Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023

Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về dân chủ tư sản

 


Theo chủ nghĩa Mác, dân chủ tư sản là một sự phát triển về chất, đó là bước phát triển nhảy vọt so với nền chuyên chế, độc tài của chế độ phong kiến, quân chủ. Bình đẳng, bình quyền, tự do cá nhân là nội dung nổi bật của dân chủ tư sản (những yếu tố chưa hề có trong chế độ phong kiến). Giai cấp tư sản không những hình thành và hoàn chỉnh một nền dân chủ tư sản, mà còn xây dựng một hệ thống chính trị cùng với một hệ thống thiết chế nhà nước nhằm bảo đảm sự thống trị của giai cấp tư sản. Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ tư sản là xác lập nhà nước pháp quyền (nguyên tắc hoạt động: tam quyền phân lập) và xã hội công dân (công dân có các quyền cơ bản và quyền bầu ra nhà nước) dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu. So với chế độ quân chủ phong kiến, dân chủ tư sản ra đời là một bước tiến lớn của nhân loại (C.Mác). Tuy nhiên, để bảo vệ quyền thống trị về chính trị, kinh tế, giai cấp tư sản đã thẳng tay sử dụng chuyên chính đàn áp các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. V.I.Lênin cho rằng, ngay trong giai đoạn phát triển nhất của nền cộng hòa dân chủ tư sản thì chế độ dân chủ ấy vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi[1].Tuy nhiên, hiện nay, để tồn tại, giai cấp tư sản buộc phải có nhiều điều chỉnh, trong đó có việc mở rộng quyền dân chủ cho nhân dân. Nhưng điều đó không có nghĩa là dân chủ tư sản đã biến thành dân chủ “nhân dân”. Với những giới hạn không thể vượt qua, nền dân chủ tư sản vẫn là dân chủ dành cho thiểu số những người có của.



1. Xem V. Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.33, tr. 106-107-

Nền dân chủ tư sản


Lịch sử loài người đã trải qua hình thái kinh tế - xã hội phong kiến song “nền dân chủ phong kiến” đã không tồn tại. Với cách tổ chức quyền lực của nhà nước, giai cấp phong kiến đã thủ tiêu những tiến bộ của nền dân chủ chủ nô trước đó, thiết lập nhà nước quân chủ của giai cấp mình. Trước sự hà khắc của chế độ chuyên chế (quân chủ) phong kiến, nhân dân (đông đảo là nông dân) đã đấu tranh phản kháng buộc giai cấp quý tộc phong kiến phải thực thi một số yêu cầu dân chủ. Ở phương Tây, vào thế kỷ XIV-XVI, các trào lưu tiến bộ của giai cấp tư sản mới xuất hiện đã nêu cao yêu cầu tự do, dân chủ (nhất là trong lĩnh vực văn hóa, khoa học) mở đường cho sự ra đòi của chế độ tư bản chủ nghĩa. Sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản gắn liền với sự hình thành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quá trình khẳng định dân chủ tư sản đồng thời cũng là quá trình phủ định nền quân chủ, diễn ra từ thấp tới cao trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ hẹp đến rộng, nhằm xóa bỏ từng yếu tố phản dân chủ của chế độ phong kiến, đi tới phủ định nền quân chủ (mặc dù chưa triệt để). Quá trình khẳng định và phủ định này không phải tự động, tự nhiên mà là quá trình đấu tranh giai cấp quyết liệt của giai cấp tư sản và những đồng minh của nó nhằm xóa bỏ phương thức sản xuất phong kiến, lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến. Nền dân chủ tư sản được hình thành tương đối đầy đủ trong quá trình đấu tranh CMTS - một nấc thang quan trọng của tiến bộ lịch sử. 

Nền dân chủ chủ nô

 


Trong chế độ cộng sản nguyên thủy đã xuất hiện hình thức manh nha của dân chủ mà Ph.Ăngghen gọi là “dân chủ nguyên thủy” hay còn gọi là “dân chủ quân sự”. Đặc trưng cơ bản của hình thức dân chủ này là nhân dân bầu ra thủ lĩnh quân sự thông qua “Đại hội nhân dân”. Trong Đại hội này, nhân dân có quyền lực thật sự (có dân chủ), mặc dù trình độ sản xuất còn kém phát triển. Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu và sau đó là giai cấp đã làm cho hình thức “dân chủ nguyên thủy” tan rã, nền dân chủ chủ nô ra đời. Nền dân chủ chủ nô được tổ chức thành nhà nước, nhà nước dân chủ chủ nô (nhà nước Athen). Đặc trưng của nền dân chủ chủ nô là dân tham gia bầu ra Nhà nước. Tuy nhiên, giai cấp chủ nô quy định: “Dân” chỉ gồm giai cấp chủ nô và phần nào thuộc về các công dân tự do (tăng lữ, thương gia và một số trí thức). Đa số còn lại không phải là “dân” mà là “nô lệ” - họ không được tham gia vào việc bầu ra nhà nước. Như vậy về thực chất, nhà nước dân chủ chủ nô cũng chỉ thực hiện dân chủ cho thiểu số, quyền lực của dân đã bị giai cấp chủ nô chiếm đoạt.

Các hình thức dân chủ sơ khai

 


Mọi nền văn minh, nền dân chủ tồn tại trong các cộng đồng dân cư như bộ lạc, thị tộc, công xã, lãng xã…từ thời thượng cổ, ở nhiều nới tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay trong đó người đứng đầu cộng đồng sẽ do cộng đồng bầu chọn. Đó là hình thức tổ chức sơ khai nhất của con người trước khi nhà nước xuất hiện. Nghĩa của từ “Dân chủ” đã thay đổi nhiều lần từ thời Hy Lạp cổ đến nay vì từ thế kỷ thứ XVIII đã có nhiều chính phủ tự xưng là “dân chủ”. Trong cách sử dụng ngày nay, từ “dân chủ” chỉ đến một chính phủ được dân lựa chọn, không cần biết một cách trực tiếp hay gián tiếp. Quyền đi bầu khi xưa bắt đầu từ những nhóm nhỏ (như những người giàu có thuộc một nhóm dân tộc nào đó) qua thời gian đã được mở rộng trong nhiều bộ luật, nhưng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi liên quan đến các lãnh thổ, khu vực bị tranh chấp có nhiều người nhập cư, và các quốc gia không công nhận các nhóm sắc tộc nào đó.

 

 

Quy mô dân số ở Việt Nam

 


 Quy mô dân số ở Việt Nam đã tăng liên tục từ khoảng hơn 30 triệu lên 96 triệu từ năm 1960 – 2019. Hiện nay dân số Việt nam là gần 96.208.984 người (Nam: 47.881016; Nữ: 48.327.932, Đứng thứ 3 khu vực sau Inđônễia, PhiLípphin, đứng thứ 15 thế giới. Mật độ dân số là 290 người/km2, tăng 31người/km2 so với năm 2009 (Philippin 363người/km2; Xinh ga po 8.292 người/km2 (việt Nam đứng thức 3 khu vực đông nam á). Đồng bằng sông Hồng: 1.060 người/km2; Đông Nam Bộ:757 người/km2; Trung Du và Miền núi Băc Bộ: 132 người/km2; Tây Nguyên 107 người/km2. Tốc độ tăng quy mô dân số ở nước ta có xu hướng chậm dần do mức sinh giảm liên tục trong giai đoạn 1960-2005. Số con trung bình của một phụ nữ giảm từ khoảng 7 con/1960, xuống còn 2.1 con (mức sinh thay thế) vào năm 2005. Tổng hộ dân cư 26.870.079 tăng 4,4 triệu hộ so với năm 2009. Bình quân mỗi hộ có 3,6 người thấp hớn 0,2 người/hộ so với năm 2009. Tỷ lệ tăng bình quân số hộ dân là 1,8%/năm, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với gia đoạn 1999-2009 (là giai đoạn có số hộ dân cư thấp nhất trong vòng 40 năm qua)

Quan niệm về mức sinh thay thế

Mức sinh thay thế là mức sinh mà một đoàn hệ phụ nữ trung bình có vừa đủ số con gái để “thay thế” họ trong quá  trình tái sinh sản dân số; tương ứng với tổng tỷ xuất sinh TFR)/ trên số con trung bình là 2,10 con/phụ nữ

Quá độ dân số ở Việt Nam bắt đầu vào từ khoảng cuối những năm 1950 và kéo dài cho đến năn 2005. Từ năm 2005 đến nay, mức sinh biến động không đáng kể và dao động quoanh mức sinh thay thế

Lý thuyết về quá độ dân số

 

 Bản chất của quá độ dân số là khi các xã hội chuyển từ thời kỳ có cả mức sinh và mức chết đều cao sang thời kỳ mức sinh và mức chết đều thấp

 Ở hầu hết các nước đang phát triển trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đã thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình nhằm thúc đẩy giảm mức sinh nhanh hơn, bởi vì mức sinh tương đối cao trong thời kỳ đó đã cản trở nghiêm trọng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội ở các quốc gia này. Hàn Quốc và Sinh ga po là những quốc gia đã sớm thực hiện thành công chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (đạt mức sinh thay thế trong những năm đầu của thập niên 1980. Đây là một yếu tố quan trọng góp phần đưa hai nước này trở thành những con Rồng (kinh tế) của Châu Á từ những năm 1980 

Quá độ dân số trong quá trình hiện đại hóa


 Hiện đại hóa là thời kỳ quá độ các xã hội nông nghiệp chuyển đổi lên các xã hội công nghiệp.

+ Trong xã hội nông nghiệp truyền thống, khi năng xuất lao động thấp và trình độ khoa học chưa phát triển cả mức sinh và mức chết đều rất cao. Con người sống hầu như lệ thuộc vào tự nhiên, phương thức sản xuất, canh tác lạc hậu, lối sống du canh, du cư, nghèo đói và mức sống thấp, dịch bệnh nhiều khi y học chư phát triển nên tỷ lệ tử vong cao. Khi xã hội bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước hết làm mức chết giảm, trong khi đó, mức sinh vẫn ở mức cao, nên đã dẫn tới bủng nổ dân số, làm tăng nhanh quy mô dân số

Mức chết giảm là do:

>Xã hội bước vào quá trình CNH-HĐH năng xuất lao động trong sản xuất nông nghiệp được nâng cao nhờ áp dụng KHKT; sản lượng lương thực tăng lên đã cơ bản đẩy lùi các nạn đói và cải thiện chế độ dinh dưỡng, góp phần  giảm tỷ lệ tử vong

>Với các thành tựu y học (thuốc kháng sinh, vắc xin tiêm chủng) giảm nmạnh tỷ lệ tử vong của các nhóm dân số đặc biệt là trẻ em

+ Cách mạng công nghiệp

 Giai đoạn tiếp theo của hiện đại hóa: Sau khi mức chết đã giảm mạnh, mức sinh cũng có xu hướng giảm theo tương tự.

Nguyên nhân: (giảm con số trung bình trên 1 bà mẹ:

>Phổ cập giáo dục là bắt buộc trong xã hội hiện đại

> Đi học làm tăng độ tuổi kết hôn của thế hệ cha mẹ

> Con cái đi học làm tăng chi phí tài chính của cha mẹ, không hỗ trợ cha mẹ tăng thu nhập

> Việc sinh nhiều con không có lợi về mặt kinh tế

> Các yếu tố xã hội khác: di dân, mong muốn và khẳ năng tìm kiếm việc làm ổn định dẫn đến tuổi kết hôn, tuổi sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh đều tăng lên, dó đó có tác động làm mức sinh giảm mạnh 

Quan niệm về phát triển bền vững:

 


Phát ytieenr bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Ví dụ : Vi mô sa Hà Tĩnh….

Trên thực tế, dân số ổn định thì phát triển kinh tế- xã hội bền vững, đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho cộng đồng. Dân số và phát triển tác động qua lại chặt chẽ, biện chứng với nhau. Bước tiến của lĩnh vực này thúc đẩy, tạo thuận lợi cho lĩnh vực kia và ngược lại. Dân số có tác động qua lại đến kinh tế, giáo dục, xã hội, môi trường, y tế và ngược lại sự phát triển bền vững của các yếu tố đó sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng dân số. Dân số và phát triển có liên quan chặt chẽ tới tang trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bền vững về môi trường. Những biến đổi về quy mô, cơ cấu và phân bố dân số chính là sự thay đổi những chiều cạnh về dân số- kinh tế, dân số - xã hội và dân số- môi trường liên quan đến các mục tiêu phát triển bền vững.

Quan niệm về dân số

 


 Dân số: Là những người cùng cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định gọi là dân cư của vùng đó

+Lãnh thổ ở đây có thể là xã, huyện, tỉnh, cả nước, một châu lục hay toàn bộ trái đất

+ Dân cư của một vùng lãnh thổ có thể được xem xét trên nhiều góc độ: như số dân, cơ cấu, phân bố, sức khỏe, lịch sử, kinh tế, ngôn ngữ, thời trang, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo…

Quy mô dân số (số dân): Là số người sống trên một vùng lãnh thổ tại thời điểm nhất định. Quy mô dân số được xác định thông qua tổng điều tra dân số hoặc thống kê dân số thường xuyên. Ví dụ: Quy mô dân số Việt Nam  từ 0 giời ngày 01/4/ 2019 là 96.208.984 người.

Cơ cấu dân số: Là tổng số dân được phân chia theo giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân…(chuyên đề: nghiên cứu biến động dân số theo tuổi, giới tính)

Phân bố dân số: Là sự phân chia tổng số dân theo địa bàn hành chính, khu vực địa lý, khu vực kinh tế. Ví dụ Dân số ở Việt Nam sống ở khu vực Đồng bằng chiếm khoảng 75% dân số; các vùng miền núi, trung du chỉ chiếm 25% dân số

- Phát triển: là quá trình một xã hội đạt đến mức thỏa mãn các nhu cầu mà xã hội coi là thiết yếu như: dinh dưỡng, giáo dục, sức khỏe, vệ sinh, cung cấp nước sạch và nhà ở…Ví dụ: Vắc xin tiêm phòng COVID-19

Nếu coi phát triển là đối lập với nghèo khổ thì phát triển được coi là quá trình giảm dần, đi đến loại bỏ nạn đói ăn, bệnh tật, mù chữ, tình trạng mất vệ sinh, thất nghiệp và mất bình đẳng

Dân chủ theo quan niệm chủ nghĩa xã hội khoa học

 


 V.I.Lênin quan niệm: “Dân chủ là sự thống trị của đa số”1. Do vậy, dân chủ được nhìn nhận như là một hình thức, một hình thái nhà nước, trong đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân. Mức độ, phạm vi tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước phản ánh trinh độ phát triển của nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ. Dân chủ là sản phẩm của lịch sử, là thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho văn minh tiến bộ của loài người qua các giai đoạn lịch sử. Mỗi giai đoạn lịch sử đều đã ghi dấu mốc quan trọng trên bước đường phát triển dân chủ và thể hiện sự đấu tranh không khoan nhượng với những yếu tố phi dân chủ (sự độc tài, chuyên chế, phát xít...), thậm chí trong cuộc đấu tranh giành dân chủ, nhân loại đã phải trả giá đắt bằng cả máu, xương của mình.

Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng...) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc (quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí hành động, bầu cử tự do và công bằng...) để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

Dân chủ là một phạm trù lịch sử

 


Với tư cách là một chế độ xã hội, dân chủ là một phạm trù lịch sử vì nó có sự ra đời, tồn tại và phát triển trong một giai đoạn nhất định và sẽ mất đi khi trong xã hội không còn giai cấp. Tính lịch sử của dân chủ với nghĩa là một chế độ xã hội còn thể hiện qua quá trinh hình thành, phát triển, vận động từ chỗ chưa có dân chủ đến có dân chủ, đến tồn tại, phát triển và tiêu vong. Chủ nghĩa Mác- Lênin nêu rõ quá trình phát triển của dân chủ là “từ chuyên chế đến dân chủ tư sản; từ dân chủ tư sản đến dân chủ vô sản; từ dân chủ vô sản đến không còn dân chủ nữa”2.

Do vậy, hình thức của nền dân chủ là đa dạng vì chính thể của mỗi quốc gia không chỉ chịu sự chi phối của thể chế chính trị mà còn chịu sự kiềm chế của các điều kiện thực tế của các chính thể khác nhau3. Không có mô hình dân chủ và chế độ chính trị chung cho mọi quốc gia, dân tộc.Từ những tính chất nêu trên, khi xem xét bản chất dân chủ, chế độ dân chủ không chỉ căn cứ vào tính giai cấp mà còn phải đứng trên quan điểm lịch sử và phải có thái độ biện chứng, khoa học đối với những thành tựu dân chủ với tính cách là những giá trị mà loài người đã đạt được trong tiến trình lịch sử. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhắc nhở giai cấp công nhân, các đảng cộng sản không nên nhấn mạnh tính giai cấp, tính chính trị mà xem nhẹ tính lịch sử, giá trị nhân văn của dân chủ (hoặc ngược lại); đồng thời, phải đứng trên quan điểm biện chứng để xem xét quá trình phát triển của dân chủ với tư cách là một chế độ... Có như vậy, mới tránh được sự mơ hồ, duy ý chí, nóng vội, thậm chí là sai lầm và đổ vỡ chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Dân chủ mang tính giai cấp sâu sắc

 


Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định, trong quá trình phát triển của xã hội loài người, khi xã hội phân chia thành giai cấp và nhà nước xuất hiện, quyền tự do của mỗi cá nhân đều mang tính giai cấp, phản ánh lợi ích giai cấp (trước hết là giai cấp cầm quyền). Lịch sử đã chứng minh rằng, trong xã hội có giai cấp, cuộc đấu tranh giành dân chủ bao giờ cũng biểu hiện tính giai cấp rõ rệt, đại biểu cho lợi ích giai cấp, là công cụ và thủ đoạn của giai cấp thống trị. Những giá trị dân chủ có tính nhân loại chính là kết quả cuộc đấu tranh giai cấp của những lực lượng xã hội tiến bộ, những giai cấp tiên tiến, giữ vai trò trung tâm của thời đại. Do vậy, dân chủ mang tỉnh giai cấp sâu săc. Không có dân chủ trừu tượng, phi giai cấp, ngoài giai cấp. Bản chât của dân chủ được thể hiện ở tính giai cấp của nó. V.I.Lênin đã chi rõ: Không có “dân chủ nói chung”, “dân chủ phi giai cấp”. Tính chất giai cấp của phạm trù dân chủ là tiêu chí để phân biệt bản chất khác nhau của các nền dân chủ (dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản - dân chủ xã hội chủ nghĩa). Theo V.I.Lênin, mỗi chế độ và nhà nước dân chủ đều do một giai cấp thống trị chi phối các lĩnh vực của đời sống xã hội, do đó, tính giai cấp thống trị cũng chi phối tính dân tộc và tính chất của chế độ chính trị, kinh tế, văn hỏa, xã hội... ở mỗi dân tộc cụ thể. Năm 1919, V.I.Lênin viết: "... Quan điểm dân chủ thuần túy hình thức chính là quan điểm của ngưòi dân chủ tư sản, là kẻ không thừa nhận rằng lợi ích của giai cấp vô sản và của cuộc đấu tranh giai cấp của vô sản cao hơn” . Do vậy, V.I.Lênin đã nhắc nhở những người cộng sản rằng, khi xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, không được quên trả lời câu hỏi có tính chất nguyên tắc: dân chủ cho ai và vì cái gì; tự do đối với ai, vì ai và vì cái gì.

Dân chủ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội

 


Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: Dân chủ không phải là sản phẩm của tự nhiên, cũng không phải là bẩm sinh, càng không phải là tặng phẩm của giới siêu nhân nào đó, mà là kết quả của quá trình đấu tranh trong trường kỳ lịch sử của nhân loại vì sự tiến bộ, văn minh. Do đó, đứng trên quan điểm phát triển biện chứng xem xét thì dân chủ là một giả trị nhân văn, mang tính nhân loại. Mỗi bước tiến của dân chủ phản ánh bước tiến về quyền con người. Dân chủ phát triền càng cao, quyền con người càng được khẳng định; tự do, bình đẳng trong xã hội càng cao. Do vậy, với tính chất là một giá trị nhân văn (giá trị văn hóa) của nhân loại, dân chủ ngày càng trở thành tiêu chí, thước đo của sự tiến bộ xã hội, trình độ văn minh của loài người.

Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ

 


V.I.Lênin quan niệm: “Dân chủ là sự thống trị của đa số”1. Do vậy, dân chủ được nhìn nhận như là một hình thức, một hình thái nhà nước, trong đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân. Mức độ, phạm vi tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước phản ánh trinh độ phát triển của nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ. Dân chủ là sản phẩm của lịch sử, là thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho văn minh tiến bộ của loài người qua các giai đoạn lịch sử. Mỗi giai đoạn lịch sử đều đã ghi dấu mốc quan trọng trên bước đường phát triển dân chủ và thể hiện sự đấu tranh không khoan nhượng với những yếu tố phi dân chủ (sự độc tài, chuyên chế, phát xít...), thậm chí trong cuộc đấu tranh giành dân chủ, nhân loại đã phải trả giá đắt bằng cả máu, xương của mình.

Dân chủ từ khi có nhà nước

 


 Dân chủ được gọi là “hình thức nhà nước cuối cùng” và đã lan rộng trên khắp toàn cầu. Dân chủ còn có một định nghĩa khác trong lý thuyết hiến pháp, đặc biệt là khi nghiên cứu về công việc của những “Khai quốc công thần Hoa Kỳ”. Trong cách dùng này, thì chữ “dân chủ” để riêng  chỉ đến “dân chủ trực tiếp”, trong khi “dân chủ đại biểu” trong đó dân chúng bầu người thay mặt cai trị theo một hiến pháp thì lại dùng “chữ cộng hòa” (republic). Theo cách dùng hiện thời thì chữ “công hòa” dùng để chỉ bất cứ một quốc gia nào có một người quốc trưởng được bầu lên làm việc một thời gian có hạn, khác với hầu hết các chính phủ quân chủ cha truyền con nối hiện thời đều là các chính phủ dân biểu và hiến pháp quân chủ nhưng cai trị theo chế độ nghị viện được bầu một cách dân chủ. Các danh từ cổ này vẫn còn chút thông dụng trong các cuộc tranh biện giữa phe bảo thủ và Đảng Libertarian tại Hoa Kỳ, tam quyền phân lập được xem là đặc tính hỗ trợ cho dân chủ, nhưng ở các quốc gia khác như Vương quốc Anh, triết lý tri phối lại là chủ quyền tối cao của Nghị viện (mặc dù trên thực tế vẫn duy trì sự độc lập của tòa án). Trong các trường hợp “dân chủ” được dùng với nghĩa dân chủ trực tieép. Mặc dù thuật ngữ dân chủ thường được dùng trong bối cảnh chính trị của quốc gia, những nguyên lý này cũng áp dụng cho các tổ chức cá nhan và các nhóm khác.

Dân chủ trong chính trị học


Trong Chính trị học, dân chủ dùng để mô tả cho một số ít hình thức nhà nước và cũng là một loại triết học chính trị. Mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất về dân chủ, có hai nguyên tắc mà bất kỳ một định nghĩa dân chủ nào cũng đưa vào. Nguyên tắc thứ nhất là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng và thứ hai, tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi. Một số người định nghĩa dân chủ là một “chế độ của đa số với một số quyền cho thiểu số”. Chủ quyền nhân dân là một triết lý phổ biến nhưng không phải lúc nào cùng là động lực để hình thành một nền dân chủ. Tại một số quốc gia, dân chủ dựa trên nguyên tắc triết học về quyền bình đẳng. Nhiều người sử dụng thuật ngữ “dân chủ” như một cách nói tắt của dân chủ tự do, còn bao gồm thêm một số yếu tố như đa nguyên chính trị, sự bình đẳng trước pháp luật, quyền kiến nghị các viên chức được bầu nếu cảm thấy bất bình, quyền tự do ngôn luận, thủ tục tố tụng, quyền tự do cônmg dân, quỳen con người và những yếu tố của xã hội dân sự độc lập với nhà nước. 

Dân chủ ở các nước Đông Nam Á


Tại các nước Đông Á, chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo, tuy nhà Vua nắm quyền tối cao nhưng mọi vấn đề quan trọng của quốc gia đều phải được nhà Vua đem ra bàn luận với bá quan văn võ. Sau quá trònh thảo luận, nhà Vua sẽ là người ra quyết định dựa trên ý kiến của các quan. Đó là cơ chế làm việc tương tự như với các nghị viện trong nền dân chủ hiẹn đại chỉ khác nhau ở chỗ nhà Vua có quyền quyết định tối hậu còn nghị viện ban hành luật pháp dựa trên quan điểm số đông. Ngoài ra còn có ngự sử đài có chức năng hặc tấu tất cả mọi việc nhằm can gián những việc không đúng hoặc chưa tốt của Vua và quan lại. Đây cũng là một định chế là tăng tính dân chủ của bộ máy nhà nước quân chủ Đông Á 

Nguồn gốc của dân chủ


Dân chủ có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên tại Athena, Hy Lạp trong thế kỷ thứ IV trước công nguyên với cụm từ Dimokratina(trợ giúp thông tin) “quyền lực của nhân dân” được gép từ chữ (demos) “nhân dân” và (kratos) “quyền lực” vào khoảng giữa thế kỷ thứ V đến thứ IV trước công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành Bang Hy Lạp, nổi bật nhất là Athen sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào năm 508 TCN. Tương truyền, hình thức nhà nước này được quốc vương Theseus- vị Vua khai quốc của thành Bang atthen- áp dụng lần đầu tiên trng thời kỳ thượng cổ, chính phủ đó được xem như là hệ thống dân chủ đầu tiên. Tại đó, người dân bầu cho mọi việc. Nhiều người xem hệ thống tại Atthen chỉ diễn tả một phần của nền dân chủ vì chỉ có một thiểu số được bầu cử, trong khi nữ giới và dân nô lệ không được phép bầu. Các nền văn hóa khác cũng đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển của dân chủ như Đông Á, Ấn Độ cổ đại, La Mã cổ đại, Châu Âu và nam Bắc Mỹ 

Quan niệm về dân chủ theo nghĩa gốc

 


Thuật ngữ dân chủ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ V đến thế kỷ IV tr.CN tại Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, dân chủ được viết là Demoskratos, trong đó Dẻmos nghĩa là nhân dân và kratos nghĩa là quyền lực. Theo cách diễn đạt này, dân chù trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu nhân dân cai trị và sau này được các nhà chính trị dịch giản lược là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân. Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”- thể chế dân chủ, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân. Điều đó có nghĩa là: Dân chủ là chính thể nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của nhân dân.

Xem xét các nềp dân chủ trong lịch sử cho thấy, nội dung trên của khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay. Điểm khác biệt cơ bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại và hiện nay là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu về nội hàm của khái niệm nhân dân.

Phòng, chống các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên

Từ khi mới thành lập, Đảng ta đã ý thức sâu sắc về vai trò đặc biệt quan trọng của tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng luôn rất quan tâm đến công tác giáo dục, xây dựng tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống cho cán bộ, đảng viên. 

Chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức

Cùng với tư tưởng chính trị thì đạo đức, lối sống là nền tảng và động lực tinh thần để phát triển xã hội. Đạo đức là gốc của mỗi con người. Nhờ chăm lo làm tốt công tác xây dựng Đảng, nhất là giáo dục đạo đức cách mạng, đa số cán bộ, đảng viên có quan điểm, lập trường tư tưởng vững vàng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, động viên, khích lệ nhân dân vượt qua khó khăn, thách thức, đưa công cuộc đổi mới ở nước ta đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII.

Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII).

Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang diễn ra sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dẫn đến tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu nhân dân, trái với chuẩn mực đạo đức của người cộng sản “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, làm cho nhân dân bất bình, lo lắng. Như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn...”(1). Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Đảng ta cũng nhấn mạnh: “Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” còn diễn biến phức tạp”(2). Có thể nói, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là rất đa dạng, muôn màu, muôn vẻ. Tuy nhiên, biểu hiện tập trung nhất, cao nhất và nguy hiểm nhất của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là tham nhũng chính trị, lệch lạc tư tưởng, băng hoại đạo đức và hủ bại về lối sống. Đây là những kẻ thù rất nguy hiểm của Đảng, cần phải loại bỏ.

Để đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thời gian qua các cấp ủy, tổ chức đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp, đạt nhiều kết quả quan trọng, cụ thể là:

Thứ nhất, thường xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng văn hóa Đảng, coi xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Từng bước phát huy tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Tiếp tục khẳng định một trong những quan điểm chỉ đạo của Đảng là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh một cách toàn diện, trong đó có tăng cường và nâng cao hiệu quả xây dựng Đảng về đạo đức;  tích cực nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Thứ hai, coi trọng nêu gương trong cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Nhiều tấm gương, điển hình về học và làm theo Bác trên tất cả các lĩnh vực đã góp phần quan trọng không chỉ trong xây dựng Đảng mà còn thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Thực hành nêu gương trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, nếp văn hóa, đề cao ý thức, trách nhiệm, tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Việc đề cao trách nhiệm nêu gương góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên, củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng.

Thứ ba, tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, tích cực nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Có thể thấy, giáo dục đạo đức cách mạng là một trong những công cụ hữu ích, góp phần hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cần thiết cho mỗi cán bộ, đảng viên. 

Thứ tư, thực hiện tốt phương châm “xây và chống”, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực. Trong đó, đã tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Kịp thời cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng lan toả trong Đảng và ngoài xã hội. Động viên cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nhân cách, phẩm giá, duy trì lối sống trong sạch, lành mạnh, văn minh, nâng cao “sức đề kháng” trước những cám dỗ bởi vật chất, tiền bạc, danh vọng, tránh sa vào chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng, tham nhũng….

Rõ ràng, xây dựng Đảng ta về đạo đức, lối sống trong giai đoạn hiện nay thực sự là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, hoàn thành những trọng trách của mình trước nhân dân và dân tộc. 

Đảng bộ Vietcombank nâng cao đạo đức cách mạng

Nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn nâng cao đạo đức cách mạng, các cấp ủy, tổ chức đảng của Vietcombank trong thời gian qua đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho toàn thể cán bộ, đảng viên Vietcombank, bồi đắp niềm tin, khát vọng cống hiến của người cán bộ. Đổi mới và thực hiện xuyên suốt ở cả ba khâu “nêu gương”, “thực hiện” và “kiểm tra giám sát” trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, coi đây là hoạt động then chốt, tạo nền móng quan trọng cho sự phát triển bền vững của Đảng bộ Vietcombank. Chú trọng công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Vietcombank, phát động các phong trào thi đua tìm hiểu về truyền thống văn hóa lịch sử nhằm tạo sức lan tỏa, bồi đắp niềm tin và lòng tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên và người lao động.

Chương trình Gala Hội thi Văn hóa Vietcombank dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chương trình Gala Hội thi Văn hóa Vietcombank dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là, đổi mới hình thức và nội dung tuyên truyền học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trên cơ sở tận dụng những thành tựu của khoa học -công nghệ. Chú trọng quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ tư tưởng của Đảng; tổng hợp và tuyên truyền sâu rộng các bài học kinh nghiệm rút ra từ việc xử lý hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, suy thoái đạo đức phát sinh trong Ngành để cảnh báo, răn đe các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chỉ đạo các chi bộ trực thuộc theo dõi, nắm bắt kịp thời tư tưởng của cán bộ, đảng viên trước tác động của nền kinh tế thị trường và thời đại cách mạng công nghệ 4.0 để có biện pháp xử lý kịp thời. 

Ba là, đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhất là sinh hoạt theo chuyên đề, bảo đảm thiết thực, hiệu quả gắn với nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc sinh hoạt đảng, lựa chọn nội dung sinh hoạt chuyên đề phù hợp với đặc thù đơn vị; nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy trong công tác giáo dục, quản lý đảng viên.

Bốn là, thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm nêu gương với phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, đưa nêu gương trở thành một phương thức lãnh đạo chủ yếu để người đứng đầu cấp ủy, lãnh đạo các cơ quan đơn vị trong Vietcombank khẳng định vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, lôi cuốn cán bộ, đảng viên, người lao động trong toàn hệ thống.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát gắn với đánh giá, nhận xét cán bộ, đảng viên hằng năm. Chú trọng kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, trước hết là người đứng đầu cấp ủy và đơn vị. Tăng cường vai trò giám sát của cấp ủy đảng trong tổ chức thực hiện các chương trình hành động, nhiệm vụ được giao, đảm bảo thực hiện triệt để, hiệu quả.

Thực hiện tốt những giải pháp cơ bản trên sẽ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên của Vietcombank giữ gìn phẩm chất cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, góp phần xây dựng Đảng bộ Vietcombank ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
------------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016, tr.185.
(2) Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

Nâng cao nghiệp vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong khối Các cơ quan Trung ương

Sáng 8-12, Đảng ủy Khối Các cơ quan Trung ương tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch năm 2023. Đồng chí Nguyễn Văn Thể, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối Các cơ quan Trung ương dự Hội nghị.

Các đại biểu dự Hội nghị.

Các đại biểu dự Hội nghị.

Cùng dự có các đồng chí Thường trực Đảng ủy Khối, thành viên Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối và các đảng bộ trực thuộc…

Hội nghị nhằm tiếp tục bồi dưỡng nghiệp vụ, bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng công tác trong thực hành đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch cho thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thư ký Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối và lãnh đạo cấp ủy, đội ngũ cán bộ tuyên giáo các cấp, đáp ứng yêu cầu tình hình thực tiễn hiện nay. 

Tại Hội nghị, các đại biểu nghe chuyên đề “Tăng cường công tác đấu tranh, ngăn chặn, xử lý thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch, uốn nắn nhận thức lệch lạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường công tác chính trị tư tưởng từ giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII đến đầu nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng”, do Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Quảng Bạ, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an, Chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Công an nhân dân trình bày. Tiến sĩ Vũ Trọng Hà, Vụ trưởng, Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương thông tin chuyên đề: “Quán triệt, triển khai thực hiện Hướng dẫn số 99-HD/BTGTW ngày 20-3-2023 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện Quy định số 85-QĐ/TW, ngày 7-10-2022 của Ban Bí thư về việc cán bộ, đảng viên thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên in-tơ-net, mạng xã hội”.

Đ/c Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối phát biểu kết luận tại Hội nghị.

Đ/c Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối, Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối phát biểu tại Hội nghị.

Dự báo tình hình trong nước và thế giới, những nguy cơ tác động đến ổn định chính trị, xã hội đất nước thời gian tới, đồng chí Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối, Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối đề nghị các cấp ủy, thành viên Ban Chỉ đạo 35 các cấp chủ động, tích cực tham mưu cấp ủy, ban chỉ đạo 35 tổ chức triển khai thực hiện tốt các nội dung đã tập huấn. Trọng tâm là tăng cường quản lý, giám sát tình hình cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động đăng tải, chia sẻ, tán phát thông tin trên in-tơ-nét, mạng xã hội; tiếp tục phổ biến, quán triệt thực hiện nghiêm túc các quy định, hướng dẫn của Trung ương về việc cán bộ, đảng viên về việc cán bộ, đảng viên thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên in-tơ-nét, mạng xã hội; chủ động phối hợp các cơ quan an ninh, quản lý nhà nước kịp thời gỡ bỏ, ngăn chặn những bài viết, thông tin xấu độc chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ. Các cấp ủy trực thuộc quan tâm chỉ đạo cán bộ, đảng viên tích cực tham gia Cuộc thi Chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2024.

Hình ảnh phiên họp quý IV Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối.

Hình ảnh Hội nghị giao ban quý IV Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối.

Trước đó, Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối đã tổ chức Hội nghị giao ban quý IV và tổng kết hoạt động của Ban Chỉ đạo 35, năm 2023. Theo Ban Chỉ đạo 35, Đảng ủy Khối tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kết quả thực hiện Chỉ thị số 01-CT/ĐUK, ngày 12-7-2021 của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã tạo chuyển biến căn bản, hiệu quả trong lĩnh vực công tác này. Đa số các cấp ủy đã phân công đồng chí bí thư trực tiếp phụ trách công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy viên, bí thư cấp ủy các cấp thường xuyên nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu triển khai thực hiện nhiệm vụ.

Đảng ủy Khối và các đảng ủy trực thuộc đã tăng cường phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong Đảng bộ Khối tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh lan tỏa thông tin tích cực, nhất là tăng cường tin, bài nêu gương người tốt, việc tốt; tuyên truyền, biểu dương các tập thể và cá nhân tiêu biểu, điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chỉ đạo đội ngũ báo cáo viên, cộng tác viên dư luận xã hội các cấp tuyên truyền sâu rộng, đăng tải, chia sẻ thông tin chính thống, tích cực đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động các cơ quan Trung ương và nhân dân, bạn bè quốc tế, nhất là thông tin liên quan đến các sự kiện chính trị quan trọng, vụ việc phức tạp, nhạy cảm dư luận xã hội quan tâm; quyết liệt đấu tranh, phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng.

Các đại biểu chia sẻ những bài học kinh nghiệm, giải pháp thực tế, nhằm phát huy hơn nữa những ưu điểm, khắc phục hạn chế, với phương châm “kiên định - chủ động - kịp thời - sáng tạo - hiệu quả” nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thời gian tới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Thủ tướng Belarus Roman

 chiều 8-12, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Thủ tướng Belarus Roman Golovchenko nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Thủ tướng Cộng hòa Belarus Roman Golovchenko.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Thủ tướng Cộng hòa Belarus Roman Golovchenko.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh Thủ tướng Roman Golovchenko thăm chính thức Việt Nam và chúc mừng Belarus đã đạt được nhiều thành công trong duy trì ổn định chính trị, phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao vị thế trong khu vực.

Tổng Bí thư bày tỏ trân trọng đối với sự giúp đỡ của Chính phủ và nhân dân Belarus qua các thời kỳ; khẳng định điều đáng mừng là thời gian qua, thế giới đã có những thay đổi nhưng hai nước Việt Nam và Belarus vẫn giữ gìn quan hệ truyền thống và phát huy quan hệ hợp tác trong việc đào tạo nhân lực cho Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thông báo với Thủ tướng Roman Golovchenko về những thành tựu to lớn, toàn diện của Việt Nam sau gần 40 năm Đổi mới. Đất nước Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Tổng Bí thư khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam luôn coi trọng phát triển và củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, trong đó có Belarus và với các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc lại sự giúp đỡ của Liên Xô trước đây, trong đó có Belarus và đề nghị Chính phủ Belarus tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc ở Belarus.

Đánh giá cao kết quả tốt đẹp của cuộc hội đàm, hội kiến giữa Thủ tướng Belarus với các nhà lãnh đạo của Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ghi nhận những bước phát triển tích cực trong quan hệ giữa Việt Nam và Belarus; bày tỏ tin tưởng rằng chuyến thăm sẽ tạo xung lực mới thúc đẩy quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Belarus trong thời gian tới.

Đồng thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trao đổi với Thủ tướng Roman Golovchenko một số phương hướng, biện pháp lớn nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước lên tầm cao mới, trao đổi kinh nghiệm, tăng cường hợp tác toàn diện. Đảng Cộng sản Việt Nam sẵn sàng củng cố và đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các chính đảng của Belarus.

Thủ tướng Roman Golovchenko cảm ơn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dành thời gian tiếp Đoàn; nhấn mạnh sự cảm nhận về quan hệ giữa Belarus và Việt Nam, nhắc lại ấn tượng sâu sắc của Chính phủ và nhân dân Belarus đối với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi Tổng Bí thư thăm Belarus trước đây và coi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người bạn lớn của Belarus. Thủ tướng Roman Golovchenko thông báo với Tổng Bí thư về kết quả tốt đẹp của cuộc hội đàm với Thủ tướng Phạm Minh Chính, những cơ hội hợp tác, đầu tư giữa hai nước trong các lĩnh vực.

Thủ tướng Roman Golovchenko bày tỏ vui mừng và chúc mừng những thành tựu to lớn và kết quả quan trọng mà Việt Nam đã đạt được trong những năm qua, nhất là triển khai hiệu quả các trọng tâm, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước.

Thủ tướng Roman Golovchenko tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu, nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục giành được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Thủ tướng Roman Golovchenko khẳng định, Belarus luôn trân trọng quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai nước, coi Việt Nam là đối tác hàng đầu của Belarus tại Đông Nam Á. Thủ tướng Roman Golovchenko nhấn mạnh, Belarus coi trọng hợp tác giữa các chính đảng của Belarus với Đảng Cộng sản Việt Nam, coi đây là kênh quan trọng nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước.

Chia sẻ đánh giá của Tổng Bí thư về những bước phát triển tích cực của quan hệ hai nước trong thời gian qua, Thủ tướng Roman Golovchenko nhất trí với các biện pháp lớn nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước đi vào chiều sâu, trong đó có việc thúc đẩy quan hệ thương mại.

Nhân dịp này, Tổng Bí thư đã tặng Thủ tướng Roman Golovchenko cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện hiện đại, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”…

KHÔNG LÀM NGƠ TRƯỚC BIỂU HIỆN SUY THOÁI "THÍCH ĐƯỢC ĐỀ CAO, CA NGỢI"!

     Cổ kim đông tây từng đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh nọt mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra!

Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa
Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.

Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.

Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.

“Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.

Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay

Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy.

Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa.

Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội. 

Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực

Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.

Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!

Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng.

Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú.

Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị./.
Yêu nước ST!