Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2024

ÁO DÀI VIỆT VÀ CÂU CHUYỆN DI SẢN CỦA TƯƠNG LAI

 Dù là niềm tự hào của người Việt, song đến nay áo dài vẫn chưa nằm trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể.

Điều này khiến không ít nhà thiết kế thời trang truyền thống và giới nghiên cứu văn hóa chạnh lòng.
Thiếu pháp lý cho áo dài Việt
Áo dài có lịch sử lâu dài, được coi là trang phục truyền thống của Việt Nam. Nếu như áo dài nữ là trang phục tôn vinh vẻ kín đáo, dịu dàng, toát nét duyên dáng thì áo dài nam ẩn chứa sự trang trọng, nghiêm cẩn. Tiền thân của áo dài Việt Nam là chiếc áo giao lĩnh.
Sau đó đến thế kỷ thứ 17, áo dài được cách điệu thành kiểu áo tứ thân để thuận tiện cho phụ nữ lao động và sản xuất. Thời vua Gia Long nhà Nguyễn, áo dài ngũ thân xuất hiện, liên tiếp sau đó là các kiểu áo dài Lemur, áo dài Lê Phổ, áo dài Raglan.
Trao đổi với Báo GD&TĐ, bà Phạm Nguyên Thảo - tác giả sách “Áo dài Lemur và bối cảnh Phong Hóa & Ngày Nay” cho hay, khi áo dài Lemur Cát Tường ra đời, đã phân định rõ phụ nữ nước ta - nước ngoài.
Đây là thành công lớn nhất của họa sĩ Cát Tường bởi thời đó, nước ta chưa có chiếc áo dài như ngày nay, mà chỉ có áo tứ thân và áo ngũ thân là trang phục thường ngày. Vào tháng 3/1934, hoạ sĩ Cát Tường đưa ra mẫu áo dài đầu tiên trên báo Phong Hóa với hình ảnh chiếc áo dài Lemur được thiết kế ôm sát tôn dáng thể hiện tư tưởng tân thời.
Áo dài Lemur thịnh hành đến khoảng những năm 1943. Sau đó, các thiết kế áo dài hầu như được lấy cảm hứng cách tân từ áo dài Lemur. Đặc biệt là áo dài Lê Phổ, do họa sĩ Lê Phổ thiết kế kết hợp từ áo tứ thân và biến thể của áo dài Lemur. Lê Phổ đã thu gọn kích thước áo dài để ôm khít thân hình người phụ nữ, đẩy cầu vai, kéo dài tà áo chạm đất và đem đến nhiều màu sắc mới mẻ.
Lê Phổ đã bỏ hết những ảnh hưởng phương Tây và thay thế bằng những chi tiết từ áo tứ thân. Từ thời điểm này đến những năm 1950, phong cách áo dài Việt Nam đã trở nên vô cùng nổi tiếng. Tiếp sau đó là áo dài Raglan xuất hiện vào năm 1960 do nhà may Dung ở Đakao (Sài Gòn) sáng tạo.
Áo dài Raglan ôm khít cơ thể, cách nối tay từ cổ chéo xuống một góc 45 độ giúp người mặc thoải mái. Hai tà nối với nhau bằng hàng nút bấm bên hông. Đây chính là kiểu áo dài định hình phong cách cho áo dài Việt Nam sau này.
Bên cạnh các giá trị văn hóa truyền thống, trang phục áo dài luôn được sáng tạo, biến đổi để phù hợp các giá trị mới của thời đại. Nhưng dù thế nào thì chiếc áo dài truyền thống vẫn giữ được nét uyển chuyển, gợi cảm, kín đáo mà không trang phục nào có được.
Là niềm tự hào của người Việt nên áo dài luôn được quan tâm và trở thành di sản trong tiềm thức mỗi người. Tuy nhiên để đầy đủ tính pháp lý, cuối năm 2020, hội thảo “Tham vấn ý kiến chuyên gia về việc lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể liên quan đến áo dài” do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức nhằm thúc đẩy việc ghi danh.
Đại diện Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nói rằng, đây là hoạt động quan trọng, đưa ra những đề xuất để cơ quan quản lý Nhà nước tiếp tục vào cuộc nhằm tôn vinh áo dài Việt Nam bằng giá trị pháp lý. Mặc dù vậy, cho đến nay áo dài vẫn chưa được đưa vào danh mục di sản.
Áo dài kể chuyện văn hóa.
Tại cuộc gặp gỡ báo chí giới thiệu về chương trình nghệ thuật áo dài “Nơi tôi sinh ra” diễn ra vào tối 5/1 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), nhà thiết kế Minh Hạnh bày tỏ trăn trở, rằng: Trong tiềm thức, trái tim người Việt đều coi áo dài là di sản.
Tuy nhiên cũng nói thẳng, áo dài Việt Nam đến giờ này vẫn chưa có tính pháp lý khi chưa được đưa vào danh mục di sản văn hóa. Mọi người đã yêu quý, tôn trọng và đặt áo dài ở vị trí thiêng liêng nhất, nhưng nếu không có xác nhận chính thức thì áo dài chưa đúng nghĩa là di sản.
Bởi vậy, đêm nghệ thuật áo dài “Nơi tôi sinh ra” không chỉ đơn thuần là một buổi trình diễn thời trang mà còn là câu chuyện văn hóa và câu chuyện di sản của tương lai. Từ những câu chuyện riêng được kể bằng áo dài, các nhà thiết kế sẽ mang đến nhiều chia sẻ thú vị về mảnh đất quê hương, nơi mỗi người gắn bó theo nhiều cách khác nhau.
TS Lê Xuân Kiêu - Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa, Khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám cho biết, đây là sản phẩm chào năm mới, khởi động cho nhiều dự án của Văn Miếu trong việc kết hợp tour đêm Văn Miếu với nhiều hoạt động văn hóa nhằm tăng tính trải nghiệm cho du khách. Điều đặc biệt, trong chương trình sẽ trình chiếu ánh sáng 3D mapping kết hợp trình diễn áo dài.
“Chương trình chiếu ánh sáng 3D mapping kết hợp với trình diễn áo dài truyền thống không chỉ tôn vinh giá trị di sản mà còn tôn vinh nét đẹp truyền thống của tà áo dài Việt Nam. Trong chương trình, câu chuyện về áo dài đến từ nhiều vùng, miền khác nhau sẽ được kể trong không gian nghệ thuật của âm nhạc và ánh sáng, mang đến trải nghiệm hấp dẫn”, ông Lê Xuân Kiêu chia sẻ.
Trong chương trình, nhà thiết kế Minh Hạnh sẽ giới thiệu bộ sưu tập áo dài với chất liệu thổ cẩm mang đậm dấu ấn của vùng đất và con người Tây Nguyên. Nhà thiết kế Thanh Thúy sẽ mang đến những bộ áo dài có họa tiết, dáng dấp của hoa ban - loại hoa đặc trưng của Điện Biên.
Từ trước tới nay, hoạt động trình diễn và tôn vinh nét đẹp áo dài Việt luôn được chú trọng. Dù áo dài chưa nằm trong danh mục di sản, song việc được ghi danh chỉ là câu chuyện sớm - muộn của một di sản trong tương lai./.
ST

NHỮNG SỰ KIỆN TRỌNG ĐẠI TRONG CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN

 Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 là một mốc son đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của cách mạng Việt Nam nói chung, của công tác tổ chức và cán bộ nói riêng. Điều đó đã mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta - một thời kỳ có Quốc hội, có Chính phủ thống nhất, có một bản Hiến pháp tiến bộ và có cả một hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương, có đầy đủ cơ sở pháp lý đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội cũng như đối ngoại.

Một cuộc tuyển cử thần kỳ
Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03-9-1945, tức là sau lễ Tuyên ngôn độc lập một ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v...”.
Tiếp đó, ngày 08-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội để thành lập một cơ quan lập pháp chính thống (Quốc hội) của nước Việt Nam mới. Sắc lệnh nói rõ, “Chiểu theo Nghị quyết của quốc dân Đại hội ngày 16, 17-8-1945 tại khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hòa và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu ra theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên;
Xét rằng nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hòa;
Xét rằng trong tình thế hiện giờ sự triệu tập Quốc dân đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống nạn ngoại xâm...”. Chương trình công tác đối nội đầu tiên của Chính phủ liên hiệp lâm thời là, “Làm cho cuộc toàn dân tuyển cử được thành công mỹ mãn và chuẩn bị sẳn sàng việc khai Quốc hội”.
Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử, các Ban bầu cử đã được thành lập cho tới tận xã, làng, bản, ấp do các Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm. Danh sách cử tri và các ứng cử viên được niêm yết công khai. Nhân dân sôi nổi trao đổi, tranh luận, nhằm lựa chọn đúng đắn những người xứng đáng nhất đại diện cho mình và hạn chế tới mức thấp nhất tình huống kẻ cơ hội tranh giành quyền lực, chức tước làm tổn hại cách mạng.
Càng gần đến ngày Tổng tuyển cử, khí thế trong cả nước càng sôi nổi. Một số địa phương ở phía Nam do lệnh lùi ngày bầu cử không kịp đến nên vẫn Tổng tuyển cử như kế hoạch đã định là 23-12-1945. Tuy nhiên ở những nơi đó Tổng tuyển cử vẫn diễn ra và thắng lợi tưng bừng làm cho không khí chính trị trong cả nước sôi động hướng tới ngày 06 tháng Giêng năm 1946. Uy tín của Đảng, của Bác ngày càng dâng cao. Ở Hà Nội có 118 Chủ tịch các Ủy ban nhân dân và tất cả các giới làng, xã đã công bố một bản kiến nghị: “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Bác đã hết sức trân trọng tấm lòng người dân và đã gửi thư cho đồng bào ngoại ô như sau: “Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khác cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của Tổng tuyển cử đã định.
Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa.
Xin cảm tạ các đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới”.
Ngày 03-01-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp của Chính phủ liên hiệp lâm thời để kiểm tra lần cuối các công việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử và ngày 05-01-1946, Bác ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong Lời kêu gọi có đoạn, “Ngày mai tất cả các bạn cử tri đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập tự do”. Chiều hôm đó Bác đã tham dự cuộc mít tinh lớn của hơn hai vạn nhân dân Thủ đô tại Đông Dương học xá (nay là Trường Đại học Bách khoa), nhiệt liệt chào mừng Tổng tuyển cử.
Ngày 06-01-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã được tiến hành sôi nổi ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước. Tại Hà Nội, đúng 7 giờ sáng, tiếng chuông, tiếng trống ở các nhà thờ, các chùa chiền đã vang lên khắp các phố phường, kéo dài tới 15 phút, báo hiệu giờ Tổng tuyển cử bắt đầu. Hà Nội tổ chức Tổng tuyển cử khá chu đáo, diễn ra với khí thế ngập tràn phấn khởi. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với hàng chục vạn cử tri đã đi làm nghĩa vụ công dân. Người đã bầu cử ở phòng bỏ phiếu tại nhà số 10 phố Hàng Vôi (nay thuộc phố Lý Thái Tổ), sau đó Người còn đi thăm nhiều nơi bỏ phiếu ở các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, Ô Đông Mác...
Có thể khẳng định rằng, Tổng tuyển cử là một cuộc thử thách máu lửa trên phạm vi cả nước mà nhân dân ta đã anh dũng vượt qua và đã chiến thắng. Ngay tại Thủ đô, ở khu Ngũ Xã, bọn phản động đã huy động một lực lượng khá đông có trang bị súng liên thanh trực tiếp ngăn cản cử tri đi bỏ phiếu; chúng cấm treo cờ đỏ sao vàng, cấm đặt các hòm phiếu...Nhưng nhân dân không hề nao núng, vẫn làm nghĩa vụ công dân khá đầy đủ; 172.765 trên tổng số 187.880, tức 91,95% cử tri của cả 74 khu phố nội đô và 118 thôn, làng ngoại ô đã đi bỏ phiếu. Trong số 74 ứng cử viên đã có 6 người trúng cử đại biểu Quốc hội. Người trúng cử thấp nhất cũng đạt 52,50% số phiếu hợp lệ. Người trúng cử với số phiếu cao nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh 98,40%.
Ở phía Bắc, một vài nơi đã xảy ra đổ máu. Tại Hải Phòng (các khu vực bỏ phiếu như Nhà hát lớn, phố Tràng Kênh...) quân Tưởng xông vào cướp súng của tự vệ đang bảo vệ hòm phiếu, ta bắn cảnh cáo, chúng huy động lực lượng đến cướp hòm phiếu; công an, tự vệ ta phải giằng co để giữ cho được hòm phiếu. Chúng đã bắt của ta 16 công an, 40 tự vệ và hành hung rất dã man nhiều người khác. Chúng ta đã kịp thời huy động hàng nghìn người mít tinh, biểu tình, thị uy, phản đối kịch liệt hành động của chúng, buộc chúng phải thả những người đã bị bắt. Mặc dù vậy , Hải Phòng vẫn có tới 96% cử tri đi bỏ phiếu.
Ở các tỉnh, thành phía Nam, nhất là Nam Bộ, cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra dưới đạn bom rất ác liệt của quân thù, vì ngay từ cuối tháng 10 năm 1945 sau khi được tăng viện, thực dân Pháp đã đánh phá khắp các tỉnh Nam Bộ, chúng đổ bộ lên Nha Trang, đánh phá rộng ra các tỉnh Nam Trung Bộ và các vùng rừng núi Tây Nguyên. Chúng dự tính trong một thời gian ngắn phải thôn tính cho được từ vĩ tuyền 16 trở vào. Cuộc Tổng tuyển cử gặp nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng nhân dân miền Nam đã thể hiện rõ ý chí độc lập, thống nhất cao, kiên quyết kháng chiến chống lại thực dân Pháp xâm lược; nhiệt liệt ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Bất chấp bom đạn của thực dân Pháp, nhân dân vẫn đi bỏ phiếu rất đông. Nhiều nơi cử tri phải đánh đổi cả xương máu để thực hiện cho được quyền tự do dân chủ của mình. Tại Sài Gòn - Chợ Lớn, quân pháp đã chiếm đóng toàn bộ thành phố và các vùng lân cận. Tiếng súng kháng chiến đã vang lên dưới nhiều hình thức, diệt tề trừ gian; tập kích đốt phá kho tàng của địch... Cuộc Tổng tuyển cử ở đây đã diễn ra trong sự lùng ráp, khủng bố gắt gao của quân thù. Ủy ban hành chính thành phố đã phải chuyển ra ngoại ô phía Tây Nam, nhưng vẫn bám sát chỉ đạo nhân dân nội ô, ngoại ô tiến hành Tổng tuyển cử. Không có nơi đặt hòm phiếu cố định, hàng trăm hòm phiếu được lưu chuyển đến từng ngõ, từng nhà cho cử tri bỏ phiếu; 42 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử. Tại Nha Trang, máy bay Pháp ném bom khủng bố làm chết 4 người, 12 người bị thương. Tại Tân An, máy bay địch xả đạn vào nơi cử tri đang bỏ phiếu, làm 14 người chết, nhiều người bị thương, nhiều nơi phải bỏ phiếu ban đêm, vậy mà có đến 90% cử tri đã hoàn tất việc bỏ phiếu. Tại Cần Thơ, quận Trà Ôn, làng Đông Thành, máy bay địch oanh tạc dữ dội nhưng 1.827 trong số 2.188 cử tri vẫn đến được hòm phiếu làm nghĩa vụ công dân; ở làng Thành Mỹ Hưng, bất chấp địch càn quét, đánh phá, 4.209 trên 4.288 cử tri vẫn tới được hòm phiếu làm nghĩa vụ của mình. Ở Mỹ Tho, máy bay địch rà theo kênh, rạch bắn phá suốt ngày, nhưng tại Mỹ Hạnh Đông, cán bộ ta vẫn chèo ghe, xuồng, đánh trống, chở hòm phiếu len lỏi vào các kênh mương, rạch nhỏ nơi đồng bào tản cư để cử tri bỏ phiếu....
Tại Tây Nguyên, hai ngày trước ngày bầu cử, thực dân Pháp đã huy động máy bay liên tục ném bom lửa xuống các làng Ra Đê và tấn công nhiều làng khác cách Buôn Ma Thuột 19 km...
