi dụng niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận đồng bào có đạo để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo, kích động gây rối, làm ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ tôn giáo, đến mối quan hệ đạo - đời, làm phương hại đến cuộc sống ổn định của người dân..., Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.

Năm 1955, cơ quan đầu tiên có chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 566/NĐ-TTg, ngày 2-8-1955, của Thủ tướng Chính phủ, về “Lập Ban Tôn giáo, một đơn vị trong Ban Nội chính Chính phủ và trực thuộc Thủ tướng phủ”, tiền thân của Ban Tôn giáo Chính phủ ngày nay. Cùng với việc quan tâm xây dựng tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, trong đó chủ yếu là xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, ở các ngành, các cấp, tại Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, “Về công tác tôn giáo”, Đảng ta xác định: “Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn. Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn”. Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 10-1-2018, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới” tiếp tục khẳng định: “Sắp xếp hợp lý, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo; tăng cường cán bộ làm công tác tôn giáo..., tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác tôn giáo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn, nâng cao năng lực quản lý, thực thi pháp luật; bảo đảm kinh phí hoạt động và có chế độ, chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ làm công tác tôn giáo”.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, nhưng để làm tốt công tác tôn giáo, cùng với việc Đảng, Nhà nước ban hành những chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp đối với các hoạt động tôn giáo, thì vai trò của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo cũng rất quan trọng. Tuy nhiên, thời gian qua đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo vẫn còn có những bất cập, thể hiện ở 3 phương diện cơ bản sau:

Thứ nhất, về đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.

Tuyệt đại đa số cán bộ làm công tác tôn giáo không được đào tạo cơ bản về công tác tôn giáo. Các cơ quan, đơn vị làm công tác tôn giáo đều phải tuyển và nhận người về làm việc từ các ngành gần với chuyên ngành tôn giáo học (như triết học, sử học, văn hóa học...); sau đó họ phải vừa làm việc, vừa tự học và học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước, hoặc được cơ quan, đơn vị cử đi tiếp tục đào tạo. Tình trạng này là do trước đây chỉ có một số trường đại học, học viện đào tạo chuyên ngành tôn giáo học, như Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đào tạo sau đại học chuyên ngành tôn giáo học; Viện Nghiên cứu tôn giáo và tín ngưỡng thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đào tạo cử nhân chính trị chuyên ngành tôn giáo học và đào tạo sau đại học chuyên ngành tôn giáo học; Học viện Hành chính quốc gia có Khoa Quản lý nhà nước về xã hội có một môn học về tôn giáo. Đến năm 2017, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội mới đào tạo hệ cử nhân chuyên ngành tôn giáo học.

Từ thực tế chưa có chuyên ngành đào tạo công tác tôn giáo, trong khi yêu cầu cấp thiết là phải bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, năm 2007, trên cơ sở đề nghị của Ban Tôn giáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 83/QĐ-TTg, ngày 08-6-2007, “Phê duyệt “Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo, cán bộ, công chức quản lý nhà nước về tôn giáo” giai đoạn 2006 - 2010”. Kết thúc Đề án (được kéo dài đến năm 2012), Ban Tôn giáo Chính phủ đã tổ chức được 46 lớp bồi dưỡng kiến thức về tôn giáo với 7.663 lượt người tham dự và các địa phương đã tổ chức được 998 lớp bồi dưỡng với 6.685 lượt người tham dự. Trên cơ sở đánh giá hiệu quả của việc thực hiện Đề án này, ngày 9-2-2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 174/QĐ-TTg về “Phê duyệt “Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo giai đoạn 2017 - 2020” cho đối tượng làm công tác tôn giáo ở các ngành, các cấp và các địa phương.

Hai đề án nêu trên đã và đang được triển khai thực hiện có hiệu quả, từng bước nâng cao được chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, nhưng về cơ bản, đây mới chỉ là biện pháp giải quyết mang tính tình thế, chưa phải là giải pháp căn cơ và đồng bộ trong việc bảo đảm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác tôn giáo.

Thứ hai, về tâm huyết, sự gắn bó của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo đối với công tác tôn giáo nói chung, ngành quản lý nhà nước về tôn giáo nói riêng.

Tôn giáo là một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội, bởi vậy công tác tôn giáo luôn đặt ra yêu cầu cao và tương đối toàn diện đối với người làm công tác tôn giáo, như phải có sự hiểu biết về tôn giáo, am hiểu những quy định có liên quan đến hoạt động tôn giáo và những quy định về các lĩnh vực văn hóa, di sản, xây dựng, tài nguyên môi trường, y tế, giáo dục, từ thiện - nhân đạo... Ngoài ra, cán bộ làm công tác tôn giáo còn cần có những phẩm chất để giao tiếp với những công dân đặc biệt, đó là các chức sắc, chức việc hoạt động trong lĩnh vực tâm linh và có ảnh hưởng trong một bộ phận quần chúng tín đồ tôn giáo; có khả năng vận động, thuyết phục, hướng dẫn các tín đồ tôn giáo,... Họ cũng phải dành thời gian cho công việc nhiều hơn so với các ngành, nghề khác, vì các hoạt động, sự kiện của tôn giáo thường diễn ra vào ngày nghỉ, ngày lễ, ngày tết, ngoài giờ làm việc. Những người làm công tác tôn giáo phải chịu nhiều vất vả, khó khăn và phải đáp ứng yêu cầu cao như vậy, nhưng cho đến nay vẫn chưa được hưởng chế độ đãi ngộ đặc thù. Đó là lý do khiến nhiều người làm công tác tôn giáo chưa tâm huyết, gắn bó với nghề. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo Trung ương xây dựng Đề án “Tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo các cấp”, chỉ tính riêng ngành quản lý nhà nước về tôn giáo, trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến tháng 6-2012, có gần 50% số cán bộ từ Trung ương đến địa phương nghỉ hưu, chuyển công tác hoặc bỏ ngành. Điều đó cũng có nghĩa là, khoảng 50% số cán bộ làm công tác tôn giáo là cán bộ mới. Đây là con số đáng báo động về một ngành công tác đặc thù cần lớp cán bộ kế cận có kinh nghiệm, đáp ứng được yêu cầu công tác.

Thứ ba, về áp lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.

Người làm công tác tôn giáo ngoài việc thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, còn phải có phẩm chất, bản lĩnh chính trị vững vàng và kiến thức tổng hợp, có khả năng đối thoại, thuyết phục không chỉ đối với tổ chức, cá nhân tôn giáo mà còn đối với quần chúng tín đồ, những người tin theo tôn giáo.

Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo hiện nay phải chịu áp lực rất lớn từ công việc, đặc biệt là từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, ngày 30-12-2017, của Chính phủ, về “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo” có hiệu lực (từ ngày 1-1-2018), Chính phủ đã chính thức quy định chức năng quản lý nhà nước về tín ngưỡng và giao trách nhiệm cho các cơ quan liên quan thực hiện. Theo đó, cùng với việc được quy định thêm chức năng quản lý nhà nước về tín ngưỡng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cũng tăng lên rất nhiều (từ 57 nội dung lên 91 nội dung), đồng thời những công việc cần có sự phối hợp với các bộ, các ban, ngành ở Trung ương và địa phương cũng tăng lên. Trong khi đó, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo không được bổ sung mà vẫn phải thực hiện chủ trương chung về tinh giản biên chế; có địa phương còn thu gọn đầu mối cơ quan tham mưu về công tác tôn giáo. Điều này phần nào ảnh hưởng tới tâm lý và sự nỗ lực công tác của đội ngũ làm công tác tôn giáo.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét