Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng”

 

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, đã chỉ ra 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; trong đó, “phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng” là một biểu hiện ở cấp độ cao nhất. Đấu tranh với biểu hiện này có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ngăn chặn, triệt tiêu sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Nhận diện những biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng

Chúng ta biết, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng cách mạng xuyên suốt của Đảng và dân tộc Việt Nam; là con đường đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại để đưa đất nước ta ngày càng phát triển, trường tồn, nhân dân ta ấm no, hạnh phúc. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Trong suốt gần 80 năm qua, đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong Quân đội luôn thấm nhuần, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì mục tiêu cao cả đó. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan mà một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; biểu hiện trên một số khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, mơ hồ, hoài nghi về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; dao động, thiếu lòng tin vào mục tiêu của cách mạng, nền tảng tư tưởng của Đảng; nhận thức không đúng, không đầy đủ về Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; mất phương hướng phấn đấu vươn lên.

Thứ hai, dao động về lập trường, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, cho rằng cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thứ ba, thờ ơ, bàng quan, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; không còn hết lòng vì nước, vì dân, vì tập thể cơ quan, đơn vị, dẫn tới không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

Thứ tư, vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ để tham ô, tham nhũng, tiêu cực làm thiệt hại tài sản của đất nước, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Đấu tranh với những biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay

Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng là rất nguy hiểm; làm xói mòn phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gây ra những tổn hại cho sự nghiệp cách mạng, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị và Quân đội. Do đó, kiên quyết đấu tranh, kịp thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện này là nhiệm vụ cấp bách, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp.

Một là, cấp ủy, tổ chức đảng nêu cao tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình, nhận rõ, kiên quyết đấu tranh với biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng”. Thực tiễn cho thấy, biểu hiện suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên được thể hiện đa dạng, ở nhiều mức độ khác nhau, thậm chí được che giấu rất tinh vi. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần nêu cao tính chiến đấu thường xuyên và liên tục thông qua tự phê bình, phê bình mới làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng nhận ra và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện đó; giúp nhau sửa chữa, khắc phục. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất, là “thang thuốc hay nhất”, “hữu hiệu nhất” để sửa chữa chữa khuyết điểm. Để thực hiện tốt, các cấp ủy, tổ chức đảng phải duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình; đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải có “dũng khí”, dám nhìn thẳng vào khuyết điểm, “dám nói”, trên tinh thần vì sự tiến bộ của tổ chức, của đồng chí, đồng đội để đấu tranh với bản thân, với đồng chí, đồng đội, thậm chí là cấp trên về những biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Song, kiên quyết tránh động cơ cá nhân trong tự phê bình và phê bình làm ảnh hưởng đến uy tín, phẩm chất của tổ chức, cán bộ, đảng viên.

Hai là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Đây là giải pháp quan trọng để phát hiện, ngăn chặn từ sớm, từ xa những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên, nhất là trong tình hình hiện nay. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng… chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên”1. Vì vậy, để tạo sức mạnh trong đấu tranh, ngăn chặn biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban kiểm tra đảng các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát định kỳ, đột xuất để kịp thời cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm. Nội dung kiểm tra, giám sát phải toàn diện, được tiến hành thường xuyên; chú trọng kiểm tra, giám sát về tư tưởng chính trị, thực hiện Cương lĩnh chính trị, các nghị quyết, nguyên tắc sinh hoạt của Đảng. Quá trình thực hiện cần phối hợp chặt chẽ với công tác bảo vệ chính trị nội bộ, các biện pháp hành chính, kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo tinh thần không có “vùng cấm”; đưa ra khỏi bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất làm trong sạch nội bộ.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp nền tảng, xuyên suốt góp phần làm cho mọi cán bộ, đảng viên luôn giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Theo đó, công tác giáo dục phải bao quát trên tất cả các nội dung, song cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi là: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng cách mạng; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương; đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần suốt đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của người cán bộ, đảng viên. Trong quá trình giáo dục phải chỉ ra, kiên quyết đấu tranh với nhận thức sai trái, luận điệu xuyên tạc; những biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi cán bộ, đảng viên. Qua đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, khơi dậy niềm vinh dự, tự hào, khát vọng cống hiến, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, “vượt qua chính mình” trước những “cám dỗ” về vật chất, danh lợi, địa vị và sự lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch, ra sức phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, xây dựng tổ chức cơ sở đảng các cấp trong sạch, vững mạnh, tạo môi trường tốt để rèn luyện, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên. Tổ chức cơ sở đảng là nơi đảng viên sinh hoạt, công tác; nơi quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên. Vì vậy, để đấu tranh hiệu quả với những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên, việc xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ là giải pháp cơ bản, cấp bách. Theo đó, các tổ chức cơ sở đảng tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương, v.v. Qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nhất là khả năng đấu tranh trước những hiện tượng tiêu cực, biểu hiện suy thoái, chủ nghĩa cá nhân của cán bộ, đảng viên.

Năm là, nêu cao ý thức “tự soi, tự sửa” trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng là một trong những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, nó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu lơ là, xem nhẹ, buông lỏng, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống sẽ là mảnh đất màu mỡ dẫn tới tha hóa, biến chất, thậm chí phản bội Tổ quốc. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật có nguyên nhân căn bản từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần “tự soi, tự sửa”, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, cả trong tư tưởng, suy nghĩ và hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”2. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, đó không chỉ là yêu cầu của cấp ủy, tổ chức đảng, mà thực hiện tốt góp phần làm cho bản thân ngày càng hoàn thiện hơn. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải có quyết tâm cao, kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện; đăng ký với cấp ủy, tổ chức đảng để theo dõi, giám sát, đôn đốc, nhắc nhở; định kỳ kiểm điểm, đánh giá, kịp thời khắc phục những hạn chế, khuyết điểm.

