Thứ Hai, 11 tháng 12, 2023

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Thủ tướng Căm-pu-chia Hun Manet

 Chiều 11-12, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Vương quốc Căm-pu-chia do Thủ tướng, Phó Chủ tịch Đảng Nhân dân Căm-pu-chia (CPP) Hun Manet dẫn đầu đang có chuyến thăm chính thức Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Thủ tướng Vương quốc Căm-pu-chia Samdech Hun Manet.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Thủ tướng Vương quốc Căm-pu-chia Samdech Hun Manet.

Thủ tướng Hun Manet bày tỏ vui mừng sang thăm Việt Nam, cảm ơn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp và dành cho Đoàn những tình cảm thân thiết; trân trọng chuyển lời thăm hỏi của Chủ tịch Đảng Nhân dân Căm-pu-chia Hun Sen và các nhà Lãnh đạo Căm-pu-chia đến Tổng Bí thư. Thủ tướng Hun Manet chúc mừng những thành tựu quan trọng mà Việt Nam đã đạt được, nhất là trong công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan đối ngoại. Thủ tướng Căm-pu-chia tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhân dân Việt Nam tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới, to lớn hơn nữa, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Thủ tướng Hun Manet đánh giá cao về mối quan hệ hai nước Căm-pu-chia - Việt Nam ngày càng được củng cố và phát triển trên tất cả các lĩnh vực, mang lại lợi ích cho nhân dân mỗi nước, góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới. Thủ tướng Hun Manet bày tỏ tự hào về những đóng góp của mình trong việc vun đắp, phát triển mối quan hệ Căm-pu-chia - Việt Nam trên các cương vị ở trong Quân đội và Thanh niên Căm-pu-chia trước đây và cương vị Thủ tướng hiện nay.

Thủ tướng cảm ơn sâu sắc Việt Nam luôn ủng hộ, giúp đỡ Căm-pu-chia trong sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc, cứu nhân dân Căm-pu-chia thoát khỏi chế độ diệt chủng và trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ngày nay. Thủ tướng Hun Manet khẳng định, Căm-pu-chia sẽ cùng với Việt Nam bảo vệ, giữ gìn, vun đắp cho mối quan hệ giữa hai nước tiếp tục phát triển lên tầm cao mới và truyền tiếp cho các thế hệ mai sau.

Thủ tướng Hun Manet thông báo với Tổng Bí thư một số nét chính về tình hình Căm-pu-chia gần đây, trong đó có việc kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân sự của Quốc hội, Chính phủ nhiệm kỳ mới và kết quả Đại hội bất thường Đảng Nhân dân Căm-pu-chia cũng như kết quả của cuộc Hội đàm với Thủ tướng Phạm Minh Chính. Hai bên đã trao đổi sâu rộng về quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực nhất là quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Căm-pu-chia, hợp tác về kinh tế, quốc phòng - an ninh và quan hệ giữa thanh niên hai nước. Thủ tướng Hun Manet khẳng định, Căm-pu-chia tiếp tục thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển và đường lối đối ngoại do Đảng Nhân dân Căm-pu-chia đề ra; nhấn mạnh tiếp tục coi trọng, phát triển và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Căm-pu-chia - Việt Nam.

Thủ tướng Hun Manet khẳng định sẽ phối hợp chặt chẽ với Việt Nam triển khai thực hiện có hiệu quả các hiệp ước, hiệp định, thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Căm-pu-chia, hai nước, tích cực đóng góp vào việc giữ gìn, tăng cường quan hệ đoàn kết giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước cũng như giữa Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Căm-pu-chia và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, ba nước Việt Nam - Căm-pu-chia - Lào.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao chuyến thăm của Thủ tướng Hun Manet có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố và tạo dấu ấn mới trong quan hệ Việt Nam - Căm-pu-chia; chúc mừng đồng chí Hun Manet được bầu làm Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Đảng Nhân dân Căm-pu-chia và những thành tựu to lớn, quan trọng mà Căm-pu-chia đã đạt được trong thời gian qua, đặc biệt là việc tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội khóa VII, Đảng Nhân dân Căm-pu-chia đã giành thắng lợi to lớn, Quốc hội, Chính phủ mới được thành lập, chuyển giao thế hệ lãnh đạo và Đảng Nhân dân Căm-pu-chia tổ chức thành công Đại hội bất thường. Những kết quả đó thể hiện sự ủng hộ của người dân đối với Đảng Nhân dân Căm-pu-chia.

Tổng Bí thư khẳng định Việt Nam luôn ủng hộ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Căm-pu-chia; tin tưởng dưới sự trị vì của Quốc vương, sự lãnh đạo của Thượng viện, Quốc hội, sự điều hành của Chính phủ do đồng chí Hun Manet làm Thủ tướng, nhân dân Căm-pu-chia tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới, to lớn hơn nữa, thực hiện thắng lợi Cương lĩnh Chính trị của Đảng Nhân dân Căm-pu-chia giai đoạn 2023-2028 và Chiến lược ngũ giác của Chính phủ đề ra.

Tổng Bí thư nhấn mạnh truyền thống lịch sử đoàn kết gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Căm-pu-chia, hai nước và quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Căm-pu-chia và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, ba nước Việt Nam - Căm-pu-chia - Lào là tài sản quý giá, nguồn sức mạnh to lớn, quan trọng nhất và Căm-pu-chia, Lào đã giúp đỡ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Tổng Bí thư nhấn mạnh, ba nước Việt Nam - Căm-pu-chia - Lào cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, cùng chung dãy Trường Sơn, uống chung dòng nước sông Mê Công, có chung nguồn gốc từ Đảng Cộng sản Đông Dương đã đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua mọi khó khăn, do vậy trong giai đoạn mới, hai bên cần tiếp tục giữ gìn, vun đắp cho mối quan hệ Việt Nam - Căm-pu-chia ngày càng phát triển.

Tổng Bí thư bày tỏ vui mừng về mối quan hệ hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Căm-pu-chia, hai Nhà nước và nhân dân hai nước ngày càng phát triển sâu rộng, góp phần quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế quốc tế của mỗi nước. Tổng Bí thư chia sẻ những tình cảm gắn bó và những kỷ niệm về đất nước Căm-pu-chia cũng như với các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước Căm-pu-chia.

Tổng Bí thư đề nghị hai bên triển khai hiệu quả nội dung Cuộc gặp giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, Cuộc gặp giữa ba đồng chí đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Căm-pu-chia và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trên các lĩnh vực và Thỏa thuận hợp tác tại Kỳ họp lần thứ 20 Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Căm-pu-chia, trong đó nhấn mạnh hai Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh hợp tác, chia sẻ thông tin kinh nghiệm, tạo đột phá trong hợp tác kinh tế, tăng cường kết nối giữa hai nền kinh tế, củng cố trụ cột về hợp tác quốc phòng - an ninh, phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế và khu vực.

Nhân dịp này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi lời thăm hỏi thân thiết đến Chủ tịch Đảng Nhân dân Căm-pu-chia Hun Sen và các nhà Lãnh đạo Căm-pu-chia.

Tránh xa những kẻ đặt điều!

 

Ông Hậu đang ngồi quan sát cháu đích tôn làm bài tập tiếng Anh thì bà Tươi hớt hải chạy về gọi to: - Duy Anh ơi, cháu đang làm gì đấy?- Cháu nó đang học tiếng Anh chứ còn làm gì nữa? Bà tưởng ông cháu tôi ngồi tán gẫu như bà chắc? - Ông Hậu trả lời với giọng có vẻ trách móc vợ.

Bản sắc không thể mập mờ, lịch sử không thể xuyên tạc

 

Thời gian gần đây, bám vào một số sự kiện văn hóa, văn học nghệ thuật (VHNT) gây ồn ào trên không gian mạng, nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội có tư tưởng thù địch ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nói khác”, “nói ngược”...

VẸN NGUYÊN LỜI THỀ THỨ CHÍN


 

Khi tiếp xúc với nhân dân, làm đúng 3 điều nên:

- Kính trọng dân

- Giúp đỡ dân

- Bảo vệ dân

và 3 điều răn:

- Không lấy của dân

- Không dọa nạt dân

- Không quấy nhiễu dân

để gây lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí. Xin thề!

Từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn luôn xác định "đoàn kết" là giá trị cốt lõi và "đại đoàn kết toàn dân tộc" là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Đó cũng là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và trong hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, là động lực to lớn tạo nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc.

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRƯỚC NHỮNG XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG


Trải qua 93 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách và đạt được những kết quả to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Những thành tựu đó là cơ sở lý luận khoa học để khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thế mà trong bối cảnh hiện tại, các thế lực thù địch phản động luôn tìm mọi thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta, với những phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt. Như vậy, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng phải được tăng cường hơn nữa, với những biện pháp phù hợp trong tình hình mới, và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng cũng cần được tăng cường, nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu đúng bản chất của sự việc, không bị mắc mưu kẻ địch nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước ta.

ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC TUYÊN TRUYỀN BẢO VỆ NỀN TẢNG TỬ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trong đó, đòi hỏi công tác tuyên giáo phải thường xuyên đổi mới, luôn là lực lượng nòng cốt, là vũ khí lý luận sắc bén đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch cơ hội chính trị.

ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM “ĐI THEO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN, VIỆT NAM MỚI GIÀU CÓ VÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA THỜI ĐẠI HIỆN NAY”

               

                      

Ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng luôn bị các thế lực thù địch tìm mọi thủ đoạn chống phá quyết liệt. Đặc biệt sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào, không ít người cho rằng chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung; chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng không bao giờ thực hiện được.Có rất nhiều quan điểm phê phán con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; nhất là vào những thời điểm có tính quyết định về đường hướng phát triển đất nước. Trước, trong và sau Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch tiếp tục đưa ra các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG – CON ĐƯỜNG SINH MỆNH CỦA TOÀN ĐẢNG, VẤN ĐỀ SỐNG CÒN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Đoàn kết, thống nhất trong Đảng giữ vị trí đặc biệt quan trọng, cốt lõi, kim chỉ nam trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Trong suốt quá trình đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đoàn kết, thống nhất trong Đảng ngày càng được quan tâm, chú trọng và phát triển. Đảng luôn xác định, “đoàn kết, thống nhất trong Đảng” là con đường sinh mệnh, là vấn đề sống còn, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

NGOẠI GIAO VĂN HOÁ VIỆT - TRUNG "GÓC NHÌN NGƯỜI TRONG CUỘC"!

     Khi công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh, một nhà ngoại giao quyết đưa phim Việt Nam sang chiếu trên truyền hình Trung Quốc.

Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân sẽ thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 12-13/12, PV Tiền Phong có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Vinh Quang, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, về quan hệ giữa hai nước.

Ông Quang cho rằng ngoại giao nhân dân có vai trò rất quan trọng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quan hệ hữu nghị Việt - Trung. Quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia phải được xây dựng trên cơ sở tình hữu nghị thực sự của nhân dân hai nước. Tình hữu nghị đó được xây dựng trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau.

Ông Quang có thời gian công tác chính thức tại Trung Quốc là 9 năm. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1991, ông được cử sang Trung Quốc vào đầu năm 1992, làm Bí thư thứ nhất của Đại sứ quán Việt Nam trong 4 năm, sau đó ông về nước làm Vụ trưởng Vụ Trung Quốc của Ban Đối ngoại Trung ương Đảng. Năm 2007, ông được cử sang Trung Quốc làm Công sứ, tức Phó Đại sứ, trong 5 năm. Với vai trò Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, ông sang Trung Quốc hằng năm.

Ông Quang rất nỗ lực quảng bá văn hóa Việt sang ở Trung Quốc. Tết Tân Mão 2011, ông lên sóng truyền hình trực tiếp kể về chuyện Việt Nam không có năm con thỏ, mà chỉ có năm con mèo. Nhiều người Trung Quốc nghĩ rằng 12 con giáp của Việt Nam cũng giống của Trung Quốc. Trong chương trình đó, ông Quang kể rằng mỗi đứa trẻ ở Việt Nam đều lớn lên với lời ru của bà, của mẹ: “Con mèo mà trèo cây cau/Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà...”. “Những động vật gần gũi ở Việt Nam phải kể đến con chó, con mèo, con gà, con trâu. Văn hóa Việt Nam cũng phản ánh điều đó, nên 12 con giáp phải có con mèo chứ không phải con thỏ”, ông nhớ lại chuyện đã nói khi đó.

Cũng trong chương trình, ông nói về chuyện trong đêm Giao thừa, người Việt Nam thường ra đường hái lộc non về cắm trong nhà, còn Trung Quốc không có tục này. Chữ “lộc” nghĩa là bổng lộc trong tiếng Hán, nhưng trong tiếng Việt còn có nghĩa là “chồi non”. Người Việt đánh đồng chồi với lộc, nên hái được chồi non cũng là hái được lộc cho cả năm may mắn; điều này thể hiện sự sáng tạo trong văn hóa Việt Nam. Cũng trong dịp Tết, người Việt Nam và người Trung Quốc đều có tục tiễn ông Công ông Táo về Trời. Có điểm khác là người Trung Quốc cúng gạo nếp để ông Công ông Táo lên Trời báo cáo với Ngọc hoàng cho dẻo miệng.

Đưa phim Việt lên truyền hình Trung Quốc
Là người mê âm nhạc từ bé, ông Quang rất coi trọng vai trò của âm nhạc. Ông cho biết đã kỳ công thực hiện chương trình “Du lịch Việt Nam bằng con đường âm nhạc”, để giới thiệu âm nhạc đặc trưng của Việt Nam với người Trung Quốc.

Khi thấy nhiều phim Trung Quốc được chiếu ở Việt Nam mà chưa có phim Việt Nam nào được chiếu ở Trung Quốc, ông Quang quyết đưa bằng được một bộ phim Việt sang nước bạn. Năm 1995, khi phim “Cỏ lau” của Việt Nam đạt giải Ngọn đuốc vàng Liên hoan phim Bình Nhưỡng, Triều Tiên, ông đã gọi điện về Bộ Văn hóa đề nghị để phim đó lại Bắc Kinh. Cuối cùng, nguyện vọng đưa phim Việt lên sóng truyền hình Trung Quốc đã thành công.

Theo ông Quang, nền văn hóa Việt Nam và Trung Quốc có sự tương đồng, tạo cơ sở để nhân dân giao lưu và hiểu nhau hơn; trong văn hóa Việt Nam có nhiều đạo lý mà người Trung Quốc cũng hiểu được và ngược lại. Những điều đó tạo thành giao thoa văn hóa./.

Yêu nước ST.

KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VÀ UY TÍN NGÀY CÀNG CAO CỦA VIỆT NAM!

     Điều này được thể hiện trong việc Việt Nam lần thứ hai được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch liên Chính phủ Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (Công ước 2003) của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), đại diện cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương!

Việc này diễn ra hôm 8/12 (giờ địa phương), tại TP Kasane, Cộng hòa Boswana, trong khuôn khổ Kỳ họp lần thứ 18 Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003. Nhiệm kỳ đầu tiên của Việt Nam từ năm 2006-2010.

Việc Việt Nam thêm một lần nữa được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch tại một trong những cơ quan chuyên môn then chốt của UNESCO đã khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế, cho thấy sự ủng hộ, tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với khả năng đóng góp và năng lực điều hành của chúng ta tại UNESCO, cũng như ghi nhận đóng góp tích cực của Việt Nam trong lĩnh vực hợp tác văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, góp phần vào thúc đẩy vai trò của văn hóa, di sản cho sự phát triển bền vững, bao trùm và tự cường ở tầm quốc gia, khu vực và toàn cầu.

Đây cũng chính là một minh chứng nữa về việc triển khai thành công đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế toàn diện của Việt Nam như tinh thần Nghị quyết lần thứ XIII của Đảng, Chỉ thị 25-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030.

Với tư cách là Phó Chủ tịch Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003, Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc hoàn thiện, triển khai các mục tiêu và ưu tiên của Công ước 2003, nâng tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể như động lực cho phát triển bền vững, đa dạng văn hóa, sáng tạo và đối thoại giữa các nền văn hóa, gắn kết xã hội, tăng cường sự tham gia của cộng đồng, phụ nữ và giới trẻ.

Trong năm 2023, Việt Nam đã ghi nhận nhiều thành công trong hợp tác với Tổ chức UNESCO, tiêu biểu như Việt Nam được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch Đại hội đồng UNESCO và vào Ủy ban Di sản Thế giới; Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà được ghi danh là di sản thiên nhiên thế giới; TP Đà Lạt, Hội An tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo; Danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được UNESCO ra “Nghị quyết vinh danh”, ngày 21/11/2023, cùng kỷ niệm 300 năm ngày sinh…
Yêu nước ST.

Bị mất lợi thế về nhân công giá rẻ và chảy máu chất xám trong phát triển công nghiệp số

 Các công nghệ thông minh và tự động hóa cao thay thế được nhân lực phổ thông trong nhiều lĩnh vực. Các hãng công nghệ lớn trên thế giới (như Microsoft) cũng đã bắt đầu có hoạt động sa thải nhân công và thay thế bằng ứng dụng AI.

DN Việt Nam mất lợi thế về nhân lực giá rẻ, trong khi nhân lực chất lượng cao còn chưa được hình thành. Sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài cũng dẫn đến nguy cơ bị thu hút mất lao động chất lượng cao của Việt Nam vào tay các đối tác công nghệ nước ngoài, đặc biệt là nhân lực tài năng cần thiết cho các hoạt động triển khai CMCN 4.0. Đối với nhân lực mà sản phẩm lao động là tri thức, do phạm vi làm việc toàn cầu nhờ môi trường kết nối mạng, các biện pháp quản lý và thúc đẩy truyền thống thông qua sự hiện diện không còn hiệu quả.

Phụ thuộc về tài nguyên dữ liệu, công nghệ khai thác dữ liệu trong phát triển công nghiệp số

Dữ liệu là tài nguyên quan trọng nhất trong nền kinh tế số, trên đó các hoạt động sản xuất, thương mại được tập trung triển khai. Hiện dữ liệu tại các bộ ngành ở Việt Nam chưa được chia sẻ và mở theo đúng nghĩa mặc dù chúng ta đã có Luật Tiếp cận thông tin (Luật số 104/2016/QH13), Nghị định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của các CQNN (Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020). Tài nguyên dữ liệu dùng chung của quốc gia chưa được hình thành, chuẩn hóa và chia sẻ. DN tư nhân chưa được tiếp cận dữ liệu của Chính phủ để phát triển các sản phẩm, dịch vụ. Việc thiếu tư liệu sản xuất đặc biệt là dữ liệu đã làm cho các DN công nghệ số gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất, bởi vì các công nghệ tiên tiến như AI, phân tích dữ liệu lớn, ĐMST,… đều dựa trên khai thác dữ liệu.

Bên cạnh đó, việc dựa vào công nghệ lõi của nước ngoài, sự tụt hậu của Việt Nam về công nghệ khai thác dữ liệu không dễ có thể thu hẹp. Các nền tảng thuộc các quốc gia lớn (Facebook, Tik tok…), mô hình kinh doanh mới, dịch vụ dựa trên công nghệ số xuyên biên giới đang xâm nhập và gia tăng hoạt động tại thị trường Việt Nam. Dữ liệu kinh tế - xã hội và đời sống của Việt Nam đang bị các DN nước ngoài khai thác để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các DN công nghệ số nội địa. Điều này dẫn đến các rủi ro lớn về an ninh quốc gia, an toàn thông tin, ảnh hưởng đến sự cạnh tranh dựa trên sáng tạo và hầu như bỏ ngỏ lĩnh vực kinh doanh dựa trên dữ liệu của DN trong nước.

Nguy cơ bị thâu tóm khi phụ thuộc về đầu tư nước ngoài trong phát triển công nghiệp số

Hơn 90% DN công nghệ số tại Việt Nam vẫn là DN vừa và nhỏ, tiềm lực đầu tư cho nghiên cứu phát triển các sản phẩm, giải pháp, nền tảng công nghệ số mới còn hạn chế.

Với tiềm lực tài chính không lớn (chưa có nhiều DN có giá trị lớn - thường được tính ở mức 01 tỷ USD), các DN công nghệ Việt Nam có nguy cơ bị lũng đoạn, chi phối bởi các nguồn đầu tư không bền vững, dễ bị tác động bởi yếu tố chính trị. Việc mua bán, sáp nhập là một phần của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, khi bị phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài sẽ dẫn đến trường hợp DN Việt Nam rơi vào hoàn cảnh thua thiệt khi bị thâu tóm, tác động đến sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp công nghệ Việt Nam.

Mất cân đối do phụ thuộc vào thị trường quốc tế trong phát triển công nghiệp công nghệ số

Hiện nay đầu ra của ngành công nghiệp công nghệ số vẫn còn phụ thuộc vào thị trường nước ngoài. Sản phẩm phần cứng, phần mềm, nội dung số, chủ yếu cho xuất khẩu. Nhưng các DN công nghệ số chưa thực sự chú trọng chiến lược phát triển chất lượng, thương hiệu sản phẩm. Đặc biệt, các vấn đề rủi ro toàn cầu (như dịch bệnh, chiến tranh thương mại) dẫn đến sự suy thoái kinh tế, phá vỡ các chuỗi sản xuất có DN công nghệ số Việt Nam tham gia, thu hẹp các thị trường xuất khẩu truyền thống, ảnh hưởng đến nguồn cung tư liệu sản xuất của DN công nghệ số Việt Nam.

Những vấn đề có tính chất rủi ro toàn cầu không phải là vấn đề chỉ riêng đối với Việt Nam nhưng nếu Việt Nam không tự chủ trong sản xuất, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố bất ổn sẽ trở nên trầm trọng hơn. Hoạt động xuất khẩu bị đình trệ, hoạt động sản xuất bị ảnh hưởng. Trong khi đó do năng lực công nghệ, DN thiếu khả năng khai thác các cơ hội kinh doanh mới xuất hiện trong bối cảnh bất ổn này. Những vấn đề phát sinh về thị trường đầu ra dẫn đến sự cần thiết phải cân đối giữa thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Thị trường nội địa cần được khai thác để đảm bảo sự ổn định trong các tình huống có sự biến động trên thị trường quốc tế như hiện nay.

Sự cạnh tranh từ các DN công nghệ số trong khu vực ASEAN đối với phát triển công nghiệp số

Trong thời gian tới, sự cạnh tranh của các DN công nghệ từ các nước trong khu vực láng giềng là một nguy cơ đối với DN công nghệ của Việt Nam. Cạnh tranh của các DN từ các nước ASEAN không chỉ bằng nhân công giá rẻ (Myanmar) mà còn bằng sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhà nước trong một hệ sinh thái năng động cho phát triển DN công nghệ (Singapore) hoặc sự bảo hộ thị trường của một số quốc gia.

Ngoài ra, trên thị trường quốc tế, các quốc gia lớn cũng có các chính sách hỗ trợ, bảo vệ DN công nghệ trong bối cảnh chiến tranh thương mại như Mỹ, Trung Quốc. Trung Quốc đã tăng cường hỗ trợ về kinh phí cho các DN công nghệ nhằm giảm sự phụ thuộc vào công nghệ lõi nước ngoài, đặt mục tiêu biến Trung Quốc trở thành công xưởng công nghệ toàn cầu.

Để có thể đối mặt với cạnh tranh của DN công nghệ nước ngoài có sự hỗ trợ của chính phủ quốc gia đó, các DN công nghệ số Việt Nam ngoài việc chủ động giải quyết những hạn chế còn tồn đọng như: giá trị gia tăng của sản phẩm, giải pháp, dịch vụ công nghệ số của các DN vẫn còn ở mức thấp; thiếu năng lực sáng tạo, thiết kế và công nghệ cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ khai thác dữ liệu, AI, các dịch vụ tư vấn cao cấp, dịch vụ tư vấn CĐS,….; năng lực ĐMST, nghiên cứu - phát triển làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ số mới còn ở mức hạn chế…

Các DN công nghệ cũng rất cần sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ để có được điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Do đó, nhà nước cần nhanh chóng xây dựng và ban hành chính sách, tạo hành lang pháp lý nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng hỗ trợ cho các DN công nghệ Việt Nam phát triển.

Dân số Việt Nam là dân số trẻ sẵn sàng chấp nhận công nghệ mới

 Một yếu tố thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới năng động của Việt Nam là dân số trẻ và có trình độ. Tính đến năm 2021, dân số trung bình của Việt Nam là 98,51 triệu người tăng 0,95% so với năm 2020. Chất lượng dân số được cải thiện, mức sinh giảm, tỉ lệ tử vong vẫn duy trì ở mức thấp, tuổi thọ trung bình ngày càng tăng [7]. Tuổi thọ trung bình đến năm 2020 ước đạt khoảng 73,7 tuổi, tăng so với năm 2015 (73,3 tuổi).

Theo UNFPA, Việt Nam đang hưởng thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” và sẽ kết thúc vào năm 2040, nhóm dân số trong độ tuổi từ 15-24 tuổi chiếm đa số đến tới 70% tổng dân số [9]. Năm 2019, Việt Nam có 55,77 triệu người đang trong độ tuổi lao động [10]. Tỉ lệ lao động qua đào tạo được cải thiện, ước đạt 64,5% năm 2020, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 24,5 .

Dân số ở trong độ tuổi lao động đang gấp đôi số người ở trong độ tuổi phụ thuộc, cung cấp một nhóm lớn các tài năng công nghệ cao, chi phí thấp. Đây chính là cơ hội tiềm năng to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có ngành công nghiệp công nghệ số.

Cơ hội hợp tác công nghệ cho DN Việt Nam trong cạnh tranh thương mại giữa các cường quốc:

  Chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có bản chất công nghệ, quyền lực. Do đó, việc bảo vệ thị trường cho các doanh nghiệp công nghệ số không chỉ còn là vấn đề thương mại mà là lợi ích chiến lược, điều này dẫn đến khả năng các công ty đa quốc gia hợp tác công nghệ lõi để lôi kéo đồng minh. Vì vậy, cạnh tranh thương mại giữa các cường quốc tạo cơ hội hợp tác công nghệ cho DN công nghệ số Việt Nam.

Hiện đang có xu thế hình thành sự dịch chuyển hoạt động sản xuất sản phẩm công nghệ từ một số nước không được tin cậy, có tình trạng bất ổn, sang Việt Nam. Tính đến ngày 20/12/2021, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020, cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư Việt Nam [6]. FDI đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị DN và góp phần đưa Việt Nam tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu. Như vậy, nếu nắm bắt được cơ hội này Việt Nam sẽ tăng được đầu tư của DN FDI công nghệ quốc tế.

Với nhiều DN công nghệ lớn vào Việt Nam, cơ hội hợp tác phát triển của các DN công nghệ Việt Nam cũng sẽ tăng lên. Tuy nhiên, việc gia tăng số lượng DN FDI không thể là câu trả lời hoàn chỉnh cho câu hỏi làm sao DN công nghệ số Việt Nam có thể hấp thụ được công nghệ của các DN FDI. Đây vẫn là câu hỏi ngỏ cho các nhà hoạch định chính sách.

Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng mở ra thị trường cho sản phẩm công nghệ số Việt Nam.

Vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế đang dần được nâng cao. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước, quan hệ đối tác toàn diện với 13 nước, trong đó có tất cả các nước lớn và 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, góp phần định vị vững chắc hơn vị thế của Việt Nam trong mối quan hệ với các nước lớn trong bối cảnh cục diện khu vực, thế giới có nhiều biến đổi.

Việt Nam cũng là một trong các nước tích cực tham gia vào các hoạt động phát triển khối ASEAN, cả về chính trị và kinh tế. Hợp tác của Việt Nam mở rộng với các quốc gia, khối các quốc gia trên thế giới như APEC, CPTPP và gần đây là EVFTA. Việt Nam đã xây dựng khuôn khổ thương mại tự do với gần 60 nền kinh tế (chiếm 59% dân số, 61% GDP và 68% thương mại thế giới) thông qua 16 FTA, bao gồm cả các FTA thế hệ mới, như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) [5]. Vai trò và uy tín quốc tế của Việt Nam giúp các DN Việt Nam tiếp cận nhanh hơn thị trường khu vực và quốc tế.

Đặc sắc của Việt Nam trong thúc đẩy phát triển công nghệ mới

Hệ thống chính trị của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở Đảng cầm quyền, một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, sáng suốt, gắn bó mật thiết và hành động vì lợi ích của nhân dân, từ Trung ương đến cơ sở. Do vậy, khi triển khai một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, cụ thể là phát triển công nghiệp số thì hệ thống truyền thông từ Trung ương đến cơ sở góp phần quan trọng trong nhận thức, tư tưởng và hành động. Đây là một trong những đặc sắc của Việt Nam để phát triển công nghiệp công nghệ số, đưa công nghệ số đến tận ngõ ngách cuộc sống.

Đồng thời, hiện nay để triển khai quá trình CĐS quốc gia, đầu mối về công nghệ số đã bố trí đến tận cấp xã hỗ trợ việc phổ biến, hướng dẫn người dân tiếp cận, sử dụng các nền tảng số phục vụ phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số.

Việt Nam có tiềm năng bùng nổ thị trường ứng dụng công nghệ số nội địa

 

Với gần 100 triệu dân, trong đó dân số trẻ và số người dùng di động thông minh chiếm tỷ lệ cao. Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông quốc gia tiếp tục được xây dựng hiện đại và rộng khắp. Chính phủ đã đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc gắn với ứng dụng công nghệ số trong xây dựng chính phủ điện tử (CPĐT), CĐS quốc gia lấy người dân là trung tâm, tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số, hình thành Chính phủ số, xã hội số. Nguồn nhân lực công nghệ của Việt Nam có kiến thức tốt về công nghệ. Ở Việt Nam, hàng năm có gần 50.000 sinh viên tốt nghiệp ngành CNTT hoặc liên quan đến lĩnh vực CNTT.

Đồng thời, Việt Nam cũng có nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao với thị trường nội địa đủ lớn và đa dạng, có số lượng người tiêu dùng am hiểu công nghệ, kỹ thuật số và quan tâm đến việc thử nghiệm các sản phẩm mới, có tiềm năng thu hút đầu tư vào ứng dụng và phát triển sản phẩm công nghệ số. Việt Nam được đánh giá là môi trường an toàn để các DN đầu tư dài hạn vào công nghệ bởi đây là quốc gia được đánh giá có chế độ chính trị và chính sách kinh tế vĩ mô ổn định, điều này đã tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài, thu hút vốn đầu tư để phát triển DN công nghệ số Việt Nam.

Với quyết tâm định hướng chính sách phát triển công nghệ số, Việt Nam đã tích cực đầu tư vào lĩnh vực công nghệ số dưới nhiều hình thức. Chính phủ đã ban hành các chính sách về cách CMCN 4.0, về phát triển DN công nghệ số, coi công nghệ là nhân tố chính để phát triển kinh tế: Đề án CĐS quốc gia hướng đến một không gian phát triển mới - kinh tế số, xã hội số, CPĐT, mở ra cơ hội to lớn cho Việt Nam phát triển đột phá. Các Đề án kinh tế chia sẻ, Nghị định về hỗ trợ DN vừa và nhỏ, khởi nghiệp sáng tạo đã tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho DN công nghệ khởi nghiệp [3].

Hiện Việt Nam đã có trên 64.000 DN hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số (công nghiệp phần cứng, điện tử; công nghiệp phần mềm; công nghiệp nội dung số; dịch vụ CNTT) [4]. Cộng đồng cũng đã hình thành được một số DN đầu tàu, có chiến lược phát triển phù hợp với CMCN 4.0 như VNPT với Chiến lược VNPT 4.0, Viettel có chiến lược xác định phải đi đầu trong cuộc cách mạng 4.0 với vai trò dẫn dắt và lan tỏa cả về công nghệ, dịch vụ, mô hình kinh doanh, nghiên cứu sản xuất, sản phẩm. Đặc tính của các DN trong lĩnh vực công nghệ cao là khả năng phát triển sản phẩm nhanh. Đặc tính này đã được phát huy trong giai đoạn của đại dịch COVID-19, nhiều sản phẩm công nghệ số như khai báo, theo dõi, đánh giá tụ tập đông người và phạm vi di chuyển, học và làm việc từ xa đã được triển khai trong thời gian ngắn giúp giảm bớt sự lây lan của dịch bệnh, sớm đưa nền kinh tế vào trạng thái hồi phục phát triển. Tuy nhiên, để có thể khai thác được hết tiềm năng của thị trường nội địa, các quy định đối với các công nghệ mới nổi cần sớm được thiết lập để sự sáng tạo của DN công nghệ số trong việc phát triển các giải pháp mới được đưa vào cuộc sống một cách thuận lợi.

Luật thúc đẩy phát triển công nghệ số

Nhằm đáp ứng CMCN 4.0, CĐS và sự phát triển của thực tiễn, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) mới đây đã lấy ý kiến đóng góp về Luật Viễn thông sửa đổi và đề nghị xây dựng Luật công nghiệp công nghệ số (CN-CNS).

Chính sách trong Luật CN-CNS được đề xuất gồm 2 nhóm chính sách: nhóm chính sách 1, gồm: hoạt động CN-CNS, sản phẩm và dịch vụ (SP&DV) công nghệ số; thử nghiệm SP&DV công nghệ số (sandbox), quản lý sản phẩm AI, quản lý SP&DV công nghệ số trọng yếu; nhóm chính sách 2, gồm: bảo đảm phát triển CN-CNS (thị trường; khu CNTT; vốn, đầu tư, ưu đãi CN-CNS; nhân lực); sản phẩm CNS trong nước (Make in Vietnam); dữ liệu số; trung tâm tính toán hiệu năng cao; thâm nhập thị trường nhà nước và kinh doanh xuyên biên giới

Công nghệ số - “mỏ vàng” tiềm năng

Theo kế hoạch phát triển, ngành công nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước.

Tổng doanh thu công nghiệp công nghệ thông tin năm 2020 đạt 123,5 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp công nghệ thông tin 5 năm qua đạt bình quân 15,2%/năm, cao hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP, trở thành một trong những ngành kinh tế tăng trưởng nhanh, quy mô lớn nhất cả nước.

Ngành công nghiệp công nghệ thông tin vẫn còn dư địa phát triển mạnh mẽ nhưng thực tế cơ chế chính sách để thúc đẩy phát triển ngành vẫn là bài toán bỏ ngỏ. Thực tế, Luật Công nghệ thông tin (CNTT), Nghị định số 71/2007/NĐ-CP và các văn bản liên quan đã tạo hành lang pháp lý phát triển ngành công nghiệp công nghệ số (CNS) nhưng đến nay vẫn còn nhiều bất cập, quy định chồng chéo.

Cụ thể, Nghị định số 73/2019/NĐ-CP quy định “phải ưu tiên” đầu tư, mua sắm sản phẩm, dịch vụ CNTT trong nước nhưng chưa có cơ chế mang tính bắt buộc. Vì vậy, nhiều sản phẩm, dịch vụ CNTT trong nước có thể thay thế sản phẩm nhập ngoại với giá thành cạnh tranh, bảo mật cao vẫn chưa được các cơ quan nhà nước lựa chọn.

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023

SỰ RA ĐỜI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - CỘT MỐC ĐÁNH DẤU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

 

Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay được thành lập. Mặc dù chỉ có 34 chiến sĩ với 34 khẩu súng khi mới thành lập nhưng sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
1. Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khuất, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên chống giặc giữ nước theo phương châm “kẻ trước ngã, người sau đứng dậy” nhưng rốt cuộc đều thất bại.
Một câu hỏi lớn đặt ra với những nhà yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX là, làm sao để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc? Có người cho rằng phải tiến hành võ trang bạo động, vì “không lấy máu rửa máu thì không thể cải tạo được xã hội hiện tại”. Có người lại lập luận, nếu dùng võ trang bạo động thì sẽ thất bại, bởi thực dân Pháp có vũ khí tối tân hiện đại, nên trước mắt cần phải dựa vào Pháp để “canh tân” đất nước, sau đó mới giành lại độc lập. Người đại diện cho xu hướng bạo động là cụ Phan Bội Châu. Người đại diện cho xu hướng cải lương là cụ Phan Châu Trinh.
Do hạn chế về lập trường giai cấp, cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh cũng như các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không thể tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nên các cuộc đấu tranh tuy diễn ra rất sôi nổi những đã nhanh chóng bị kẻ thù dập tắt.
2. Xuất phát từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc và trước những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn Việt Nam, ngay từ mới ra đời, Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng tháng 2 - 1930 xác định: Chủ trương làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, để đạt được mục tiêu đó phải dùng bạo lực cách mạng để chống bạo lực phản cách mạng. Tuy nhiên, cái khó đối với Đảng Cộng sản Việt Nam khi đó là vừa mới ra đời Đảng chưa có một đơn vị vũ trang nào làm lực lượng quân sự cho mình. Bởi thế Đảng đã chủ trương tổ chức ra quân đội công - nông, trước hết là các đội tự vệ công - nông, các đội du kích, làm nòng cốt cho toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc.
Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 1930 đến năm 1944, nhiều địa phương trên phạm vi cả nước đã sáng tạo ra nhiều tổ chức vũ trang tuy tên gọi có khác nhau nhưng đều giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh với kẻ thù, bảo vệ các cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân ở các địa phương. Đó là các đội Tự vệ đỏ ở Nghệ An, Hà Tĩnh trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, Đội du kích Bắc Sơn rồi các đội Cứu quốc quân, Quân du kích Nam Kỳ, Đội du kích Pác Bó ở Cao Bằng… Các đội vũ trang nói trên tuy hoạt động rất tích cực và đã có những thành tích đáng kể nhưng đó mới chỉ là các đội du kích của từng địa phương, ảnh hưởng của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân cả nước chưa thật lớn.
3. Khi đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, tuy chỉ có 34 chiến sĩ nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm đã được chọn lựa kỹ càng trong các đội du kích Cao - Bắc - Lạng và trong số những người đi học quân sự ở nước ngoài về, hầu hết đã trải qua chiến đấu và ít nhiều đều có hiểu biết về kỹ thuật và kinh nghiệm quân sự. Là con em của các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù giặc sâu sắc. Không một người nào trong Đội không mang mối hận thù với đế quốc, hoặc nhà cửa bị đốt, của cải bị tịch thu, hoặc cha, anh, chị, em bị bắt, bị bắn, còn bản thân nếu chưa trải qua lao tù thì cũng là những người đang bị truy nã, nợ nước, thù nhà, oán hờn dân tộc, căm thù giai cấp đã xiết chặt họ lại thành một khối rắn chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi.
Đặc biệt, ngay từ khi mới ra đời, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã có ngay một cương lĩnh chính trị, quân sự đúng đắn. Bản cương lĩnh đó chính là Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo. Nội dung bản chỉ thị tuy ngắn gọn nhưng rất súc tích, hàm chứa nhiều vấn đề cơ bản về đường lối quân sự của Đảng, đó là: Vấn đề kháng chiến toàn dân, vấn đề động viên và vũ trang toàn dân, nguyên tắc về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, phương châm xây dựng và hoạt động của các thứ quân (quân chủ lực, quân địa phương và lực lượng tự vệ rộng khắp), phương thức hoạt động kết hợp quân sự với chính trị của lực lượng vũ trang, nguyên tắc chiến thuật, tác chiến, cách đánh của lực lượng vũ trang bí mật, bất ngờ, tích cực, chủ động, mưu trí và linh hoạt… Đánh giá về văn kiện lịch sử này, tác giả người Nhật Singô Sibata cho rằng: “Những nguyên tắc chỉ đạo cho Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do cụ Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam đề ra trước cách mạng 1945 tiêu biểu cho một lý luận độc đáo, phù hợp với những điều kiện riêng của Việt Nam”. Thực tế lịch sử đã chứng minh, Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam.
4. Được dẫn dắt bởi một cương lĩnh hành động đúng đắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng) ngày 24 và 25-12-1944, g.i.ế.t c.h.ế.t hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch trong hai đồn, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.
Sự xuất hiện bất ngờ của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân với hai chiến thắng vang dội Phai Khắt, Nà Ngần, đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau thắng lợi giòn giã của hai trận Phai Khắt, Nà Ngần, thực hiện phương châm “Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến”, các cán bộ, chiến sĩ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nhanh chóng triển khai công tác vũ trang tuyên truyền. Trước hết Đội tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của mặt trận để nhân dân hiểu rằng, đã đến lúc cần phải đứng lên đánh đuổi thực dân, đế quốc và khả năng đánh thắng chúng. Sau đó, Đội bắt tay vào xây dựng tổ chức cơ sở chính trị và lực lượng của địa phương. Đội dựa vào cán bộ địa phương theo cách chọn một số thanh niên trung kiên, tiến hành huấn luyện cấp tốc rồi giao công tác, hoặc cho vào Đội để rèn luyện và bồi dưỡng kinh nghiệm rồi trở về địa phương công tác khi cần thiết. Với những hoạt động tích cực, rộng khắp của Đội “đã tạo nên một khu vực có cơ sở cách mạng rộng lớn từ núi rừng Hoà An giáp tỉnh lỵ Cao Bằng cho đến các châu Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ Rã và vùng phụ cận các triền núi Phia Uắc, Phia Giả, Phia Bióoc; khu vực này trở thành những căn cứ hoàn toàn, tiến có thể lui, đánh có thể giữ, làm bàn đạp phát triển phong trào về phía Nam”.
Như vậy là, sau 14 năm kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với tư tưởng chỉ đạo nhất quán phải sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tích cực chỉ đạo xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh. Nếu các đội Tự vệ đỏ trong phong trào cách mạng 1930-1931, Đội du kích Bắc Sơn, rồi các đội Cứu quốc quân, Quân du kích Nam Kỳ…được coi là những hạt giống quân sự đầu tiên của Đảng, giữ vai trò nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương, thì sự ra đời và hoạt động của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân trong những ngày đầu mới thành lập là bước nhảy vọt về chất trong tiến trình chuẩn bị lực lượng cách mạng của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Từ đây, Đảng ta và cách mạng Việt Nam mới có một đội quân chủ lực vừa làm nhiệm vụ tác chiến, vừa đóng vai trò tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân, dìu dắt các đội vũ trang địa phương thực hành tác chiến, mở rộng khu căn cứ cách mạng, để đến khi thời cơ xuất hiện, chính đội quân chủ lực ấy đã giương cao ngọn cờ khởi nghĩa tiến về xuôi cùng nhân dân cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945./.
Tạp chí tuyên giáo trung ương
Có thể là hình ảnh về 3 người

TẠO SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ NHẬN THỨC, SỰ THỐNG NHẤT, ĐỒNG THUẬN CAO VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM


Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Tác phẩm) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng góp phần tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn xã hội về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay.
TRIỂN KHAI NGHIÊM TÚC, THỰC CHẤT
Triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, tháng 8 vừa qua, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long tổ chức hội thi cấp tỉnh tìm hiểu tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hội thi diễn ra sôi nổi với sự tham gia của 27 thí sinh xuất sắc được các huyện ủy, thị ủy, Thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội cấp tỉnh của tỉnh Vĩnh Long tuyển chọn. Mỗi thí sinh trải qua 3 phần thi, gồm: viết bài cảm nhận toàn bộ Tác phẩm hoặc 1 vấn đề trong Tác phẩm; thuyết trình bài cảm nhận và trả lời câu hỏi xử lý tình huống. Kết quả của Hội thi nhằm khuyến khích việc nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến Tác phẩm trong toàn Đảng bộ tỉnh; đồng thời là dịp đánh giá năng lực, trình độ, kỹ năng nghiên cứu, tổng hợp, thuyết trình của đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp. Từ đó, làm cơ sở để các cấp ủy Đảng xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên nâng cao trình độ, kỹ năng nghiên cứu, tham mưu, tác chiến phù hợp trong tình hình mới.
Cùng với Tỉnh ủy Vĩnh Long, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy, đảng đoàn trực thuộc Trung ương đã chỉ đạo cấp ủy trực thuộc tổ chức nghiêm túc đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng này gắn với sinh hoạt chính trị về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chú trọng liên hệ sâu sắc với thực tiễn cơ quan, đơn vị, nêu cao vai trò, trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân, nhất là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy trong học tập, tuyên truyền triển khai việc thực hiện đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng sâu rộng này. Với nhiều hình thức như sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt định kỳ, hội nghị đảng viên, hội nghị trực tuyến, tọa đàm khoa học, đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng được tổ chức cao điểm, lồng ghép vào dịp kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 77 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Ngày Quốc khánh mùng 2/9; kỷ niệm 105 năm Ngày Cách mạng tháng Mười Nga thành công (7/11); kỷ niệm 78 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12 và gắn với các sự kiện chính trị của địa phương, đơn vị. Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tọa đàm khoa học về giá trị Tác phẩm, góp phần làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thành phố nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Qua đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững lập trường tư tưởng, kiên định, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước, tạo nên sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, ý chí và hành động trong toàn xã hội.
Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) là một trong những đảng bộ đi đầu triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng trong toàn tỉnh. Từ đầu tháng 8/2022, Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên đã chọn 3 chi bộ đại diện cho 3 khối (xã, phường; cơ quan; trường học) gồm: Đảng bộ xã Nam Phúc Thăng; Đảng ủy Khối dân; Đảng bộ THPT Cẩm Xuyên tổ chức điểm. Sau tổ chức điểm, Đảng bộ huyện đánh giá, rút kinh nghiệm tiến đến tổ chức đại trà trong tất cả các chi bộ trực thuộc; phân công các đồng chí cấp ủy cấp trên chỉ đạo địa bàn bào theo dõi, đôn đốc và trực tiếp tham dự sinh hoạt tại đơn vị đó. Ngoài ra, Huyện ủy cũng tổ chức một hội nghị thông tin về nội dung, ý nghĩa của Tác phẩm đến cán bộ chủ chốt trong toàn huyện. Để đợt sinh hoạt đạt hiệu quả, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Cẩm Xuyên xây dựng trang trình bày nội dung Tác phẩm với hình ảnh bắt mắt, đúc rút thông tin cốt lõi và những nội dung thực tiễn tại Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên; gửi về cơ sở trình chiếu trong các buổi sinh hoạt. Đồng thời, hướng dẫn chi tiết cách thức triển khai; gợi mở các nội dung để buổi sinh hoạt được tổ chức đúng trọng tâm, đảm bảo chất lượng.
Tích cực triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung Tác phẩm, các cán bộ, đảng viên trường Chính trị tỉnh Phú Thọ vận dụng nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư vào các chuyên đề bài giảng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị của trường và bổ sung kiến thức lý luận chính trị cho học viên. ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng nhà trường chia sẻ: “Với vai trò, nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị, mỗi cán bộ, giảng viên của nhà trường chính là những người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận lý luận; công tác tư tưởng của Đảng. Vì vậy, chúng tôi cần phải nghiên cứu kỹ, hiểu sâu những vấn đề về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư để vận dụng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đảm bảo tính Đảng, tính chính trị, sự cập nhật, hấp dẫn, lôi cuốn hơn nữa trong mỗi bài giảng lý luận chính trị”.
Tại tỉnh Kon Tum, cấp ủy huyện Tu Mơ Rông chỉ đạo các cơ quan chức năng tích hợp các nội dung trong Tác phẩm vào chương trình giảng dạy tại các cơ sở giáo dục – đào tạo, dạy nghề và bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, giáo viên và học viên. Cấp ủy Huyện Kon Rẫy chỉ đạo Phòng Giáo dục – Đào tạo, Trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Trường Phổ thông dân tộc nội trú, Trung tâm chính trị huyện tích hợp nội dung Tác phẩm vào chương trình giảng dạy tại địa phương, đơn vị và bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, giáo viên trên địa bàn.
Ở ngoài nước, nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Italy, trong khuôn khổ Năm Việt Nam – Italy 2023, ngày 30/6/2023, Đại sứ quán Việt Nam tại Italy đã tổ chức tọa đàm bàn tròn “Giới thiệu lý luận về con đường đi lên CNXH của Việt Nam” nhằm trao đổi học thuật, khoa học để chia sẻ và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Buổi tọa đàm có ý nghĩa quan trọng, bổ ích, giúp tăng cường hiểu biết về Việt Nam và con đường xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam lựa chọn, đóng góp vào việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Italy.
Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư được triển khai nghiêm túc, thực chất, tiến hành thường xuyên với nhiều hình thức sáng tạo, hiệu quả, tiết kiệm, gắn với đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các sự kiện chính trị của đất nước, địa phương, ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị.
KHẲNG ĐỊNH, LAN TỎA GIÁ TRỊ CỦA TÁC PHẨM VỀ SỰ BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO LÝ LUẬN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Trong đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, các cơ quan thông tấn, báo chí, cổng thông tin điện tử ở Trung ương và địa phương đã tuyên truyền sâu rộng về nội dung tác phẩm, đặc biệt chú trọng tuyên truyền trên nền tảng mạng xã hội; từ đó, đã ghi nhận được nhiều đánh giá của các học giả, cán bộ, đảng viên về nội dung tác phẩm. Các hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật, phim tài liệu, phim ngắn đã tập trung làm sáng rõ đề tài về CNXH, thành tựu, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam và giá trị Tác phẩm đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Với các hình thức, thể loại tác phẩm khác nhau, nhưng tựu chung lại, đều làm nổi bật thông điệp: Tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một công trình có tầm khái quát lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc về những phát triển sáng tạo riêng có của Đảng ta về mô hình CNXH Việt Nam, trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; trình bày, phân tích, lý giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình CNXH Việt Nam và nội dung, giải pháp để từng bước xây dựng CNXH ở Việt Nam. Tuy đề cập đến những vấn đề lý luận rộng lớn nhưng cách trình bày của tác phẩm lại dung dị, rõ ràng, chắt lọc, lấy tổng kết thực tiễn để minh chứng hết sức thuyết phục. Do vậy, sau hơn 1 năm triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, tác phẩm đã có sức cảm hóa, lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Song song với đó, giá trị khoa học của nội dung tác phẩm ngày càng được khẳng định và thấm sâu trong đời sống xã hội. Các hoạt động hội thảo, nghiên cứu khoa học về nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư đã góp phần bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Với bài viết “Một số điểm nổi bật trong nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam qua Tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh, Tác phẩm thể hiện tầm cao tư tưởng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tổng kết, luận giải những vấn đề lý luận rất rộng lớn trên các lĩnh vực, đặc biệt là phân tích, hệ thống hóa, đưa ra những quan điểm, tư tưởng, nhận thức mới về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của Đảng, là nguyên lý thành công của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu duy nhất đúng để đạt được tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Tác phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng, truyền cảm hứng, khơi dậy khát vọng lớn lao của toàn dân tộc trong thực tiễn phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.
Từ góc độ người làm công tác nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị và báo chí, truyền thông, PGS. TS. Mai Đức Ngọc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền khẳng định, nội dung cuốn sách đã thực sự mang đến cho chúng ta những bài học có ý nghĩa đặc biệt. Đó là bài học về không ngừng hoàn thiện nhận thức lý luận, bài học về không ngừng bổ sung nhận thức thực tiễn và bài học giáo dục về nhận thức trách nhiệm. Khi gấp cuốn sách lại, hơn bao giờ hết, chúng ta không chỉ cảm thấy khâm phục, tự hào bởi sự đồ sộ của những kiến thức đã được lĩnh hội, mà còn xúc động bởi chính hình ảnh của tác giả đã xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm. Ở đó, ta thấy được tấm gương sáng về người lãnh đạo mẫu mực, sống, làm việc và cống hiến đúng bản chất cán bộ của Cụ Hồ. Thiết nghĩ, cuốn sách thực sự sẽ là cẩm nang chỉ hướng cho những cán bộ, đảng viên, những công dân yêu nước phát huy trí tuệ, năng lực của bản thân một cách có hiệu quả trong mọi lĩnh vực công tác, quyết tâm thực hiện thắng lợi con đường mà Đảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên CNXH.
Thông qua đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng này, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân một lần nữa được thấm nhuần tư tưởng về sự kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự kế thừa và phát triển, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn; khẳng định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại, luôn lấy mục tiêu con người làm trung tâm. Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm đã tiếp thêm niềm tin vững chắc cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên con đường đi lên CNXH. Đây cũng chính là vũ khí lý luận sắc bén để cán bộ, đảng viên và nhân dân tiếp tục đấu tranh, phản bác với những suy diễn vô căn cứ, chống phá, xuyên tạc những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong hơn 35 năm đổi mới đất nước. Từ tổng kết thực tiễn của Việt Nam, Tổng Bí thư đã đóng góp thêm tiếng nói của Việt Nam vào kho tàng lý luận thế giới về CNXH. Điều đó càng khẳng định rằng, sự lựa chọn và kiên định con đường đi lên CNXH là sự lựa chọn, kiên định đúng đắn của lịch sử dân tộc, của nhân dân ta, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm của Tổng Bí thư chính là cơ sở khoa học, luận điểm để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Kết quả bước đầu của đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư cũng chính là tiền đề quan trọng, góp phần tổng kết lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta trong gần 40 năm qua và tổng kết việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Song song với đó,góp phần làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; nâng cao ý thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạng toàn diện. Từ đó, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn xã hội, tạo ra động lực mới “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi những mục tiêu chiến lược mà Đạihội XIII của Đảng đề ra, hiện thực hóa ý chí vươn lên, phát triển Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc./.
Có thể là hình ảnh về văn bản
Tất cả cảm xúc:
17