Có thể nói, các tỉnh, thành phía Nam, trừ Tây Ninh, nơi chiến sự đã xẩy ra rộng khắp và vô cùng ác liệt, trước ngày bầu cử, một trong hai ứng cử viên đã bị địch giết hại nên không thực hiện được cuộc bầu cử, còn tất cả các tỉnh, thành đều đã tiến hành cuộc Tổng tuyển cử với tuyệt đại bộ phận các cử tri đã đi bỏ phiếu, trong đó nhiều tỉnh cử tri đi bầu đạt tỷ lệ rất cao như Sa Đéc 93,54%, Bạc Liêu 90,77%...
Nhìn chung cuộc Tổng tuyển cử ở cả 71 tỉnh, thành trong cả nước đã có tới 89% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu, phổ biến đạt mức 80%, nhiều nơi đạt cao tới 95%. Có một vài nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng; 10 đại biểu là phụ nữ; 34 đại biểu là người dân tộc thiểu số. Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập đã ra đời.
Chúng ta không thể không nhắc đến một sự kiện quan trọng trong việc thành lập Quốc hội khóa đầu tiên. Đó là một sách lược tuyệt vời của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chính sách đoàn kết, tập hợp lực lượng, làm dịu tình hình đang hết sức căng thẳng. Sáng ngày 02-3-1946, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã khai mạc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc kỳ họp, Bác đã nêu lên thắng lợi và ý nghĩa lớn lao của cuộc Tổng tuyển cử ngày 06-01-1946, đã “tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí”. Sau đó Người đề nghị với Quốc hội mở rộng số đại biểu Quốc hội thêm 70 người nữa; 70 người đó dành cho các vị ở hải ngoại về là Việt Nam quốc dân đảng (Việt quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt cách). Tất cả các đại biểu dự kỳ họp đều tán thành đề nghị của Bác. Như vậy Quốc hội khóa I gồm 333 đại biểu được nhân dân bầu ra và 70 đại biểu mở rộng thêm không qua bầu cử, tổng cộng là 403 đại biểu.
Phát huy những bài học của Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
1- Cuộc Tổng tuyển cử lập ra Quốc hội đầu tiên vừa là thành quả to lớn, vừa là yêu cầu cấp bách của việc xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước cách mạng. Quốc hội ra đời trong khói lửa đấu tranh gian khổ của toàn dân tộc với ý chí bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và đại đoàn kết toàn dân là một thành công, một thắng lợi vĩ đại, do đó và vì thế nó có ý nghĩa là một Quốc hội lập quốc (lập nên một Nhà nước Công-Nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á).
2- Cuộc Tổng tuyển cử diễn ra trong thời khắc nhân dân ta vừa thoát khỏi kiếp nô lệ của cả nghìn năm phong kiến và gần trăm năm thuộc địa, đế quốc Pháp lại đang gây chiến, hòng cướp nước ta, đô hộ dân ta một lần nữa. Trong điều kiện ấy mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hạ quyết tâm Tổng tuyển cử và Tổng tuyển cử đã thắng lợi to lớn, vang dội - một sự kiện hiếm có trong lịch sử cách mạng thế giới. Điều này khẳng định rằng, Đảng với dân là một (ý Đảng, lòng Dân). Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn toàn tin tưởng vào ý chí, nguyện vọng độc lập dân tộc và sự đồng lòng nhất trí của toàn dân tộc ta tuyệt đối tin tưởng vào sự chèo lái, lãnh đạo tài trí của Đảng và Bác kính yêu, đặc biệt là trong những lúc tình thế hiểm nghèo, “ngàn cân treo sợi tóc” như bối cảnh của cuộc Tổng tuyển cử. Một sự kiện đã nói ở trên, khi Việt quốc và Việt cách gây căng thẳng và mưu đồ lật đổ Chính phủ cách mạng, Quốc hội đã chấp thuận cho 70 người (50 người của Việt quốc và 20 người của Việt cách) là đại biểu Quốc hội không qua bầu cử, nhưng như đã dự tính trước, chính họ đã tự đào thải họ, chỉ ít lâu sau số đông trong số họ đã chạy theo giặc hoặc đào nhiệm nên đã bị Quốc hội truất quyền đại biểu. Việt quốc chỉ còn duy nhất một người trong số 50 người đủ tư cách đại biểu. Những đại biểu do dân bầu ra, tuyệt đại bộ phận đã xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri, đã rất mẫn cán trong công tác và chiến đấu vô cùng dũng cảm. Một số đại biểu đã hy sinh anh dũng trước họng súng quân Pháp như: Lý Chính Thắng, đại biểu Sài Gòn - Chợ Lớn; Thái Văn Lung, đại biểu Gia Định; Nguyễn Văn Luyện, đại biểu Hà Nội; Nguyễn Văn Tố, đại biểu Nam Định (Trưởng ban đầu tiên của Ban thường trực Quốc hội, nay là Ủy ban thường vụ Quốc hội); Lê Thế Hiếu, đại biểu Quảng Trị; Trần Kim Xuyến, đại biểu Bắc Giang; Nguyễn Văn Triết, đại biểu Thủ Dầu Một; Huỳnh Bá Nhung, đại biểu Rạch Giá; Siểng, dân tộc Khơme, đại biểu Biên Hòa...
3- Quốc hội đầu tiên là Quốc hội độc lập dân tộc, Quốc hội thống nhất đất nước và là Quốc hội đoàn kết toàn dân. Quốc hội đã bao hàm khá đầy đủ các đại biểu cả ba miền Bắc, Trung, Nam, đại diện cho hầu hết các thế hệ những người Việt Nam yêu nước từ già chí trẻ, các giai tầng xã hội; nam, nữ, công nhân, nông dân, nhân sĩ, trí thức, các doanh nhân, các nhà hoạt động văn hóa, văn nghệ, các tôn giáo (Thiên chúa giáo, Phật giáo, Cao đài...), các dân tộc (Mường, Tày, Nùng, Thái, Mèo, Ba na, Cơ tu, Ra đê, Ê đê, Gia rai, Khơ me, Hán...). Quốc hội còn bao gồm những người không đảng phái và những người của các đảng phái chính trị, xã hội khác nhau, những người vốn là quan lại của chế độ cũ...Bài học đại đoàn kết có thể coi là bài học cơ bản, xuyên suốt từ khi Đảng ta ra đời, được phát huy cao độ trong Tổng tuyển cử và được nhân rộng cho đến tận bây giờ và chắc chắn còn mãi mai sau.
4- Cuộc Tổng tuyển cử thắng lợi là một mốc son đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của cách mạng Việt Nam nói chung, của công tác tổ chức và cán bộ nói riêng. Điều đó đã mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta - một thời kỳ có Quốc hội, có Chính phủ thống nhất, có một bản Hiến pháp tiến bộ và có cả một hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương, có đầy đủ cơ sở pháp lý đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội cũng như đối ngoại. Nhà nước được quốc dân giao phó cho những nhiệm vụ cực kỳ nặng nề là điều hành đất nước, kháng chiến, kiến quốc và bang giao trên trường quốc tế.
5- Cũng như bài học đại đoàn kết, sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng là bài học thực tế có tính nguyên tắc và vĩnh cửu. Đảng đã dựa hẳn vào dân, bắt rễ sâu trong lòng dân tộc, do đó đã đáp ứng được khát vọng độc lập dân tộc, tự do, dân chủ của nhân dân. Với lãnh tụ kiệt xuất Hồ Chí Minh và thông qua Mặt trận Việt Minh, một tổ chức rộng lớn do chính Đảng tổ chức và lãnh đạo, do đó Đảng vẫn giữ vững và phất cao ngọn cờ lãnh đạo toàn dân vượt qua mọi khó khăn, không quản ngại hy sinh gian khổ, thực hiện Tổng tuyển cử thành công. Từ đó đến nay, Đảng ta vẫn thường xuyên, liên tục phát huy, nâng cao ý nghĩa và giá trị tốt đẹp của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, vận dụng vào những cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội các khóa sau này. Gần đây nhất là Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20-6-2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Điểm 4 của Chỉ thị nhấn đậm việc chỉ đạo công tác nhân sự - công tác cán bộ: “Việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải bảo đảm theo đúng quy trình luật định và hướng dẫn của các cơ quan Trung ương có thẩm quyền. Các cấp ủy đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trong việc tổ chức hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác bầu cử, bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”.
Sự chỉ đạo sát sao, chặt chẽ của Đảng trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân là nhằm mục tiêu xây dựng các cơ quan dân cử đủ mạnh, đủ hiệu lực và hoạt động có hiệu quả cao trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.
ST

45 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM CỦA TỔ QUỐC (7/1/1979 - 7/1/2024)

 Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc là hành động tự vệ chính đáng và cần thiết của nhân dân Việt Nam, nhằm chống lại cuộc chiến tranh xâm lược do Pol Pot-Ieng Sari gây ra. Chiến thắng một lần nữa khẳng định ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng của nhân dân Việt Nam, là nguồn sức mạnh to lớn, đập tan bất kỳ âm mưu và hành động chống phá nào của các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đồng thời, đáp lại lời kêu gọi của cách mạng Campuchia, Việt Nam đã giúp đỡ nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt vong…

Việt Nam - Campuchia là hai nước láng giềng hữu nghị và thân thiện, nhân dân sớm có quan hệ đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ nhau trong lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống lại kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đáp lại lời kêu gọi của cách mạng Campuchia, Việt Nam sẵn sàng đưa quân tình nguyện sang giúp nước bạn. Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Campuchia ngày 17-4-1975 cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, trong sáng giữa ba nước Đông Dương. Thế nhưng, ngay sau khi lên cầm quyền vào tháng 4-1975, quân Pol Pot-Ieng Sary lợi dụng thành quả cách mạng, phản bội lại nhân dân Campuchia. Chúng lập nên cái gọi là “nhà nước Campuchia dân chủ”, thi hành chế độ diệt chủng, thanh trừng nội bộ, gi.ế.t h.ạ.i hàng triệu người dân vô tội, phá hủy hàng trăm nghìn trường học, bệnh viện, chùa chiền...
Đối với Việt Nam, quân Pol Pot-Ieng Sari xuyên tạc lịch sử, khiêu khích, kích động hận thù dân tộc. Chỉ trong 2 năm (1975 - 1977), chúng điều động 41% quân số và trang thiết bị áp sát biên giới Việt Nam; gây ra những tội ác đẫm máu đối với nhân dân ta, xâm phạm nghiêm trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chà đạp lên những giá trị tốt đẹp trong mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc…
Ngày 30-4-1977, chúng đánh vào 14/16 xã biên giới thuộc tỉnh An Giang, tàn phá các bản làng, trường học, cơ sở sản xuất, bắn pháo vào những nơi đông dân cư ở sát biên giới và vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Trước hành động xâm lược của quân Pol Pot, các lực lượng biên phòng và dân quân, du kích đã anh dũng chiến đấu, ngăn chặn. Quân đội ta sử dụng 1 trung đoàn (thuộc Sư đoàn 330), 1 trung đoàn tàu thuyền và 2 tiểu đoàn địa phương An Giang đánh trả, diệt 300 tên, buộc quân Pol Pot rút về bên kia biên giới.
Từ ngày 25-9-1977, quân Pol Pot tập trung 9 sư đoàn chủ lực cùng lực lượng địa phương mở cuộc tiến công lớn thứ 2 đánh sang địa bàn các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp lên hướng Tây Ninh, gây nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Riêng ở 3 xã thuộc các huyện Tân Biên, Bến Cầu (Tây Ninh), quân Pol Pot tàn sát trên 1.000 người dân. Trước diễn biến mới của cuộc chiến tranh, Bộ Tổng Tham mưu quyết định sử dụng một bộ phận lực lượng chủ lực cơ động đánh lui các cuộc tiến công của quân Pol Pot ở nhiều khu vực trên biên giới, giành lại những khu vực bị lấn chiếm, sau đó lui về củng cố lực lượng. Phát hiện ta đã lui quân về phía sau, ngày 15-11-1977, quân Pol Pot lại mở cuộc tiến công mới nhằm đánh chiếm thị xã Tây Ninh. Trước tình hình đó, từ 5-12-1977 đến 5-1-1978, quân ta mở đợt phản công trên các hướng đường 7, đường 1, đường 2, truy kích quân Pol Pot làm thiệt hại 5 sư đoàn và thất bại kế hoạch đánh chiếm thị xã Tây Ninh của địch.
Tuy bị thiệt hại nặng nề trong giai đoạn 1, nhưng được hỗ trợ về vũ khí, trang bị và cố vấn quân sự từ bên ngoài, Pol Pot lại tiếp tục chuẩn bị lực lượng, tập trung quân về biên giới Việt Nam. Tháng 1-1978, Pol Pot đưa thêm 2 sư đoàn ra biên giới, tiếp tục gây xung đột, liên tục tiến công lấn chiếm, bắn phá vào những nơi đông dân cư, gây nhiều tội ác với đồng bào ta. Trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu điều động Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tăng cường cho Quân khu 9, sẵn sàng chiến đấu.
Đồng thời, ra lệnh cho các đơn vị trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nâng cao cảnh giác, thực hiện phòng ngự tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước thực hiện đấu tranh chính trị và ngoại giao. Ngày 5-2-1978, Việt Nam ra tuyên bố ba điểm: Hai bên chấm dứt mọi hoạt động quân sự, rút lực lượng vũ trang cách biên giới 5km; Hội đàm tiến tới ký hiệp ước hữu nghị và không xâm lược, ký hiệp ước về biên giới; Thỏa thuận về một hình thức thích hợp bảo đảm thông lệ quốc tế và giám sát quốc tế. Phớt lờ thiện chí của ta, quân Pol Pot tiếp tục huy động lực lượng áp sát biên giới và cho quân tiến công, xâm nhập nhiều điểm trên địa phận nước ta; lực lượng của ta kiên quyết đánh trả, giành lại các khu vực bị lấn chiếm.
Từ ngày 26-3-1978, các đơn vị quân đội ta chuyển sang tiến công, đẩy quân Pol Pot lùi xa dần biên giới và dồn đối phương vào thế bị động. Đồng thời, hỗ trợ trực tiếp cho phong trào nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia phát triển, đỉnh cao là cuộc nổi dậy từ ngày 26-5-1978 ở Quân khu Đông, làm suy yếu một bộ phận lực lượng quân Pol Pot. Sau cuộc nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông, quân Pol Pot vừa ráo riết thanh trừng nội bộ, vừa phải đối phó với lực lượng cách mạng Campuchia đang tiếp tục hoạt động ở nhiều nơi. Để hỗ trợ cho lực lượng cách mạng Campuchia tồn tại và phát triển, tạo thế cho hoạt động của ta vào mùa khô 1979, từ ngày 14-6 đến 30-9-1978, ta sử dụng Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 7), 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 5) mở tiếp đợt tiến công lớn trên các hướng đường 1, đường 7, vùng giáp biên giới Tây Ninh và đường 19 kéo dài nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tiến tới làm suy yếu một bước lực lượng quân Pol Pot…
Cuộc tiến công của ta hỗ trợ kịp thời cho lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông, buộc quân Pol Pot phải đối phó trên cả mặt trận biên giới và nội địa. Phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia trong đợt tiến công này, ta loại khỏi vòng chiến đấu 6 sư đoàn, làm suy yếu nghiêm trọng lực lượng chủ lực và đẩy lùi hầu hết quân Pol Pot ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Từ tháng 5 đến tháng 11-1978, Việt Nam giúp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia phát triển được 15 tiểu đoàn, 5 khung tiểu đoàn, 24 đội công tác, xây dựng được các tổ chức đảng, chuẩn bị thành lập mặt trận và bộ máy lãnh đạo…
Trước ý định tập trung 5 sư đoàn và 4 trung đoàn tiến công đánh chiếm Tây Ninh, sau đó sẽ mở rộng địa bàn đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam của Pol Pot, ngày 6 và 7-12-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm tổng phản công - tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch, hoàn thành cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia giành chính quyền về tay nhân dân... Ngày 23-12-1978, chúng huy động 10 trong số 19 sư đoàn đang bố trí ở biên giới mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta. Trước hành động xâm lược của Pol Pot và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23-12-1978, quân tình nguyện Việt Nam cùng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng phản công - tiến công trên toàn tuyến biên giới.
Ngày 26-12-1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pol Pot bị phá vỡ. Đến ngày 31-12-1978, quân và dân ta hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pol Pot ra khỏi lãnh thổ. Ngày 2-1-1979, 3 cụm quân chủ lực của Pol Pot, mỗi cụm 5 sư đoàn, án ngữ các trục đường tiến về Phnôm Pênh (đường 1, đường 7 và đường 2) cơ bản bị tiêu diệt và tan rã. Ngày 5 và 6-1-1979, trên tất cả các hướng, quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia truy kích, tiến sát Thủ đô Phnôm Pênh. Ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn được giải phóng./.
ST

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “DÙ ĐÃ ĐI SAI ĐƯỜNG NHƯNG CÓ CHUNG DÒNG MÁU, XIN HÃY CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC PHÉP HY SINH ĐỂ BẢO VỆ ĐỒNG BÀO”!

         Chiến sĩ Nguyễn Trọng Đức từng là một lính Biệt động quân thuộc VNCH nhưng cũng là chàng trai thuộc Đoàn 7705 của Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia chiến đấu chống lại Khmer trên chiến trường Campuchia. Có hàng trăm, hàng ngàn những người lính như anh Đức… Người ta thường gọi các anh là “những con người hai màu áo”!

Ngày mà đồng bào ở An Giang bị tàn sát, nhiều anh em từng đi lính dưới chế độ cũ đồng loạt tình nguyện gia nhập các lực lượng đánh Khmer Đỏ. Nhiều người trốn quân dịch cũng xuất hiện, khai báo thành thật để được cầm súng. Nhiều người khóc rơi nước mắt vì giờ họ đã “chính thức” trở thành những con đường có đúng đường lối, đúng mục tiêu và chiến đấu vì nhân dân đúng nghĩa… Họ có thể đã từng bị bắt ép tòng quân nhưng vào năm 1978 - 1979, họ sẵn sàng và can tâm tình nguyện! 

Có chiến sĩ tên Phạm Ngọc Long từng “đội mũ đỏ” đã chuyển sang đội mũ cối, trở thành lính của Sư đoàn 330. Khi được phát quân phục, mắt anh đỏ hoe, bảo rằng nhiều bạn bè đồng trang lứa ở quê anh đã đội chiếc mũ này và nhiều người đã ngã xuống. Điều đáng buồn là chỉ vài ngày sau, anh hy sinh tại Takéo. Trước khi hy sinh, anh ôm chiếc mũ cối vào trong lồng ngực.

Trong Lữ đoàn 22 tăng thiết giáp có nhiều chiến sĩ “hai màu áo”. Thậm chí những người lái đã từng đối đầu nhau trở thành đồng đội của một kíp lái M113, M67 Zippo, M48… Và nhiều người đã cùng nhau gắn bó và hy sinh… Rất nhiều lính kỹ thuật tăng thiết giáp VNCH đã đồng hành cùng với phía bộ đội ta để bảo trì, bảo dưỡng các thiết bị, xung phong ra chiến trận, không đòi hỏi cấp bậc, coi như là một hành động “bù đắp những sai lầm trong quá khứ”. 

Sư đoàn không quân 372 đã thu dung rất nhiều phi công, cán bộ kỹ thuật có gốc VNCH. Đại tá Lê Hải, Trung đoàn 937 kể lại rằng có những phi công VNCH trả lời rằng họ chấp mọi hình phạt và quản chế, miễn làm sao ra trận trả thù cho đồng bào. Có phi công tên là Hùng lái A-37 thuộc VNCH trả lời rằng anh đã từng tham gia ném bom vùng giải phóng, nhưng sợ chỉ dám ném từ trên cao. Phi công Hùng mong muốn cho anh có có hội làm lại, đất nước đã hòa bình, không một kẻ nào được hại đồng bào cùng máu đỏ da vàng… 

Anh hùng LLVT Nguyễn Văn Bảy từng chỉ huy hàng ngàn lính VNCH thu dung làm các nhiệm vụ vận tải đường không, kỹ thuật… Thậm chí, nhiều người được xét cho phép tham gia các nhiệm vụ trinh sát, thám báo, tấn công quân Khmer Đỏ. Đại tá Bảy nhớ có một anh lính trẻ đào tạo lái trực thăng UH-1 ở Philippines, chưa làm nhiệm vụ gì thì chiến tranh kết thúc, anh lính trẻ này nộp đơn xin được lái UH-1 để chuyển thương binh về TP. Hồ Chí Minh. Sau nhiều nhiệm vụ, anh lính này được trực tiếp tham gia chiến trường Campuchia và hy sinh ở Krong Battambang. Khi đưa thi hài của phi công này về, trong ngực áo của anh có tấm ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng đội anh chia sẻ rằng trong những ngày tham chiến, anh có đọc tiểu sử, câu chuyện của Bác và ước rằng sẽ một lần được ra thăm miền Bắc và cầu Hiền Lương.

45 năm từ chiến thắng Khmer Đỏ, một cuộc chiến tranh khốc liệt nhưng lại rất đặc biệt trong dân tộc ta… Những con người đã từng đối đầu nhau trở thành đồng đội, những con người từng “đội mũ đỏ” đã “đội mũ cối”. Những con người gạt đi quá khứ sử dụng phù hiệu "lôi hổ" để mang sắc phục người lính Quân đội nhân dân Việt Nam, ngồi trên C-130 hay EC-47 nhưng lại không nhắm vào những người “chung dòng máu” mà lại nhắm thẳng quân thù… 

Tại nghĩa trang liệt sĩ Dốc Bà Đắc, họ nằm cạnh nhau, trở thành những người đồng đội, đồng chí…
Yêu nước ST.

CHÂN DUNG NHỮNG VỊ TƯỚNG ĐƯỢC BÁC HỒ PHONG 76 NĂM TRƯỚC CÓ NGƯỜI DUY NHẤT LÀM ĐẠI TƯỚNG NĂM 37 TUỔI!

Có tất cả 11 cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Quân đội được Bác Hồ ký Sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. 11 người đó là ai?

Năm 1947, chiến thắng Việt Bắc Thu Đông đầy vẻ vang là cột mốc lịch sử mới cho Việt Nam nói chung, Quân đội nhân dân nước ta nói riêng. Cũng sau dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương đã bàn với nhau về việc thành lập Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia Việt Nam, phong quân hàm cho một số cán bộ Quân đội, cùng tặng thưởng huân chương cho những người lập được chiến công. Việc này nhằm động viên tinh thần bộ đội, đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng vũ trang qua hơn 2 năm chiến đấu.

Ngày 20/1/1948, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh phong quân hàm cho một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Quân đội. Có 11 người được phong hàm cấp tướng theo Sắc lệnh này.


Người đầu tiên là Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911 – 2013). Ông được xem là người anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Năm 1925, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Đến năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng CSVN).

Năm 1944, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ mới 33 tuổi, ông được Bác Hồ giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. 4 năm sau, ở tuổi 37, ông nhận quân hàm Đại tướng. Trong lịch sử dân tộc, ông là người duy nhất là Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Người thứ hai là Trung tướng Nguyễn Bình (1908 - 1951). Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ vào Nam Bộ, thống nhất các lực lượng vũ trang trong đó từ cuối năm 1945. Trung tướng Nguyễn Bình cùng ông Huỳnh Kim Trương đã thành lập Chi đội 1 - đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của Nam Bộ. Sau này, Quân khu 7 được thành lập và Trung tướng Nguyễn Bình chính là Tư lệnh.

Người thứ ba là Thiếu tướng Nguyễn Sơn (1908 – 1956). Thiếu tướng Nguyễn Sơn nổi tiếng với danh xưng “lưỡng quốc tướng quân” (tướng quân của hai nước). Ông có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc. Ngoài ra, tướng Nguyễn Sơn còn được phong hàm Thiếu tướng trong đợt đầu tiên của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Người thứ tư là Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (1906 – 1986). Ông từng là Chỉ huy trưởng mặt trận Bắc Kạn và Tuyên Quang, lãnh đạo quân đội chống lại cuộc tấn công đầu tiên của Pháp vào căn cứ Việt Bắc. sau này, Thiếu tướng Lê Thiết hùng còn làm Tư lệnh Bộ Chỉ huy Pháo binh, Hiệu trưởng đầu tiên của trường Sĩ quan Pháo binh kiêm Chỉ huy trưởng Sở Chỉ huy phòng không. Đến năm 1963, tướng Lê Thiết Hùng chuyển sang làm việc ở lĩnh vực đối ngoại.

Người thứ năm là Thiếu tướng Chu Văn Tấn (1909 – 1984). Ông nguyên là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông được binh sĩ Pháp đặt biệt danh là “Hùm xám Bắc Sơn).

Người thứ sáu là Thiếu tướng Hoàng Sâm (1915 – 1968). Ông là đội trưởng Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, dưới sự chỉ huy chung của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông được phong hàm Thiếu tướng vào năm 33 tuổi.

Người thứ bảy là Thiếu tướng Hoàng Văn Thái (1915 – 1986). Ông chính là Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Về sau, tướng Hoàng Văn Thái được phong hàm Đại tướng và từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.


Người thứ tám là Thiếu tướng Lê Hiến Mai (1918 – 1992). Chuyện kể rằng tướng Lê Hiến Mai có hàm răng hô nên mọi người thường trêu ông là “mái hiên”. Chủ tịch Hồ Chí Minh biết chuyện đã gọi ông lên, đặt cho bí danh mới theo cách nói lái là Hiến Mai. Cái tên này cũng theo ông suốt cuộc đời sau này.

Người thứ chín là Thiếu tướng Văn Tiến Dũng (1917 – 2002). Ông là Tổng Tham mưu trưởng lâu năm nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau này, ông được phong hàm Đại tướng vào năm 1974 và từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giai đoạn 1980 – 1986.

Người thứ mười là Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa (1913 – 1997). Ông chính là người đã theo Bác Hồ về nước để tham gia tổ chức, chế tạo vũ khí cho quân đội ta ở Việt Bắc. Cái tên Trần Đại Nghĩa cũng chính Bác đặt cho vị tướng này (tên thật của ông là Phạm Quang Lễ). Tướng Trần Đại Nghĩa được Hồ Chủ tịch giao cho giữ chức Cục trưởng Cục Quân giới (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam). Nhắc đến vị tướng này là phải nhắc đến những loại vũ khí nổi tiếng như đạn Bazoka, súng SKZ, bom bay…

Người cuối cùng là Thiếu tướng Trần Tử Bình (1907 – 1967). Ông chính là người đã lãnh đạo cuộc nổi dậy của hơn 5.000 công nhân đồn điền cao su Phú Riềng, làm nên một “Phú Riềng đỏ” oai hùng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam./.


Yêu nước ST.

Cô giáo, đảng viên trẻ nhiệt tình, tâm huyết trong đổi mới sáng tạo giảng dạy

Là một khối trưởng, cô liên tục học hỏi và lan tỏa sự sáng tạo của mình cho các bạn trong khối. Cô nhiệt tình bảo ban, kèm cặp các bạn đồng nghiệp mới, chỉ cho cách dạy từng dạng bài, sửa cho từng câu, từng chữ trong giáo án. Cô sẵn sàng chia sẻ, hỗ trợ trong các cuộc thi giáo viên giỏi, chuyên đề của trường, thậm chí của quận. Chính sự nhiệt huyết và cảm hứng của cô đã giúp đồng nghiệp tự tin, đạt kết quả tốt nhất trong mỗi giờ thao giảng.

Năng động và sôi nổi, có khả năng quy tụ quần chúng, dù ở cương vị nào khối trưởng chuyên môn hay Ban Chấp công đoàn, cô cũng luôn nhiệt tình cống hiến và là chỗ dựa tin cậy của đồng nghiệp. Có cô ở đâu, tiếng cười lại rộ lên ở đó bởi cách nói chuyện có duyên, hài hước, tinh thần lạc quan của cô khiến ai cũng thấy thoải mái. “Làm việc hết mình, chơi nhiệt tình” là phương châm sống của cô. Bằng tài năng và tâm huyết của mình, cô giáo Na Sa luôn được học sinh và phụ huynh tin yêu. Kiến thức vững vàng càng giúp cô phát huy hết năng lực sở trường, đem về nhiều thành tích góp phần vào bảng vàng của  nhà trường: đạt giải Nhì Môn Tiếng Việt cấp Quận năm 2018; Đạt giải Nhất cuộc thi “Thiết kế bài giảng điện tử E-learning” cấp Quận năm học 2020 - 2021; Đạt giải Nhì cuộc thi thiết kế bài giảng điện tử, phần mềm dạy học năm 2022 cấp Thành Phố và đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở năm học 2021-2022. Cô còn được nhận nhiều Giấy khen: “Gia đình công nhân viên chức, lao động tiêu biểu”, “Giỏi việc nước- đảm việc nhà”, “Đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.

Đang ở độ tuổi chín muồi về sự nghiệp, những thành tích mà cô Lê Thị Na Sa gặt hái được chắc chắn sẽ không dừng lại. Cô chính là hình ảnh của người giáo viên hiện đại, là “người truyền lửa” cho đồng nghiệp và các thế hệ học sinh, là “bông hoa tươi sắc” góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp mà mái trường Tiểu học Nghĩa Dũng đang thực hiện. Chắc hẳn đến giờ, người cha của cô sẽ vô cùng tự hào về cô con gái nhỏ có cái tên mà ông đã gửi gắm khi lấy tên nhân vật Na-ta-sa trong tác phẩm nổi tiếng “Chiến tranh và Hòa bình” để đặt cho cô - một cô gái nhân hậu, giàu tình yêu người, yêu cuộc sống./.


Sưu tầm

Vũ khí của tự phê bình và phê bình để tự cứu mình và giúp người

 

Trong rất nhiều thang thuốc để phòng, chống và đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thì tự phê bình và phê bình là thang thuốc hữu hiệu nhất. Đó là “vũ khí” để chữa bệnh cá nhân chủ nghĩa/chủ nghĩa cá nhân, nên mỗi người, mỗi tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị (gọi chung là tổ chức) cần phải sử dụng thường xuyên, nghiêm túc như “rửa mặt hằng ngày” để gột rửa sạch những vết tích, tàn dư của chế độ cũ, để trừ bỏ mọi thói hư, tật xấu trong người. Vì tự phê bình và phê bình là “vũ khí” sắc bén, nên cá nhân, tổ chức sử dụng vũ khí đều phải dùng đúng chức năng, công năng, đúng hoàn cảnh, thời điểm... mới bảo đảm đạt hiệu quả cao nhất. 

Trong đó, tự phê bình là quá trình tự soi chính bản thân mình, nên khi soi phải đồng thời “nêu ưu điểm và vạch ra khuyết điểm của mình”. Đối với khuyết điểm của bản thân thì phải “thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.

Tình trạng nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý” vì sợ mất lòng, “mất phiếu”, ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân cũng như tâm lý sợ bị phê bình nên phải phê bình người khác nhưng phê bình chiếu lệ, một chiều, mang tính hình thức-thực chất là nói để lấy lòng nhau vẫn còn. Vì thế, để “vũ khí” tự phê bình và phê bình sắc bén trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, thì:

Cấp trên gương mẫu tự kiểm điểm trước để cấp dưới noi theo; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp uỷ viên và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo kiểm điểm trước, đảng viên kiểm điểm sau. Trong kiểm điểm, cấp dưới phải mạnh dạn phê bình cấp trên; tổ chức cơ sở đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng, để nguyên tắc tự phê bình và phê bình không chỉ bảo đảm chất lượng, hiệu quả mà còn góp phần làm tăng uy tín của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi tổ chức./.

Sưu tầm

Việt Nam đạt nhiều tiến bộ quan trọng trong thúc đẩy quyền cho người dân tộc thiểu số

 

Báo cáo quốc gia định kỳ tiếp tục khẳng định chủ trương, đường lối nhất quán của Đảng, Chính phủ Việt Nam về các dân tộc thiểu số như đã được ghi rõ trong Điều 5, Hiến pháp năm 2013 hoàn toàn phù hợp với định nghĩa về chống phân biệt chủng tại Điều 1 Công ước CERD; đồng thời chia sẻ những thành tựu Việt Nam đã đạt được trong công tác dân tộc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2023.

Theo đó, từ năm 2013 đến nay, hệ thống pháp luật Việt Nam liên tục được xây dựng và hoàn thiện tương đối đồng bộ, đáp ứng về cơ bản quyền con người trong đó có việc bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào DTTS. Trong mười năm qua, Quốc hội Việt Nam đã ban hành 125 luật trong đó có 352 điều khoản luật trực tiếp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các DTTS.

Mục tiêu của Việt Nam là củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình cùng nhau xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và giàu mạnh. Việc pháp luật Việt Nam khẳng định và chống mọi hành vi xâm phạm quyền bình đẳng dân tộc, gây thù hằn, kỳ thị, chia rẽ dân tộc và thực hiện các biện pháp hỗ trợ, ưu đãi cho DTTS là hoàn toàn phù hợp với định nghĩa về chống phân biệt chủng tộc tại điểm 4, Điều 1 Công ước CERD.

Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền cho người DTTS và người nước ngoài tại Việt Nam đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập Công ước CERD vào năm 1982. Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam được xây dựng và phù hợp với các quy định trong luật pháp quốc tế. Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, các cơ chế, chính sách, huy động nguồn lực phát triển bảo đảm bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào DTTS. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh mới./.

Sưu tầm

Lễ Giáng sinh - Minh chứng sinh động về tự do, tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam

 

Lễ Giáng sinh hay còn gọi là Noel ở Việt Nam thường diễn ra từ tối 24 đến hết ngày 25/12, là thời điểm để mọi người có thể đi lễ, vui chơi, tặng quà và gửi cho nhau những lời chúc tốt đẹp. Tại Việt Nam, lễ Giáng sinh không chỉ dành cho những người theo đạo Thiên Chúa mà giờ đây đã trở thành dịp vui chơi của nhiều người, nhất là với giới trẻ.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Ở Việt Nam có những tôn giáo nội sinh (Phật giáo Hoà Hảo, Cao đài) song hành cùng các tôn giáo du nhập từ bên ngoài (Công giáo, Phật giáo, Tin lành). Ở nước ta, các tôn giáo luôn luôn giữ mối đoàn kết và tôn trọng niềm tin tôn giáo lẫn nhau, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi tôn giáo có đức tin và hệ thống giáo lý, giáo luật, nghi thức tôn giáo riêng, là đặc trưng để phân biệt tôn giáo này với tôn giáo khác. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tôn giáo vẫn có điểm tương đồng. Người viết: “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”. Bác phân tích: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái; Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi; Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”, từ đó để chỉ cho quần chúng tín đồ thấy rõ, dù theo các tôn giáo khác nhau nhưng mọi người đều hướng tới điều thiện, xây dựng một xã hội tốt đẹp. Theo Bác, những giá trị đạo đức của tôn giáo như bác ái, từ bi, nhân nghĩa rất phù hợp với đạo đức của truyền thống dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay.

Có thể nói, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, chức sắc, chức việc, tín đồ ngày càng đông, cơ sở thờ tự ngày càng khang trang, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tăng cường giao lưu, học tập, trao đổi các đoàn với các tổ chức tôn giáo trên thế giới. Từ năm 2011 đến nay đã có gần 2.000 lượt cá nhân tôn giáo xuất cảnh tham gia khóa đào tạo ở nước ngoài, tham dự hội thảo, hội nghị quốc tế liên quan đến tôn giáo, gần 500 đoàn nước ngoài với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam để trao đổi, giao lưu, hướng dẫn tại cơ sở thờ tự ở Việt Nam. Điều đó không chỉ thể hiện sự chăm lo toàn diện của Đảng, Nhà nước đối với đời sống tôn giáo mà còn là sự tin tưởng, kỳ vọng của đông đảo chức sắc, tín đồ về đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng qua những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

Như vậy, với những thành tựu đã đạt được của Việt Nam trong đảm bảo tự do, tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có thực tiễn sinh động trong dịp Giáng sinh đã góp phần tạo nên một bức tranh toàn cảnh đa sắc màu trong nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Thực tiễn đó là minh chứng khách quan, rõ ràng phản bác các luận điệu sai trái mà các thế lực xấu đang rêu rao, xuyên tạc./.

Sưu tầm

Luận điệu “bẻ lái” chính sách ân giảm án tử hình

 

Việc Chủ tịch nước ân giảm hình phạt tử hình xuống tù chung thân cho các bị án thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, mở ra cho họ con đường được sống, ăn năn hối cải, phục thiện, cải tạo để có cơ hội trở về với gia đình, cộng đồng, xã hội. Tuy nhiên, trên các trang thông tin phản động ở nước ngoài lại cho rằng hoạt động trên là “tuỳ tiện” và chỉ nhằm “lấy lòng” trước khi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc tổ chức phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV đối với Việt Nam vào tháng 4/2024.

Cần khẳng định rằng, những đối tượng phạm tội đều phải bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự. Pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người. Việc thực hiện ân giảm án tử hình và đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội. Đây là việc thực hiện theo quy định của luật pháp vào các dịp ngày lễ lớn của đất nước và các đợt rà soát cụ thể, không phải Việt Nam thực hiện ân giảm án tử hình nhằm “lấy lòng” các nước thành viên trước khi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc tổ chức phiên Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV đối với Việt Nam như luận điệu các thế lực xấu nhắm vào chỉ trích, vu cáo. Trước đó, tháng 8/2023, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cũng đã có quyết định ân giảm từ hình phạt tử hình xuống tù chung thân cho 11 bị án. Trong năm 2022, Chủ tịch nước cũng 2 lần ra quyết định ân giảm từ án tử hình xuống chung thân cho 31 trường hợp, gồm 4 bị án là người nước ngoài.

Chủ tịch nước thực hiện ân giảm án tử hình và đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn vào dịp Quốc khánh hay Tết Nguyên đán là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội. Bên cạnh đó, việc công khai, minh bạch, dân chủ trong thực hiện các trình tự thủ tục xét đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn; thông tin đầy đủ cho các cơ quan báo chí trong nước, quốc tế và tổ chức các chuyến thăm, khảo sát tại các trại giam cho các tổ chức nhân quyền quốc tế đã thể hiện rõ chính sách ưu tiên bảo đảm và thúc đẩy quyền con người của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, đó cũng là minh chứng rõ nét bác bỏ các luận điệu của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng công tác ân giảm án tử hình, chính sách đặc xá, giảm án, tha tù để vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam./.

Sưu tầm

Nhận diện quan điểm xuyên tạc chính sách hòa hợp dân tộc ở Việt Nam

 

Đến nay, sau gần 50 năm, hòa hợp dân tộc đã phát triển, nâng tầm thành chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Thế nhưng, sau ngày 30/4/1975, vẫn còn nhiều người mang trong mình tâm lý tự ti, bảo thủ, không chịu thừa nhận sự thật lịch sử, luôn cố tình xuyên tạc, cản trở, đi ngược lại con đường hòa hợp dân tộc và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây cũng là nhận định của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam.

Có thể nói điều này rất rõ, không ai ở đất nước này mà không thấy tính nhân đạo, nhân văn, khoan dung, độ lượng. Bác Hồ của chúng ta đã từng nói, bàn tay có 5 ngón tay. 5 ngón tay có ngón dài, ngón ngắn nhưng cùng chung trên một bàn tay. Điều đó Người muốn nói rằng, trong đất nước của chúng ta, những người dân Việt Nam cũng có những người thế này, thế kia. Có những người đi ngược lại trào lưu lịch sử, phản bội dân tộc. Mà đã là người dân Việt Nam, thì tìm mọi cách để họ nhận ra sai lầm, khuyết điểm, sửa chữa và hối lỗi, để từ đó gắn bó cùng dân tộc, xây dựng và phát triển. Những người có tội lỗi, đáng lẽ phải đưa ra tòa xét xử về tội phạm chiến tranh. Thế nhưng chúng ta cũng không mở tòa án binh để xét xử về tội phạm chiến tranh. Mà chỉ có cải tạo họ. Điều đó nói lên tinh thần nhân ái, khoan dung, độ lượng và thể hiện chính sách hòa hợp dân tộc.

Họ tìm cách để xóa bỏ chế độ ta, thực chất là gì, là xóa đi thành quả cách mạng của Việt Nam, để họ không thừa nhận sự thất bại đau đớn mà họ đã gây ra trong thế kỷ thứ XX đối với dân tộc Việt Nam. Nguyên nhân thứ hai là bởi vì tội lỗi của họ quá nặng nề. Bao nhiêu năm nay, họ không thức tỉnh, họ vẫn khư khư bám lấy cái sai. Đây cũng là quy luật của tư tưởng. Tư tưởng không phải dễ gì thay đổi một cách dễ dàng. Non sông dễ chuyển nhưng bản tính khó dời. Chính những người này là những người bảo thủ, đi trái và hiện thực, không cùng đường với dân tộc. Thứ ba, tôi được biết, nhóm người này núp dưới danh nghĩa tổ chức này, tổ chức kia để đi vận động quyên góp nhằm tạo ra những điều kiện bảo đảm cho cuộc sống của mình./.

Sưu tầm

Việt Nam với những thành tựu không thể phủ nhận về quyền con người

 

Thực tế có thể chỉ ra hàng loạt những điều cốt lõi và cơ bản về quyền con người được Việt Nam thực thi một cách đầy đủ. Hằng năm, nhân dịp Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước đều ký Quyết định đặc xá tha tù trước thời hạn cho những phạm nhân có quá trình cải tạo tốt. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo và được khẳng định tại các bản Hiến pháp.

Trong sự phát triển về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại... của đất nước trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Theo đó, quyền con người, quyền công dân được thực thi khi nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ (quyền bầu cử, bãi nhiệm; quyền ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước của công dân; quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân; quyền tham gia xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền giám sát đối với cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức; quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước) theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Mối quan hệ tốt đẹp này cần được tăng cường hơn nữa trong thời gian tới để thúc đẩy hòa bình, sự phát triển bền vững và quyền con người trên thế giới”. Thế giới đã và đang có cái nhìn thân thiện hơn về Việt Nam trong vấn đề nhân quyền, đặc biệt trước sự nỗ lực về xóa đói giảm nghèo cho người dân. Tình trạng nghèo cùng cực tại Việt Nam đã giảm từ tỷ lệ cao nhất khoảng 40% ở những năm 1990 xuống dưới 5% vào năm 2020. Đó chính là nỗ lực tạo nên sự thay đổi phi thường.

Đến năm 2021, tổ chức này tiếp tục xếp Việt Nam đứng đầu châu Á và đứng thứ 5 thế giới trong bảng xếp hạng Chỉ số hành tinh hạnh phúc. Theo Liên hợp quốc, Chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam liên tục tăng theo các năm và hiện lọt vào nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 115/191 quốc gia và vùng lãnh thổ./.

Sưu tầm

“Phủ xanh” thông tin tích cực, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Trong thời gian tới, để triển khai thực hiện Nghị quyết 35 trên địa bàn ngày càng hiệu quả, TP Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục thực hiện việc lấy “xây” để “chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, trong đó, chú trọng đến phần xây “phủ xanh” thông tin tích cực; tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân cùng chung tay tham gia công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tại Hội nghị, đồng chí Phan Nguyễn Như Khuê, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh đã báo cáo kết quả 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 35 trên địa bàn Thành phố. Theo báo cáo, trong 5 năm qua, Ban Chỉ đạo 35 Thành ủy và Ban Chỉ đạo 35 quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sở thuộc Đảng bộ Thành phố đã kịp thời tham mưu với cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện Nghị quyết 35 đồng bộ, thống nhất, sát với tình hình thực tiễn. Bám sát sự chỉ đạo, định hướng của trên, các cơ quan, đơn vị đã tổ chức, thực hiện hiệu quả việc học tập, thực hiện quán triệt Nghị quyết số 35 và các kế hoạch, kết luận, hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Chỉ đạo 35 Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Gắn nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, xác định trọng tâm là bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Trong thời gian tới, Ban Chỉ đạo 35 các cơ quan, đơn vị tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, kết luận, kế hoạch, hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Tiếp tục thực hiện việc lấy “xây” để “chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Trong đó, chú trọng đến phần xây “phủ xanh” thông tin tích cực; tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân cùng chung tay tham gia công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường trao đổi, chia sẻ một số kinh nghiệm để sự phối hợp ngày càng tốt hơn giữa Trung ương và địa phương, cùng thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Tiếp tục thực hiện nghiêm Quy định số 85-QĐ/TW về việc cán bộ, đảng viên thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên Internet, mạng xã hội tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn Thành phố.

Sưu tầm

Đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội

 

Về bản chất, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của kẻ thù nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tước bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Từ đó, làm cho quân đội mất phương hướng chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các bước tiếp theo giống như kiểu “Cách mạng hoa hồng”, “Cách mạng cam”, “Cách mạng đường phố” đã được thực hiện thành công ở một số nước.

Để thực hiện âm mưu, thủ đoạn đó, các thế lực thù địch xác định coi Quân đội Nhân dân Việt Nam là một mục tiêu tập trung chống phá nhằm “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa, làm mất sức chiến đấu, quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, phân rã về tư tưởng, lỏng lẻo về tổ chức, mơ hồ về đối tác, đối tượng; cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; đưa ra mô hình quân đội của một số nước và viện dẫn “lý luận” để chứng minh quân đội không liên quan đến chính trị. Vì vậy, đập âm mưu “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch đã trở thành một nội dung cơ bản trong công tác tư tưởng, lý luận ở các đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay.

Do vậy, để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, thủ đoạn của địch rất đa dạng, tinh vi và nguy hiểm. Một mặt, tiến công vào quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Trước sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, bên cạnh những tác động tích cực thì quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế không thể không chịu sự tác động từ mặt tiêu cực, không chỉ về kinh tế mà còn về văn hóa, xã hội, thậm chí cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức.

Không chỉ tấn công trực diện vào chính trị, mà địch còn tiến công thông qua việc triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, nhất là thông qua các trang mạng xã hội, thông qua Internet; thông qua các đoàn khách quốc tế, các tổ chức có quan hệ với Việt Nam; thông qua việc gửi cán bộ, nhân viên đi nghiên cứu, tham quan, học tập ở nước ngoài và việc người nước ngoài đến Việt Nam ngày càng nhiều với nhiều mục đích khác nhau. Các thế lực thù địch đang và sẽ tiếp tục tấn công vào lối sống, truyền bá chủ nghĩa thực dụng, chạy theo đồng tiền, hưởng thụ và buông thả, thờ ơ của lãnh đạo, không quan tâm đến các vấn đề chính trị, xã hội tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, làm cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng thẩm thấu, xâm nhập sâu vào đời sống tinh thần của quân đội, làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, mất cảnh giác, suy yếu dần, từ đó làm suy giảm bản chất cách mạng, suy giảm về bản chất chính trị, đó là sự bắt đầu của quá trình “phi chính trị hóa”, làm cho quân đội trượt dần sang chính trị phản cách mạng.

Thực hiện tốt các vấn đề nêu trên có ý nghĩa cơ bản, thiết thực, làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, xây dựng các đơn vị cơ sở trong quân đội vững mạnh về chính trị, xứng đáng là lực lượng chiến đấu trung thành, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Sưu tầm

Tăng cường bồi dưỡng văn hóa chính trị cho sinh viên

 

Tăng cường bồi dưỡng văn hóa chính trị là cơ sở quan trọng để sinh viên nghiên cứu, nắm vững và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Văn hóa chính trị là một thành tố của văn hóa, có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức xã hội, định hướng điều chỉnh các hành vi và quan hệ xã hội đồng thời cổ vũ, thúc đẩy hoạt động của cá nhân và giai cấp. Văn hóa chính trị giữ vai trò to lớn đối với mỗi quốc gia, dân tộc trong tổ chVăn hóa chính trị của sinh viên được thể hiện trong tư tưởng, hành vi, phẩm chất và trong các hành hoạt động chính trị thực tiễn của mỗi cá nhân trước tập thể, cộng đồng, xã hội. Hiện nay, đời sống chính trị xã hội đang có những tác động không nhỏ đến nhãn quan chính trị, định hướng chính trị, phẩm chất, tri thức của sinh viên. Đặc biệt, mặt trái kinh tế thị trường làm cho một bộ phận sinh viên dao động về lý tưởng sống; làm nảy sinh tâm lý ngại học, ngại rèn luyện bản thân. Do vậy, cần tăng cường bồi dưỡng văn hóa chính trị để giúp sinh viên hiểu rõ mục tiêu lý tưởng của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; từ đó củng cố niềm tin và nâng cao năng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận cho sinh viên. Giúp sinh viên thêm hiểu biết và nhận thức đúng đắn về nền tảng tư tưởng của Đảng, từ đó tích cực tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận và nền tảng tư tưởng của Đảng.ức xã hội, định hướng điều chỉnh hành vi và quan hệ xã hội.

Bên cạnh đó, bồi dưỡng văn hóa chính trị cần gắn liền với tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho sinh viên. Theo đó, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho sinh viên kết hợp với việc đào tạo, bồi dưỡng, đảm bảo chất lượng về phẩm chất đạo đức, chính trị, chuyên môn nghiệp vụ. Qua đó, giúp họ nêu cao ý thức tự giác trong chấp hành pháp luật của Nhà nước, quy định của các nhà trường, địa phương nơi cư trú. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; coi trọng khơi dậy ở sinh viên tinh thần “7 dám” và phát huy phẩm chất đạo đức lối sống, truyền thống văn hóa dân tộc.

Đặc biệt, chú trọng xây dựng môi trường văn hóa chính trị thuận lợi cho sinh viên. Môi trường văn hóa chính trị có ảnh hưởng lớn đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm và nhân cách của con người. Do vậy, cần quan tâm xây dựng môi trường văn hóa nhà trường thật sự trong sạch, lành mạnh, nhân văn, dân chủ, đề cao và tôn vinh truyền thống hiếu học, trọng hiền tài, tôn sư trọng đạo. Các cơ sở giáo dục đại học cần trang bị cho học sinh, sinh viên những kỹ năng mềm trong việc xử lý các thông tin, tình huống phức tạp trên không gian mạng. Cung cấp cho họ những thông tin, tri thức pháp luật, các quy định của Nhà nước khi tham gia cung cấp, chia sẻ thông tin, hình ảnh trên các diễn đàn truyền thông, mạng xã hội; hình thành lối ứng xử văn hóa, văn minh; nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng; chủ động đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

Sưu tầm