Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐỊT CÁI HỞ TRONG KÊ KHAI TÀI SẢN!
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 01 NĂM 1960!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: LAN TOẢ NGƯỢC!
Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2024
sính ngoại - nguy hại khôn lường
Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giúp những người làm công tác giáo dục ngày càng có nhiều điều kiện, cơ hội đi nước ngoài giao lưu, học tập, nghiên cứu để tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, làm giàu thêm kho tri thức của bản thân, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy.
Tuy nhiên, do “sức đề kháng” kém nên không ít người đã quay lưng, trở nên tôn sùng, ngợi ca một cách chủ quan những giá trị bề ngoài, hào nhoáng của xã hội, lối sống của nước sở tại, quay lại chê bai đất nước, nhất là ở trên bục giảng, với học trò của mình. Tuy chỉ là số ít nhưng sự nguy hại từ những thầy cô sính ngoại này là rất lớn vì thông qua bài giảng của mình, họ có thể tiêm nhiễm, "đầu độc" tư tưởng sùng ngoại tới hàng trăm, hàng nghìn học sinh, sinh viên...
Sùng ngoại - bài nội
Thầy, cô giáo sính ngoại vì nhiều lý do: Có người do nhận thức chính trị, thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết nên bị lợi dụng, kích động; có người chỉ là vô tình; nhưng cũng có người có tư tưởng phản động, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa... Dù vô tình hay cố ý, những thầy, cô giáo sính ngoại đều chẳng khác nào là trung gian tiếp sức, “nối giáo cho giặc”, giúp các thế lực thù địch, phản động thực hiện những chiến dịch tuyên truyền, chống phá, hủy hoại thế hệ tương lai của nước nhà.
Biểu hiện chung của thầy, cô giáo mắc bệnh sính ngoại là: Muốn khoe khoang, chứng tỏ ta đây học rộng biết nhiều, được đi đây đi đó... nên quá trình giảng bài, họ thường kể về những điều được thấy, được trải nghiệm ở nước ngoài như phát hiện mới về một nền văn minh, “đỉnh cao” của xã hội loài người với giọng điệu đầy tán dương, ca ngợi, thán phục. Nhằm thuyết phục thêm, họ lại chỉ lấy những ví dụ và đề cập đến một số hạn chế, bất cập về tình hình kinh tế-xã hội đất nước bằng giọng chê bai, chế giễu hoặc buông một câu lấp lửng “Việt Nam ta thì...” với thái độ bất mãn, tiêu cực. Nhiều người còn ra sức tuyên truyền, quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây, coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Từ đó từng bước nhồi nhét, cài đặt tư tưởng sùng ngoại, bài nội, dần tác động thay đổi tận gốc nhân cách, tạo ra một tầng lớp trí thức mới đề cao chủ nghĩa tư bản, lối sống phương Tây, lệch lạc về giá trị đạo đức và lối sống, đề cao hưởng thụ, sống thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, thiếu trách nhiệm với cộng đồng.
![]() |
| Ảnh minh họa/ TTXVN |
PGS, TS Hà Huy Phượng, giảng viên cao cấp Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho rằng: “Đây là “căn bệnh” không chỉ của riêng một số ít thầy, cô giáo khi được ra nước ngoài học tập, công tác. Nhiều cán bộ, công chức, viên chức được cơ quan cử đi học tập, công tác nước ngoài cũng dễ “nhiễm bệnh” sính ngoại. Họ dễ bị choáng ngợp với những giá trị công cộng mà nước họ đến đạt được, rồi đem so sánh với đất nước mình và chê bai đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và những thành tựu từ mồ hôi, xương máu của nhân dân. Nguyên nhân lớn nhất để nảy sinh "căn bệnh" sính ngoại lại bắt đầu từ khâu tổ chức các đoàn cán bộ đi công tác. Thường thì có những đoàn cán bộ khi đi nước ngoài chỉ họp đoàn bàn về nội dung chương trình, việc ăn ở, đi lại chứ ít quan tâm quán triệt những vấn đề liên quan đến tư tưởng chính trị, văn hóa... cho các thành viên khi đi ra nước ngoài, nên chuyện phát ngôn chưa chuẩn mực hoặc bị nhiễm “bệnh” sùng ngoại xảy ra là điều dễ hiểu...”.
Chính vì sùng bái, mải mê ca ngợi một chiều các giá trị bề nổi, hào nhoáng của xã hội tư bản nên những thầy cô này chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”; họ không giúp học sinh, sinh viên thấy rõ những điều còn hạn chế của nước ngoài, nhất là ở các nước tư bản như sự bất công trong xã hội, khoảng cách giàu-nghèo...; họ cũng chưa thấy hết những thành quả, thành tựu đổi mới, xây dựng và phát triển của đất nước; vai trò, sự lãnh đạo của Đảng; chưa phân tích rõ những mặt tích cực, tiêu cực và nguyên nhân của nó; chưa nghiên cứu kỹ các chủ trương, giải pháp của Đảng trong khắc phục, giải quyết những vấn đề còn hạn chế, yếu kém... để từ đó giúp học sinh, sinh viên nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm trước những vấn đề thời cuộc và với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Rơi vào tay những người thầy này thì ít hay nhiều, sớm hay muộn học sinh, sinh viên cũng dễ bị gieo rắc, "đầu độc" và có thể hình thành tư tưởng thực dụng, quay lưng với lịch sử, truyền thống dân tộc, chạy theo những cám dỗ vật chất tầm thường. Nguy hiểm hơn nữa là những học sinh, sinh viên bị tiêm nhiễm tư tưởng xấu sẽ lây nhiễm suy nghĩ, cái nhìn lệch lạc tới bạn bè, người thân như vết dầu loang rất khó phòng ngừa. Xin dẫn chứng một vài trường hợp:
Đó là một giáo sư, tiến sĩ từng giảng dạy trong lĩnh vực xây dựng, nhưng khi về hưu, ông này đã viết, tán phát nhiều bài viết trên các trang mạng hải ngoại, cá nhân, núp bóng chiêu bài “phản biện” các chính sách để chống Đảng, phủ nhận những thành quả từ sự lãnh đạo của Đảng, phê phán Chủ nghĩa Mác-Lênin, kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Song, đó chỉ là bề nổi, điều mà nhiều người quan tâm, lo ngại qua trường hợp này là liệu có phải chỉ sau khi nghỉ hưu ông này mới có những tư tưởng, quan điểm lệch lạc này hay nó đã nảy sinh, tích tụ từ bao giờ? Và suốt thời gian đứng trên bục giảng, ông này có “lồng ghép”, truyền bá những suy nghĩ lệch lạch của mình vào các bài giảng hay không?
Một trường hợp nữa là giáo viên âm nhạc ở tỉnh Đắk Lắk vừa bị Tòa án Nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tuyên y án 8 năm tù giam và 4 năm quản chế về tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Được biết đến là thầy giáo dạy nhạc hát hay và có kiến thức tốt về âm nhạc, thế nhưng thay vì vận dụng kiến thức, hiểu biết đã học được để truyền tải những lời hay ý đẹp, kiến thức âm nhạc cho các thế hệ học trò thì ông này lại lợi dụng ngay cả diễn đàn dạy học để xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, đả kích chế độ.
Tu tài phải gắn chặt với dưỡng đức
Hội nhập giáo dục là một phần tất yếu trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước ta. Nó mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít nguy cơ, thách thức. Thực tế là đã có những âm mưu lợi dụng hợp tác quốc tế về giáo dục-đào tạo để hòng tạo ra một lớp người Việt Nam có quan điểm, tư tưởng không phù hợp với những đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Chiêu trò này nhằm vào đối tượng là thanh niên, sinh viên để tiêm nhiễm, kích động tư tưởng chống đối trong giới trẻ thông qua đội ngũ giáo viên, giảng viên thoái hóa về tư tưởng chính trị. Vì vậy, người làm công tác giảng dạy cần thấy được vinh dự lớn của bản thân khi được tổ chức tin tưởng, tín nhiệm cử đi giao lưu, học tập, nghiên cứu ở nước ngoài; lấy đó làm động lực để nỗ lực phấn đấu, trách nhiệm hơn với công việc của mình, của đơn vị mình; ra sức học tập, nghiên cứu, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, làm giàu hơn kho tri thức của bản thân, từ đó phụng sự sự nghiệp giáo dục-đào tạo của đất nước. Chỉ có không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, nhân cách, tiếp thu tri thức thì người thầy mới có cái nhìn toàn diện, sâu sắc; mới phân biệt rõ cái hay, cái dở để từ đó có thái độ ứng xử phù hợp, nhân rộng cái hay, thu hẹp cái dở, giúp học sinh, sinh viên của mình luôn có cái nhìn tiến bộ, tích cực.
Thời nào cũng vậy, thanh niên, học sinh, sinh viên luôn là thành phần tiên phong trong tiếp thu cái mới, hăng hái, nhiệt tình trong hoạt động thực tiễn. Họ cũng là đội ngũ có kiến thức nên càng năng động, nhạy cảm với cái mới, khát khao đổi mới. Thế nhưng họ lại chưa đủ "độ chín" về tư tưởng chính trị, dễ bị cảm xúc lấn át nên thường thiếu sâu sắc khi phân tích, nhận định những vấn đề về chính trị-xã hội, cái tích cực-tiêu cực trong xã hội đa chiều, phức tạp. Vì vậy, nếu không được định hướng kỹ càng, sâu sát, rất có thể họ sẽ phạm sai lầm trong nhận thức và hành động. Do đó, họ rất cần được những người thầy vừa có tâm trong sáng vừa có tầm cao trình độ kiến thức dìu dắt, định hướng để thực sự trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước.
dgcd
Đâu phải chọn bên!
Nghe tiếng chó sủa râm ran ngoài cửa, ông Đậu chân tập tễnh bước ra:- Ô, ông Nam đấy à! Mới sáng sớm, ông tìm tôi có chuyện gì thế?
Chưa kịp mở cửa, ông Nam đã nói vọng vào:
- Ông ơi, chúng ta đều biết chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kết thúc tốt đẹp. Bản tuyên bố chung của hai nước cũng ghi rõ như vậy. Ấy thế mà trên các trang mạng xã hội, không ít kẻ xấu, đối tượng cơ hội vẫn bình luận loạn cả lên...
- Tôi xem thời sự và đọc báo suốt nên hiểu rõ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam rất thành công, mang lại nhiều lợi ích không chỉ cho hai nước mà còn trong khu vực và thế giới. Thế nhưng, cũng chính vì thế mà các thế lực thù địch, phản động càng tức tối, cố tình xuyên tạc để chống phá. Mời ông vào làm miếng nước đã rồi ta nói chuyện, bà nhà tôi vừa pha bình nước vối ngon lắm!
![]() |
Cần bản lĩnh vững vàng trước thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội. Ảnh minh họa: Dangcongsan.vn |
Đón chén nước từ ông bạn già, ông Nam thong thả nói:
- Tôi biết ông hay nghiên cứu, hiểu sâu hơn tôi nên mới sang hỏi ông đấy. Chẳng là, thằng út nhà tôi đọc trên mạng xã hội thấy thông tin “Việt Nam đang ngấm ngầm bắt tay với Trung Quốc, bị lệ thuộc vào Trung Quốc, rồi các nước khác sẽ quay lưng với Việt Nam", ông ạ! Đáng buồn là nó cũng có vẻ tin theo luận điệu suy diễn, xuyên tạc của bọn phản động mà tôi không biết cách để phân tích cho nó hiểu.
Nghe đến đây, ông Đậu hiểu phần nào những băn khoăn của ông Nam.
- Ông Nam này, ông cũng biết thông tin trên mạng xã hội giờ tràn lan, nhiều nội dung bị các thế lực xấu đưa lên hòng bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Mục đích của chúng là cố tình thổi phồng theo hướng kích động, chia rẽ kiểu “bắt tay bên này để chống bên kia”, từ đó lấy cớ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Nhấp thêm ngụm nước vối, ông Đậu nói tiếp:
- Hôm trước dự ngày truyền thống hội cựu chiến binh, anh Sơn là Phó chủ tịch hội giải thích rất rõ về chính sách đối ngoại của Việt Nam không phải chọn bên này, bên kia, mà là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại với các nước. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả quốc gia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, Việt Nam cũng kiên định thực hiện nguyên tắc “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Chăm chú nghe ông bạn già phân tích, ông Nam gật gù:
- Ông phân tích tôi thấy đúng quá, chứ cứ đọc thông tin trên mạng rồi nghe người nọ, người kia tuyên truyền thì vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, ông ạ.
Ông Đậu vỗ vai người bạn già rồi nói tiếp:
- Việt Nam đạt được những thành tựu trong công cuộc đổi mới cũng là nhờ chính sách ngoại giao đúng đắn, nhiều nước mong muốn hợp tác với Việt Nam cũng chính vì vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố đấy ông ạ.
Ông Nam uống nốt chén nước rồi đứng dậy nói:
- Cảm ơn ông, tôi về nhà xem thằng út nhà tôi nó đọc thông tin ở đâu, rồi nói cho nó hiểu, không là rất nguy hiểm ông ạ.
Ông Đậu đứng dậy đưa ông Nam ra cửa và dặn:
- Ông nói và phân tích nhẹ nhàng thôi thì con nó mới hiểu nhé!
dgcd
Đẩy mạnh đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới hiện nay
Thực tiễn cách mạng của Đảng ta chỉ rõ, ở bất kỳ giai
đoạn lịch sử nào, công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng luôn đứng ở
vị trí hàng đầu trong các mặt công tác của Đảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện
nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, mạng xã hội, việc phát
tán các quan điểm sai trái, thù địch trở nên rất dễ dàng, vì vậy công tác đấu
tranh phản bác các quan điểm này cũng là nhiệm vụ được đặt ngang hàng với bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Chấp hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, trong thời gian qua,
đại đa số cán bộ, đảng viên đã góp phần tích cực vào công tác đấu tranh, phản
bác thông tin, quan điểm sai trái của các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước và
chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. Nhiều đảng viên tham gia
chia sẻ, lan tỏa sâu rộng những thông tin tích cực, góp phần nâng cao tinh thần
cảnh giác, nhận thức của Nhân dân trong việc chấp hành pháp luật, đấu tranh với
luận điệu xuyên tạc, thông tin sai sự thật của các phần tử cơ hội chính trị,
phản động; tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch; quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà
nước về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch... Một số cán bộ, đảng viên trở thành “cây bút chiến” viết tin,
bài đấu tranh, phản bác có chất lượng. Chính tinh thần trách nhiệm đó đã tạo
nên sức mạnh tổng hợp góp phần mang lại thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ
Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.
Tuy nhiên, khi đất nước ngày càng phát triển thì các thế
lực thù địch, phản động lại càng tìm mọi cách để chống phá. Vì vậy, cuộc đấu
tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ tất yếu chúng ta
phải làm và nhất định phải làm thật tốt. Đây thực sự là cuộc đấu tranh bảo vệ
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ
vững mối quan hệ mật thiết, bền chặt giữa Đảng với Nhân dân. Công tác bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các
thế lực thù địch trong bối cảnh hiện nay có tầm quan trọng đặc biệt, vừa mang
tính trước mắt, thường xuyên, vừa mang tính chiến lược, lâu dài của cả hệ thống
chính trị, của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó đội ngũ đảng viên phải là lực
lượng nòng cốt, tiên phong, gương mẫu đi đầu. Đối với mỗi đảng viên, bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng là một vấn đề thuộc về tiêu chuẩn, tư cách người cộng
sản, là trách nhiệm chính trị. Để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đó, đòi hỏi mỗi
đảng viên phải thực hiện tốt những nội dung, biện pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức, trách
nhiệm, tạo sự thống nhất, quyết tâm cao trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và cả
hệ thống chính trị trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch; coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên
trong công tác xây dựng Đảng, gắn với việc phòng ngừa, ngăn chặn các biểu hiện
suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ. Cùng với đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi
cán bộ, đảng viên luôn tự giác đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái,
thù địch.
Thứ hai, thường xuyên quán triệt và thực
hiện nghiêm Nghị quyết 35 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 05-CT/TW
“Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy
định số 08-QĐ/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách
nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên”…
Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác
tư tưởng, lý luận theo hướng khoa học, thiết thực, kịp thời, hiệu quả; nâng cao
tính chiến đấu, tính thuyết phục trong tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước. Coi trọng lấy gương “người tốt, việc tốt”, “điển hình tiên
tiến” để tuyên truyền, giáo dục, tạo hiệu ứng tích cực, ngăn chặn và đẩy lùi
tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận
cán bộ, đảng viên. Xử lý nghiêm các vi phạm chuẩn mực đạo đức cách mạng của
đảng viên, đồng thời cổ vũ, biểu dương các tấm gương đạo đức để tạo ảnh hưởng
lan tỏa trong Đảng và xã hội.
Thứ tư, không ngừng đấu tranh phản bác
những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác
- Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho mọi tầng lớp Nhân dân, trước hết
là cán bộ, đảng viên nhận rõ mục tiêu sâu xa của các quan điểm sai trái. Tích
cực chống lại các luận điệu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, nhằm phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập,
nghiên cứu và tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
một cách có hệ thống, bài bản, đi vào chiều sâu.
Thứ năm, chủ động nắm bắt tình hình diễn
biến tư tưởng, dư luận xã hội; xử lý kịp thời những vấn đề bức xúc nảy sinh;
tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Mặt
khác, mỗi cơ quan, đơn vị cần duy trì và phát triển lực lượng chuyên trách
(LL47) đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng
“Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”.
Thứ sáu, tăng cường trau dồi kiến thức,
nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng lý luận Mác - Lê-nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; bảo đảm việc học tập các môn lý luận
chính trị được tiến hành một cách thực chất, để người học nắm được những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cơ sở xem
xét, phân tích, đánh giá thấu đáo các vấn đề chính trị – xã hội diễn ra trong
đời sống hiện thực. Mặt khác, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên vi
phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, Nghị quyết, Chỉ thị, Quy định của
Ðảng.
Thực tiễn hơn 93 năm qua đã cho thấy Đảng Cộng sản Việt
Nam đã luôn kiên trì, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, luôn kiên quyết
đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế
độ. Sự kiên trì, kiên định và kiên quyết ấy chính là những bài học kinh nghiệm
quý báu cho mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức; mỗi cán bộ, đảng viên khi tham gia
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái,
thù địch. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta quán triệt sâu sắc, nâng cao ý
thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện tốt các nhiệm vụ trên sẽ góp phần bảo vệ
vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng đi đến
thành công, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”./.
TẠI SAO PHẢI BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Xuất phát từ bản chất
cách mạng, khoa học và giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được kiểm nghiệm,
khẳng định bởi thực tiễn trong hơn 93 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Chủ
tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa cộng sản,
ánh sáng chân lý của mọi thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy ở hệ lý luận
mácxít con đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng nhân loại,
xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công – Đây là mong muốn của Nhân dân Việt Nam
từ ngàn đời nay: đấu tranh giải phóng dân tộc và nguyện vọng được sống trong
hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.
Xuất phát từ vị trí,
vai trò, tầm quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ ngày thành lập đã
được Hồ Chí Minh khẳng định là một Đảng kiểu mới - Đảng của giai cấp công nhân,
của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, mang bản chất của giai cấp công
nhân. Đảng luôn luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Nhận thức sâu sắc về nguy cơ phân
liệt, tan rã về chính trị, tư tưởng và tổ chức, từ rất sớm, Đảng ta đã thấy rõ
tính tất yếu và luôn chủ động đề ra chủ trương phải bảo vệ đảng. Vì vậy, trong
Văn kiện chính thức: Phong trào công nhân (Nghị
quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương), tháng 10/1930, Đảng ta chỉ rõ:
“Giải thích cho công nhân mục đích và đường lối của Đảng Cộng sản trong các vấn
đề liên quan đến cuộc sống của công nhân và thái độ đối với các sự kiện lớn
diễn ra trong nước. Giải thích cho họ rằng, Đảng Cộng sản là Đảng của họ, vì
vậy họ cần phải bảo vệ Đảng”. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự ra
đời của nhà nước Việt Nam – Nhà nước Dân chủ Cộng hòa đầu tiên ở Châu Á, là
minh chứng sinh động về tính đúng đắn của Đảng và Bác Hồ khi vận dụng sáng tạo,
khoa học Chủ nghĩa Mác – Lênin trong giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Sự sụp đổ của Liên Xô
và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã
để lại nhiều bài học quý giá cho chúng ta, đặc biệt là trong cuộc đấu
tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai
trái, thù địch. Các nước XHCN mà đứng đầu là Liên Xô đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, ghi dấu ấn trong lịch sử văn minh nhân loại. Nhưng thật
trớ trêu, một số Đảng Cộng sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản
Liên Xô, lại để mất quyền lãnh đạo, làm cho hệ thống XHCN hùng mạnh được họ dẫn
dắt sụp đổ, tan rã. Một trong những nguyên nhân khiến Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã là đã mắc mưu của chủ nghĩa đế quốc, của các
nhà tư tưởng chống cộng, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay đổi các
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những luận điểm của chủ nghĩa
xã hội dân chủ. Một loạt vấn đề cơ bản của học thuyết Mác - Lênin đã bị
"tư duy chính trị mới" làm cho sai lạc. Đặc biệt là người ta xem nhẹ
vấn đề đấu tranh giai cấp, nhấn mạnh những giá trị chung toàn nhân loại; xem
nhẹ chuyên chính vô sản, nhấn mạnh hòa hoãn, nhân quyền, cho rằng chủ nghĩa tư
bản đã thay đổi bản chất, xét lại sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; nhấn
mạnh vấn đề dân tộc, xem nhẹ chủ nghĩa quốc tế; nhấn mạnh vấn đề dân chủ công
khai, xem nhẹ vấn đề kỷ luật tập trung thống nhất trong Đảng... Từ chỗ xa rời
chủ nghĩa Mác - Lênin, người ta phạm sai lầm nghiêm trọng về đường lối, xa rời
con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, ngả dần sang thân phương Tây, đi theo con
đường của chủ nghĩa xã hội dân chủ, ảo tưởng trông chờ vào sự cưu mang giúp đỡ
của chủ nghĩa tư bản nước ngoài.
Hơn nữa, xuất phát từ
âm mưu, thủ đoạn và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch
luôn tìm mọi cách tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, thủ đoạn thâm độc
của chúng là làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng,
sự quản lý, điều hành của Nhà nước và tính ưu việt của chế độ, lái nước ta đi
theo con đường tư bản chủ nghĩa. Điều đó cho thấy việc bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan
trọng, có ý nghĩa sống còn đối với bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ
nghĩa.
Thực trạng hiện nay, sự
phát triển, bùng nổ về công nghệ thông tin đã tác động đến một bộ phận không
nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều đó đã và đang làm suy giảm niềm
tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nếu chúng ta không tiếp tục
đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì không những thành quả cách
mạng đã giành được sẽ bị các thế lực thù địch, phản động cướp mất, mà còn dẫn
đến tình cảnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chúng ta sẽ rơi vào nguy cơ “tự
hủy hoại mình”, không thể thực hiện được khát vọng phát triển đất nước phồn
vinh, hạnh phúc; trở thành nước phát triển, có thu nhập cao./.
Ngày truyền thống học sinh, sinh viên Việt Nam - Ngày 09/01
9/1 được lấy làm ngày truyền
thống học sinh, sinh viên Việt Nam. Đây là ngày để bày tỏ sự tôn vinh đối với
thế hệ học sinh, sinh viên đầy nhiệt huyết. Cùng là dịp để tạo động lực cho thế
hệ học sinh, sinh viên tiếp theo luôn tích cực học tập. Luôn tìm tòi và nghiên
cứu các vấn đề mới, góp phần vào việc xây dựng đất nước giàu mạnh.
Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, hưởng ứng
lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tầng lớp nhân dân cả nước đứng lên
chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền Cộng hòa non trẻ. Từ giữa năm 1949 đến
đầu năm 1950, phong trào đấu tranh của thanh niên học sinh, sinh viên chống chủ
nghĩa thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, chống “độc lập” giả hiệu, chống
khủng bố đàn áp, đòi đảm bảo an ninh cho học sinh, đòi được học tiếng mẹ đẻ …
đã diễn ra rầm rộ, liên tục và rộng khắp khắp hai miền Nam - Bắc.
Ngày 09/01/1950, Đoàn thanh niên cứu quốc và Đoàn học
sinh Sài Gòn - Chợ Lớn đã vận động và tổ chức cho hơn 2.000 học sinh,
sinh viên các trường Pháp - Việt tại Sài Gòn như Pétrus Ký,
Chasseloup Laubat, Marie Curie, Taberd, Gia Long, Huỳnh Khương Ninh, Việt Nam
học đường, Lê Bá Cang, Nguyễn Văn Khuê, Mỹ thuật Gia Định, trường Pháp lý, Y
Dược,… cùng nhiều giáo viên và 7.000 nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn biểu
tình đòi bảo đảm an ninh cho học sinh, sinh viên học tập và trả tự do cho những
học sinh, sinh viên bị bắt, trong đó có Ban lãnh đạo học sinh cứu
quốc Sài Gòn.
Đoàn biểu tình kéo đến Nha học chính và Dinh thủ hiến bù
nhìn đưa đơn thỉnh nguyện. Bọn cảnh sát và lính đã đàn áp dã man đoàn biểu
tình. Thái độ đó đã làm đám đông phẫn nộ và bùng nổ cuộc xung đột. Những người
biểu tình dùng mọi thứ vũ khí có trong tay chống trả quyết liệt với lính Pháp,
lính Âu Phi và cảnh sát Bình Xuyên. Nhiều em học sinh ngã gục trước sự đàn áp
dã mãn.
