Thứ Năm, 2 tháng 11, 2023

Hạ bệ uy tín vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu chưa bao giờ từ bỏ của các thế lực thù địch phản động

 


 

Từ sau Hội nghị TW 8 khóa XIII vừa qua, Đảng ta đang từng bước chuẩn bị những nội dung quan trọng cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Các thế lực thù địch phản động lại tiếp tục dấy lên luận điệu công kích xuyên tạc Phải xóa bỏ chế độ một đảng, lập đa đảng mới khắc phục được các căn bệnh trầm kha của xã hội, như tham nhũng, quan liêu, mất dân chủ...”. Mục đích nhằm phá hoại và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, mà thực chất là phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là ý đồ rất thâm độc, cần được nhận diện rõ và tuyên truyền sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên cùng toàn thể nhân dân hiểu và tham gia đấu tranh, phản bác, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Xem xét từ góc độ lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa đảng chính trị và dân chủ trong lịch sử, cũng như hiện nay cho thấy, không phải cứ đa đảng là dân chủ và một đảng là mất dân chủ. Dân chủ không đồng nghĩa với đa đảng và thực hiện đa đảng không đồng nghĩa với có dân chủ.

Nhiều người đã rõ, Hiến pháp năm 1992 của nước ta quy định tại Điều 4 về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và xã hội là ý nguyện của toàn dân. Lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX đã chứng minh điều đó. Thắng lợi của công cuộc đổi mới hơn 20 năm qua do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, được nhân dân ghi nhận, đồng tình. Đến nay, tuy còn không ít khó khăn, nhất là ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu, nhưng bước đầu chúng ta đã kiềm chế được lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, kinh tế tiếp tục phát triển tăng trưởng, đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện; chính trị ổn định; quan hệ đối ngoại mở rộng.

Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đó là xu hướng chủ đạo trong quá trình phát triển của đất nước. Không có Đảng Cộng sản lãnh đạo, sẽ không có thành tựu vĩ đại đó. Sự khủng hoảng triền miên của các đảng phái chính trị phương Tây hay gần đây ở một số nước khu vực Đông Nam Á đang là một thực tế sinh động bác bỏ luận điểm “phải có đa đảng thì Việt Nam mới phát triển, vượt qua tụt hậu”. Trong thời đại ngày nay, đảng nào chỉ đại diện hạn hẹp cho lợi ích của thiểu số giàu có, thì dù có thích ứng đến đâu cũng khó tồn tại bền vững được.

Qua khảo sát của các nhà phân tích chính trị ở Thụy Điển cho thấy, Đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển nắm quyền từ năm 1932; sau 44 năm đưa Thụy Điển từ một nước lạc hậu, nghèo nàn trở thành một nước phát triển. Nhưng tại sao năm 1976, Đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển thất cử, Đảng khác lên thay; từ đó đến nay, có lúc giành được quyền, có lúc lại mất quyền lãnh đạo. Một số nhà xã hội phân tích: Đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển muốn điều tiết để bảo đảm công bằng xã hội, nhưng bằng điều tiết phân phối, chứ không điều tiết sở hữu... Đại sứ Thụy Điển tại Liên hợp quốc khi Đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển thất cử nói: “Thụy Điển cần Ericsơn, nhưng Ericsơn không cần Thụy Điển” (Ericsơn là tập đoàn lớn nhất của Thụy Điển). Ở đây, tư hữu là chủ đạo, mấy nhà tư bản kếch sù nắm quyền chủ đạo. Chính phủ, quốc gia cần họ, chứ họ không cần chính phủ. Chúng ta không bao giờ quên thực tế này.

Trên thực tế, theo thống kê ở các quốc gia, số lượng đảng phái chính trị rất khác nhau; một số nước có rất nhiều đảng chính trị, như Anh có 97 đảng, Tây Ban Nha có 87 đảng, Pháp có 76 đảng,... Nhưng cũng có nhiều nước chỉ có một đảng chính trị, như Cu-ba, Lào, Ga-na, Việt Nam, Hai-i-ti, Môn-na-cô,...(2); tuy nhiên, số lượng các đảng chính trị không phản ánh mức độ dân chủ, tự do ở từng nước. Xin-ga-po có nhiều đảng, nhưng chỉ có Đảng Hành động Nhân dân (PAP) lãnh đạo cầm quyền. Ở Trung Quốc, ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn có 8 đảng phái khác và các đảng phái này đều thừa nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duy nhất lãnh đạo đất nước. Đặc biệt là trường hợp của Mỹ: có khoảng hơn 100 đảng, nhưng chỉ có hai đảng là Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ thay nhau cầm quyền. Thực chất, đây là hai đảng của giai cấp tư sản, có bản chất, lập trường giai cấp và hệ tư tưởng không khác nhau, ngoài một vài chính sách cụ thể. Do vậy, ở không ít các nước tư bản hiện nay (kể cả Mỹ), xét về thể chế chính trị và số lượng thì đều có mô hình đa đảng, song về quyền lực chính trị vẫn chỉ là nhất nguyên (đảng của giai cấp tư sản nắm quyền lực).

Về cái gọi là “đa nguyên mới có dân chủ”, chúng ta chỉ rõ, không có nước nào, kể cả những nước tự cho mình là dân chủ nhất, lại dung túng cho những hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cần thấy rõ rằng, những người phê phán chế độ một đảng ở nước ta thực ra là muốn hợp pháp hóa vai trò của các lực lượng chính trị phản động đã bị nhân dân ta đánh đổ. Nghiên cứu về chế độ một đảng ở Việt Nam, tác giả Dam Fforde viết: “So với các chế độ cộng sản cùng đang cải cách khác, Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng. Lên nắm quyền qua chiến tranh và cách mạng chứ không phải do lực lượng bên ngoài áp đặt. Năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức. Sau ba thập kỷ chiến tranh, Đảng đã loại mọi đối thủ và khôi phục được Việt Nam thành một nước độc lập và thống nhất. Ban lãnh đạo của Đảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí trong thế giới cộng sản, và đảng viên của Đảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam. Hơn nữa đó là một đảng mà sự tồn vong và thắng lợi cuối cùng đã dựa vào việc huy động sự ủng hộ của quần chúng... Ở Việt Nam trong tương lai khó có thể hình dung cơ sở xã hội cho việc xây dựng một đảng có khả năng cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam... Hơn nữa, Đảng phải tăng cường hệ thống một đảng không chỉ vì lý do tư tưởng mà còn hầu hết đảng viên đều tin rằng đường lối chính trị cạnh tranh sẽ làm trầm trọng thêm những chia rẽ giữa các vùng và làm mất ổn định chính trị”[1](1).

Như vậy, ở Việt Nam, vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa có căn cứ lý luận, vừa có căn cứ thực tiễn. Đồng thời, thực tế đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng lãnh đạo để đưa cơ đồ, tiềm lực và uy tín của đất nước lên tầm cao mới./.



1) Viện Phát triển quốc tế Harvard, Trường Đại học Harvard: Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương, Nxb CTQG, H. 1994, Tr 523, 539

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét