Thứ Năm, 2 tháng 11, 2023

 

KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI

Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại mới: Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên phạm vi toàn thế giới. Thế nhưng, sau 74 năm, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu tan vỡ thì các thế lực thù địch, phản động ra sức lợi dụng, dùng mọi thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, nhằm phủ nhận ý nghĩa thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và Chủ nghĩa Mác-Lênin...

Ánh sáng soi đường

Trong bài nói chuyện với các nhà báo Liên Xô, tháng 7-1957, dưới nhan đề “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại soi sáng con đường đưa chúng ta tới hạnh phúc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ con đường Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin và đưa cách mạng nước ta đi đến thành công. Bác Hồ nói: “Cách mạng Tháng Mười ảnh hưởng tới Việt Nam tương đối chậm. Sở dĩ như vậy là vì bọn thực dân Pháp đã kìm giữ, nói đúng ra là hoàn toàn cô lập đất nước này, chúng tìm mọi cách để cố gắng ngăn cản không cho những sự thật về Liên Xô lọt vào nước chúng tôi và đồng thời chúng lại tung ra những tin tức dối trá về Liên Xô. Mặc dù vậy, những người cách mạng Việt Nam đã kiên trì đi tìm và đã tìm thấy sự thật. Dần dần, họ đã biết rõ toàn bộ ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười. Đối với nhân dân và đặc biệt là đối với những người cách mạng, Cách mạng Tháng Mười vĩ đại là ngọn đèn pha soi sáng cuộc đấu tranh cho tự do và hạnh phúc. Cách mạng Tháng Mười đã đem lại cho chúng tôi Chủ nghĩa Mác-Lênin. Học thuyết bất hủ đó đã vạch ra con đường mà chúng tôi phải đi theo. Có thể nói rằng nếu không có Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thì nhân dân Việt Nam không thể hoàn thành được cuộc Cách mạng Tháng Tám của mình...” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.12).

Cách mạng Tháng Mười thành công dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết (Liên Xô) là một cao trào đấu tranh chính trị của quần chúng lao động mà lực lượng tiên phong là giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vích nhằm lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản cấu kết với bọn quý tộc phong kiến Nga Sa hoàng giành lấy chính quyền, thiết lập chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân và nông dân Nga. Đánh giá tổng quát về ý nghĩa lịch sử và thời đại của cách mạng XHCN Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.387).

Sức sống của Cách mạng Tháng Mười

Sau 106 năm, ý nghĩa và sức sống của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn lan tỏa ở nhiều nước và phong trào cộng sản quốc tế. Song mưu đồ đen tối và thủ đoạn tinh vi của các thế lực phản động, thù địch, học giả tư sản, cơ hội chính trị vẫn ra sức tấn công vào giá trị, thành quả của cuộc cách mạng XHCN đầu tiên trên thế giới. Chúng rêu rao rằng, Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của Liên Xô là “quái thai của lịch sử”. Nhất là khi mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chúng tuyên bố về “sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản” và phủ nhận thành quả cách mạng, ý nghĩa lịch sử to lớn của Cách mạng Tháng Mười, nhằm xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tảng của CNXH khoa học và chủ nghĩa cộng sản. Cũng bằng việc phủ nhận thành quả của Cách mạng Tháng Mười, chúng đi đến phủ nhận thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên CNXH của nước ta.

Chúng ta đều biết, sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng trực tiếp nhất là do những sai lầm nghiêm trọng về đường lối trong quá trình cải tổ, đổi mới, về công tác cán bộ và tổ chức thực tiễn, sự phản bội của một số cá nhân giữ chức vụ cao trong Đảng đã xa rời những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, phản bội lại lý tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chứ tuyệt nhiên không phải vì bản chất của CNXH, lại càng không phải là “định mệnh” của CNXH khoa học. Thực tiễn sinh động ở các nước đi theo mô hình chế độ XHCN hiện nay đã minh chứng sức sống mãnh liệt của Chủ nghĩa Mác-Lênin và ý nghĩa sức sống của Cách mạng Tháng Mười Nga, trong đó có nước ta. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn trung thành, kiên định và vận dụng đúng đắn, sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Rõ ràng là sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu không phải là sự phủ định CNXH trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, mà chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình phát triển cụ thể do không được điều chỉnh kịp thời khi mắc phải sai lầm và khi điều kiện thực tiễn đã thay đổi. CNXH hiện thực vẫn đang tồn tại, phát triển và đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Ý nghĩa lịch sử vĩ đại và lý tưởng XHCN của Cách mạng Tháng Mười vẫn còn nguyên giá trị trong đời sống chính trị và trong trái tim của những người cộng sản, nhân dân lao động, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Trước sức sống của Cách mạng Tháng Mười Nga, của Chủ nghĩa Mác-Lênin, các thế lực thù địch và học giả tư sản, cơ hội lại cho rằng: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với tiến bộ khoa học-công nghệ hiện nay sẽ thay thế cho cách mạng xã hội nói chung, cách mạng XHCN nói riêng”. Đây là quan điểm rất sai lầm, khi ngộ nhận và đánh đồng cách mạng xã hội với cách mạng khoa học-công nghệ, quy kết quy luật tự nhiên với quy luật xã hội là một, xóa nhòa tính giai cấp trong ứng dụng khoa học-công nghệ, quan hệ xã hội... Họ cố tình quên rằng vấn đề chính trị chỉ có con người mới giải quyết được.

Thực tế cho thấy, khi khoa học-công nghệ phát triển, chủ nghĩa tư bản tận dụng triệt để với mong muốn mang lại lợi nhuận khổng lồ về kinh tế và mưu toan cho những âm mưu chính trị khác. Trong chủ nghĩa tư bản, khoa học-công nghệ phát triển trở thành công cụ hữu hiệu để nâng tỷ lệ bóc lột lao động lên cấp số nhân; làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến bộ khoa học-công nghệ đã tác động to lớn đến sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm gia tăng tính gay gắt của các mâu thuẫn kinh tế-xã hội vốn có trong xã hội tư bản, thúc đẩy sự chín muồi những điều kiện để cách mạng XHCN có thể nổ ra và giành thắng lợi. Cách mạng XHCN là giải pháp toàn diện, triệt để và hợp lý nhằm tạo ra những điều kiện kinh tế-xã hội để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển của cách mạng công nghiệp và khoa học-công nghệ hiện đại, phù hợp với tiến trình lịch sử-tự nhiên của xã hội.

Đi theo lý tưởng XHCN của Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh đạo nhân dân thực hiện Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, thiết lập nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đưa cả nước đi lên CNXH. Lựa chọn con đường đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Đảng ta vẫn kiên định lý tưởng XHCN của Cách mạng Tháng Mười, vận dụng đúng đắn, sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiến hành đổi mới, vượt qua khủng hoảng kinh tế-xã hội, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu phát triển trên các lĩnh vực của Việt Nam gần 40 năm đổi mới theo định hướng XHCN làm cho: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định. Thành tựu đó là minh chứng khẳng định ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Mười vẫn còn nguyên giá trị và sự thắng lợi của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.

(Sự kiện và Nhân chứng)

 

  Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi tư duy, nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người với thế giới. Con người tiếp cận với tri thức nhanh chóng hơn, mở ra khả năng tương tác; phương thức tác động của chính quyền với người dân đa dạng hơn, nhất là thông qua mạng xã hội. Những năm qua, một trong các yếu tố tạo nên uy tín của Việt Nam trong quan hệ quốc tế là việc Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định quan điểm tiến bộ, tích cực về nhân quyền, đồng thời cố gắng tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng các quyền của mình và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhân quyền không ai có thể phủ nhận. Thế nhưng đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch và một số tổ chức phi chính phủ được sự giúp đỡ của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động cơ xấu để can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, nhất là các quốc gia có thể chế chính trị XHCN nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong mọi giai đoạn cách mạng, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương tiện, cách thức khác nhau hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại số nhằm tận dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước. Tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính trị, nliững vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam. Thông qua các nền tảng số, các thế lực thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của báo chí chính thống trong nước, sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung “thật giả lẫn lộn” và thông tin sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra những trang/tài khoản núp dưới danh xưng của các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo cấp cao nhằm lôi kéo tâm lý hiếu kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin (mà báo chí chính thống trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt thông tin); ngụy tạo các bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến những vấn đề đang được dư luận quan tâm... Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng số nêu trên của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn ít nhiều đã dẫn dụ và lừa dối được một bộ phận người dân. Những cái “bẫy thông tin” mà các đối tượng thù địch, phản động, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến cho nhiều người nước ngoài không phân biệt được thông tin chính thống và thông tin giả mạo, dẫn đến có nhận thức không đúng, không tốt về Việt Nam. Do đó, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị” là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch về nhân quyền không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ hình ảnh Việt Nam trước những thông tin không đúng sự thật. Hơn lúc nào hết, mỗi người dân cần biết sử dụng chính những thành tựu của cuộc cách mạng 4.0 để làm phương tiện đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động. Thông qua nền tảng số, cần quảng bá những hình ảnh chân thực của Việt Nam về nhân quyền, về uy tín, vị thế của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Việt Nam hiện là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC. WTO... và hơn hết, nước ta luôn tôn trọng nhân quyền, Đảng và Nhà nước luôn hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Như vậy, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, việc sử dụng các nền tảng công nghệ số để phục vụ tuyên truyền một mặt góp phần thúc đẩy quảng bá về một Việt Nam thân thiện, mến khách, một đất nước được coi là “điểm hẹn của hòa bình”, điểm đến an toàn cho bè bạn quốc tế, mặt khác góp phần phản bác lại các thông tin tuyên truyền sai trái, thù địch đối với Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với thế giới./.

 

Những chiêu trò chống phá Đảng của các thế lực phản động, thù địch

 

Chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực phản động thù địch với những âm mưu rất tinh vi xảo quyệt và vô cùng nguy hiểm. Chúng không từ bất kỳ thủ đoạn nào, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của internet công nghệ thông tin để đăng tải nhiều tin bài video có nội dung xuyên tạc nhằm tìm mọi cách chống phá nền tư tưởng của Đảng. Đồng thời phủ nhận những thành tựu về mọi mặt kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước ta đặc biệt từ giai đoạn 35 năm đổi mới đến nay. Kể từ khi ra đời chủ nghĩa Mác Lênin đã trở thành ngọn đuốc dẫn đường cho phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới, vì mục tiêu giải phóng con người giải phóng xã hội đem lại cuộc sống ấm no tự do và hạnh phúc cho tất cả mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh trên hành trình tìm đường cứu nước sau khi bắt gặp ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin sớm nhận thấy tính cách mạng của học thuyết này. Người đã về nước thành lập ra Đảng cộng sản Việt Nam, kể từ khi ra đời vào ngày mùng 3 tháng 2 năm 1930 đến nay, Đảng ta đã khẳng định Đảng ta lấy chủ nghĩa mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho mọi hành động. Hơn 90 năm qua dù đất nước trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau nhưng Đảng vẫn luôn kiên định nền tảng tư tưởng của mình và thực tế cũng cho thấy đây là một sự lựa chọn sáng suốt. Từ chỗ Đảng và Bác xác định học thuyết Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng nên Đảng đã kiên định và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể, để rồi chúng ta thấy cách mạng Việt Nam Con đường cách mạng Việt Nam đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Các thế lực thù địch hiểu rất rõ vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi vậy chúng ra sức xuyên tạc phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với các luận điệu cho rằng: Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là minh chứng cho chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời không còn phù hợp. Việc đảng cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm, Đảng Cộng sản Việt Nam bảo thủ với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là trái quy luật, hoặc đã phát triển kinh tế thị trường thì đâu còn là chủ nghĩa xã hội. Đây là thủ đoạn cũ rích nhưng hết sức tinh vi thâm độc chúng cố tình đi vấn đề mang tính khách quan trong quy luật phát triển xã hội là giải phóng giai cấp giải phóng dân tộc giải phóng con người chỉ thực sự triệt để khi có sự kết hợp chặt chẽ với nhau và điều này đồng nghĩa với mục tiêu độc lập dân tộc phải gắn liền với Chủ nghĩa xã hội. Thực tế lịch sử hơn 103 năm tồn tại của chủ nghĩa xã hội hiện thực Mặc dù Đầy sóng gió khó khăn cùng lịch sử Hơn 75 năm phát triển của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay cho thấy chưa có một mô hình xã hội nào tiến bộ hơn nhân đạo hơn giải phóng con người triệt để hơn mô hình chủ nghĩa xã hội với việc kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội và vận dụng sáng tạo học thuyết mác-lênin vào điều kiện thực tế của đất nước Đảng đã đưa nước ta từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu đạt được nhiều thành tựu vô cùng to lớn trên mọi mặt đời sống kinh tế xã hội. Có một nghịch lý đó là dù những thành tựu của Việt Nam được thể hiện bằng những con số chỉ số ấn tượng đã được bạn bè quốc tế ghi nhận đánh giá cao, nhưng trên nhiều bài viết video cấp thế lực phản động thù địch vẫn trắng chọn phủ nhận sạch trơn thủ đoạn dễ thấy nhất đó là cố tình vẽ ra các bất cập này tình trong việc triển khai các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đưa ra các kiến nghị nhằm hướng lái dư luận theo ý Đổ xấu của chúng triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân tung ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai để gây hoài nghi cho nhân dân cổ xúy cho cái gọi là nhận thức đa chiều hay nhìn nhận đa chiều để bới móc xuyên tạc chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Mục đích cuối cùng là hòng tạo nên bức tranh bi quan về tình hình Việt Nam gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa rộng đường dư luận để tiếp tục đưa ra những luận điệu phủ nhận vai trò to lớn của Đảng cộng sản Việt Nam. Vậy thì trước những thủ đoạn ấy một lần nữa chúng ta hãy nhìn lại biểu đồ của nền kinh tế xã hội Việt Nam từ sau đổi mới đến nay với những chỉ số liên tục tăng lên theo từng giai đoạn để biết được đâu là sự thật khách quan và đâu là sự xuyên tạc bóp méo với một cái nhìn đầy tiêu cực Định Kiến. Nếu như ở giai đoạn đầu sau đổi mới 1986 - 1990 mức tăng trưởng GDP của nước ta chỉ đạt 4,4 Phần Trăm. Thì đến giai đoạn 1996 2000 tốc độ tăng GDP đạt 7 phần trăm giai đoạn 2016 2020 GDP tăng trưởng 6,5 đến 7 phần trăm. nếu năm 1986 sản xuất nhập khẩu cả nước đạt 2,9 tỷ đôla, nhập tiêu chiếm đến 173 phần trăm tổng kim ngạch, thì đến năm 2020 kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 544 tỷ đô la với mức xuất siêu kỷ lục 19,1 tỷ đôla. Thu hút đầu tư nước ngoài tăng mạnh giai đoạn 3 năm đầu thời kỳ đổi mới chỉ số 211 dự án FDI với tổng vốn đăng ký Đạt khoảng 1,6 tỷ đôla, đến năm 2020 tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã 28,5 tỉ đô la tăng 17,8 lần. Liên tiếp trong 4 năm từ năm 2016 đến 2019 Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Thay vì chỉ trên dưới mười một 12 nước công nhận Việt Nam thời kỳ đầu chống Pháp thì đến nay chúng ta đã quan hệ chính thức này ngoại giao với 189/193 Quốc gia và có quan hệ kinh tế với trên 230 quốc gia vùng lãnh thổ trên toàn thế giới năm 2020 Việt Nam đã làm rất tốt vai trò của năm chủ tịch ASEAN ở cũng như là ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc và với thành tựu đó Việt Nam đã từng bước không chỉ là hội nhập nghiêm túc của chúng ta còn Chủ động thích ứng và tham gia vào thiết kế cuộc chơi với tư cách người làm chủ và được thế giới ngày càng thừa nhận. Cách sử lý, kinh nghiệm cũng như những hành động đó của Việt Nam. Năm 2020 khép lại nhiệm kỳ 5 năm 2016 - 2020 của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng. kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đến này chưa có khi nào đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức với nhiều yếu tố bất định như nhiệm vụ này, nhưng lửa thử vàng gian nan thử sức dưới sự lãnh đạo của đảng sự chỉ đạo quản lý điều hành của chính phủ sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng Việt Nam chúng ta đã đạt được những thành tích đặc biệt. Toàn Đảng toàn dân toàn quân ta thực hiện thắng lợi những chủ trương mục tiêu và nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết Đại hội lần thứ 12 của Đảng đạt được nhiều thành quả rất quan trọng khá toàn diện tạo nhiều dấu ấn nổi bật gốc phần cố đậm những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử có 35 năm đổi mới. Năm 2010 Mặc dù chụp ảnh hưởng nặng nề của dịch COVID 19 nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng gần ba phần trăm là một trong những nước hiếm hoi tăng trưởng Dương trong khu vực và trên thế giới. Đặc Biệt cũng trong năm 2020 Việt Nam được Liên Hợp Quốc công nhận là một trong 5 nước về đích đầu tiên cả 55 mục tiêu của thiên niên kỷ. Trong đó riêng xóa đói giảm nghèo Chúng ta đã đi trước 25 năm với mức giảm nghèo đa chiều chỉ còn 4,7 phần trăm. Những con số chỉ số được thế giới đánh giá cao ghi nhận đó đã đủ để khẳng định nền kinh tế xã hội ở nước ta hay chưa? nó thực sự u ám và mang màu sắc bi quan như trên những bài viết video thấm đẫm cái nhìn Định Kiến và tiêu cực của các thế lực thù địch hay không? lời giải đáp của câu hỏi này quả thực đã quá dễ dàng. Việc đảng ta kiên định con đường chủ nghĩa xã hội đã đang kiên định học thuyết Mác - Lênin là rất đúng đắn và chính đúng ấy là bao giờ thắng lợi của cách mạng nước ta đang đi trong lúc ta và Chính Thắng Lợi đó là minh chứng sinh động nhất cụ thể nhất để bác bỏ những luận điệu như sự tuyên truyền xuyên tạc sai trái của các thế lực thù địch. Thế nhưng hơn tất cả có lẽ cảm nhận từ chính những người dân những người đã sống qua nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước về đời sống kinh tế xã hội Hôm nay mới là những cảm nhận chân thật nhất tiếng nói của họ mới chính là câu trả lời mang tính khẳng định mạnh mẽ nhất về việc Đảng ta kiên định với con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Em có phải là một sai lầm như những luận điệu mà các thế lực phản động thù địch vẫn thường hay rêu rao hay không. Về kinh tế thì có sự phát triển đời sống của khu dân phố cũng như nông thôn thì phát triển rất đều rất mạnh thu nhập của của người dân cao hơn, tình hình trật tự trị an ổn định, đất nước thanh bình, người dân yên tâm làm ăn sinh sống. Chưa bao giờ đất nước chúng ta có được vị thế như ngày hôm nay trên trường quốc tế nâng tầm vóc vị trí Việt Nam nên tầm cao mới đây là tự hào của nhân dân ta và thành công ấy là bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta kết nối được toàn bộ hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp trong việc thực hiện có hiệu quả mục đích xây dựng và phát triển kinh tế xã hội. Đó chính là lời phản bác đang thép nhất trước những luận điệu tiêu cực đầy định kiến của các thế lực phản động thù địch. Tháng 1 năm 2021 Đảng đã tổ chức thành công đại hội 13 với sự đồng lòng đồng thuận từ trên xuống dưới trong nhiệm kỳ mới Đảng ta sẽ tiếp tục đường lối mục tiêu xây dựng đất nước đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao phấn đấu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao xây dựng một đất nước Việt Nam Hùng Cường và thịnh vượng. Hơn 75 năm kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội mặc dù các thế lực phản động thù địch vẫn không ngừng bôi nhọ xuyên tạc về Đảng cũng như gia sức tìm cách phủ nhận các thành tựu về kinh tế chính trị xã hội của Đảng thì sự ghi nhận của nhân dân trong nước của bạn bè quốc tế chính là đòn phản công mạnh mẽ nhất đối với các chiêu bài và thủ đoạn hèn hạ của chúng./.

 

Hạ bệ uy tín vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu chưa bao giờ từ bỏ của các thế lực thù địch phản động

 


 

Từ sau Hội nghị TW 8 khóa XIII vừa qua, Đảng ta đang từng bước chuẩn bị những nội dung quan trọng cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Các thế lực thù địch phản động lại tiếp tục dấy lên luận điệu công kích xuyên tạc Phải xóa bỏ chế độ một đảng, lập đa đảng mới khắc phục được các căn bệnh trầm kha của xã hội, như tham nhũng, quan liêu, mất dân chủ...”. Mục đích nhằm phá hoại và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, mà thực chất là phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là ý đồ rất thâm độc, cần được nhận diện rõ và tuyên truyền sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên cùng toàn thể nhân dân hiểu và tham gia đấu tranh, phản bác, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Sự đáp trả thích đáng cho những giọng điệu xuyên tạc về hình ảnh Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

 


Trong đợt mưa lũ vừa qua, trên địa bàn các tỉnh Tây bắc như huyện Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái, Thị xã Sa Pa, tỉnh Lào cái, Thành Phố Sơn la… một trong những hình ảnh để lại nhiều ấn tượng và cảm phục trong lòng mỗi người dân nơi tâm lũ đó là những người lính “Bộ đội Cụ Hồ”, lực lượng công an và dân quân địa phương quên thân mình, không ngại khó khăn gian khổ giúp đỡ Nhân dân khắc phục hậu quả bị thiệt hại do mưa lũ gây ra. Họ đến với dân như một lẽ tự nhiên, như một mạch nguồn kết nối suốt gần 80 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành. Quân đội từ Nhân dân mà ra và cũng vì Nhân dân mà chiến đấu.

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI TÌNH TRẠNG TỐ CÁO SAI SỰ THẬT CỦA MỘT SỐ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

 

Tố cáo sai sự thật gây ra những hậu quả khôn lường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của cá nhân, tổ chức bị tố cáo, gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự và gây ra nhiều hệ lụy đối với xã hội. Bởi vậy, việc đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên cần được nhận diện, nghiên cứu một cách cẩn trọng, thấu đáo, để tìm ra giải pháp xử lý thực sự hiệu quả, đồng bộ và khả thi.

Một số vấn đề chủ yếu về tố cáo sai sự thật: Luật Tố cáo năm 2018 giải thích: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Hiến pháp năm 2013, quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Như vậy, tố cáo là quyền của công dân do Hiến pháp, pháp luật quy định. Cán bộ, đảng viên cũng là công dân và họ cũng có quyền tố cáo theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Từ những điều nêu trên, có thể hiểu: Tố cáo là quyền của công dân Việt Nam do Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định; đó là việc người dân theo quy định của Luật Tố cáo báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiến hành giải quyết, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 

Nội dung tố cáo: Một là, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; hoặc của người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ; người không còn là cán bộ, công chức, viên chức, nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức; người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ, nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Hai là, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào về việc chấp hành quy định của pháp luật, trừ hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Hình thức tố cáo: Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Luật Tố cáo giải thích: Giải quyết tố cáo là việc thụ lý, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo. Do vậy, có thể hiểu: Giải quyết tố cáo là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền làm cho các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị ngăn chặn, loại trừ, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Luật Tố cáo cũng quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo, bao gồm cố ý tố cáo sai sự thật; cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; sử dụng họ tên của người khác để tố cáo; lợi dụng quyền tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; gây rối an ninh, trật tự công cộng; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

Cùng với quyền tố cáo theo quy định của pháp luật, người cán bộ còn phải chấp hành nghiêm quy định về tố cáo trong Luật Cán bộ, công chức. Luật này quy định cán bộ không được làm những việc khác với quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, cán bộ phải gương mẫu chấp hành nghiêm chỉnh những điều nghiêm cấm về tố cáo, theo Luật Tố cáo và Luật Cán bộ, công chức. Đảng viên có quyền tố cáo theo quy định của pháp luật, gương mẫu chấp hành những điều nghiêm cấm trong tố cáo theo Luật Tố cáo nêu trên; đồng thời, còn phải chấp hành những quy định của Đảng về tố cáo. Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng” chỉ rõ: “Những người lợi dụng việc tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu khống, tố cáo bịa đặt, đả kích, chia rẽ bè phái, gây rối nội bộ, tố cáo nhiều lần có dụng ý xấu phải được xem xét, xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”; “Không giải quyết đơn tố cáo nặc danh, giấu tên,... đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên”; “Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị xử lý nghiêm những trường hợp... lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu khống, tố cáo mang tính bịa đặt, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác”. Điều 6, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Quy định về những điều đảng viên không được làm”, chỉ rõ những hành vi cụ thể, không được làm là: “Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt; cùng người khác viết, ký tên trong đơn tố cáo; viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Gửi hoặc phát tán đơn khiếu nại, tố cáo dưới mọi hình thức đến nơi không có thẩm quyền giải quyết...; kích động, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo”.

Tố cáo đúng đắn, nghiêm túc và việc giải quyết tố cáo đúng đắn, kịp thời, hiệu quả sẽ có tác dụng to lớn về nhiều mặt: Góp phần thực hiện nghiêm pháp luật, trước hết là Luật Tố cáo, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xử lý kịp thời cá nhân, tập thể sai phạm, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, góp phần giữ nghiêm kỷ luật đảng, kỷ cương phép nước; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; bảo đảm an ninh, trật tự ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của địa phương và đất nước; thông qua giải quyết tố cáo, Đảng và Nhà nước tiến hành xem xét lại tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật với thực tiễn, để chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện hơn và ban hành những văn bản mới để ngăn chặn, hạn chế việc tố cáo sai sự thật, giải quyết kịp thời, hiệu quả tố cáo.

Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Sự thật là cái có thật, có xảy ra”, “Sai sự thật” được hiểu là cái không có thật, không xảy ra. Như vậy, có thể hiểu: Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên được hiểu là việc cán bộ, đảng viên bịa ra sự việc, hành vi không có thật, không xảy ra của cá nhân, tổ chức và báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về sự việc, hành vi đó nhằm mục đích đả kích, chia rẽ, bè phái, gây dư luận xấu, gây rối nội bộ./.

                                                                                                VHT.


HẠN CHẾ NHỮNG TIÊU CỰC BỞI XÂM LĂNG VĂN HÓA

 

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đó là kết tinh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần văn hóa quân sự Việt Nam, thể hiện ở sự kính trọng lãnh tụ, sự yêu thương, quan hệ gắn bó giữa quân với dân; đặc trưng bởi các phẩm chất của người quân nhân vì nước quên thân, vì dân phục vụ; phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Truyền thống văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được hình thành từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, được củng cố, phát triển qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; được gìn giữ, phát huy và hoàn thiện trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đã định hình thành một hệ thống giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức tốt đẹp, bền vững, phản ánh bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh, giúp định hướng sự phát triển nhân cách cho bộ đội. Vì vậy, việc chống lại sự xâm lăng văn hóa, giữ gìn giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, chúng ta cần phải nhận diện hiện tượng xâm lăng văn hóa đối với văn hóa Bộ đội Cụ Hồ ở những phương tác động đến nhận thức, tư tưởng. 

Cuộc chiến xâm lăng văn hóa rất khác so với cuộc chiến thông thường. Đây là một cuộc chiến tranh tâm lý, ngấm dần dần vào bộ đội, bắt đầu từ sự lung lay, lệch lạc trong nhận thức, tư tưởng. Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong ngày Di sản văn hóa Việt Nam năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (nay là Chủ tịch nước) đã phát biểu: “Đáng sợ hơn mọi sự xâm lăng, đó là xâm lăng văn hóa, là mất gốc”. Thực tế đã xuất hiện tình trạng đáng báo động về việc nhiều người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ, có cả một bộ phận chiến sĩ trẻ có nhận thức lệch lạc, sống thực dụng, buông thả, phai nhạt lý tưởng và đạo đức, có dấu hiệu bị đồng hóa, tôn sùng thần tượng và văn hóa nước ngoài mà quay lưng lại với truyền thống văn hóa tốt đẹp và lịch sử dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và truyền thông mới, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để đưa những tư tưởng, thực hành, lối sống xa lạ, không phù hợp của phương Tây đến với giới trẻ cũng như bộ đội. Việc tôn thờ tiền bạc thái quá, lối sống cá nhân ích kỷ chính là những biểu hiện đi ngược lại truyền thống văn hóa tôn trọng yếu tố tinh thần, đoàn kết cộng đồng của dân tộc. Chúng ta chứng kiến việc chạy theo giá trị đồng tiền, lối sống cá nhân ích kỷ đã tạo ra rất nhiều hệ lụy trong xã hội, cũng như đang manh nha trong chính môi trường quân đội. Đây là những nỗ lực làm cho cán bộ, chiến sĩ có ý chí yếu, dao động, có thể dẫn đến đầu hàng trước sự tấn công của văn hóa nước ngoài và làm lung lay niềm tin vào chủ nghĩa xã hội.

Dưới một hình thức khác, đó là sự lan truyền của các sản phẩm văn hóa nước ngoài, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của bộ đội. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy những sản phẩm văn hóa ngoại lai, không phù hợp, thậm chí đi ngược lại những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông mới. Thậm chí, kể cả những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ sĩ cũng đã có nhiều người “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không giữ được chuẩn mực đạo đức cá nhân, bê bối đời tư, phát ngôn tục tĩu, hành xử kiểu giang hồ. Một số sản phẩm nghệ thuật chạy theo thị hiếu, đề cao yếu tố chiêu trò, đồi trụy... đã vô tình hay cố ý trở thành đối tượng tác động xấu đến nhận thức cho giới trẻ, trong đó có bộ đội. Vì vậy, cần chủ động phòng ngừa, ngăn chặn đẩy lùi xâm lấn truyền thống văn hóa dân tộc đối với đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong giai đoạn hiện nay góp phần giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.


CẦN CẢNH GIÁC VỚI CÁC TÀ ĐẠO ĐỘI LỐT TÔN GIÁO

 

Hiện nay, sự xuất hiện của những tà đạo đội lốt tôn giáo được lập ra với mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, làm xáo trộn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở một bộ phận nhân dân. Hoạt động của các tà đạo đó đã vi phạm pháp luật Nhà nước ta, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội... Chính vì vậy, việc nhận diện, đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo là rất cần thiết.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước”. Theo Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” của Ban Tôn giáo Chính phủ; hiện nay, ở nước ta có hơn 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm 27% dân số cả nước), hơn 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự; có hàng nghìn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam). Đó là thực tiễn về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam mà tất cả các tổ chức, quốc gia trên thế giới không thể phủ nhận.

Thời gian qua, về cơ bản, tình hình tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và đại bộ phận chức sắc hoạt động đúng quy định pháp luật, ổn định, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do mặt trái của toàn cầu hóa và cơ chế thị trường, âm mưu “chính trị hóa tôn giáo” của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống tôn giáo chịu tác động tiêu cực, tiềm ẩn nhiều nguy cơ; trong đó nổi lên những vấn đề như: Lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống Đảng và Nhà nước; vi phạm pháp luật, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ; tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội... Đặc biệt, sự xuất hiện những tà đạo đội lốt tôn giáo như: Hội Thánh đức Chúa trời mẹ, đạo bà Điền, đạo Dừa, Thanh Hải vô thượng sư... được lập ra với mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, làm xáo trộn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận nhân dân. Những tà đạo này được truyền bá, phổ biến theo nhiều hình thức truyền thông như trên internet, website, Facebook, Zalo, vlog, Twitter, YouTube... thậm chí hình thành những “thị trường tâm linh”. Hoạt động của những tà đạo đội lốt tôn giáo không ngừng gia tăng, với nhiều hình thức biến tướng như: Hiện tượng xem bói online, livestream (phát sóng trực tiếp trên mạng xã hội), dịch vụ tâm linh, du lịch tâm linh... Cá biệt, xuất hiện tà đạo lợi dụng chiếm đoạt tài sản cá nhân, công ty, doanh nghiệp; lôi kéo trí thức, học sinh, sinh viên tham gia bằng nhiều thủ đoạn gây ảnh hưởng tới tư tưởng, tâm lý các tầng lớp nhân dân (trong đó có cán bộ, đảng viên). Chính vì vậy, việc nhận diện, đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo là rất cần thiết trên cơ sở khách quan, khoa học, cách mạng.

Đối chiếu quy định hiện hành về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, các tà đạo đội lốt tôn giáo kể trên không có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức riêng. Mục đích hoạt động chính là vụ lợi, trái pháp luật nên không đủ điều kiện để được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo. Điển hình là hoạt động của Hội Thánh đức Chúa trời mẹ tại một số địa phương thời gian qua đã vi phạm nghiêm trọng các điều cấm, quy định tại Ðiều 5 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với những nội dung như: Ép buộc, mua chuộc người khác; xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi... Những gì Hội Thánh đức Chúa trời mẹ tuyên truyền là hoàn toàn trái ngược với thuần phong mỹ tục cũng như những giá trị chuẩn mực về đạo đức, văn hóa của người Việt; không được pháp luật Việt Nam cho phép; hoạt động với các biến thể dị thường núp dưới nhiều danh nghĩa (nhất là danh nghĩa từ thiện, mở các lớp hướng thiện); những kẻ cầm đầu hầu hết là những người không bình thường, có quá khứ bất hảo (cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút...); mục đích chính là vụ lợi.

Biểu hiện của những âm mưu, thủ đoạn chính trị phản động, những hành vi xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam. Cụ thể là: Về chính trị, các tà đạo lôi kéo người theo bằng những hoạt động chống lại quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và địa phương; nói xấu chế độ, nói xấu cán bộ, có thái độ ngăn cản chính quyền triển khai xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xây dựng nông thôn mới. Về kinh tế, các tà đạo khuyên con người ta siêng năng cầu cúng, lễ vật càng lớn càng chứng tỏ ngoan đạo, tốn kém tiền của, bỏ bê lao động sản xuất, ốm đau không đi viện mà chữa trị bằng phù phép, nước lã, tàn hương... dẫn tới nhiều cái chết thương tâm. Về văn hóa-xã hội, các tà đạo gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết trong nội bộ gia đình, thôn xóm, giữa người theo và người không theo, giữa “đạo lạ” này với “đạo lạ” khác. Thường xuyên tổ chức tụ tập đông người, làm lễ tập thể vào đêm, múa hát, đốt lửa đọc kinh tập thể gây mất an ninh nông thôn, vi phạm quy chế bảo vệ an ninh trật tự của khu dân cư. Hoạt động của một số tà đạo ở địa bàn chiến lược, trọng điểm đã bị các thế lực thù địch lợi dụng vào âm mưu chống phá cách mạng nước ta./.

                                                                                                      VHT.



THƯỜNG XUYÊN NÊU CAO TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

 

Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là người dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nếu Đảng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì sẽ dẫn tới sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa. Do vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là phải tăng cường các giải pháp để đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Để góp phần đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây.

Một là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng cần được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm giáo dục, tạo sự chuyển biến sâu sắc về mọi mặt đối với nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị. Kịp thời phát hiện những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là nhu cầu về lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của từng đối tượng để xác định đúng, trúng những nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị.

Hai là, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên về đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục chính trị về đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tạo sự hấp dẫn và nhu cầu tự tìm hiểu, nhận thức về những chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nắm chắc tình hình thực tiễn để xác định nội dung, biện pháp tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Bên cạnh đó, cần lắng nghe những thông tin ngược chiều, thông tin phản hồi từ cán bộ, đảng viên và nhân dân; nắm bắt dư luận xã hội về những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng; nhu cầu đòi hỏi, những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cần phải giải quyết để kịp thời điều chỉnh nội dung, hình thức, phương pháp của công tác tuyên truyền, giáo dục; không để xảy ra các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị.

Ba là, tăng cường công tác quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm tốt công tác bảo vệ nội bộ. Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, phong cách Hồ Chí Minh đối với mọi cán bộ, đảng viên, nhất là với những cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Cần kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường giáo dục đạo đức trong Đảng với tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Tăng cường kỷ luật, pháp luật, công khai, minh bạch, dân chủ trong quy hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ; tạo môi trường xã hội, thể chế kinh tế lành mạnh, văn minh để cán bộ, công chức không có điều kiện sa vào những tiêu cực, vi phạm đạo đức. Chủ động tiến hành công tác kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Nhận diện rõ một bộ phận đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức và những phần tử cơ hội, nhất là những kẻ cơ hội chính trị nằm trong nội bộ Đảng. Kiên quyết khắc phục tình trạng buông lỏng nguyên tắc tổ chức của Đảng. Duy trì nền nếp chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng. Giữ gìn, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Bốn là, kiên quyết vạch trần, đấu tranh loại bỏ những kẻ cơ hội về chính trị, tham vọng về quyền lực trong nội bộ Đảng. Tổ chức đảng các cấp phải đấu tranh với những kẻ cơ hội về chính trị, tham vọng về quyền lực, độc đoán, phe cánh, “lợi ích nhóm”, mị dân và kiên quyết loại trừ những đối tượng này ra khỏi hàng ngũ của Đảng. Chủ động phát hiện và kiên quyết không để lọt vào tổ chức đảng những người có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, “lợi ích nhóm”, không dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; độc đoán, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình; mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng; tham nhũng, tiêu cực; không chịu nghiên cứu học hỏi, bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc, bản thân và người thân trong gia đình có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính.

Năm là, đẩy mạnh đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên về tác hại của các quan điểm sai trái, thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đổi mới hình thức đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sao cho đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ làm, dễ thực hiện. Tổ chức hội thảo, tọa đàm khoa học trong nước và quốc tế, viết các bài chuyên luận sắc bén, thuyết phục để phản bác các quan điểm sai trái trên các phương tiện truyền thông và internet. Coi trọng xây dựng lực lượng nòng cốt và tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng của Đảng, Nhà nước với các đoàn thể chính trị-xã hội, hình thành thế trận đấu tranh chung, vững chắc trong xã hội, đủ sức tổ chức các cuộc tấn công, phản công làm thất bại mọi sự chống phá của kẻ thù. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của đội ngũ nhà khoa học, các viện nghiên cứu, các học viện, nhà trường, cơ quan báo chí, truyền thông. Đây là lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Sáu là, phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên trong học tập nâng cao trình độ, xây dựng bản lĩnh chính trị và tự rèn luyện đạo đức, lối sống. Bác Hồ từng nói rằng, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Do đó, cán bộ, đảng viên phải là những chủ thể tích cực trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kịp thời phát hiện, ngăn ngừa những biểu hiện hành vi sai trái trong xã hội; phòng, chống xâm nhập, chuyển hóa của những hành vi và biểu hiện sai trái ngay từ bên trong và phòng, chống tác động xấu xâm nhập từ bên ngoài. Sức cảm hóa, tuyên truyền của cán bộ, đảng viên là bằng sự gương mẫu của từng người trong vận động nhân dân thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên là người đi đầu trong phát hiện những vấn đề, vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn, kịp thời cùng với tổ chức đảng giải quyết những vướng mắc ngay từ cơ sở, không để những bức xúc lâu ngày của nhân dân không được giải quyết sẽ dẫn đến những “điểm nóng” về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở cơ sở. Cán bộ, đảng viên cần phát huy vai trò gương mẫu trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; không để mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ; đồng thời giữ vững mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân./.

                                                                                                           VHT.


CHỐNG VIỆC LỢI DỤNG “TỰ DO HỌC THUẬT” VỚI DỤNG Ý CHÍNH TRỊ XẤU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Ở Việt Nam, những năm gần đây, nhất là khi Luật Giáo dục đại học năm 2012 được ban hành (sửa đổi, bổ sung năm 2018), nhiều ý kiến trong và ngoài nước cho rằng cần “thúc đẩy tự do học thuật” để đưa nền giáo dục Việt Nam bắt kịp thế giới. Một số ý kiến còn đưa ra những dẫn chứng về cơ sở pháp lý cho rằng tự do học thuật được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam. Họ đã trích Điều 25 Hiến pháp năm 2013 của nước ta: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” và luận giải rằng, quyền tự do học thuật hàm chứa trong quyền tự do ngôn luận đã được hiến định từ lâu. Họ còn trích khoản 3, Điều 32 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “Cơ sở giáo dục đại học có quyền tự chủ trong học thuật, trong hoạt động chuyên môn”; khoản 7, Điều 55 của Luật này quy định giảng viên có quyền “độc lập về quan điểm chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học” và cho rằng cách diễn đạt này thể hiện tinh thần của quyền tự do học thuật.

Trên thực tế, Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam chưa có một văn bản nào quy định về tự do học thuật theo kiểu “tự do của một người trong việc giảng dạy và nghiên cứu nhằm tìm kiếm sự thật không giới hạn mà không gặp phải nỗi sợ hãi về hình phạt hay mất việc vì đã xâm phạm một quan điểm chính thống về chính trị, tôn giáo hay xã hội”, mà chỉ quy định về việc tự do ngôn luận, tự chủ về việc giáo dục, đào tạo theo luật định. Khoản 11, Điều 1 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “Quyền tự chủ là quyền của cơ sở giáo dục đại học được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu; tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở giáo dục đại học”. Khoản 7, Điều 55 của Luật này cũng quy định: Giảng viên có quyền “độc lập về quan điểm chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học trên nguyên tắc phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội”. 

Như vậy, những quy định của Luật Giáo dục đại học hiện hành quy định rõ các cơ sở giáo dục đại học có quyền tự chủ trong việc ban hành, tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, chính sách chất lượng, mở ngành, tuyển sinh, đào tạo, hoạt động khoa học-công nghệ, hợp tác trong nước và quốc tế nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và những chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục của xã hội Việt Nam, phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội Việt Nam, hoàn toàn không quy định về việc người dạy và người học có thể tự do bày tỏ quan điểm, nghiên cứu những vấn đề không chịu sự ràng buộc của quan điểm chính trị hay tôn giáo. Tự do học thuật ở Việt Nam cần được hiểu là việc người dạy và người học có quyền lựa chọn những vấn đề nghiên cứu, phương pháp giảng dạy và học tập phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa và quy định của pháp luật Việt Nam vì mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam; phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

                                                                                              VHT.


NHẬN DIỆN VÀ NGĂN CHẶN BIỂU HIỆN TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA


“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang thực sự trở thành một trong những nguy cơ, thách thức hàng đầu đối với sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Hiện tượng này diễn ra trên nhiều phương diện, nảy sinh ở những cán bộ, đảng viên, quần chúng và cũng có thể nảy sinh từ những cán bộ, đảng viên giữ chức vụ ở các cấp. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong một quá trình và biểu hiện qua nhiều dấu hiệu cụ thể trong tâm lý, tư tưởng, đạo đức và lối sống hằng ngày.  Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” công khai, nguy hiểm hơn theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng, thành phần ngày càng đa dạng, có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đang bộc lộ rất phức tạp, sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật trong cán bộ, đảng viên gia tăng. “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiếp tục diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả trí thức, luật sư, cán bộ lão thành, văn nghệ sĩ, nguyên cán bộ cao cấp, tướng lĩnh lực lượng vũ trang.

Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ công khai, nguy hiểm hơn theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng, thành phần ngày càng đa dạng, có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Biểu hiện củа“tự diễn biến”, “tự chuyển hóа”trên lĩnh vực này là sự sùng bái, chạy theо văn hóа, lối sống phương Tây; xa rời các giá trị văn hóа, đạо đức truyền thống, đặc biệt là các giá trị văn hóа, đạо đức xã hội chủ nghĩа; có hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận nền văn hóа cách mạng; đề cао chủ nghĩа cá nhân, lối sống thực dụng; thương mại hóа các hоạt động văn hóа, đánh mất bản sắc văn hóа dân tộc... “Tự diễn biến” về văn hóа, xã hội, đạо đức, lối sống thường khởi đầu chо “tự diễn biến” về chính trị tư tưởng.

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật trong cán bộ, đảng viên gia tăng; một số đảng viên không chấp hành các quy định của Đảng, tuyên bố công khai từ bỏ Đảng và kích động “từ bỏ Đảng Cộng sản”; tình trạng mâu thuẫn nội bộ, mất đoàn kết đang là những vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc phá hoại nội bộ; lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng.

Nguy hiểm hơn, một số cán bộ, đảng viên “tự chuyển hóa”, tự nguyện, sẵn sàng cộng tác, chủ động liên hệ với Cơ quan đặc biệt nước ngoài, phản động lưu vong để hoạt động chống phá; một bộ phận cán bộ có tư tưởng lừng chừng, hai mặt, chờ thời cơ có lợi cho cá nhân. Lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ với sự phát triển của những công nghệ đột phá đem lại những lợi ích to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội, song cũng đặt ra nhiều thách thức an ninh mang tính toàn cầu, như: hoạt động tình báo mạng, các cuộc tấn công mạng quy mụ lớn và nguy cơ chiến tranh mạng, sử dụng không gian mạng để tác động, chuyển hóa chính trị, tổ chức các hoạt động khủng bố, chiếm đoạt thông tin, dữ liệu người dùng để sử dụng vào các mục đích chính trị...

- Tình trạng vi phạm quy định của pháp luật trong quản lý, cung cấp, sử dụng, dịch vụ Internet và thông tin trên mạng của cơ quan báo chí, truyền thông gia tăng, gây ra những tác động tiêu cực, dư luận xã hội.

- Hoạt động tấn công mạng và lộ bí mật Nhà nước trên không gian mạng diễn ra ngày càng nhiều, tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng gia tăng.

- Hoạt động sử dụng không gian mạng vào hoạt động phạm tội gia tăng về quy mô, với nhiều thủ đoạn tinh vi, gây thiệt hại lớn cho tổ chức, cá nhân, gây phức tạp về trật tự, an toàn xã hội, tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến bất ổn về chính trị.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã chỉ ra biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” mà biểu hiện rõ nhất ở quan điểm, tư tưởng phản bác, phủ nhận những vấn đề chính trị cốt tử của Đảng và thể chế chính trị - xã hội ở nước ta, từ chủ nghĩa Mác - Lênin đến các nguyên tắc tổ chức của Đảng; nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa; nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật, chính sách dân tộc, tôn giáo, đường lối đại đoàn kết dân tộc... Chính từ những “quan điểm, tư tưởng phản bác” đó cuối cùng sẽ đưa tới những hành động sai trái như: đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; nói, viết, làm trái quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bất mãn, chống đối chính quyền; đặc biệt trong giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay nhiều đối tượng đã lợi dụng các phương tiện truyền thông nhất là mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ, truyền bá tư tưởng phản động...

Hiện nay, để phát hiện ngay được những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ là rất khó bởi vốn nó tự diễn ra trong đầu óc con người. Tuy nhiên, chúng ta có thể phòng ngừa từ xa và phát hiện được. Bởi những người mang tư tưởng sai lệch trước sau gì cũng sẽ thể hiện ra những hành vi sai trái và đó chính là cơ sở để nhận diện, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý. Hơn nữa, như đã nói ở phía trên, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là bước tiếp theo của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống nên nếu mỗi cán bộ tự giác rèn luyện, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi được tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tức là sẽ ngăn chặn được “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Đồng thời, nếu không kịp thời nhận diện và kiên quyết đấu tranh với tất cả những biểu hiện, hành động trên thì nguy cơ dẫn đến vấn đề “diễn biến hoà bình” là rất lớn. 

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ


Xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vững mạnh về chính trị là một nguyên tắc cơ bản, vấn đề xuyên suốt. Đó là sự vận dụng sáng tạo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, con người và vũ khí, trang bị vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, tiếp thu di sản tư tưởng quân sự của dân tộc và tinh hoa quân sự thế giới của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh để xác định đúng đắn quan điểm, đường lối, chủ trương xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, từng bước tiến lên hiện đại.Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì sức mạnh chiến đấu của quân đội là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó chính trị-tinh thần là yếu tố có vai trò quyết định. V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của các quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề hàng đầu đối với lực lượng vũ trang cách mạng là phải có “con đường chính trị đúng”. Người đã chỉ rõ: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(2) và “phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta”(3); đồng thời: “Trong việc chỉnh huấn bộ đội, phải lấy chính trị làm gốc”(4), như vậy mới bảo đảm cho Quân đội ta thực sự là quân đội cách mạng, từng bước vững chắc tiến lên chính quy, hiện đại, một quân đội bách chiến bách  thắng. Thực tiễn quá trình xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam trong gần 80 năm qua đã khẳng định tính đúng đắn của việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị.

Hiện nay và trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Ở trong nước, sau 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững xu thế khách quan, phải có sự đổi mới và phát triển về nội dung, phương thức xây dựng quân đội phù hợp trên nền tảng của tư duy mới về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong điều kiện mới; phù hợp với khả năng thực tế, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cả trước mắt và lâu dài. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Xây dựng QĐND, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.

Tiến lên hiện đại là đòi hỏi tất yếu, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của QĐND Việt Nam đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, không bị động, bất ngờ. Tuy nhiên, Quân đội ta tiến lên hiện đại phải được bắt đầu từ xây dựng vững mạnh về chính trị, quân đội phải thực sự tinh nhuệ về chính trị, bảo đảm chắc chắn trong bất cứ hoàn cảnh nào, QĐND Việt Nam cũng tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH); nắm vững và chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; biết phát huy sức mạnh của vũ khí, trang bị hiện đại để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trải qua hơn 76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự quan tâm chăm lo, nuôi dưỡng của nhân dân, Quân đội ta không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ); xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị làm tiền đề để quân đội tiến lên hiện đại hiện nay, cần tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:

          Một là, giữ vững và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là nội dung cơ bản trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và hiện đại, là nhân tố quyết định bảo đảm cho Quân đội ta luôn vững mạnh về chính trị. Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tình hình mới, chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức, cán bộ; thật sự tiêu biểu về trí tuệ, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong điều kiện mới. Tiếp tục quán triệt và đẩy mạnh thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; quán triệt và chấp hành nghiêm, đi đôi với nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện cơ chế lãnh đạo theo Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam”.

          Hai là,  tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn

Đội ngũ cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Theo đó, cần nâng cao chất lượng nguồn đăng ký tuyển sinh vào các học viện, trường sĩ quan quân đội. Tạo nguồn bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chỉ huy tham mưu, chính trị, hậu cần, chuyên môn kỹ thuật các cấp trong quân đội. Có chính sách thu hút tài năng bổ sung vào đội ngũ cán bộ quân đội; đánh giá đúng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật và kiến thức, năng lực, phương pháp, tác phong công tác làm cơ sở quy hoạch và phân hướng sử dụng cán bộ. Chú trọng quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược bảo đảm sự kế thừa vững chắc giữa các thế hệ cán bộ. Chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, bảo đảm đúng nguyên tắc, theo phân công, phân cấp quản lý của cấp ủy các cấp, thực hiện đúng quy trình công tác cán bộ, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ.

          Ba là, giải quyết tốt các mối quan hệ, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, củng cố sự đoàn kết thống nhất nội bộ. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là tiền đề để tiến lên hiện đại đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn các mối quan hệ nội bộ, nhất là các mối quan hệ chính trị, tạo sự thống nhất trong toàn quân và các lực lượng có liên quan. Đó là mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, quan hệ đồng chí đồng đội, quan hệ cá nhân với tổ chức, quan hệ lãnh đạo, chỉ huy với phục tùng..., được thực hiện trên cơ sở giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ, thống nhất lợi ích. Vì vậy, các mối quan hệ đó phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội. Các mối quan hệ đó phải được xây dựng và phát triển từ yêu cầu của hoạt động quân sự, hoạt động chiến đấu, được giải quyết trên nền tảng của tình đồng chí, đồng đội. Ngăn chặn và khắc phục những tác động tiêu cực của xã hội, làm biến dạng những mối quan hệ truyền thống tốt đẹp của quân đội. Gắn bó mật thiết với nhân dân là nguồn gốc tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần của quân đội, bảo đảm để quân đội ta tiến lên chính quy, hiện đại.

          Bốn là, tích cực, chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” và âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tập trung chống phá quyết liệt trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Chúng ra sức xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quan điểm, chủ trương, phương hướng xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nhằm làm thay đổi nhận thức tư tưởng, lòng tin của cán bộ, chiến sĩ; gây tâm lý hoài nghi, dao động, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, tiến tới làm mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ XHCN, làm suy thoái bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội trong quá trình tiến lên hiện đại. 

Theo đó, cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát việc kết hợp giữa xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh về chính trị với chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa. Tích cực, chủ động đấu tranh chống mọi biểu hiện cơ hội, những quan điểm sai trái, tiêu cực, bảo vệ bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội tiến lên hiện đại của Đảng. Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh, vạch trần bản chất âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; nâng cao trình độ nhận thức, bản lĩnh chính trị, củng cố lòng tin của cán bộ, chiến sĩ quân đội vào sự lãnh đạo của Đảng; tăng cường khả năng miễn dịch, sức đề kháng của cán bộ, chiến sĩ trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; khắc phục tình trạng chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác, hoài nghi, dao động trong quá trình xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng

Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng vì đây là nhiệm vụ có tính chất quyết định để xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, chiến sĩ. Tập trung đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, trang bị cho cán bộ, chiến sĩ những vấn đề cơ bản về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội và đơn vị. Nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng chính quy và ý thức chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước của cán bộ, chiến sĩ. Nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng-văn hóa, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ toàn quân trong quá trình tiến lên hiện đại của Quân đội ta.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TRONG TÌNH HÌNH MỚI

     Thế giới và khu vực đang trải qua một thời kỳ nhiều biến động phức tạp, khó đoán định, nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, dòng chảy chính và vì lợi ích chung của các nước. Xu thế đa cực, đa trung tâm ngày càng rõ nét, trở thành xu thế chủ đạo, vai trò của các tổ chức khu vực trên các châu lục ngày càng gia tăng, tạo mối quan hệ đan xen vừa tăng cường hợp tác, vừa cạnh tranh chiến lược. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở khu vực Biển Đông ngày càng quyết liệt, phức tạp, chưa có dấu hiệu lắng xuống, cùng với sự can dự của một số nước lớn ngoài khu vực đã làm cho vùng biển này có lúc trở thành điểm nóng, khó đoán định.

Đối với nước ta, những thắng lợi sau 35 năm đổi mới tiếp tục tạo đà cho kinh tế - xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường. Sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành sáng suốt, quyết liệt, hiệu quả của Đảng, Nhà nước, nhất là trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và chủ động, quyết liệt, linh hoạt ứng phó với đại dịch Covid-19 vừa qua càng khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng thêm niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước, Quân đội và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm cách đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, tăng cường sử dụng các biện pháp tấn công mềm, tập trung làm chuyển biến về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kích động, chia rẽ, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội; hạ thấp, phủ nhận vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ mục tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Những thuận lợi và thời cơ, khó khăn và thách thức trên đặt ra yêu cầu mới đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Do vậy, thời gian tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp; trong đó, tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển vững mạnh, chủ động bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển từ sớm, từ xa. Tận dụng thời cơ, phát huy, khai thác lợi thế của các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, khoa học - công nghệ; phát huy tinh thần yêu nước, đại đoàn kết dân tộc, huy động cao nhất các nguồn lực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh, tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh trên biển vững chắc, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa. Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng này, cần đẩy mạnh xây dựng lực lượng Cảnh sát biển, Hải quân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, tổ chức tinh, gọn, mạnh, cơ động, linh hoạt, hiệu quả; cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, điều chỉnh, mở rộng, phát triển lực lượng, sẵn sàng đáp ứng mọi nhiệm vụ tác chiến.

Đẩy nhanh lộ trình hiện đại hóa lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, làm cho các lực lượng này đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Chủ động, tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế, giữ vững nguyên tắc chiến lược, khôn khéo và linh hoạt về sách lược, nhận thức đúng về đối tác, đối tượng theo quan điểm của Đảng, làm sâu sắc hơn mối quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược, các nước láng giềng, các nước trong khối ASEAN và các nước lớn. Bên cạnh đó, duy trì nghiêm các lực lượng trực sẵn sàng chiến đấu, tăng cường tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, nắm tình hình trên các vùng biển, nhất là các khu vực biển nhạy cảm, kịp thời phát hiện, xử lý, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, chủ động điều chỉnh, bổ sung các kế hoạch, phương án, biện pháp ứng phó phù hợp đối với các vấn đề có thể nảy sinh trên biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển.

Hai là, không ngừng chăm lo, củng cố, xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị, tinh thần vững chắc, sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Chăm lo xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển với một số lực lượng hữu quan, cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân ven biển, trên đảo. Tăng cường lòng tin của ngư dân với các lực lượng: Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư, Dân quân tự vệ biển khi đồng hành, cứu hộ, cứu nạn ngư dân trên biển, v.v. Đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, chiến sĩ của lực lượng Cảnh sát biển, Hải quân, Bộ đội Biên phòng và nhân dân ven biển, đảo, góp phần nâng cao trình độ, năng lực công tác, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Các lực lượng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia tiếp tục đồng hành cùng ngư dân hoạt động trên biển, bảo vệ ngư dân, ngư trường, tuyên truyền pháp luật cho nhân dân ven biển, đảo, thực hiện lấy dân làm gốc, phát huy tinh thần yêu nước, trách nhiệm, sự cống hiến, sức sáng tạo của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thực thi pháp luật trên biển.

Để góp phần giữ vững chủ quyền biển, đảo cần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn ngừa và vô hiệu hóa các âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội, gây mất ổn định, trật tự, an toàn xã hội, nhất là trong các sự kiện lớn của đất nước. Tiếp tục triển khai công tác thông tin tuyên truyền biển, đảo theo kế hoạch của các lực lượng, có thể điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với diễn biến tình hình thực tế, nhằm kịp thời thông tin, định hướng cán bộ, đảng viên và nhân dân về những vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo.

Ba là, đánh giá đúng tình hình trên các vùng biển, đảo, làm cơ sở cho việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước những diễn biến phức tạp hiện nay, hơn bao giờ hết, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là các lực lượng hoạt động trên biển cần đánh giá đúng tình hình, thấy rõ thuận lợi, thời cơ và khó khăn, nguy cơ, thách thức, quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng, Nhà nước. Mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cố gắng gia tăng hợp tác, tránh xung đột, đối đầu, tránh bị lệ thuộc, cô lập, tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh, tạo cơ sở, nền tảng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trên biển ngày càng vững chắc. Chủ động, tích cực chuẩn bị tốt mọi mặt, chú trọng tạo môi trường trong ấm, ngoài êm, lấy giữ vững bên trong là chủ yếu, bảo đảm cho đất nước thích nghi nhanh, hòa bình, ổn định và phát triển - điều kiện tiên quyết đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch và những tác động từ bên ngoài.

Để có cơ sở đánh giá đúng tình hình trên các vùng biển, đảo, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải luôn vững vàng, kiên định đường lối, quan điểm quốc phòng, an ninh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo và đường lối đổi mới của Đảng. Thực hiện nhất quán: kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích chính đáng của Việt Nam theo luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng và sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Kiên quyết, kiên trì giữ vững hòa bình, ổn định, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, kỷ cương, bảo đảm an ninh kinh tế, xã hội, an ninh mạng, an ninh con người. Trên cơ sở đó, chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, phát hiện sớm, xa và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố bên trong có thể gây đột biến. Tiếp tục thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, là thành viên và tham gia có trách nhiệm, góp phần tích cực vào bảo vệ hòa bình, ổn định, an ninh của khu vực và thế giới; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; không ngừng nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam.

 

TƯ TƯỞNG NHÂN DÂN TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Niềm tin của nhân dân với Đảng là cội nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm tới việc giữ vững niềm tin chính trị của nhân dân, bởi như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XII: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”(1). Để tiếp tục củng cố và nhân lên sức mạnh của niềm tin chính trị của nhân dân, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để mỗi cấp ủy và tổ chức đảng quán triệt và phấn đấu thực hiện.

1. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử và quyết định sự phát triển của lịch sử. Vận dụng sáng tạo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của nhân dân vào thực tiễn Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của “lòng dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo Người, Đảng xác định chủ trương, mở ra đường lối lãnh đạo cách mạng, nhưng chính nhân dân và chỉ có nhân dân mới là người hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng mà Đảng đề ra. Sẽ không bao giờ có lực lượng cách mạng và phong trào cách mạng, nếu không có nhân dân. Theo Người, một trong những yếu tố quyết định sự thành công của cách mạng là sự đồng sức, đồng lòng của toàn dân, là sự đoàn kết “muôn người như một” dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, theo Người: “Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành bức tường đồng xung quanh Tổ quốc”(1). Người khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”(2).

2. Thực tế lịch sử chứng minh “lòng dân” là cội nguồn sức mạnh của đất nước nói chung và sức mạnh quốc phòng nói riêng. Đối với mỗi chế độ xã hội, “lòng dân” là khái niệm chỉ trạng thái tinh thần, niềm tin, sự đồng lòng của người dân với chế độ xã hội và giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội. Đây là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến sức mạnh, sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi triều đại, quốc gia, dân tộc. Sức mạnh “lòng dân” chính là sức mạnh của dân tộc. Lòng dân yên ổn thì đất nước vững vàng, phát triển. “Thế trận lòng dân” được hiểu là tinh thần yêu nước, tình đoàn kết gắn bó, khát vọng độc lập tự do, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của cả dân tộc được hội tụ, kết tinh, nhân lên tạo thành nền tảng chính trị vững chắc, sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, sẵn sàng huy động nhằm thực hiện các mục tiêu của cách mạng. “Thế trận lòng dân” là loại hình thế trận đặc biệt, không thể hiện ra bằng hình hài cụ thể như thế trận quân sự, quốc phòng mà được thể hiện bằng sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc theo từng cấp độ khác nhau. “Lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng. “Lòng dân” luôn tồn tại khách quan nhưng “lòng dân” có được quy tụ trở thành sức mạnh tổng hợp hay không còn tùy thuộc vào nỗ lực chủ quan của con người. Điều này đòi hỏi giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội, trực tiếp là lực lượng chính trị đại diện phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp để định hướng, tập hợp, quy tụ “lòng dân” về một mối. Chỉ có như vậy “lòng dân” mới hội tụ trở thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, dân tộc. Thực chất đó chính là vai trò của lực lượng nắm quyền lãnh đạo xã hội trong việc chuyển hóa “lòng dân” thành “thế trận lòng dân”. Khi được xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân” sẽ tác động trở lại làm cho “lòng dân” phát triển hài hòa, đúng định hướng.

Trước tình hình trên, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, một số yếu tố quan trọng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc chậm được củng cố, tăng cường, có mặt còn giảm sút và phát sinh những vấn đề phức tạp mới. Thực hiện giải pháp này đòi hỏi người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực sự coi công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; phải cam kết về sự liêm khiết và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quản lý chặt chẽ đảng viên, cán bộ, thường xuyên kiểm tra nhắc nhở, ngăn ngừa và phát hiện cán bộ, đảng viên vi phạm; thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên. Đồng thời, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách về tổ chức, cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử tham nhũng, lãng phí.

Quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, từng bước củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo điều kiện để giải quyết tận gốc tình trạng nghèo làn, lạc hậu, xóa đói, giảm nghèo, giảm dần sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền; góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng khả năng hội nhập, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, tăng cường hơn nữa sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với nước ta; tạo tiền đề và điều kiện cơ bản để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, củng cố lòng tin của nhân dân vào sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Niềm tin chính trị của nhân dân là sự tin tưởng, kỳ vọng vào đảng phái chính trị nhất định, cụ thể là vào chủ trương, đường lối của đảng chính trị, truyền thống và những giá trị của đảng chính trị cũng như uy tín của lãnh tụ đảng đó. Niềm tin đó từ phía quần chúng nhân dân được hình thành qua đời sống chính trị của đất nước, qua hoạt động thực tiễn của chính đảng trong nỗ lực để bảo đảm rằng niềm tin đó sẽ được đền đáp. Vì thế, niềm tin chính trị được hình thành phải trải qua sự thử thách lâu dài, mà những kết quả thực tế trong hoạt động chính trị sẽ là sự bảo đảm cho uy tín chính trị của đảng, để khẳng định rằng niềm tin chính trị của quần chúng nhân dân dành cho đảng có vững chắc hay không.                                                   N.T.T