Khi việc công khai phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dần đuối lý và tỏ ra kém hiệu quả, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại sử dụng một chiêu trò khác để chống phá cách mạng Việt Nam, đó là: dựa trên một số sự kiện lịch sử để đưa ra những xuyên tạc nhằm chứng minh rằng, “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Mục đích sâu xa của chúng là làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đây là luận điệu phi lý, cần kiên quyết bác bỏ.
Từ sự
thừa nhận không thể phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta bằng cách điên cuồng
phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh khi hệ thống tư tưởng, lý luận này đang ngày càng đúng với những diễn
biến của thời đại, các thế lực chống phá lại dở nhiều chiêu trò khác. Một trong
những thủ đoạn gần đây mà chúng thường sử dụng là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh
với chủ nghĩa Mác - Lênin; chúng dựa vào những sự kiện lịch sử rồi dùng thủ
thuật quen thuộc là “đánh lộn sòng đen trắng” để hướng lái dư luận, rằng: tư
tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc. Chẳng hạn như: vin vào sự
kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Liên xô để gặp gỡ I.V. Stalin - Tổng Bí thư Đảng
Cộng sản Liên xô và cuộc nói chuyện giữa hai vị lãnh tụ vĩ đại này vào cuối năm
1952 để đưa ra luận điệu rằng: “I.V. Stalin cáo buộc Hồ Chí Minh là người đi
theo chủ nghĩa dân tộc”; trắng trợn hơn, họ dựa vào sự kiện Quốc tế III chỉ thị
đồng chí Nguyễn Ái Quốc về tại Cửu Long, Trung Quốc để hợp nhất các tổ chức
cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng kết quả của Hội nghị là
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) để rêu rao rằng: “Sự kiện thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) đã chứng minh rằng tư tưởng Hồ Chí Minh
thực chất là chủ nghĩa dân tộc”. Tinh vi hơn, họ còn “giả vờ” công nhận công
lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam để hạ
thấp, kích động tư tưởng bài trừ chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng việc Đảng Cộng
sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động là không phù hợp, bởi vì đây là hai hệ tư
tưởng hoàn toàn đối lập nhau, v.v. Tuy nhiên, thực tế lịch sử lại chứng minh
điều ngược lại, trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn
đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Và tư tưởng của
Người “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại;
là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi
soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1;
hoàn toàn không thể, không phải là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc như luận
điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá.
Thứ nhất, động lực thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm
đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa yêu nước chứ không
phải là chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc,
lòng yêu nước, tinh thần yêu nước) là cảm xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương,
tích cực đối với quê hương, đất nước. Trong khi đó, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm
lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những
dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”2.
Sự khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc thể hiện ở
chỗ: người yêu nước tự hào về đất nước của mình vì những gì nó xứng đáng, còn
người theo chủ nghĩa dân tộc tự hào về đất nước của mình bất kể thứ gì (kể cả
việc gây tội ác với dân tộc khác), tức là sự tự hào một cách mù quáng và cực
đoan. Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân
dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là
chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin,
tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý
luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức
và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”3. Từ lòng yêu
nước, thương nòi, Người đã yêu thương, đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ,
những lớp người dân lao động lầm than ở các nước chính quốc; đó là động lực để
Người tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hiện thực hóa lý
tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, nhân loại. Trả lời phóng viên của
Tạp chí Thanh Niên (Canada, tháng 12/1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Nói rằng lúc còn thanh niên, tôi theo “chủ nghĩa dân tộc”, có lẽ không đúng.
Vì hồi đó tôi chỉ biết thương đồng bào tôi, chứ chưa biết “chủ nghĩa” gì cả.
Khi đi sang châu Phi, tôi thấy nhân dân thuộc địa ở đây cũng cực khổ, cũng bị
áp bức, bóc lột như nhân dân Đông Dương. Khi sang các nước châu Âu, tôi thấy ở
đó cũng có một số người rất giàu, “ngồi mát ăn bát vàng”, và lớp người nhân dân
lao động rất nghèo khổ. Tôi suy nghĩ nhiều lắm. Trong lúc đó thì Cách mạng
Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga. Lênin tổ chức Quốc tế Cộng sản. Rồi Lênin
phát biểu Luận cương cách mạng thuộc địa. Những việc đó làm cho tôi thấy rằng:
Nhân dân lao động Đông Dương, nhân dân các thuộc địa và nhân dân lao động muốn
tự giải phóng thì phải đoàn kết lại và làm cách mạng. Vì vậy, tôi trở nên người
theo Chủ nghĩa Mác - Lênin”4. Như vậy, quá trình hình thành và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một chặng đường dài, vượt qua những chông gai
thử thách, Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin
nhưng rõ ràng, động lực chính là lòng yêu nước, thương dân, chứ không phải vì
chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan như các thế lực phản
động đang rêu rao.
Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân
trong tiếp cận, giải quyết vấn đề dân tộc; là người luôn đấu tranh chống lại
những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, không chấp nhận chủ nghĩa dân tộc tư
sản, chủ nghĩa Sô vanh trong phong trào Cộng sản quốc tế. Xuyên suốt
trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc luôn gắn liền
với chủ nghĩa xã hội. Vấn đề dân tộc được Người tiếp cận và giải quyết như động
lực để thúc đẩy sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và là tiền đề cho cách
mạng vô sản trên toàn thế giới; lý tưởng giải phóng dân tộc không thể tách rời
với mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Trong thực tiễn hoạt
động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh cũng luôn đấu tranh chống chủ nghĩa dân
tộc hẹp hòi, Sô vanh nước lớn. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công
nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mátxcơva từ ngày 14 đến 16/11/1957, chính
Hồ Chí Minh là người kiên quyết nhất trong đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư
sản. Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản
Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa
Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ
nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét
lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”5. Chính vì vậy, cho rằng “Thực
chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu “đánh lộn sòng
đen trắng” cố tình lấp liếm, bỏ qua lập trường, quan điểm giai cấp công nhân
của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam, phủ
nhận vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của
Người.
Thứ ba, Hồ Chí Minh là một trong những người tiên phong bảo vệ và phát
triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân
tộc trong mối quan hệ với nhân loại, vì mục tiêu chung là công bằng, tiến bộ và
hòa bình. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa quan điểm về vai trò
của quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, và khẩu hiệu
hành động: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết
lại!”, Hồ Chí Minh thấy rõ sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết
các lực lượng của từng dân tộc và trên thế giới để sự nghiệp giải phóng dân tộc
giành thắng lợi hoàn toàn, Người kêu gọi: “Lao động tất cả các nước
đoàn kết lại!”. Đồng thời, Người khẳng định: “Cuộc đấu tranh cách mạng
của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải
phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;...
Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc
địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh
chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư
bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân
tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”6.
Đây không chỉ là một cống hiến rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho
tàng lý luận Mác - Lênin, mà còn cho thấy, Người luôn giải quyết hài hòa, đặt
quyền lợi của dân tộc trong mối liên hệ với nhân loại, với giai cấp, với các
dân tộc bị áp bức vì mục tiêu chung là xây dựng thế giới hòa bình, tiến bộ,
phát triển. Tư tưởng đó đã vượt lên trên “chủ nghĩa dân tộc”, nó hoàn toàn trái
ngược với mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư
tưởng của Đảng ta, với mưu đồ chính trị đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân
tộc.
Chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng không thể tách
rời, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, “mãi mãi soi
đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”7. Đó
là tất yếu khách quan, sự lựa chọn của lịch sử mà không luận điệu, thế lực nào
có thể xuyên tạc, phủ nhận. Luận điệu “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ
nghĩa dân tộc” là vô căn cứ, thủ đoạn xảo trá, thấp hèn, dù có tô vẽ thế nào
cũng không thể che mờ chân lý.
Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét