Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2023
Cảnh giác trước biểu hiện nguy hại của việc “hối lộ tinh thần”
Thực tiễn đã chứng minh, trong công việc và cuộc sống hàng ngày, không ai có thể khẳng định tất cả những việc mình làm chỉ có đúng mà không
có sai, chỉ có ưu điểm chứ không có khuyết điểm. Nên việc khen và chê giống như
chất xúc tác giúp cho mỗi chúng ta biết lắng nghe, phân biệt “đúng, sai, thật, giả”,
để sống có trách nhiệm hơn với công việc của mình, từ đó có hướng phát triển bản
thân tốt hơn. Tuy nhiên, do mắc căn bệnh của thói a dua, xu nịnh, nên vẫn còn một
bộ phận cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) đã sống thiên lệch, thích khen hơn chê, thậm
chí còn “khen quá lời”, khiến cho người được khen dễ sinh ra tính kiêu ngạo, tự
mãn, ngỡ mình là người tài ba, xuất chúng, ảo tưởng về hào quang của bản thân. Còn
người khen chỉ quen nói lời có cánh, mà đánh mất đi tính phản biện, lập trường “đúng
- sai” cần có của người CB, ĐV. Đây là biểu hiện suy thoái về đạo đức cần phải đấu
tranh loại bỏ.
Tác hại khi tuyệt đối hóa lời khen
Phản ứng tâm lý thông thường
của con người khi được khen thì vui vẻ, sung sướng, ví dụ như “chị ấy, hoặc cô ấy
trông xinh thế”, dù bề ngoài thực sự chưa tương xứng với lời khen, thế nhưng người
phụ nữ được khen ấy sẽ rất vui, có khi cả ngày hôm đó chị sẽ dành nhiều thời gian
để ngắm mình trong gương. Bởi vì tâm lý chung của con người là thích nghe khen hơn
chê, nghe khen dễ hơn là nghe chê.
Thế nên, lời khen không
chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên
trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập,
lao động, công tác. Đối với khen, điều quan trọng nhất là hiệu quả giữa người khen
và người tiếp nhận lời khen như thế nào, nên đòi hỏi người khen phải có chuyên môn,
am hiểu về lĩnh vực đó và công tâm, chân thành thì mới khen đúng được.
Lời khen có hai loại, đó
là lời khen tốt và lời khen xấu. Vậy nên, ông cha ta mới cảnh tỉnh, răn dạy con
cháu rằng “Mật ngọt chết ruồi tươi”, bởi ai mà chẳng có lúc sai lúc đúng, do đó
phải tỉnh táo để tiếp nhận lời “khen chê” cho phù hợp, tránh rơi vào ảo giác mơ
hồ, mù quáng thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào, giả dối của
người khác thì tự mình sẽ sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.
Thực tiễn cũng đã chứng minh, trong cuộc sống cũng
như thực thi công vụ của CB, ĐV cũng vậy, không phải chỉ có đúng mà không bao giờ
sai, chỉ có ưu điểm mà không bao giờ có khuyết điểm, bởi vậy khen chê đúng mực là
cần thiết để mỗi người nhìn nhận đánh giá khách quan, toàn diện để tự hoàn thiện
bản thân hơn. Tuy nhiên, do mắc phải căn bệnh a dua xu nịnh, một số CB, ĐV đã không
ngại cúi mình, sử dụng “chót lưỡi đầu môi”, bỏ qua phần “chê” mà tuyệt đối hóa lời
khen, đã không tiếc lời tâng bốc đối tượng mà mình cần lên tận mây xanh, nhằm để
đạt được mưu lợi cá nhân.
Biểu hiện cụ thể là, đối
với cấp trên, những CB, ĐV này thường tỏ thái độ xun xoe, “nói vuốt đuôi” theo ý
thủ trưởng, khen ngợi thủ trưởng trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, lúc nào cũng
ngợi ca, trước mặt và sau lưng, nhằm để cho cấp trên tin tưởng và hiểu rằng, đồng
chí ấy là người tâm phúc, tin cậy. Thậm chí là mọi thói quen, sở thích của cấp trên
cũng được nghiên cứu rất kỹ, từ thói quen tốt đến thói quen xấu sẽ được ngợi khen
tuốt tuột và chăm sóc chu đáo, mục đích cuối cùng của “khen ngợi quá lời” là chỉ
cốt để làm đẹp lòng, “khen cho được việc”, lời khen mang tính chất “hối lộ tinh
thần” nhằm mục đích cầu lợi cho cá nhân bản thân mình.
Đến nhiều tổ chức, cơ quan,
đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong
các cuộc trò chuyện, chúng ta có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói
ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt
về thủ trưởng, không có chính kiến phản biện khi thấy đúng không bảo vệ, thấy sai
không đấu tranh là rất phổ biến. Đây là một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm
chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Soi chiếu vào lịch sử các
triều đại phong kiến của dân tộc cho thấy, nếu ông vua, bà chúa, hay ông quan nào
tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói khen nịnh vờ vĩnh, giả
tạo của một bộ phận quan nịnh thần thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân
chính của bậc chính nhân quân tử, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm,
sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng, nắm giữ
nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, đắm chìm trong những lời bợ đỡ, ton hót
thì dễ làm cho triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn
nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.
Và thực tế cho thấy, những
CB, ĐV, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự
bủa vây của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh
và cấp dưới, nếu không giữ được tư tưởng lập trường thì theo thời gian, họ rất dễ
bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, sẽ nảy sinh thói gia trưởng, quan liêu, chuyên
quyền, độc đoán. Đó cũng là tiền đề để hình thành “uy tín giả”, một “cái bẫy” có
thể tự sụp đổ ngay dưới chân mình.
Việc CB, ĐV bị xử lý kỷ
luật, thậm chí là xử lý hình sự có xu hướng ngày càng tăng thời gian qua, có rất
nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân chủ yếu chính là mắc căn bệnh “ảo tưởng”
thích khen hơn chê, tự đề cao cái tôi cá nhân, trở thành những “ông vua, ông quan”,
tha hóa quyền lực, tự cho mình là nhất, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều
lần nhắc nhở CB, ĐV.
Phải
giữ nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình
Khen là điều cần thiết,
nhưng quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời
khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không
xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên
những lời “mật ngọt” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt,
ton hót, một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của CB,
ĐV.
Ngược lại, “chê” không hẳn
là chỉ trích là ý xấu, mà chính là lời phê bình chân thành chỉ ra những tồn tại,
hạn chế của bản thân mỗi người chưa nhận ra, sẽ giúp chúng ta nhanh chóng tiến bộ.
Vậy nên, trong hội nghị của Bộ Chính trị cho ý kiến về nội dung Đại hội Văn nghệ
vào sáng ngày 6/11/1962, khi bàn về chủ trương tổ chức cho anh em văn nghệ sĩ đi
thực tế dài hạn ở nông thôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tán thành chủ trương và có
những lời căn dặn quý báu đối với các văn nghệ sĩ đi thực hiện nhiệm vụ này: “…
Khen, chê phải đúng mức. Khen nhưng khen quá lời, “suy tôn” người được khen thì
chính người được khen xấu hổ. Đập nhưng đập bậy thì người ta không phục...”.
Thực tế cho thấy, có việc
khen, chê không đúng mực, nguyên nhân chủ yếu là do còn một bộ phận cán bộ, đảng
viên và tổ chức Đảng thực hiện nguyên tắc phê bình và tự phê bình chưa triệt để,
chưa nghiêm túc, nên phê bình một phần đã chuyển thành xu nịnh, làm biến dạng, vô
hiệu hóa nguyên tắc vũ khí sắc bén của Đảng. Do đó, để khắc phục triệt để tình trạng
này, thì trước hết là các cấp ủy, tổ chức Đảng cần tiếp tục coi trọng và duy trì
thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình.
Trong sinh hoạt tự phê bình
và phê bình, mỗi CB, ĐV cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm,
đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời
cái xấu, cái sai, kiên quyết đấu tranh loại bỏ thói xu nịnh, a dua, khen quá lời,
sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy
thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái” như Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã phê phán, để góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức
Đảng và xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp, ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ
quan, đơn vị.
Đối với bản thân mỗi CB,
ĐV, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ trì cần phải giữ gìn đức tính khiêm tốn, giản dị,
gần gũi, hòa đồng quần chúng để phân biệt rõ đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe,
coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ, để không tự ảo
tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá
trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân, sống giản
dị, gần gũi với đồng chí đồng đội và quần chúng.
Ai cũng phải xây dựng Đảng
Vừa kết thúc trận bóng chuyền hơi, ông
Hùng liền chào mọi người ra về. Thấy người bạn thân có vẻ vội vã, ông Khanh hỏi:
- Có việc gì mà ông về sớm thế? Thi đấu xong rồi, tôi đang định mời ông làm
cốc bia hơi.
- Tôi cảm ơn ông, nhưng hôm nay tôi đã hẹn với ông Tâm-Bí thư chi bộ thôn
mình để nghe ông ấy phân tích kết quả Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII. Ông ấy là
cán bộ cấp cao nghỉ hưu, kiến thức uyên bác, nắm vấn đề rất sâu, nói rất dễ hiểu.
Mình nghe để nâng cao hiểu biết, có kiến thức giáo dục con cháu, tham gia xây dựng
Đảng ở địa phương. Kỳ họp này Trung ương xem xét, quyết định nhiều vấn đề trọng
đại, trong đó có tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới, ông ạ.
- Ô hay, ông có bị hâm không? Ông có phải là
đảng viên đâu mà quan tâm đến xây dựng Đảng, quán triệt nghị quyết
của Đảng?
- Sao ông nặng lời với tôi thế? Mình không phải là đảng viên thì không có
nghĩa là mình không có trách nhiệm xây dựng Đảng, học tập, quán triệt nghị quyết
của Đảng. Ở Việt Nam ta, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tất cả công việc của
Đảng là chăm lo cho dân, cho nước. Đảng chăm lo cho mình mà mình không xây dựng,
bảo vệ thì mình xây dựng, bảo vệ ai?
- Nhưng tôi nghĩ việc đó của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng chứ đâu phải
của quần chúng? Ta có là thành viên của Đảng đâu, ta nói với ai, nói ở đâu? Chúng
ta có được tham gia sinh hoạt đảng đâu mà ý kiến? - ông Khanh đấu lý.
- Ông hiểu thế là sai rồi. Chúng ta tuy không phải là đảng viên nhưng ý kiến
của chúng ta vẫn được Đảng lắng nghe, tiếp thu; quyền lợi chính đáng của nhân dân
được Đảng chăm lo; những khúc mắc, kiến nghị của nhân dân đều được Đảng xem xét,
giải đáp thỏa đáng. Ông thấy đấy, tất cả các kỳ đại hội, Đảng ta đều lắng nghe,
tiếp thu ý kiến nhân dân đấy thôi. Ở thôn, xã ta, những kiến nghị, đề xuất của tôi
đều được ông Tâm báo cáo với chi bộ thôn, đảng ủy xã cả đấy. Từ xưa đến nay, chính
nhờ có nhân dân chăm lo xây dựng nên Đảng ta mới vững mạnh, cách mạng mới thành
công đấy ông ạ.
Thấy ông Khanh có vẻ hiểu ra, ông Hùng phân tích thêm: “Hiểu, nắm được đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không những để góp
phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng, xây dựng đất nước mạnh giàu
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, mà còn là cơ sở làm thất bại chiến lược “diễn biến
hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Với lại, tôi thấy con cháu
nhà ông đều giỏi giang, có chí tiến thủ, đều là cán bộ, đảng viên cả. Mình phải
hiểu đường lối, chủ trương của Đảng thì mới trò chuyện được với các con cháu, mới
dạy bảo, động viên được chúng phấn đấu chứ!
- Ừ nhỉ, mấy lần thằng Khánh nhà tôi cũng nói chủ trương, đường lối của Đảng,
thế mà tôi lại gạt phắt đi, bảo tao đâu phải đảng viên mà nghe trình bày nghị quyết.
Chết thật! Tôi có lỗi quá, nhận thức lơ mơ quá. Thôi, hôm nay tôi cùng ông qua nhà
ông Tâm-Bí thư chi bộ nhé...
Hai người bạn đồng niên vui vẻ khoác vai nhau ra về.
Sưu tầm
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ TRONG XÂY DỰNG TÌNH ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI
Tình đồng chí, đồng đội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của quân đội cách mạng, vừa là cơ sở tạo nên sức mạnh của quân đội, tình đồng chí, đồng đội thể hiện giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa chiến sỹ với chiến sỹ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nó được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng của quân đội, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một mặt, nó dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội; mặt khác, nó dựa trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, đoàn kết gắn bó chặt chẽ keo sơn với nhau như ruột thịt “lúc thường cũng như lúc ra trận” giữa những con người cùng chung lý tưởng, mục tiêu, cùng thực hiện nhiệm vụ cao cả của người quân nhân cách mạng. Đó là nguồn sức mạnh vô tận để bộ đội ta đoàn kết, thống nhất vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.
Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay, việc giữ vững và tiếp tục xây dựng tình đồng chí, đồng đội là sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đòi hỏi cán bộ phải luôn luôn là tấm gương sáng cho chiến sĩ học tập, noi theo; chiến sỹ phải “tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”.
Tình thương yêu đồng chí, đồng đội được tôi luyện, thiết lập vững chắc trong Quân đội ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã trở thành nét đẹp truyền thống, thành bản chất không thể phai mờ của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sỹ, là một trong những nhân tố gốc cấu thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ kính yêu căn dăn, đội ngũ cán bộ các cấp trong Quân đội các thời kỳ đã luôn quan tâm thiết thực và chu đáo đến đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội, hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân tay”, do vậy cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu óc”, như người thân; từ đó họ sẽ mang hết khả năng của mình để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Trái lại, nếu cán bộ không làm “mực thước” cho cấp dưới, quan liêu, hách dịch, bè cánh thì chắc chắn cấp dưới sẽ xa lánh họ; chỉ thị, mệnh lệnh mà họ đưa ra sẽ được cấp dưới tiếp thu một cách khiên cưỡng, hiệu quả thấp, thậm chí bị chối bỏ. Bởi vậy hơn ai hết, lãnh đạo, chỉ huy phải thường xuyên phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện xứng đáng là người anh, người “chị hiền” tận tuỵ chăm lo cho tập thể, cho từng chiến sỹ, là hạt nhân đoàn kết thống nhất xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện./.
Ý NGHĨA RA ĐỜI NGÀY PHÁP LUẬT VIỆT NAM 9-11
Trong
đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là công cụ quản
lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý an toàn, tin cậy, thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc
sống trở thành yêu cầu cấp thiết, cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và
hiệu quả với nhiều hình thức, biện pháp phù hợp.
Ngày
9/11 hàng năm là ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày
Pháp luật được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng
tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội. Thông qua ngày Pháp luật giúp cho mọi
tổ chức, cá nhân, công dân có ý thức tuân thủ pháp luật tốt hơn, là dịp để đánh
giá lại những kết quả đã đạt được và những hạn chế trong hoạt động xây dựng, thực
thi pháp luật. Qua đó, những người thi hành pháp luật cũng sẽ nhận được những
thông tin phản hồi, những quan điểm đánh giá về tất cả các quy định pháp luật
cũng như cách thức thực hiện, hiệu quả của hệ thống pháp luật đối với đời sống
xã hội. Từ đó hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật, cũng như cải thiện, nâng cao
hoạt động của hệ thống tư pháp.
Ở
nước ta, ngày 9-11 hàng năm là ngày Pháp luật với dấu mốc đây là ngày ban hành
bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, là bản Hiến pháp của nền dân chủ đầu tiên của
Nhà nước ta. Hiến pháp 1946 đã thấm nhuần, thể hiện triệt để tinh thần, tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Phát
biểu tại Phiên bế mạc Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa I-1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhấn mạnh đến sự kiện đã thông qua Hiến pháp: “Đây là bản Hiến pháp đầu
tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử Hiến
pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa... Hiến pháp tuyên bố với thế giới nước
Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp tuyên bố với thế giới biết, dân tộc Việt Nam đã có
đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp tuyên bố với thế giới, phụ nữ Việt Nam đã đứng
ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến
pháp đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một
tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”. Đến nay, Việt Nam đã có 05 bản Hiến pháp, bản
Hiến pháp đang có hiệu lực là Hiến pháp năm 2013. Tuy vậy, ý nghĩa của ngày
“khai sinh” ra bản Hiến pháp đầu tiên vẫn rất được trân trọng. Đó cũng chính là
lý do Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định ngày 09-11 hằng năm
là ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày
Pháp luật có ý nghĩa giáo dục sâu sắc trong việc đề cao giá trị của pháp luật
trong nhà nước pháp quyền, hướng mọi tổ chức, cá nhân tính tích cực tham gia với
hành vi, thái độ xử sự pháp luật đúng đắn. Đề cao quyền cũng như trách nhiệm,
nghĩa vụ của cá nhân, công dân trong học tập, tìm hiểu pháp luật và tự giác chấp
hành pháp luật. Qua đó góp phần nâng cao ý thức và niềm tin pháp luật, từng bước
xây dựng và củng cố các giá trị văn hóa pháp lý trong cuộc sống xã hội. Đồng thời,
đây còn là mô hình để vận động, khuyến khích, kêu gọi toàn thể nhân dân chung sức,
đồng lòng vì sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nhà nước, phát huy triệt để tinh
thần đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng tích cực hành động vì một Việt Nam dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Do vậy, đây còn là sự kiện chính
trị, pháp lý có ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa xã hội sâu sắc.
Ngày
9-11 được coi là điểm mốc, là sợi chỉ đỏ kết nối xuyên suốt, có sức lan tỏa sâu
rộng trong cộng đồng dân cư. Nhắc nhở, giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật để
không chỉ là một ngày mà phấn đấu sẽ là ba trăm sáu mươi lăm ngày trong một
năm, mọi tổ chức, cá nhân tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp
luật, thực hiện khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.
Ngày
Pháp luật được tổ chức nhằm tạo bước phát triển mới trong việc nâng cao hiệu quả
công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật - một bộ phận của công tác
giáo dục chính trị, tư tưởng và là nhiệm vụ thường xuyên của toàn bộ hệ thống
chính trị các cấp, các ngành với mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ và tạo điều kiện
để mọi cá nhân, tổ chức biết sử dụng pháp luật làm phương tiện, công cụ bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước và của xã hội./.
Không thể làm sai lệch bản chất “gỡ rối” và “kiến tạo”
“Gỡ rối” và “kiến tạo” là nguyên tắc cơ
bản trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24-6-2023 của Quốc
hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Hồ Chí Minh (gọi
tắt là Nghị quyết 98).
“Gỡ rối” và “kiến tạo” có mối quan hệ biện chứng, tạo nên tính thống nhất
về nhận thức và hành động. Những thông tin xuyên tạc, cố tình làm sai lệch bản chất
vấn đề do các đối tượng thù địch thực hiện, cần được nhận diện và kiên quyết đấu
tranh, loại bỏ.
Những chuyển động tích cực trên thực tế
Nghị quyết 98 chính thức có hiệu lực từ ngày 1-8-2023. Sau hơn hai tháng
triển khai thực hiện, thực tiễn hoạt động của bộ máy hành chính công đã ghi nhận
những chuyển biến tích cực, khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của các cơ chế,
chính sách đặc thù vượt trội.
Trong lúc hệ thống chính trị TP Hồ Chí Minh đang từng bước vận hành hiệu quả các cơ chế, chính
sách đặc thù, thì trên không gian mạng thời gian qua
lại xuất hiện nhiều thông tin xuyên tạc của các đối tượng xấu, gieo rắc tâm lý bi
quan, hoài nghi, tiêu cực...
Tại cuộc gặp gỡ lãnh đạo các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và TP
Hồ Chí Minh, triển khai thực hiện Nghị quyết 98, đồng chí Phan Văn Mãi, Ủy viên
Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh nguyên tắc cốt lõi trong
vận hành cơ chế, chính sách đặc thù của Nghị quyết 98 là “gỡ rối” và “kiến tạo”.
Nguyên tắc này cùng với hệ thống kế hoạch, chương trình hành động triển khai
thực hiện Nghị quyết 98 được Thành ủy, HĐND, UBND TP Hồ Chí Minh quán triệt sâu
sắc, trở thành phương châm hành động của cả hệ thống chính trị thành phố và cộng
đồng doanh nghiệp.
Nghị quyết 98 là sự cụ thể hóa về mặt luật pháp Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày
30-12-2022 của Bộ
Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045. Nghị quyết 98 là hệ thống những cơ chế, chính sách đặc thù, bảo đảm
cho TP Hồ Chí Minh với vai trò là đô thị đầu tàu của cả nước, có hành lang pháp
lý thông thoáng, có cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội so với quy định pháp luật
hiện hành nhằm tháo gỡ khó khăn, phát triển nhanh và bền vững. Các điều khoản quy
định trong Nghị quyết 98 giúp TP Hồ Chí Minh “gỡ rối” những vướng mắc, bất cập về
cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, cơ chế vận hành của bộ máy hành chính công.
Thành phố được phân cấp, phân quyền mạnh, có quyền tự chủ, tự quyết đối với
nhiều phân khúc, hạng mục, lĩnh vực kinh tế-xã hội, đặc biệt là trong quy hoạch,
sử dụng nguồn nhân lực, phê duyệt các dự án đầu tư, triển khai các công trình trọng
điểm, giải ngân vốn đầu tư công, xây dựng mô hình chính quyền đô thị, hoạt động
của TP Thủ Đức-mô hình “Thành phố trong thành phố” đầu tiên của cả nước...
Như vậy, với Nghị quyết 98, Đảng, Nhà nước ta đã trang bị cho TP Hồ Chí Minh
công cụ pháp lý vượt trội, đáp ứng yêu cầu đặt ra từ thực tiễn về cơ chế, chính
sách để giải quyết những bất cập, vướng mắc nội tại. Trên cơ sở đó, thành phố phát
huy nội lực, tận dụng mọi nguồn lực để “kiến tạo” chính sách mới, vừa phát triển
kinh tế, vừa mở lối, tạo cơ sở để Đảng, Nhà nước bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện cơ
chế, chính sách xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thực tế, sau hơn hai tháng có hiệu lực, Nghị quyết 98 đã nhanh chóng đi vào
cuộc sống, rõ nhất là sự đột phá ngay vào những “điểm nghẽn” đang tồn tại, gây cản
trở, kìm hãm sự phát triển của thành phố. Kỳ họp lần thứ 11 của HĐND TP Hồ Chí Minh
khóa X, cụ thể hóa Nghị quyết 98 vào từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, đã thông qua
hơn 100 nghị quyết, tờ trình về cơ chế, chính sách, dự án...
Đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí
Minh đánh giá, đây là kỳ họp HĐND “chưa từng có”. Các đại biểu đã thể hiện sự thống
nhất cao, quyết tâm lớn, giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ về cơ chế,
chính sách, thủ tục hành chính. Đó chính là biểu hiện sinh động của “gỡ rối”. Có
“gỡ rối” suôn sẻ thì mới tạo hành lang thông thoáng để “kiến tạo” phát triển. “Gỡ
rối” để “kiến tạo”, “kiến tạo” cách “gỡ rối”, vừa “gỡ rối” vừa “kiến tạo”... đó
là phương châm hành động để các cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội của Nghị quyết
98 nhanh chóng có đáp số, có sản phẩm vật chất cân đo đong đếm được trên thực tế.
Hai lĩnh vực trọng tâm là tiến độ triển khai các dự án trọng điểm và kế hoạch
giải ngân vốn đầu tư công thể hiện rõ nét nhất sự chuyển biến. Hàng loạt công trình
giao thông, dự án cơ sở hạ tầng chậm tiến độ, đội vốn đầu tư hoặc rơi vào tình trạng
“đắp chiếu” nhiều năm nay trên địa bàn thành phố đã được khởi công hoặc tái khởi
động ngay sau khi Nghị quyết 98 có hiệu lực. Mũi nhọn đột phá vào các dự án, công
trình trọng điểm đã góp phần “gỡ rối” cho giải ngân vốn đầu tư công.
Năm 2023, TP Hồ Chí Minh được giao kế hoạch đầu tư công với tổng số vốn 70.518
tỷ đồng. Đến hết quý II-2023, giải ngân vốn đầu tư công của thành phố chỉ đạt tỷ
lệ 35%. Biểu đồ về tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tăng mạnh từ cuối quý III-2023,
khi Nghị quyết 98 có hiệu lực. Và với việc HĐND thành phố vừa thông qua hơn 100
tờ trình, nghị quyết về cơ chế, chính sách, dự án...
TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trong 3 tháng cuối năm sẽ giải ngân 45.266 tỷ
đồng vốn đầu tư công, hoàn thành 95% kế hoạch năm. Nguồn vốn đầu tư công này tập
trung chủ yếu cho 38 dự án, công trình trọng điểm về giao thông, hạ tầng kinh tế
đã và đang triển khai trên địa bàn thành phố.
Đó là những con số cụ thể, chứng minh những chuyển biến tích cực, hiệu quả
bước đầu của các cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội được Đảng, Nhà nước áp dụng
cho thành phố đầu tàu.
Đằng sau những quan điểm sai trái
Tất cả chúng ta đều nhận thức rõ, không một cơ chế, chính sách nào, dù ưu
việt đến đâu, có thể mang lại hiệu quả toàn diện tức thì trong thực tiễn. Đường
lối, chính sách ra đời từ sự đòi hỏi của thực tiễn và thực tiễn đời sống kinh tế-xã
hội sẽ là thước đo, căn cứ để đánh giá hiệu quả của mọi chủ trương, chính sách.
Nghị quyết 98 với hệ thống những cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội dành cho TP
Hồ Chí Minh cũng vậy.
Để ban hành những điều khoản trong Nghị quyết 98, Quốc hội đã rà soát, đánh
giá, tổng kết toàn diện thực tế sau hơn 5 năm thí điểm một số cơ chế, chính sách
đặc thù phát triển TP Hồ Chí Minh theo Nghị quyết 54 và hiện thực đời sống sau hơn
37 năm đổi mới.
Thế nên, đòi hỏi ngay lập tức Nghị quyết 98 phải đem lại sự thay đổi toàn
diện, có hiệu quả vượt trội trong đời sống xã hội là chủ quan, duy ý chí. Nhấn mạnh
vấn đề này là bởi, trên không gian mạng thời gian qua đã xuất hiện nhiều sản phẩm
tuyên truyền có nội dung sai trái của một số phương tiện truyền thông phát tiếng
Việt ở hải ngoại mang tư tưởng thù địch với Việt Nam và nhiều tài khoản cá nhân
của những đối tượng bất mãn, thù địch.
Đặc biệt là sau khi HĐND TP Hồ Chí Minh tổ chức phiên họp “chưa từng có”
nêu trên, những đối tượng có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước, đối tượng thù địch
người Việt ở hải ngoại đã lên tiếng bình luận bằng giọng điệu chế giễu, bỉ bai,
công kích, xuyên tạc. Họ cho rằng chúng ta đang “vẽ rắn thêm chân”, “mị dân bằng
cơ chế”, “càng gỡ càng rối”, “kiến tạo kiểu con kiến mà leo cành đa”... Họ bám vào
những khó khăn của nền kinh tế, khoét sâu vào những hạn chế, bất cập trong bộ máy
hành chính công để xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực nội tại của hệ thống chính trị
TP Hồ Chí Minh và đất nước.
Từ kiểu bỉ bai, xuyên tạc cơ chế, chính sách đặc thù, bôi nhọ, hạ thấp uy
tín lãnh đạo và hệ thống chính trị, họ lèo lái dư luận theo hướng tiêu cực, gieo
rắc tâm lý hoài nghi, kích động cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính
trị từ bỏ khu vực công đi làm thuê cho doanh nghiệp nước ngoài.
Họ lồng ghép, liên hệ với các hoạt động đối ngoại cấp cao của Đảng, Nhà nước
và những vấn đề trọng đại được Trung ương Đảng bàn bạc tại Hội nghị Trung ương 8
(khóa XIII) để tuyên truyền kích động, chống phá chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước. Họ kêu gọi giới trí thức ủng hộ quan điểm thân phương Tây, dựa hẳn
vào phương Tây để phát triển đất nước...
Với thái độ khách quan, tỉnh táo, chúng ta không khó để nhận ra mưu đồ của
những quan điểm sai trái nêu trên. Xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, bôi xấu chế độ, bỉ bai cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng... là những chiêu
bài đã được các đối tượng cực đoan cấu kết với các thế lực thù địch thực hiện lâu
nay.
Mỗi khi Đảng, Nhà nước ban hành các chủ trương, chính sách mới hoặc diễn
ra những sự kiện chính trị quan trọng là lập tức các thế lực thù địch đẩy mạnh thực
hiện chiến dịch truyền thông xuyên tạc, chống phá. Họ thông qua những hoạt động
này nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây mất lòng tin của nhân dân, gây
rối ren, phân hóa nội bộ. Khi chúng ta đồng lòng “gỡ rối” thì họ tìm mọi cách để
“gây rối”, làm rối ren, phức tạp tình hình, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.
Coi trọng “xây” và “chống” trong truyền thông chính
sách
Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, “xây” và “chống” là hai
nhiệm vụ được kết hợp chặt chẽ, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu
dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. “Gỡ rối” và “kiến tạo” chính là sự
cụ thể hóa của “xây” và “chống” trong triển khai, vận hành các cơ chế, chính sách
đặc thù vượt trội tại TP Hồ Chí Minh.
Chính vì vậy, để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 98, sớm có được những kết
quả, mô hình điển hình trong thực tiễn, cùng với việc cụ thể hóa các cơ chế, chính
sách thành chương trình, kế hoạch hành động ở từng ngành, từng khâu... chúng ta
phải đặc biệt coi trọng vai trò của công tác truyền thông chính sách. Quán triệt
phương châm “lấy xây để chống”, công tác truyền thông chính sách cần được thực hiện
thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm, tạo sự thống nhất cao về nhận
thức và hành động trong cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, người dân
và đông đảo kiều bào yêu nước đang hướng các hoạt động đầu tư về quê hương.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc của các thế
lực thù địch cũng chính là giải pháp quan trọng để “gỡ rối” và “kiến tạo” hiệu quả.
Nghị quyết 98 đã đi vào đời sống và bước đầu tạo sự chuyển biến tích cực
sau hơn hai tháng có hiệu lực. Để hệ thống cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội
tạo động lực, sức mạnh nội sinh cho hệ thống chính trị của TP Hồ Chí Minh và cộng
đồng doanh nghiệp, cần có thời gian để nâng cao tính khả thi và hiệu quả trên thực
tế đời sống kinh tế-xã hội.
Trong quá trình đó, việc “gỡ rối” và “kiến tạo” phải được áp dụng, triển khai thông suốt từ lãnh đạo thành phố đến cơ sở, doanh nghiệp và người dân theo tinh thần “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Không một thế lực nào, với bất cứ lý do gì có thể làm sai lệch bản chất “gỡ rối” và “kiến tạo”.
Sưu tầm
Ý NGHĨA NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11
Năm
2023, kỷ niệm 41 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11. Sự ra đời ngày 20/11 là một
dấu mốc quan trọng trong giáo dục và giờ đây ngày này trở thành ngày hội của
các thế hệ học sinh tri ân các thầy cô giáo.
1.
Lịch sử ra đời ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
Từ
tháng 7/1946, tại Paris, tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập, lấy
tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục (tiếng Pháp: Fédération
Internationale Syndicale des Enseignants – FISE).
Nǎm
1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), FISE đã ra bản "Hiến
chương các nhà giáo" gồm 15 chương.
Trong
thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, để tranh thủ các diễn đàn quốc tế, tố
cáo âm mưu tội ác của bọn đế quốc xâm lược đối với nhân dân ta cũng như đối với
giáo viên và học sinh, Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã liên hệ với FISE.
Từ
ngày 26 – 30/8/1957, Hội nghị FISE diễn ra tại Thủ đô Warszawa.
Hội
nghị có 57 nước tham dự, trong đó có Công đoàn giáo dục Việt Nam, quyết định lấy
ngày 20/11 làm ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo.
Năm
1953, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn làm
trưởng đoàn dự Hội nghị quan trọng kết nạp Công đoàn giáo dục của một số nước
vào tổ chức FISE tại Viên (Thủ đô nước Áo), trong đó có Công đoàn Giáo dục Việt
Nam.
Tại
Việt Nam, trong ngày 20/11/1958, lễ kỷ niệm không chỉ được tổ chức tại Hà Nội,
mà còn diễn ra từ Vĩnh Linh (giới tuyến quân sự tạm thời ở thời điểm đó) đến
các vùng biên giới hải đảo.
Việc
tổ chức Ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo 20/11 hàng năm đã sớm trở thành
ngày hội truyền thống của giáo giới Việt Nam.
Sau
khi đất nước thống nhất, với ý nghĩa tích cực của ngày 20/11, theo nguyện vọng
của giáo giới cả nước, kiến nghị của Đại hội Công đoàn Giáo dục Việt Nam lần thứ
VIII (tháng 4/1982) và Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng
Cục dạy nghề, Ủy ban Bảo vệ bà mẹ trẻ em…, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
đã ban hành Quyết định số 167/HĐBT, ngày 26/9/1982 quyết định sẽ lấy ngày 20/11
hàng năm là Ngày Nhà giáo Việt Nam.
Người
ký quyết định lịch sử Ngày Nhà giáo Việt Nam chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp
– người cũng đã từng là thầy giáo đứng trên bục giảng. Khi đó, Đại tướng Võ
Nguyên Giáp đang đảm nhiệm vị trí Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Ý
nghĩa lịch sử của ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
Dân
tộc Việt Nam có truyền thống tôn sư trọng đạo. Từ xa xưa, ông cha đã khuyên răn
đời sau về đạo lý này: "Nhất tự vi sư – Bán tự vi sư" (Một chữ cũng
là thầy – Nửa chữ cũng là thầy), "Muốn sang thì bắc cầu Kiều - Muốn con hay
chữ phải yêu lấy thầy"….
Từ
lâu, ngày 20/11 không chỉ là ngày hội riêng của ngành giáo dục mà đây còn là một
ngày lễ quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt đối với người dân Việt Nam, là ngày
"tôn sư trọng đạo” nhằm tôn vinh những “người lái đò thầm lặng”, những người
hoạt động trong ngành giáo dục. Đó cũng là dịp kỷ niệm thường niên của nghề
giáo Việt Nam, để học sinh, là thời điểm đặc biệt cho thế hệ học trò bày tỏ
lòng biết ơn và tôn trọng đối với thầy cô. Dù còn ngồi trên ghế nhà trường hay
đã bước ra ngoài xã hội, ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 là cơ hội để gửi đến thầy
cô những lời chúc tốt đẹp và những món quà ý nghĩa.
Ngày
20/11 hàng năm còn là dịp để ngành giáo dục nhìn lại, đánh giá hiệu quả và có
những phương hướng mới: một ý nghĩa to lớn khác của ngày này là để tôn vinh
ngành giáo dục cũng như những người đang thầm lặng cống hiến cho công cuộc trồng
người của dân tộc, đồng thời nhìn lại những kết quả hoạt động trong 1 năm của
toàn ngành, tiếp tục đưa ra những phương hướng và đổi mới cho những năm sau.
Từ đó, ngày 20/11 trở thành ngày lễ để các thế
hệ học sinh bày tỏ lòng biết ơn của mình tới các thầy cô giáo. Cũng vào ngày
này, toàn xã hội chia sẻ niềm vui, tri ân với những người đã góp bao công sức
và tâm huyết cho sự nghiệp trồng người cao cả, góp phần xây dựng đất nước phồn
vinh, hạnh phúc./.
LỊCH SỬ NGÀY THÀNH LẬP MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM (18/11/1930)
Trong
lịch sử Việt Nam, từ năm 1930 đến nay, không có thời kỳ nào vắng bóng tổ chức Mặt
trận. Lịch sử Cách mạng Việt Nam đã khẳng định Mặt trận dân tộc thống nhất Việt
Nam là vũ khí chính trị không thể thiếu được để nhân dân ta phát huy sức mạnh tổng
hợp của mình trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do và
xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Cách
đây 86 năm, giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ
Tĩnh đang diễn ra rầm rộ, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản
Đông Dương ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt
trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Mặt trận nhằm đoàn kết các đảng phái, giai cấp,
nhân sĩ trí thức Việt Nam và nòng cốt là liên minh công – nông dưới sự lãnh đạo
của Đảng, đấu tranh chống đế quốc, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất,
dân chủ và giàu mạnh.
Hội
nghị Trung ương Đảng (11/1936) quyết định thành lập Mặt trận thống nhất nhân
dân phản đế Đông Dương, đến tháng 3/1938 đổi tên thành Mặt trận thống nhất dân
chủ Đông Dương (gọi tắt là Mặt trận dân chủ Đông Dương).
Ngày
19/5/1941, theo sáng kiến của đồng chí Hồ Chí Minh, Việt Namđộc lập đồng minh hội
(gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) thành lập tại Pắc Pó (Cao Bằng). Đây là thời kỳ
chính sách Mặt trận được đề ra cụ thể, được áp dụng sinh động và các kinh nghiệm
phong phú nhất. Nhờ chính sách Mặt trận đúng đắn, phong trào lan rộng, cơ sở Mặt
trận phát triển rộng rãi, khi thời cơ đến, Việt Minh đã ra lệnh Tổng khởi
nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân.
“Việt
Minh đã có công lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, chống quân
cướp nước. Công đức ấy tất cả mọi người Việt Namphải ghi nhớ. Lịch sử của Việt
Minh mười năm đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc cũng là những trang lịch
sử vẻ vang vào bậc nhất của dân tộc Việt Nam ta”.
Sau
cách mạng tháng Tám thành công, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng
5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) được thành lập,
thu hút thêm một số nhân sĩ, địa chủ yêu nước.
Đến 3/3/1951, Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt lấy
tên là Mặt trận Liên Việt.
Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951) đã khẳng định:
“Mặt trận là một trong những trụ cột của Nhà nước dân chủ nhân dân, là sức mạnh
vô biên của cuộc kháng chiến và kiến quốc, là cơ sở quần chúng rộng rãi, làm
thành áo giáp vững bền của Đảng”.
Sau Hiệp định Giơnevơ (7/1954), ngày
10/9/1955, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất đã quyết định thành lập Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam. Đại hội đã thông qua cương lĩnh Mặt trận, chính sách đại đoàn
kết toàn dân, vai trò và nhiệm vụ của Mặt trận đối với cách mạng nước ta trong
giai đoạn mới.
Đánh
giá về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại hội lần thứ III của Đảng đã khẳng định:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đoàn kết các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc,
các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước và tán thành chủ nghĩa xã hội, nhờ đó đã động
viên mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ của dân tộc để xây dựng CNXH ở miền Bắc
và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”.
Ở
miền Nam, ngày 20/12/1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời
đã kịp thời đề ra nhiều chủ trương chính sách nhằm đoàn kết toàn dân chống đế
quốc Mỹ và bè lũ độc tài tay sai.
Ngày
20/1/1968, Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam được
thành lập nhằm đoàn kết và tranh thủ một số người ở thành thị, mở rộng thêm một
bước Mặt trận chống Mỹ cứu nước.
Sau
khi thống nhất nước nhà, ngày 31/1/1977, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất
quyết định thống nhất ba tổ chức Mặt trận, lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, thông qua chương trình hoạt động và Điều
lệ mới nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân để cùng nhau phấn đấu xây dựng
Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, XHCN và tích cực góp phần vào sự
nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới.
Trong
lịch sử Việt Nam, từ năm 1930 đến nay, không có thời kỳ nào vắng bóng tổ chức Mặt
trận. Lịch sử Cách mạng Việt Nam đã khẳng định Mặt trận dân tộc thống nhất Việt
Nam là vũ khí chính trị không thể thiếu được để nhân dân ta phát huy sức mạnh tổng
hợp của mình trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do và
xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mặt trận dân tộc thống nhất đã góp phần
quan trọng xây dựng Đảng, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân, củng cố khối
liên minh công nông và tầng lớp trí thức, xây dựng và phát triển lực lượng vũ
trang nhân dân.
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM
Hội
Chữ thập đỏ Việt Nam là tổ chức xã hội nhân đạo của quần chúng, do Chủ tịch Hồ
Chí Minh sáng lập ngày 23/11/1946 và Người làm Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội.
Hội tập hợp mọi người Việt Nam, không phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo,
nam nữ để làm công tác nhân đạo.
1.
Mục đích
Mục
đích cao cả của Hội là nhân đạo, hoà bình, hữu nghị, góp phần thực hiện mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hội chăm lo hỗ trợ về vật
chất và tinh thần cho những người khó khăn, nạn nhân chiến tranh, nạn nhân
thiên tai, thảm họa; tham gia chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; vận động
các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động nhân đạo do Hội tổ chức.
Hội
là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Phong trào Chữ thập
đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, hoạt động trong phạm vi cả nước, theo Hiến pháp
và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật hoạt động Chữ thập
đỏ, Nghị định số 03/2011/NĐ-CP, ngày 7 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ quy định
chi tiết và biện pháp thi hành Luật hoạt động chữ thập đỏ, Điều lệ Hội và 7
nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế: Nhân
đạo, Vô tư, Trung lập, Độc lập, Tự nguyện, Thống nhất, Toàn cầu.
2.
Lịch sử hình thành
Ngày
23/11/1946, Đại hội Đại biểu Hồng Thập tự
Việt Nam lần thứ nhất tại Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội (Hà Tây cũ), chính thức
thành lập Hội Hồng thập tự Việt Nam, nay là Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Chủ tịch
Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự của Hội trong suốt 23 năm sau đó tới khi Người
qua đời. Bác sĩ Vũ Đình Tụng được bầu làm Hội trưởng.
Ngày
05/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Công hàm tới Chính phủ Liên bang Thụy Sỹ
tuyên bố gia nhập 4 Công ước Giơ-ne-vơ về việc bảo hộ nạn nhân chiến tranh.
Ngày 04/11/1957, Hội Hồng thập tự Việt Nam chính thức được công nhận là thành
viên của phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.
Ngày
19/11/1960, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Hồng thập tự Việt Nam lần thứ II.
Bác sĩ Vũ Đình Tụng tiếp tục được bầu làm Chủ tịch Hội.
Ngày
27/2/1961, tổ chức Hồng thập tự giải phóng của Mặt trận dân tộc giải phóng miền
Nam ra đời do Bác sĩ Phùng Văn Cung làm Chủ tịch Hội.
Ngày
15/12/1965, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Hồng thập tự Việt Nam lần thứ III đổi
tên Hội Hồng thập tự Việt Nam thành Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Bác sĩ Vũ Đình Tụng
tiếp tục được bầu làm Chủ tịch Hội.
Ngày
10-11/12/1971, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ IV.
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì. Bác sĩ
Vũ Đình Tụng tiếp tục được bầu làm Chủ tịch Hội.
Tháng
6/1973, Đại hội Hội Hồng thập tự Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Giáo sư Nguyễn Văn
Thủ được bầu làm Chủ tịch Hội.
Ngày
31/7/1976, Hội nghị hợp nhất Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Hội Hồng thập tự Cộng
hòa miền Nam Việt Nam thành Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Giáo sư Nguyễn Văn Thủ được
bầu làm Chủ tịch Hội.
Ngày
11-12/3/1988, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ V.
Giáo sư Nguyễn Trọng Nhân được bầu làm Chủ tịch Hội. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
được tặng Huân chương Độc lập hạng nhất.
Ngày
15-17/3/1995, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ VI. Tổng
Bí thư Đỗ Mười làm Chủ tịch danh dự của Hội. Giáo sư Nguyễn Trọng Nhân tiếp tục
làm Chủ tịch Hội.
Ngày
07-09/8/2001, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ VII.
Chủ tịch nước Trần Đức Lương làm Chủ tịch danh dự Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
Giáo sư Nguyễn Trọng Nhân tiếp tục được làm Chủ tịch Hội.
Ngày
31/7/2003, Ban Chấp hành Trung ương Hội (kỳ họp thứ 4) đã cử Giáo sư TSKH. Nguyễn
Văn Thưởng làm Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Ngày
20/9/2005, Đại hội thi đua yêu nước Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ II. Hội Chữ
thập đỏ Việt Nam được tặng Huân chương Lao động hạng Nhất.
Ngày
28-29/6/2007, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ VIII.
Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, tiếp tục làm Chủ tịch danh dự của Hội. Tiến
sĩ Trần Ngọc Tăng được bầu làm Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
Ngày
4 và 5/7/2012, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ IX,
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang được suy tôn là Chủ tịch danh dự của Hội. Ông
Nguyễn Hải Đường được bầu làm Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
Ngày
15 và 16/8/2017, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ X,
Chủ tịch nước Trần Đại Quang được suy tôn là Chủ tịch danh dự của Hội. Bà Nguyễn
Thị Xuân Thu được bầu làm Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
Tháng
01/2019, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng được Bộ Chính trị, Ban chấp
hành Trung ương Đảng phân công làm Chủ tịch danh dự của Hội Chữ thập đỏ Việt
Nam.
3.
Ý nghĩa biểu tượng và biểu trưng
Biểu
trưng của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được xây dựng trên nền tảng “chữ thập đỏ
trên nền trắng” - biểu tượng của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ
quốc tế - kết hợp cùng các chi tiết hình họa xung quanh và dòng chữ “Chữ thập đỏ
Việt Nam”.
Biểu
trưng của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thể hiện nét trang trọng, đẹp, có tính tôn
vinh, cổ vũ hoạt động Chữ thập đỏ. Trung tâm Biểu trưng là Biểu tượng Chữ thập
đỏ. Bao lấy hình tượng trung tâm là 2 cành tre cách điệu nằm trong 2 vòng tròn
như hai vòng ôm che chở, làm nổi bật hình tượng Chữ thập đỏ, thể hiện sự chung
sức, chung lòng vì hoạt động nhân đạo. Lá tre màu xanh đậm thể hiện sự tươi
xanh, cũng là hình ảnh đặc trưng rất gần gũi và thân thiện của đất nước, con
người Việt Nam. Dòng chữ “Việt Nam” ở phía dưới khoẻ khoắn như một chân đế vững
chắc cho sự phát triển của hoạt động Chữ thập đỏ.
Hình và màu của Biểu trưng giản dị, hiện đại, trong sáng,
giàu ý nghĩa, có khả năng gây ấn tượng mạnh, phù hợp với việc phóng to thu nhỏ
cũng như thể hiện được trên mọi chất liệu. Đây là mẫu Biểu trưng không trùng lặp;
thẩm mỹ, dễ nhớ, dễ nhận biết, ấn tượng với công chúng (kể cả với người nước
ngoài); thể hiện được bản sắc dân tộc, truyền thống nhân ái của dân tộc và đặc
trưng của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
Thứ Năm, 2 tháng 11, 2023
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THÔNG TIN MỚI VỀ VIỆC CẤP SỔ ĐỎ CHO ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ!
THƯỜNG XUYÊN QUÁN TRIỆT, NẮM VỮNG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI, NHẤT LÀ QUAN ĐIỂM, TƯ DUY MỚI CỦA ĐẢNG VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG
Đây là bài học lớn vừa có tính nguyên tắc, vừa mang tính truyền thống và có ý
nghĩa quyết định những thành tựu trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng trong sự
nghiệp đổi mới của Đảng và toàn dân tộc. Trong gần 40 năm đổi mới vừa qua, trên cơ
sở đánh giá đúng tình hình trong nước, khu vực và quốc tế, xu thế của thời đại,
với tầm nhìn chiến lược và tư duy khoa học sắc sảo, nắm vững nguyên lý chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng
đắn, sáng tạo, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Nhờ đường lối đó, Đảng ta đã phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc,
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, phát huy nội lực kết hợp với
ngoại lực, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của
các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát
triển đất nước.
Thời gian tới, chúng ta cần tiếp tục vận dụng bài học kinh nghiệm này trong thực
hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trước hết và quan trọng nhất
là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của
Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng. Quán triệt và thực hiện có hiệu
quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết
Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ
XI. Trên cơ sở đó thống nhất nhận thức, tư tưởng và hành động đối với sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
MỘT SỐ NÉT VỀ NGUỒN
GỐC XUNG ĐỘT GIỮA ISRAEL VÀ HAMAS (PALESTINE) ĐANG DIỄN RA HIỆN NAY
Nghiên cứu kỹ về lịch sử nói chung, mối quan hệ giữa các quốc gia, các Tôn giáo và các nền văn hóa loài người nói riêng có thể khẳng định: Xung đột Israel - Palestine là một trong những cuộc xung đột lâu đời nhất và dai dẳng nhất trên thế giới, kéo theo ít nhất 06 cuộc chiến tranh Trung Đông, 02 phong trào phản kháng Intifada của người Palestine cùng vô số vụ đụng độ đẫm máu và tấn công bạo lực, tạo ra nhiều bế tắc ngoại giao chưa từng có trong lịch sử chính trị nhân loại. Đây là cuộc xung đột vô cùng phức tạp với các mâu thuẫn về tôn giáo, văn hóa, chính trị, biên giới, lãnh thổ, khiến cho nhiều nguyên thủ, chính khách, nhà ngoại giao kỳ cựu phải hao tâm tổn sức, nhưng tất cả vẫn như "đổ sông, đổ biển" khi giao tranh, xung đột trên vùng đất Trung Đông này luôn có thể bùng phát bất kỳ lúc nào.
Và thực sự đã đến
đỉnh điểm bùng phát khi rạng sáng ngày 7/10, Lữ đoàn cảm tử al-Qassam thuộc
Phong trào Hồi giáo Hamas ở Dải Gaza bất ngờ phát động một cuộc tấn công táo
bạo với quy mô lớn chưa từng có vào sâu khu vực do Israel kiểm soát ở phía Nam,
đồng thời triển khai hàng trăm tay súng tấn công hàng chục điểm định cư giáp
ranh Dải Gaza.
Quân đội Israel đã đáp
trả bằng hàng chục đợt không kích liên tiếp vào các mục tiêu ở Dải Gaza, cắt
toàn bộ nguồn cung điện cho vùng đất này và triển khai chiến dịch "Gươm
sắt" nhắm vào các mục tiêu của lực lượng Hamas tại Palestine. Chính phủ
Israel cũng đã ban bố tình trạng khẩn cấp trên toàn quốc và chính thức xác nhận
đất nước đang trong tình trạng chiến tranh.
Vậy nguồn gốc
nào dẫn đến cuộc chiến tranh đẫm máu ngày càng leo thang khốc liệt hơn, sau đây
là một số nội dung tham khảo cho vấn đề đặt ra ở trên:
Nguồn gốc sâu xa của
cuộc xung đột Israel - Palestine bắt nguồn từ mâu thuẫn chồng chất và dai dẳng
từ xa xưa trong lịch sử liên quan tới tranh chấp lãnh thổ, khác biệt về tôn
giáo, sắc tộc, văn hóa…
Từ 5.000 năm trước, tổ
tiên người Do Thái và người Ả Rập đều định cư ở vùng đất Trung Đông huyền bí.
Trải qua những biến thiên của lịch sử, có lúc người Do Thái chiến thắng và xây
dựng Vương quốc Do Thái phát triển phồn thịnh, nhưng cũng không ít lần họ bị
mất đất, bị xua đuổi, phải tha hương khắp nơi. Tuy nhiên, bằng nhiều cách, đặc
biệt là mua lại đất của người địa phương, người Do Thái luôn tìm cách quay trở
về Vương quốc Do Thái của mình.
Gần 2.000 năm trước,
sau khi chiếm Vương quốc Do Thái, Đế quốc La Mã đã đổi tên thành xứ Palestine
và người Ả Rập sống ở đây được gọi là người Palestine. Sau khi Đế quốc La Mã bị
đánh bại, Palestine trở thành một phần của các Đế chế Ả Rập suốt từ thế kỷ thứ
7.
Trong giai đoạn năm
1517-1917, Đế chế Ottoman kiểm soát phần lớn khu vực này. Sau khi Đế quốc
Ottoman thất bại trong Thế chiến I (1914-1918), Hội Quốc Liên (tiền thân của
Liên hợp quốc) đã quyết định hơn 90% lãnh thổ Palestine được trao cho các quốc
gia Ả Rập và Anh, Pháp là quốc gia ủy trị. Trong đó, Anh kiểm soát vùng lãnh
thổ Palestine với phần lớn là người Ả Rập, người Do Thái chiếm thiểu số, nhưng
không có xung đột giữa họ.
Tuy nhiên, căng thẳng
giữa người Do Thái và người Ả Rập gia tăng khi Anh được giao nhiệm vụ thiết lập
"quê hương" cho người Do Thái tại Palestine. Theo kế hoạch của Anh,
người Do Thái bắt đầu tới Palestine định cư từ năm 1917. Từ năm 1919 đến năm
1926, Phong trào bài Do Thái ở châu Âu diễn ra mạnh mẽ khiến khoảng 90.000
người Do Thái di cư đến Palestine.
Nhằm chạy khỏi nạn
diệt chủng của Đức quốc xã, người Do Thái tiếp tục chạy về Palestine và đến
cuối những năm 1930, người Do Thái ở vùng đất này đã tăng lên 400.000 (bằng 1/3
số người Ả Rập ). Đến năm 1940, số lượng người Do Thái và người Ả Rập gần bằng
nhau, khiến mâu thuẫn giữa hai cộng đồng Do Thái và Ả Rập thêm gay gắt, cùng
với đó là sự phản đối quyền cai trị của Anh ở vùng đất này cũng gia tăng.
Từ năm 1923, quyền ủy
trị của người Anh đối với Palestine chấm dứt. Năm 1947, Liên hợp quốc thông qua
Nghị quyết 181, chia tách xứ Palestine thành hai nhà nước, một cho người Ả Rập
Palestine (chiếm 43,5% diện tích lãnh thổ) một cho người Do Thái (chiếm 56,5%
diện tích). Người Do Thái tán thành, tuy nhiên, người Ả Rập không chấp nhận và
từ chối đàm phán. Kể từ đây, ngọn lửa xung đột giữa các bên chính thức được
châm ngòi với cuộc chiến phản đối quốc gia mới Israel, tranh chấp Bờ Tây, Dải
Gaza và giành quyền kiểm soát Jerusalem.
Ngày 14/5/1948, ngay
sau khi Anh rút khỏi Palestine, người đứng đầu Cơ quan Do Thái là David Ben
Gurion tuyên bố thành lập Nhà nước Israel với thủ đô là Jerusalem. Một ngày
sau, ngày 15/5/1948, chiến tranh Trung Đông lần thứ nhất nổ ra giữa liên minh
các nước Ả Rập (gồm Ai Cập, Syria, Jordan và Iraq) và Israel. Khoảng 750.000
người Palestine phải tháo chạy hoặc bị buộc phải rời bỏ nhà cửa trong
"Ngày thảm họa" (al-Nakba) và định cư trong các trại tị nạn gần biên
giới Israel.
Cho đến nay, tình
trạng của những người tị nạn này vẫn là điểm khó giải quyết trong quan hệ Ả Rập
- Israel. Trong cuộc chiến này, Israel không những không suy yếu mà còn kiểm
soát thêm nhiều vùng đất ở Palestine. Trong khi đó, Jordan kiểm soát khu vực Bờ
Tây, Ai Cập kiểm soát khu vực Gaza; thành phố Jerusalem bị chia đôi giữa lực
lượng Israel ở phía tây và lực lượng Jordan ở phía đông.
Trong vài thập niên
tiếp theo, hai bên tiếp tục đổ lỗi cho nhau và các cuộc xung đột, chiến tranh
vẫn tiếp tục diễn ra. Trong cuộc Chiến tranh 6 ngày năm 1967 hay còn gọi là
cuộc chiến tranh Trung Đông lần thứ 3, Israel chiếm Đông Jerusalem và Bờ Tây,
đồng thời chiếm gần hết cao nguyên Golan của Syria, Gaza và bán đảo Sinai của
Ai Cập.
Ước tính, trong cuộc
chiến ngắn ngủi này, có khoảng từ 280.000 đến 325.000 người Ả Rập Palestine đã
phải chạy trốn hoặc bị trục xuất khỏi Bờ Tây và hơn 100.000 người phải rời bỏ
Cao nguyên Golan do chiến tranh và đến cư trú tại các nước láng giềng như
Jordan, Syria và Li Băng. Họ và con cháu họ chưa bao giờ được chính quyền
Israel cho phép trở về nhà vì cho rằng sẽ đe dọa sự tồn tại của Nhà nước Do
Thái.
Trong khi đó,
Jerusalem - nơi có đền thờ Al-Aqsa của người Hồi giáo và cũng là khu thánh địa
tôn kính nhất của người Do Thái, gọi là Núi Đền - có thể được coi là một nút
thắt trong cuộc xung đột Israel - Palestine khi cả hai bên đều muốn coi đây là thủ
đô của đất nước mình. Với tính biểu tượng cao của Jerusalem, Nghị quyết 181 của Liên hợp
quốc đã đưa ra Quy chế đặc biệt cho thành phố này, coi đây là "thực thể
chia cắt giữa hai bên" do Liên hợp quốc quản lý.
Qua hơn nửa thế kỷ
xung đột, người Do Thái và Ả Rập đã và đang sống xen kẽ nhau trên vùng đất
Palestine. Hàng trăm khu định cư Do Thái nhỏ nằm xen kẽ với các làng mạc hoặc
gần thành phố Ả Rập giáp ranh giới lập ra sau cuộc chiến 1967. Do vậy, không
thể vạch ra biên giới rõ ràng nào giữa người Do Thái và Ả Rập và những mâu
thuẫn sâu sắc giữa hai bên khiến các nỗ lực nhằm tìm giải pháp toàn diện và bền
vững cho cuộc xung đột Israel - Palestine tới nay chưa đạt kết quả.
Hiệp định hòa bình
Oslo năm 1993 dẫn đến việc Israel rút khỏi Dải Gaza và một phần Bờ Tây cũng như
chính quyền Palestine được thành lập năm 1994 do ông Arafat lãnh đạo. Năm 1995,
Hiệp ước Oslo thứ hai được ký kết nhưng tiến trình hòa bình vẫn không có hồi
kết do Israel tiếp tục xây dựng các khu định cư Do Thái tại Bờ Tây và Dải Gaza,
còn Hamas vẫn tiếp tục tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào các mục tiêu của
Israel.
Có thể thấy, các cuộc
đàm phán hòa bình diễn ra trong nhiều thập niên giữa Israel và Palestine vẫn
rơi vào vô vọng khi mâu thuẫn cơ bản vẫn chưa được giải quyết và các giao
tranh, xung đột vẫn thường xuyên diễn ra ở vùng đất này cho đến nay./.
Theo Reuters,
Jstor, USA Today, Cfr
COI TRỌNG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ, DỰ BÁO ĐÚNG TÌNH HÌNH, ĐẢM BẢO GIỮ VỮNG THẾ CHỦ ĐỘNG TRONG MỌI TÌNH HUỐNG
Đây là bài học rất quan trọng, làm cơ sở để Đảng, Nhà nước hoạch định các chủ trương, chính sách đổi mới đất nước, trong đó có lĩnh vực quân sự, quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Thực tế đã chứng minh, nhờ thực hiện tốt công tác này, chúng ta luôn chủ động và có kế hoạch, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, ngay từ thời bình, bảo đảm “trong ấm, ngoài êm”, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phát huy bài học này, thời gian tới, các cơ quan, đơn vị toàn quân cần phối hợp chặt chẽ với các lực lượng có liên quan, chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình để tham mưu, đề xuất kịp thời cho Đảng và Nhà nước, không để bị động, bất ngờ trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.
Cùng với nghiên cứu, đánh giá, dự báo những vấn đề tác động trực tiếp, gián tiếp đến quốc phòng, an ninh của đất nước, chúng ta cần chủ động nghiên cứu, nắm vững chiến lược, sách lược của đối tượng, đối tác và chiều hướng phát triển của nó, cũng như các nhân tố có thể dẫn tới những đột biến, bất lợi để xử lý khéo léo, linh hoạt, kịp thời. Đặc biệt, chú trọng nghiên cứu, dự báo những vấn đề chiến lược mang tính tổng thể, dài hạn về quân sự, quốc phòng, bảo đảm luôn ở thế chủ động trong mọi tình huống.