Trần Văn Ơn - người thanh niên tiêu biểu cho
lòng yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất của học sinh, sinh viên, sau
khi đã dũng cảm hứng chịu những xô đẩy và dùi cui để che chở cho các em học
sinh nhỏ tuổi hơn, anh đã bị trúng đạn. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút
chiều ngày 09/01/1950 khi chưa tròn 19 tuổi. Thi thể anh Trần Văn Ơn được đưa
về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y, bác sĩ, công
nhân ở bệnh viện túc trực canh bảo vệ không cho bọn địch phi tang.Tin Trần Văn
Ơn mất đã ngay lập tức gây náo động trong giới học sinhsinh viên Sài
Gòn, trở thành tâm điểm và đồng loạt các tờ báo lớn của Sài Gòn đã đưa tin. Tại
Sài Gòn, ngày 12/01/1950, đám tang anh Trần Văn Ơn đã biến thành cuộc biểu tình
thị uy của trên 5 vạn người đứng trên các hè phố tiễn đưa anh. Trước linh
cữu anh là hương án có 2 câu viết bằng máu của học sinh:
“Chết vì tổ quốc, chết mà vẫn sống,
Sống kiếp Việt gian, ô nhục muôn đời”.
Lễ tang anh Trần Văn Ơn cũng đã được cử hành trên khắp các tỉnh
thành trong cả nước. Hàng triệu lượt học sinh, sinh viên và đồng bào các giới
đã đeo băng tang truy điệu với lòng thương tiếc và xuống đường tuần hành bày tỏ
ý chí căm thù giặc và ý chí đấu tranh kiên quyết chống thực dân Pháp xâm lược
và bè lũ tay sai. Trong số đó, điếu văn của đại biểu các học sinh, sinh
viên có đoạn: “Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1- ngày mà
anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của
mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần Trần Văn Ơn bất diệt!”
Với sự kiện lịch sử đó, noi gương và ghi
nhận tinh thần đấu tranh bất khuất của anh Trần Văn Ơn và học
sinh - sinh viên trong những ngày đầu kháng chiến, Đại hội toàn quốc
Liên đoàn Thanh niên Việt Nam lần thứ nhất tháng 2 năm 1950 tại Việt Bắc đã
quyết định lấy ngày 09/01 hàng năm là Ngày truyền thống học
sinh - sinh viên.
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ V diễn
ra ngày 22 - 23/11/1993 tại thủ đô Hà Nội đã quyết định đồng thời lấy
ngày 09/01 làm ngày truyền thống của Hội Sinh viên Việt Nam.
Trải qua 73 năm thành lập, các thế hệ học sinh
- sinh viên Việt Nam luôn kế tục và phát huy những truyền thống vẻ vang
của các thế hệ cha anh, được Đảng và Nhà nước dày công bồi dưỡng, đó là:
”Truyền thống yêu nước nồng nàn, gắn bó với chế độ XHCN, trung thành với Đảng,
với nhân dân, tự hào về dân tộc và Bác Hồ kính yêu, về lực lượng vũ trang anh
hùng, về Đoàn, về Hội. Truyền thống hiếu học, say mê sáng tạo, nghiên cứu để
vươn tới đỉnh cao của khoa học, công nghệ, văn học - nghệ thuật, thể dục thể
thao… Truyền thống đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong học tập nghiên
cứu khoa học, chia sẻ khó khăn với nhân dân, không đòi hỏi cho riêng mình khi
đất nước còn nghèo, nhân dân còn thiếu thốn”.
Đơn giản mà không đơn giản
Công tác cải cách hành
chính của Nhà nước trong những năm qua có sự tiến bộ rõ rệt trên các lĩnh vực
của đời sống, xã hội. Các thủ tục hành chính được tối giản, thông thoáng hơn,
nhưng vẫn đảm bảo được tính chặt chẽ, an toàn, hiệu quả. Tuy nhiên, trong triển
khai thực hiện vẫn còn những “hạt sạn” không đáng có, gây phiền hà cho tổ chức,
cơ quan, doanh nghiệp và người dân.
Xoay quanh chuyện này,
mới đây anh B có bố đẻ mất ở quê. Lo hậu sự cho cụ xong, anh trở lại cơ quan,
mọi người tiếp tục hỏi thăm, chia buồn, anh nói: hiện nay dịch vụ tang lễ ở quê
tiện lắm, chế độ mai táng phí của Nhà nước và tỉnh khá tốt nên gia đình đỡ vất
vả, tốn kém. Đơn cử như tiền hỏa táng hết 11 triệu đồng, tỉnh đã hỗ trợ 10
triệu đồng; ngoài ra, gia đình còn được thụ hưởng chế độ mai táng phí của Nhà
nước gồm: 03 tháng lương, 03 tháng tiền trợ cấp thương binh và tiền cán bộ tiền
khởi nghĩa của cụ, nên cũng khá.
Anh C mau miệng nói: thế
thì tốt quá anh nhỉ? Anh B trả lời: cái đó thì rõ rồi. Có điều để nhận được
tiền thụ hưởng chính sách cũng không đơn giản, thủ tục giấy tờ phiền hà lắm!
Mọi người có vẻ chưa hiểu, hỏi lại: có gì mà phiền hà hả anh?
Theo đà câu chuyện, anh thong thả giãi bày như để trút đi những ưu phiền chất chứa trong lòng. Chả là, sau khi mai táng cho cụ xong, anh B đã ủy quyền cho cô em ở quê làm các thủ tục nhận tiền mai táng phí, nhưng bản thân anh cũng phải “chạy đi, chạy về” ba, bốn lần để lo thủ tục giấy tờ mà vẫn chưa xong. Khổ nỗi, nhân viên làm công tác chính sách của phường hướng dẫn không đầy đủ ngay từ đầu, nên cứ phải làm đi làm lại vì thiếu hoặc sai thông tin. Đối với người ủy quyền, ngoài việc kê khai mã số căn cước, thẻ bảo hiểm y tế, hệ số lương, địa chỉ, còn phải có giấy chứng thực của địa phương nơi cư trú. Tất nhiên, không chỉ một mình anh, mà các con đẻ của cụ (là người ủy quyền) đều phải có đầy đủ những giấy tờ đó. Ngoài ra, còn phải kê khai tuổi của người sinh ra cụ. Cũng may anh chị em trong nhà có ít người ở tỉnh xa nên còn đỡ, chứ nếu ở miền Nam hoặc nước ngoài thì không biết sẽ ra sao - anh nói.
Tôi có ý thắc mắc, sao
thủ tục phiền phức thế? Hay cô em nhà anh ứng xử với họ chưa “chu đáo”. Anh B
phân trần: không hẳn thế, cô ấy nói đã ứng xử “chu đáo” như các trường hợp khác
nhưng họ bảo giấy tờ phải trình cấp trên ký duyệt, nên nếu sai sót thông tin
thì sẽ phải làm lại từ đầu. Tôi không biết nói sao, nhưng cảm thấy không thoải
mái. Đúng là chuyện tưởng như “đơn giản mà không đơn giản” chút nào.
Nghe vậy, cậu K nói: em
không nghĩ thế! Chuyện vừa kể của gia đình anh B có khá nhiều, thậm chí là “chuyện
thường ngày ở… cơ sở” ấy mà! Phải nói rằng, so với trước đây, chế độ, chính
sách của Nhà nước ngày càng tốt hơn, không có gì phải bàn. Việc giải quyết thực
ra cũng đơn giản. Sở dĩ, còn ách tắc, gây phiền hà cho dân là do tổ chức thực
hiện chưa tốt, có nhiều quy định không thật cần thiết, rườm rà, chồng chéo;
thêm vào đó, trách nhiệm của người trực tiếp làm công tác này chưa cao, chưa có
tinh thần vì dân. Tất nhiên, thủ tục hành chính cần phải đầy đủ, chặt chẽ nhưng
đến quá mức cần thiết thì lại rất không nên, sẽ làm cho sự việc trở nên phức
tạp.
Nghe xong, mọi người
không bày tỏ gì thêm, nhưng tôi nghĩ có lẽ cậu K nói đúng. “Nút thắt” của vấn
đề là ở đó. Nếu cởi được “nút thắt” này thì sự việc vốn đơn giản sẽ không trở
nên phức tạp, tạo thuận lợi cho các hoạt động đời sống, xã hội. Đó cũng là mục
tiêu cải cách hành chính mà Nhà nước ta đang hướng tới.
Sưu tầm
Khi việc công khai phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dần đuối lý và tỏ ra kém hiệu quả, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại sử dụng một chiêu trò khác để chống phá cách mạng Việt Nam, đó là: dựa trên một số sự kiện lịch sử để đưa ra những xuyên tạc nhằm chứng minh rằng, “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Mục đích sâu xa của chúng là làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đây là luận điệu phi lý, cần kiên quyết bác bỏ.
Từ sự
thừa nhận không thể phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta bằng cách điên cuồng
phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh khi hệ thống tư tưởng, lý luận này đang ngày càng đúng với những diễn
biến của thời đại, các thế lực chống phá lại dở nhiều chiêu trò khác. Một trong
những thủ đoạn gần đây mà chúng thường sử dụng là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh
với chủ nghĩa Mác - Lênin; chúng dựa vào những sự kiện lịch sử rồi dùng thủ
thuật quen thuộc là “đánh lộn sòng đen trắng” để hướng lái dư luận, rằng: tư
tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc. Chẳng hạn như: vin vào sự
kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Liên xô để gặp gỡ I.V. Stalin - Tổng Bí thư Đảng
Cộng sản Liên xô và cuộc nói chuyện giữa hai vị lãnh tụ vĩ đại này vào cuối năm
1952 để đưa ra luận điệu rằng: “I.V. Stalin cáo buộc Hồ Chí Minh là người đi
theo chủ nghĩa dân tộc”; trắng trợn hơn, họ dựa vào sự kiện Quốc tế III chỉ thị
đồng chí Nguyễn Ái Quốc về tại Cửu Long, Trung Quốc để hợp nhất các tổ chức
cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng kết quả của Hội nghị là
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) để rêu rao rằng: “Sự kiện thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) đã chứng minh rằng tư tưởng Hồ Chí Minh
thực chất là chủ nghĩa dân tộc”. Tinh vi hơn, họ còn “giả vờ” công nhận công
lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam để hạ
thấp, kích động tư tưởng bài trừ chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng việc Đảng Cộng
sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động là không phù hợp, bởi vì đây là hai hệ tư
tưởng hoàn toàn đối lập nhau, v.v. Tuy nhiên, thực tế lịch sử lại chứng minh
điều ngược lại, trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn
đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Và tư tưởng của
Người “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại;
là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi
soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1;
hoàn toàn không thể, không phải là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc như luận
điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá.
Thứ nhất, động lực thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm
đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa yêu nước chứ không
phải là chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc,
lòng yêu nước, tinh thần yêu nước) là cảm xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương,
tích cực đối với quê hương, đất nước. Trong khi đó, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm
lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những
dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”2.
Sự khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc thể hiện ở
chỗ: người yêu nước tự hào về đất nước của mình vì những gì nó xứng đáng, còn
người theo chủ nghĩa dân tộc tự hào về đất nước của mình bất kể thứ gì (kể cả
việc gây tội ác với dân tộc khác), tức là sự tự hào một cách mù quáng và cực
đoan. Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân
dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là
chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin,
tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý
luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức
và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”3. Từ lòng yêu
nước, thương nòi, Người đã yêu thương, đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ,
những lớp người dân lao động lầm than ở các nước chính quốc; đó là động lực để
Người tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hiện thực hóa lý
tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, nhân loại. Trả lời phóng viên của
Tạp chí Thanh Niên (Canada, tháng 12/1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Nói rằng lúc còn thanh niên, tôi theo “chủ nghĩa dân tộc”, có lẽ không đúng.
Vì hồi đó tôi chỉ biết thương đồng bào tôi, chứ chưa biết “chủ nghĩa” gì cả.
Khi đi sang châu Phi, tôi thấy nhân dân thuộc địa ở đây cũng cực khổ, cũng bị
áp bức, bóc lột như nhân dân Đông Dương. Khi sang các nước châu Âu, tôi thấy ở
đó cũng có một số người rất giàu, “ngồi mát ăn bát vàng”, và lớp người nhân dân
lao động rất nghèo khổ. Tôi suy nghĩ nhiều lắm. Trong lúc đó thì Cách mạng
Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga. Lênin tổ chức Quốc tế Cộng sản. Rồi Lênin
phát biểu Luận cương cách mạng thuộc địa. Những việc đó làm cho tôi thấy rằng:
Nhân dân lao động Đông Dương, nhân dân các thuộc địa và nhân dân lao động muốn
tự giải phóng thì phải đoàn kết lại và làm cách mạng. Vì vậy, tôi trở nên người
theo Chủ nghĩa Mác - Lênin”4. Như vậy, quá trình hình thành và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một chặng đường dài, vượt qua những chông gai
thử thách, Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin
nhưng rõ ràng, động lực chính là lòng yêu nước, thương dân, chứ không phải vì
chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan như các thế lực phản
động đang rêu rao.
Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân
trong tiếp cận, giải quyết vấn đề dân tộc; là người luôn đấu tranh chống lại
những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, không chấp nhận chủ nghĩa dân tộc tư
sản, chủ nghĩa Sô vanh trong phong trào Cộng sản quốc tế. Xuyên suốt
trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc luôn gắn liền
với chủ nghĩa xã hội. Vấn đề dân tộc được Người tiếp cận và giải quyết như động
lực để thúc đẩy sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và là tiền đề cho cách
mạng vô sản trên toàn thế giới; lý tưởng giải phóng dân tộc không thể tách rời
với mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Trong thực tiễn hoạt
động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh cũng luôn đấu tranh chống chủ nghĩa dân
tộc hẹp hòi, Sô vanh nước lớn. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công
nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mátxcơva từ ngày 14 đến 16/11/1957, chính
Hồ Chí Minh là người kiên quyết nhất trong đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư
sản. Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản
Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa
Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ
nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét
lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”5. Chính vì vậy, cho rằng “Thực
chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu “đánh lộn sòng
đen trắng” cố tình lấp liếm, bỏ qua lập trường, quan điểm giai cấp công nhân
của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam, phủ
nhận vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của
Người.
Thứ ba, Hồ Chí Minh là một trong những người tiên phong bảo vệ và phát
triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân
tộc trong mối quan hệ với nhân loại, vì mục tiêu chung là công bằng, tiến bộ và
hòa bình. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa quan điểm về vai trò
của quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, và khẩu hiệu
hành động: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết
lại!”, Hồ Chí Minh thấy rõ sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết
các lực lượng của từng dân tộc và trên thế giới để sự nghiệp giải phóng dân tộc
giành thắng lợi hoàn toàn, Người kêu gọi: “Lao động tất cả các nước
đoàn kết lại!”. Đồng thời, Người khẳng định: “Cuộc đấu tranh cách mạng
của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải
phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;...
Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc
địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh
chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư
bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân
tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”6.
Đây không chỉ là một cống hiến rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho
tàng lý luận Mác - Lênin, mà còn cho thấy, Người luôn giải quyết hài hòa, đặt
quyền lợi của dân tộc trong mối liên hệ với nhân loại, với giai cấp, với các
dân tộc bị áp bức vì mục tiêu chung là xây dựng thế giới hòa bình, tiến bộ,
phát triển. Tư tưởng đó đã vượt lên trên “chủ nghĩa dân tộc”, nó hoàn toàn trái
ngược với mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư
tưởng của Đảng ta, với mưu đồ chính trị đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân
tộc.
Chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng không thể tách
rời, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, “mãi mãi soi
đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”7. Đó
là tất yếu khách quan, sự lựa chọn của lịch sử mà không luận điệu, thế lực nào
có thể xuyên tạc, phủ nhận. Luận điệu “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ
nghĩa dân tộc” là vô căn cứ, thủ đoạn xảo trá, thấp hèn, dù có tô vẽ thế nào
cũng không thể che mờ chân lý.
Sưu tầm