Chủ nghĩa cá nhân, biểu hiện “phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, tuy đã được ngăn chặn bước đầu, song vẫn diễn biến phức tạp, làm suy yếu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức mạnh, sự đoàn kết, thống nhất trong mỗi tổ chức đảng, phai nhạt phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên; đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần nhận thức sâu sắc, quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, chủ động, sáng tạo, thực hiện đồng bộ các giải pháp. Qua đó, không chỉ tạo ra nguồn cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, đẩy lùi biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, mà còn tô thắm và làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Sưu tầm

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình sắp xếp, hoạt động và đổi mới doanh nghiệp

 Thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp đa sở hữu, nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm nguồn vốn khác trong xã hội để phát triển sản xuất, kinh doanh; tạo động lực mạnh mẽ và xây dựng cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp nhà nước; bảo đảm hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động; từng bước đổi mới thiết bị, công nghệ, máy móc hiện đại, mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng tích lũy và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao đời sống của người lao động.

Tính từ năm 2011 đến nay, tổng số doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa là 631 doanh nghiệp(1), thu hút hàng trăm nghìn lao động, có đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật lành nghề, đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ mới. Quản trị doanh nghiệp được cải thiện, cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch hơn. Thực tế nhiều năm qua, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đã nỗ lực khơi dậy tiềm năng, nội lực, khám phá thị trường, thúc đẩy tinh thần dám nghĩ, dám làm và đổi mới các hình thức quản lý phù hợp với năng lực vốn có của mình. Sự hợp tác lành mạnh, hiệu quả giữa các loại hình doanh nghiệp đã làm tăng năng lực xã hội, cả về tri thức, khoa học - kỹ thuật, công nghệ và năng lực sáng tạo của đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật và người công nhân.

Các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được hình thành do tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nên đều được kế thừa tổ chức đảng (đảng bộ hoặc chi bộ) và các đoàn thể quần chúng từ doanh nghiệp nhà nước chuyển sang. Tuy nhiên, do có sự thay đổi về chế độ sở hữu và cơ chế quản lý, nên nhận thức của một số cán bộ, đảng viên về vai trò, vị trí của tổ chức đảng trong loại hình doanh nghiệp này còn chưa đúng mức; nội dung và phương thức hoạt động chậm được đổi mới, còn lúng túng, hiệu quả thấp.

Để phù hợp với cơ chế quản lý mới, nhiều đảng bộ, chi bộ cơ sở đã xây dựng được quy chế hoạt động, xác định phương thức lãnh đạo và mối quan hệ phối hợp giữa cấp ủy và hội đồng quản trị, ban giám đốc, bảo đảm đảng bộ, chi bộ cơ sở trong doanh nghiệp là hạt nhân chính trị, lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên, người lao động thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm vai trò lãnh đạo chính trị của tổ chức đảng, chức năng quản lý của hội đồng quản trị, sự chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành sản xuất, kinh doanh của tổng giám đốc (giám đốc).

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7 Nguyễn Mạnh Thắng phát huy trí tuệ của tập thể trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao_Ảnh: Tư liệu

Nhận rõ vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa trong nền kinh tế đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng trong loại hình doanh nghiệp này, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm tăng cường và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ và xây dựng tổ chức đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và doanh nghiệp khu vực tư nhân(2). Nhờ đó, trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, nhiều tổ chức đảng đã xây dựng được quy chế hoạt động, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và các mối quan hệ công tác với hội đồng quản trị, ban giám đốc, từng bước khắc phục tình trạng buông lỏng lãnh đạo của tổ chức đảng trong doanh nghiệp; phát huy vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên và người lao động thực hiện hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ở những doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, hoạt động của tổ chức đảng chưa phát huy được hết vai trò lãnh đạo, nhất là ở những nơi mà chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc không tham gia cấp ủy hoặc không phải là đảng viên.

Do đó, nhiều vấn đề đang đặt ra và cần có giải pháp, như cần phát huy vai trò lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ cơ sở như thế nào; thực hiện mối quan hệ giữa cấp ủy với đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc để bảo đảm thực chất, hiệu quả đối với những doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối.

LHQ-ST

XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” TRONG BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

“Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” - lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của các cấp chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, trở thành bài học quý báu đối với mọi mặt công tác Công an, đặc biệt là trong công cuộc xây dựng “thế trận lòng dân” trong bảo vệ Tổ quốc - từ lịch sử đến hiện tại.


Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng có tính cốt tử của “lòng dân” và “thế trận lòng dân”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.


Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đưa nội dung xây dựng “thế trận lòng dân” lên một tầm cao mới, không chỉ tiếp tục khẳng định vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân” mà còn bổ sung vấn đề “phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Về điều này, Đại tướng, GS.TS Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an cho rằng đây không chỉ đơn thuần là sự sắp xếp cơ học mà còn là sự khẳng định, bổ sung, có sự phát triển mới trong tư duy của Đảng về đường lối an ninh, quốc phòng và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xác định rõ vị trí, ý nghĩa của “thế trận lòng dân”.


Cùng với khẳng định, nâng tầm “thế trận lòng dân” là một trong những sức mạnh nội sinh của dân tộc, Nghị quyết Đại hội XIII cũng nêu vấn đề này một cách rõ nét, toàn diện hơn, đó là: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”. “Thế trận lòng dân” không chỉ là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân mà hơn nữa, “thế trận lòng dân” thâm nhập từng yếu tố, tạo sức mạnh nội sinh, trên cơ sở đó phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Xây dựng “thế trận lòng dân” là vấn đề có tính chiến lược, toàn dân, toàn diện, thường xuyên, liên tục, có sự thống nhất cao giữa “ý Đảng” và “lòng dân”; thể hiện sự đồng thuận của nhân dân một lòng đi theo sự lãnh đạo của Đảng, tham gia nhiệm vụ quốc phòng - an ninh dưới sự hướng dẫn của lực lượng vũ trang nhân dân. Sự ủng hộ, tham gia của nhân dân là động lực, sức mạnh tinh thần to lớn, chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, sự ủng hộ, giúp đỡ, tham gia của nhân dân là nền tảng để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu và ngày càng vững chắc.


Bàn về “thế trận lòng dân”, Thượng tướng, PGS.TS. Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng đó là loại hình thế trận đặc biệt, không thể hiện ra bằng hình hài cụ thể mà được thể hiện bằng sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc theo từng cấp độ khác nhau. “Thế trận lòng dân” là tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu, phấn đấu của toàn dân tộc được khơi dậy, quy tụ, tập hợp, phát huy, tạo thành nền tảng chính trị vững chắc, sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, sẵn sàng huy động nhằm thực hiện các mục tiêu của cách mạng. “Thế trận lòng dân” là nguồn sức mạnh nội sinh có ý nghĩa quyết định để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc.


“Thế trận lòng dân” và sức mạnh của nó có nền gốc từ sự thống nhất lợi ích và việc giải quyết mối quan hệ lợi ích cơ bản giữa Đảng, Nhà nước, quốc gia - dân tộc và của toàn dân, tạo nên sự đồng thuận cao trong toàn xã hội. Các mối quan hệ lợi ích cơ bản được giải quyết một cách hài hòa thì sẽ tạo được sự đoàn kết, thống nhất cao của mọi giai tầng trong xã hội; và ngược lại không làm được điều đó sẽ xảy ra xung đột trong lòng xã hội, không thể tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.


Bộ trưởng Tô Lâm chỉ rõ, để tiếp tục xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” trong nền an ninh nhân dân vững chắc, cần tập trung vào các công tác trọng tâm: Một là cấp ủy, chính quyền, cơ quan đoàn thể các cấp cần nhận thức thống nhất, đầy đủ tính chất, tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của việc xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp đảm bảo an ninh, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, trong đó lực lượng Công an làm tham mưu, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện.


Hai là tăng cường xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh, chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp theo hướng gần dân, chăm lo cho dân, tạo sức mạnh và uy tín để củng cố niềm tin trong nhân dân; bảo đảm vững chắc và tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, nâng cao  hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị, xã hội; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, có cơ chế phù hợp để nhân dân được tham gia bàn bạc, giám sát, phản biện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo sự đồng thuận. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa then chốt, tác động trực tiếp đến nhận thức, thái độ, trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân, trên cơ sở đó, định hướng hành động xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc.


Ba là đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống và làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chống bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các hành động phá hoại “thế trận lòng dân”, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng theo hướng tích cực phòng ngừa là chủ yếu, kết hợp với xử lý nghiêm các hành vi vi phạm cũng như các biểu hiện dung túng, bao che hoặc ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí dưới mọi hình thức. Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các bộ, ban, ngành, địa phương và là giải pháp góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh. 


Bốn là nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, trọng tâm là các địa bàn chiến lược, tuyến biên giới, biển đảo, vùng dân tộc... Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc phải được chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất, thường xuyên của cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, từ thành thị tới nông thôn, trong cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường... Đẩy mạnh phong trào thi đua nhằm tạo ra các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân”, từ đó tổ chức học tập, rút kinh nghiệm và nhân rộng trên phạm vi cả nước. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân, các bộ, ban, ngành, địa phương trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân”, thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.


Năm là tiếp tục xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, thật sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Công an các đơn vị, địa phương và mỗi cán bộ, chiến sĩ cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự của đất nước trước bối cảnh tình hình mới rất phức tạp hiện nay để trọng dân, dựa vào dân, vì nhân dân phục vụ nhiều hơn nữa; coi đây là thước đo hết sức quan trọng về phẩm chất, đạo đức cách mạng, bản lĩnh, tác phong, hiệu quả công tác, chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân. Mọi lĩnh vực, hoạt động của công tác công an phải được thực hiện trên cơ sở công tác dân vận, giáo dục, thuyết phục nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự.


Trong dân vận, lấy suy nghĩ, việc làm, hành động trọng dân, gần dân, vì nhân dân phục vụ làm cơ sở, nền tảng, phát huy tài năng, trí tuệ, sức sáng tạo của nhân dân để vận động, thuyết phục, hướng dẫn nhân dân, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân trước âm mưu, phương thức thủ đoạn hoạt động chống phá, phạm tội của các thế lực thù địch và các loại tội phạm. Làm cho nhân dân hiểu rõ hơn về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm an ninh, trật tự, về quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia các quan hệ xã hội để hình thành ý thức thượng tôn pháp luật, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh./. 

ST

BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA - TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA


Quan điểm về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là kết quả sự phát triển tư duy mới, lý luận nhận thức mới của Đảng ta về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; thể hiện tính biện chứng của quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, phương châm, nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của quốc phòng, an ninh phù hợp với bối cảnh mới, trước tác động đa chiều của tình hình thế giới, khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường.


Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy phản ánh sâu sắc trong các văn kiện, nghị quyết Đại hội Đảng từ khóa IX đến khóa XIII, tập trung ở Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX), Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược an ninh quốc gia… Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc; nghiên cứu dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước; thể hiện tư duy mới, tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta; trở thành phương châm lãnh đạo, chỉ đạo, nhận thức và hành động của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị về việc chủ động chuẩn bị trước một bước về mọi mặt, nhất là chuẩn bị về tâm thế, các tiềm lực, nguồn lực, thế trận để đủ sức thực thi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời bình; là cơ sở khoa học để thống nhất nhận thức, sự lãnh đạo, chỉ đạo về phòng tránh các nguy cơ xung đột, chiến tranh từ trong “trứng nước”; các mối đe dọa từ ngoài biên giới; không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống.


1. Chủ động quán triệt và thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là một khâu quan trọng đầu tiên của quy trình triển khai, đưa quan điểm của Đảng vào cuộc sống, chuyển hóa lý luận thành hoạt động thực tiễn; xử lý kịp thời, hiệu quả những nhân tố gây bất lợi do chủ quan, duy ý chí gây nên; đặc biệt là những nhân tố có thể gây đột biến, ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Qua đó, kiểm nghiệm tính đúng đắn của nhận thức, quan điểm; đánh giá hiệu quả của quá trình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cung cấp luận cứ khoa học; bổ sung, phát triển lý luận, đề xuất quan điểm mới; làm cho nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, nhất là chủ động quán triệt và thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy để có đối sách, kế sách ứng phó kịp thời, hợp lý trước các tình huống.


Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là cuộc chiến đấu trong thời bình, là tự mình khẳng định sức mạnh chiến thắng chính mình, có thái độ và hành động đúng đắn trong đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch. Nói một cách khác, đó là kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thui chột ý định, mưu đồ thôn tính, xâm lược nước ta từ trong “trứng nước” của kẻ thù, kịp thời chống lại mọi hành vi xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; xây dựng quốc gia hùng cường, thịnh vượng; phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.


Việc nhận thức đúng, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là vấn đề cơ bản, hàng đầu, có ý nghĩa quyết định mọi thành công. Vì vậy, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào cũng cần thận trọng, đặt lên hàng đầu sự cần thiết phải tự giác và ý thức rõ ràng về vị trí, vai trò, giá trị và ý nghĩa của việc chủ động, tích cực trong quán triệt quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy trên mọi khía cạnh.


Từ đó, sử dụng có hiệu quả thời gian, lựa chọn chính xác các phương án tối ưu để chủ động triển khai, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện chu đáo, hiệu quả từng mặt, từng nội dung quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trên thực tế ở phạm vi cả nước, các ban, bộ, ngành, địa phương, Quân đội, Công an và mọi người dân.


2. Chú trọng xử lý khôn khéo, hiệu quả các mối quan hệ ứng xử với các nước lớn, với các nước bạn bè truyền thống, các nước có chung đường biên giới trên đất liền và trên biển, thực hiện đúng quan điểm và nguyên tắc “bốn không” của Việt Nam. Đồng thời, nhấn mạnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc tình hình đang diễn biến phức tạp từ sớm, từ xa để lường trước mọi khó khăn, các tình huống, có quyết tâm, có phương án ứng phó và biện pháp thích ứng, xử lý khôn khéo, mạnh mẽ, quyết liệt, kiên quyết, kiên trì, chủ động đấu tranh phòng ngừa, không để xảy ra những tình huống xấu; không để bị động, bất ngờ trong bất cứ tình huống nào, cả lúc an bình, cả lúc có tình huống bất trắc xảy ra; đặc biệt là đối với các vấn đề tranh chấp chủ quyền biển, đảo.


Việt Nam có đủ thực lực, sức mạnh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ được Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN. Do đó, cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Quân ủy Trung ương, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, Bộ Quốc phòng; không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình mới.


Phương châm chỉ đạo việc quán triệt và thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là đẩy mạnh nghiên cứu dự báo chiến lược, nắm chắc diễn biến tình hình; kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, lấy “bất biến ứng vạn biến”. Kiên quyết giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.


Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là làm mọi cách có thể, chủ động chuẩn bị trước, từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy để không bị động, bất ngờ./. 

ST


Không thể xuyên tạc vai trò của Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội

 

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, có nhiệm vụ chính trị là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng thời, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, phủ nhận. Đây là vấn đề không mới nhưng rất nguy hiểm, cần vạch trần, lên án và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Trên một số diễn đàn, trang mạng, phương tiện truyền thông, như: BBC, RFA, VOA, “Viettan”, “Dân làm báo”, “Báo tiếng dân”,… các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thi nhau lu loa rằng: Quân đội tham gia phối hợp với Công an trong bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là không đúng chức năng, nhiệm vụ. Họ bịa đặt, xuyên tạc rằng: Quân đội “lấn sân”, “đàn áp nhân dân”, “quân sự hóa hoạt động dân sự”,... trắng trợn hơn, chúng còn kích động người dân ngăn cản các đơn vị Quân đội tham gia thực thi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, chúng triệt để lợi dụng sự hiểu biết chưa đầy đủ của một số cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh, cái chung và cái riêng của mỗi lĩnh vực, từ đó khoét sâu vào những thiếu sót, bất cập ở một số địa phương khi giải quyết những vấn đề an ninh để thổi phồng, kích động, làm cho tình hình thêm phức tạp. Mục đích của chúng là nhằm chia rẽ mối quan hệ, sự đoàn kết, thống nhất giữa hai lực lượng Quân đội và Công an trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Chiêu thức này vô cùng nguy hiểm vì nó làm cho không ít người dân, kể cả một số cán bộ, đảng viên nảy sinh tư tưởng giao động, mơ hồ, hoài nghi, hiềm khích mối quan hệ giữa Quân đội và Công an.

Cần khẳng định rõ: các luận điệu xuyên tạc trên là hoàn toàn sai trái, không thể chấp nhận và phải bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ. Bởi, nhiệm vụ tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của Quân đội ta được khẳng định cả phương diện về lý luận và thực tiễn.

Thứ nhất, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là xuất phát từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: quốc phòng có mối quan hệ biện chứng với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, đối ngoại. Và “bạo lực là bà đỡ cho mọi xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới trong lòng”, do đó tất yếu phải sử dụng bạo lực cách mạng với nhiều hình thức khác nhau kể cả hình thức vũ trang nhằm cải tạo xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng, khắc phục sự chống đối của lực lượng phản động. Việc quân đội cách mạng tham gia thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc gia khác về bản chất so với quân đội tư sản. Theo đó, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh là tạo tiền đề cho nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, bởi sự ổn định rất cần thiết cho phát triển. Trong khi đó, khái niệm an ninh ngày càng được mở rộng. Trong an ninh hàm chứa cả yếu tố kinh tế, trạng thái bình yên của xã hội, của nhà nước, ổn định của chế độ chính trị, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng văn hóa và đối ngoại; yếu tố an ninh đã bao hàm trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh mạng, an ninh con người và cả yếu tố quốc phòng. Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia đã trở thành nhân tố quan trọng, không thể thiếu để đem lại thành công cho sự nghiệp cách mạng mà nhân dân tiến hành. Đây là cơ sở lý luận phản bác luận điểm của các thế lực thù địch đồng nhất bạo lực cách mạng với bạo lực phản cách mạng, đồng nhất sự tham gia trấn áp các thế lực phản động, giữ vững an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của quân đội cách mạng với hành động đàn áp phong trào cách mạng do quân đội tư sản tiến hành.

Hơn thế nữa, theo V.I.Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ”; đồng thời, chỉ ra trách nhiệm của toàn dân, toàn quân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội với nguyên tắc cơ bản nhất là Đảng Cộng sản phải lãnh đạo Quân đội, Công an trong mọi tình huống: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông... chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ... Có Hồng quân mạnh, chúng ta sẽ vô địch”. Như vậy, luận điệu cho rằng, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là không đúng chức năng, nhiệm vụ đã hoàn toàn sai về phương diện lý luận.

Thứ hai, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nhất quán trong đường lối lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ta. Chúng ta biết, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mối liên hệ chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh, Quân đội với Công an đã được thể hiện rõ nét. Theo Người, quốc phòng không đơn thuần chỉ là để chống lại sự xâm lược của kẻ thù từ bên ngoài, an ninh không chỉ là giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, chống các thế lực phản động bên trong, mà cả hai tuy có nhiệm vụ cụ thể riêng, phương thức bảo vệ riêng nhưng quan hệ mật thiết trong mục tiêu chung bảo vệ Tổ quốc; trong nhiệm vụ quốc phòng có cả an ninh, trong nhiệm vụ an ninh có cả quốc phòng. Người khẳng định: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của Nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, ra sức phát triển ưu điểm, khắc phục những tư tưởng không đúng”. Bác căn dặn: “Công an và bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và kẻ địch bên ngoài. Kẻ địch bên trong là bọn phản động, bọn phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; kẻ địch bên ngoài là bọn đế quốc, bọn xâm lược. Chống bọn xâm lược và bọn phá hoại là nhiệm vụ của quân đội, của công an nói riêng và toàn dân nói chung”Người phê bình những quan điểm sai trái: “Cũng có người có ý nghĩ quân đội hơn công an, hoặc công an hơn quân đội. Nghĩ như thế càng không đúng, bởi vì mỗi ngành có nghiệp vụ chuyên môn của nó. Nhưng cả hai đều phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng cả. Vì vậy, không nên coi mình là giỏi mà phải luôn luôn học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau để càng ngày càng tiến bộ”.

Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nói chung và nhiệm vụ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội nói riêng. Điều đó được thể hiện trong kế thừa, vận dụng, phát triển các quan điểm, chủ trương đã có từ trước về Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội để hoạch định các chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn; được triển khai thực hiện đồng bộ trong Chiến lược bảo vệ Tổ Quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, v.v. Nghị quyết Đại hội XIII khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”.

Cùng với đó, trong công tác quản lý nhà nước, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội,... có trách nhiệm phối hợp với Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; Luật Công an nhân dân năm 2018 chỉ rõ: Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và xây dựng Công an nhân dân. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg, ngày 02/6/2003 về Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới; Nghị định số 77/2010/NĐ-CP, ngày 12/7/2010 về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng (nay là Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 05/9/2019 về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng) tạo cơ sở pháp lý để Quân đội thực hiện nhiệm vụ. Như vậy, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ta.

Thứ ba, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thể hiện truyền thống đoàn kết, gắn bó, hiệp đồng chiến đấu giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Là “hai cánh tay của Đảng, Chính phủ, của Nhân dân và của chuyên chính vô sản”, “thanh bảo kiếm và lá chắn” bảo vệ hòa bình, chế độ xã hội chủ nghĩa, gần 80 năm qua, trong mọi hoàn cảnh, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân luôn kề vai, sát cánh, đoàn kết, hiệp đồng chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đã trở thành truyền thống vẻ vang, kinh nghiệm quý của hai lực lượng. Nước nhà độc lập, trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, lực lượng Quân đội, Công an, dân quân tự vệ đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng của các tổ chức phản động ngay trong trứng nước; cùng với nhân dân chiến đấu anh dũng “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” bảo vệ Thủ đô; đồng cam, cộng khổ, hy sinh, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu chống hoạt động do thám, gián điệp, phản động tay sai, càn quét của địch, bảo vệ vững chắc hậu phương và khu căn cứ kháng chiến, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Mối quan hệ tốt đẹp đó còn được thể hiện ở sự phối hợp, hiệp đồng đấu tranh chống gián điệp, biệt kích của Mỹ - ngụy phá hoại miền Bắc cũng như bảo vệ các cơ sở, căn cứ cách mạng miền Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, v.v. Đó là biểu tượng cao đẹp, tô thắm truyền thống đoàn kết, gắn bó, hiệp đồng chiến đấu giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

Cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, hai lực lượng tiếp tục đoàn kết, thường xuyên trao đổi, nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; trực tiếp triệt phá các tổ chức Fulro, các băng nhóm tội phạm, các nhen nhóm phản động, bảo đảm an ninh, trật tự khu vực biên giới, biển, đảo và nội địa, nhất là địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Tích cực cùng nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, đặc biệt là trong đại dịch Covid-19, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã phát huy văn hóa, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, cống hiến, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn gian khổ để đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Cùng với đó, Quân đội còn tích cực tham gia có hiệu quả xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh với các mô hình: “Liên kết xây dựng vùng giáp ranh an toàn về an ninh, trật tự”, “Tiếng kẻng vùng biên”, “Xóm chài bình yên”, “Cụm tàu thuyền an toàn”,... tạo sức mạnh tổng hợp xây dựng thế trận quốc phòng và an ninh vững chắc. Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định: “Thời gian qua, những vấn đề phức tạp về quốc phòng, an ninh được hai lực lượng phối hợp tham mưu với Đảng, Nhà nước, triển khai xử lý kịp thời, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Sự đoàn kết, phối hợp giữa hai lực lượng đã trở thành truyền thống, là nhân tố không thể thiếu, góp phần làm nên sức mạnh của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân”.

Thực tiễn lịch sử đã minh chứng, Quân đội tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội đã góp phần tạo thế chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cùng với toàn Đảng, toàn dân phấn đấu vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sự thật này không ai có thể chối cãi được! Vì thế, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nhằm hạ thấp vai trò của Quân đội, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất giữa Quân đội và Công an trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa phải bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ.

Sưu tầm

KHÔNG MỘT THẾ LỰC NÀO CÓ THỂ HẠ THẤP, PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

  

Thời gian qua, lợi dụng tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, khó lường cùng một số mặt khó khăn của đất nước, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá cách mạng nước ta trên nhiều hướng, đặc biệt trên môi trường mạng xã hội hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ coi đây là đột phá khẩu, con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để xóa bỏ mọi thành quả của cách mạng Việt Nam mà Đảng và Nhân dân ta đã dày công vun đắp, tạo dựng. Nhưng thực tiễn đã khẳng định, không một thế lực nào có thể hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. 


Họ cho rằng: (1). Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và dân tộc là phi logic, phi lịch sử, lẽ ra phải là đội ngũ tinh túy của giới tinh hoa mới phù hợp; (2). Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lịch sử và thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; (3). Đảng Cộng sản Việt Nam tuy đã thành công trong việc lãnh đạo giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước, nhưng hiện nay, một bộ phận lớn cán bộ cao cấp của Đảng thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực cho nên Đảng không còn là đội ngũ tiên phong để lãnh đạo đất nước nữa, v.v. Những luận điệu trên thể hiện mưu đồ đen tối, thâm hiểm, xuyên tạc, bịa đặt, hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Song, chúng ta có đầy đủ cơ sở khoa học và những luận cứ xác đáng để bác bỏ luận điệu sai lầm, phản động, phản khoa học đó. 


1. Việc xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và dân tộc 


Trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, ông cha ta đã mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; vừa từng bước xây dựng đất nước, vừa kiên quyết đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chiến thắng nhiều đế quốc hung hãn, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã không giữ được độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, với truyền thống yêu nước nồng nàn, các tầng lớp nhân dân ta đã liên tiếp vùng lên chống giặc. Song, các phong trào: Cần Vương, Duy Tân, Đông Du và các cuộc khởi nghĩa: Yên Thế, Yên Bái,... cùng hàng chục cuộc đấu tranh khác đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, dìm trong biển máu. Sự đô hộ của thực dân Pháp gần một thế kỷ đã chứng tỏ cả giai cấp phong kiến và đại diện cho các thế lực tư sản đã hết vai trò lịch sử, vận mệnh của dân tộc và đất nước lâm vào tình thế bế tắc, không có đường ra. Vấn đề bức thiết đặt ra lúc đó là bằng con đường nào, cách thức nào, tổ chức lực lượng thế nào để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập dân tộc. 


Vấn đề vô cùng bức thiết này đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) đưa ra lời giải đáp. Trong suốt 30 năm đi tìm đường cứu nước, Người đã nhận rõ con đường giành độc lập dân tộc phải là con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã gieo hạt, gây mầm và tạo dựng sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với kỳ công của Người, đã kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam chuyển hóa thành một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện đã được dân tộc giao phó, giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Lịch sử 94 năm của Đảng là hành trình thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp nhưng rất đỗi vinh quang. 


2. Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng 


Thứ nhất, Đảng xác định và lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu lý tưởng của sự nghiệp cách mạng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vừa ra đời, Đảng ta đã chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Chủ trương đó đã được nhân dân đồng tình cao và trở thành lẽ đương nhiên; chủ nghĩa xã hội lúc này không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà còn là xung lực thúc đẩy lịch sử Việt Nam chuyển mình, là con đường để dân tộc Việt Nam tạo dựng cơ đồ đất nước ngày càng bền vững. Mục tiêu lý tưởng và sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về logic là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu và xu thế của thời đại. Đó là hệ giá trị cơ bản nhất cho đất nước Việt Nam vừa qua, hôm nay và mai sau; là con đường duy nhất để kiến tạo và phát triển đất nước. 


Thứ hai, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành lại giang sơn cho đất nước, độc lập, tự do cho dân tộc. Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ngọn cờ của Đảng, toàn thể nhân dân ta chung sức, chung lòng tiến hành cuộc cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và đã giành được những thắng lợi vĩ đại, như: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954; đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; chiến thắng chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. 


Thứ ba, Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội với các nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ được hình thành trên cơ sở tổng kết hoạt động thực tiễn và nâng tầm lý luận. “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ tổng thể của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân ta nhằm đưa nước ta thành nước tiên tiến với mục tiêu cao cả: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. 


Bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là việc Đảng ta phát động và lãnh đạo tổ chức thực hiện sự nghiệp đổi mới, tạo ra bước đột phá lớn và toàn diện, làm xoay chuyển tình hình đưa đất nước tiến lên. Chính đổi mới đã đưa đất nước ta từ chỗ thiếu thốn, hàng năm phải nhập lương thực để đảm bảo mức sống tối thiểu, nay trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều mặt hàng nông sản đứng nhất nhì thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi người lại có những nét mới mẻ, tươi vui và sinh động như hôm nay. Đổi mới đã đem đến một sức sống mới cho đất nước, tiếp sức và nâng bước cho đôi chân chúng ta trên con đường hạnh phúc. Sau gần 40 năm đổi mới, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. 


3. Đảng và Nhà nước ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và đã đạt được những kết quả tích cực 


Nhận thức rõ tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên sẽ làm suy yếu Đảng, giảm quyền lực của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chung của đất nước, Đảng và Nhà nước có quyết tâm chính trị rất cao trong đấu tranh phòng, chống các biểu hiện tiêu cực này. Nó trở thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị. 


Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994, Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng. Các nhiệm kỳ tiếp theo, Đảng ta thường xuyên ban hành các nghị quyết liên quan đến phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Đại hội XII của Đảng xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó điều đầu tiên là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. 


Cụ thể hóa các quan điểm, chủ trưởng của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống các tệ nạn này; các cơ quan chuyên trách được kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động và phát huy hiệu quả. Cùng với những giải pháp quyết liệt trong nước, Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, hưởng ứng của nhân dân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thoái hóa, biến chất đã đạt được những kết quả tích cực. Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp đầu năm 2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Năm 2022, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, có nhiều điểm mới, đạt nhiều kết quả cụ thể, được cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ, đánh giá cao”. Đồng thời, chỉ rõ: “Trước một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, sẽ làm “chậm sự phát triển đất nước”; có thể khẳng định và thực tế đã chứng minh hoàn toàn ngược lại, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chúng ta giữ vững ổn định chính trị xã hội, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế”. 


Sự thật không thể phủ nhận rằng chặng đường từ khi có Đảng là chặng đường rất đỗi vinh quang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó đã chứng tỏ con đường cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã lựa chọn là đúng đắn, sáng tạo. Hiện nay, đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế do Đảng ta khởi dựng, lãnh đạo, tổ chức thực hiện rất phù hợp với nhịp bước của thời đại. Đổi mới và hội nhập quốc tế là hai nhiệm vụ chiến lược thực hiện mục tiêu chung phát triển đất nước. Thành công của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đã làm thay đổi rõ rệt diện mạo của đất nước, tăng cường xung lực cho đời sống xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đất nước ta ngày càng lớn mạnh, vững chắc, tạo phong độ mới, thế mới, lực mới để vươn tầm, có đủ sức lực và trí tuệ để sánh vai cùng bạn bè thế giới. Chúng ta tin tưởng rằng, đất nước ngày càng phát triển vững chắc, tươi sáng hơn với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính điều đó đã khẳng định, không một thế lực nào có thể hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./. 

ST


Những giải pháp, nhiệm vụ để phát huy hơn nữa vai trò khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm xây dựng đất nước ngày càng giàu, mạnh, văn minh

 Thứ nhất, chủ động, tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm và hành động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (nhất là cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, người đứng đầu, đảng viên, cán bộ, công chức,...). Nâng cao hiệu quả và tiếp tục đổi mới, chú trọng đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác dân vận (về con người, nguồn lực, phương tiện,...) để sẵn sàng “đi trước một bước”, làm cho nhân dân hiểu, nhân dân tin, nhân dân ủng hộ theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để ý Đảng luôn hợp lòng dân.

Bên cạnh đó, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo đảm an sinh, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Đa dạng hóa các hình thức vận động quần chúng, tổ chức thực hiện sâu rộng, hiệu quả phong trào thi đua “dân vận khéo”; nhân rộng những mô hình dân vận điển hình, hiệu quả nhằm lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong toàn xã hội. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật ngay tại cơ sở kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là những vấn đề bức xúc xã hội nổi cộm, các vụ việc phức tạp kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, tăng cường đối thoại, giải quyết thực chất, dứt điểm các vụ việc phức tạp; đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”.

Thứ hai, phát huy tiềm năng, sức mạnh của nhân tố con người, khơi dậy khát vọng, tinh thần và ý chí phát triển, lòng yêu nước, niềm tự hào, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận toàn dân tộc. Chú trọng phát huy giá trị văn hóa, tính tích cực chính trị, năng lực lao động, cống hiến, đổi mới sáng tạo của con người Việt Nam; nâng cao ý chí tự lực, tự cường trong mỗi người dân trước vận mệnh và tương lai của đất nước. Coi trọng việc phát huy động lực, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên cho các lĩnh vực then chốt; tập trung nâng cao, tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; xây dựng chính sách mới có tính đột phá hơn để thu hút, sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ người tài....

Thứ ba, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế - xã hội đến chính trị, văn hóa,...; xây dựng hình thức thích hợp để nhân dân tham gia ý kiến; tổ chức chu đáo, thiết thực việc lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để nhân dân được thẳng thắn bày tỏ ý kiến đóng góp; khuyến khích trao đổi, tranh luận với tinh thần xây dựng về những vấn đề có ý kiến khác nhau. Giải quyết tốt nhiệm vụ kiểm soát trong thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”... Đồng thời, cần khắc phục mọi biểu hiện “vi phạm dân chủ”, “coi nhẹ dân chủ” hoặc “dân chủ hình thức”; phát huy dân chủ, đề cao pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội; tăng cường giám sát, tổng kết thực hiện nghị quyết, chỉ thị.

Thứ tư, giải quyết hài hòa, thống nhất về lợi ích cơ bản, chủ yếu giữa các giai cấp, tầng lớp, giữa các vùng, miền, giữa các dân tộc, tôn giáo nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội. Lợi ích đó phải được thể hiện qua mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Theo đó, trong mọi quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở, cần đem “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” và phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Thứ năm, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng thực hiện âm mưu “chia để trị”; chúng tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thâm độc hòng phá hoại đất nước ta từ bên trong. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên kích động nhân dân, thổi phồng, khuếch đại các vấn đề “nhạy cảm” trong xã hội; lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, những yếu kém trong quản lý của các cấp chính quyền ở một số nơi; thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận,... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân. Do đó, cần đặc biệt chú trọng, nâng cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, chủ nghĩa cá nhân,... để không ngừng củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

LHQ-ST

Vai trò, sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong chuẩn bị và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 3/2/1930 là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đó là kết quả tất yếu của những điều kiện khách quan và chủ quan, trong đó vấn đề quan trọng hàng đầu là quá trình chuẩn bị công phu lâu dài và sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình chuẩn bị

Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, Trung Quốc. Người được Quốc tế Cộng sản giao nhiệm vụ trên cương vị Ủy viên đoàn Chủ tịch Hội Quốc tế nông dân phụ trách theo dõi và chỉ đạo phong trào nông dân ở Châu Á; vừa chuẩn bị những tiền đề tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của một chính Đảng vô sản ở Việt Nam.

Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều biện pháp sáng tạo, phù hợp với trình độ nhận thức của nhân dân từng bước tuyên truyền đưa chủ nghĩa Mác-Lênin thâm nhập vào xã hội Việt Nam, đấu tranh với các trào lưu phi vô sản khác: Như tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản... giác ngộ lập trường cứu nước giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, theo con đường cách mạng vô sản. Chủ động mở lớp huấn luyện cho những thanh niên yêu nước Việt Nam có mặt tại Quảng Châu về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, huấn luyện xong cử họ về nước hoạt động tuyên truyền cách mạng. Từ đó chọn lọc những thanh niên yêu nước, trung kiên thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Đây là một tổ chức mang tính chất quá độ, vừa tầm thích hợp. Thể hiện chủ trương rất đúng đắn, một cống hiến to lớn, sáng tạo trong chuẩn bị tiền đề tổ chức cho Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Sáng tạo trong tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản

Sau một thời gian hoạt động Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên bị tan rã, những người cộng sản chia làm nhiều phái. Nguyễn Ái Quốc bằng nhãn quan chính trị sắc xảo, nhạy bén ngày 23/01/1929 đã từ Xiêm tới Trung Quốc, quyết định triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản vào dịp tết Canh Ngọ năm 1930, để các đại biểu thuận lợi trong việc đi lại và đánh lạc hướng sự chú ý theo dõi của bọn mật thám Pháp. Người đã chọn địa điểm tổ chức Hội nghị tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc. Vì Hương Cảng lúc này là thuộc địa của Anh, chính quyền sở tại ít chú ý tới những hoạt động yêu nước của người Việt Nam.

Từ ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930, Hội nghị đã được tiến hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Tham dự hội nghị có hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh; hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng là Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm. “Riêng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng cộng sản Việt Nam”.

Để chỉ đạo Hội nghị tiến hành đạt mục đích thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc xác định rõ vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tự phê bình và phê bình giải quyết tốt những thành kiến của các tổ chức cộng sản dẫn đến tình trạng xung đột, công kích lẫn nhau, phải xoá bỏ những khuyết điểm đó và thành thật hợp tác để hợp nhất các tổ chức cộng sản. Với vai trò là đại diện cho Quốc tế Cộng sản và khả năng thuyết phục cảm hoá lòng người, những vấn đề bất đồng khó giải quyết lâu nay đã được hòa giải nhanh chóng.

Kết quả phê bình và tự phê bình đó dẫn tới sự thống nhất thành lập một Đảng Cộng sản. Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, tôi nói cho họ biết những sai lầm và họ đã phải làm gì. Họ đồng ý thống nhất vào một đảng”. Tiếp đó, bàn về việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thảo luận thông qua Chính cương, Điều lệ, kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước các tổ chức cộng sản, cử ban chấp hành Trung ương lâm thời. Hội nghị đã thảo luận sôi nổi và tán thành ý kiến chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, hợp nhất Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về tên Đảng được Nguyễn Ái Quốc đưa ra Hội nghị hợp nhất ngày 03/02/1930 thông qua là Đảng Cộng sản Việt Nam, khác với chỉ thị của Quốc tế Cộng sản là lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Đây là sự vận dụng sáng tạo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản, Đảng phải có cơ cấu tổ chức phù hợp điều kiện, thời gian hoạt động của Đảng, với nhiệm vụ của Đảng phải giải quyết; lúc này, Đông Dương là thuộc địa của Pháp, gồm có ba dân tộc Việt - Miên - Lào sinh sống, có lịch sử quốc gia dân tộc hàng ngàn năm, có phong tục tập quán nền văn hoá riêng. Phong trào công nhân ở từng quốc gia dân tộc cũng khác nhau, nên đặt tên Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở quán triệt và tôn trọng nguyên tắc về quyền dân tộc tự quyết của chủ nghĩa Mác - Lênin. Giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó mang bản chất quốc tế nhưng trước hết phải tự quyết về vận mệnh của dân tộc mình. Phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc.

Sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc còn thể hiện rõ trong phương pháp hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đều ra đời và hoạt động vì mục tiêu giải phóng dân tộc và nhân dân lao động. Nếu thi hành theo đúng văn bản tài liệu của Quốc tế Cộng sản chỉ đạo thì rất nhiều vấn đề khó khăn phức tạp sẽ xảy ra. Lựa ai là “chân chính cộng sản”, ai sẽ là không chân chính…? Và một ban thay mặt cho các tổ chức cộng sản mà “ít nhất một nửa số ủy viên của ban đó phải là những công nhân tích cực, lãnh tụ của phong trào quần chúng” (3). Nguyễn Ái Quốc đã chuyển nguyên khối các tổ chức đó vào Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không giải thể rồi lựa chọn những thành viên của các tổ chức đó để kết nạp vào Đảng như điều kiện thành lập Đảng Cộng sản ở Đông Dương do Quốc tế Công sản nêu ra.

Hội nghị hợp nhất thành công đã quyết định công bố các văn kiện đầu tiên của Đảng, bao gồm: Chính cương vắn tắt; Sách lược vắn tắt; Điều lệ vắn tắt và lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, nhằm động viên, cổ vũ đảng viên và quần chúng tin tưởng phẩn khởi bước vào giai đoạn đấu tranh mới sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Như vậy, chỉ trong vòng một tháng, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã thống nhất vào trong một Đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến đây có thể khẳng định bằng sự tổ chức tài tình, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử trọng đại trước giai cấp công nhân và cả dân tộc Việt Nam.

Sưu tầm

Về phát huy vai trò nòng cốt, quyết định của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 Thực tiễn cho thấy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, xác định mục tiêu hạnh phúc, ấm no của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa trên quan điểm xây dựng “các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam(11). Thời gian tới, cần tập trung nghiên cứu, điều chỉnh một số nội dung, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cụ thể:

Một là, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (giai cấp sản xuất của cải vật chất cơ bản cho xã hội, nơi tập hợp trí tuệ, ý chí giải phóng toàn thể dân tộc, đất nước mỗi khi bị áp bức; giai cấp tiên tiến, đi đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc). Mặt khác, phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong bối cảnh chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh hay tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hiện nay. Đặc biệt, không ngừng nỗ lực xây dựng chính sách nhằm giải quyết tốt lợi ích của nhân dân trong nhiều vấn đề, như thu hồi đất sản xuất, đầu tư nguồn lực cho nông nghiệp, giải quyết lao động; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nông thôn sinh thái, đô thị hiện đại,...

Hai là, phát huy vai trò, năng lực của đội ngũ trí thức; tập trung đầu tư giáo dục để hình thành đội ngũ trí thức đủ tâm, đủ tầm, có bản lĩnh,... góp phần thúc đẩy tinh thần đổi mới, sáng tạo, tạo chuyển biến tích cực trong tư duy phát triển và quản trị quốc gia. Cần ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định mới về chế độ, chính sách hỗ trợ, đãi ngộ nhằm thu hút, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trong bối cảnh mới; đẩy mạnh đầu tư phát triển khoa học - công nghệ hiện đại, phục vụ đổi mới sáng tạo. Phát huy vai trò tư vấn, phản biện, tham mưu chủ trương, chính sách của đội ngũ trí thức.

Ba là, chú trọng phát triển đội ngũ doanh nhân vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, nâng cao vị thế của Việt Nam theo tinh thần xây dựng “đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi”(12). Xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển đội ngũ doanh nhân đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn để doanh nhân phát triển(13).

Bốn là, tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; tạo mọi điều kiện để mỗi cá nhân phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ,... Chăm lo xây dựng, bảo vệ quyền lợi và phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới. Bên cạnh đó, coi trọng, ghi nhớ công lao, đóng góp của các thế hệ cán bộ lão thành cách mạng, cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, người cao tuổi trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phát huy vai trò của cựu chiến binh trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tích cực giúp nhau làm kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống, làm giàu hợp pháp, góp phần xây dựng, phát triển đất nước(14). Mặt khác, tích cực tiếp thu, phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập,... của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình.

Năm là, bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa các dân tộc, kiên định mục tiêu đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Quan tâm tới tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; phòng, chống tư tưởng kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Sáu là, khơi dậy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của mỗi người dân Việt Nam góp phần để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các chính sách nhằm xác lập địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập với xã hội nước sở tại cho người Việt Nam ở nước ngoài; nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự trọng, tự tôn dân tộc; động viên đồng bào hướng về đất nước. Đẩy mạnh vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, trở thành cầu nối giữa Việt Nam với các nước(15).

LHQ-ST

Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”(1). Hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã khẳng định, khi đất nước đứng trước tình thế, hoàn cảnh gian lao, thử thách mang tính bước ngoặt, “nếu biết khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thì con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ vượt qua mọi thác ghềnh, phong ba bão táp, để cập bến bờ vinh quang”(2). Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là chủ trương xuyên suốt, thống nhất của Đảng ta, được thể hiện trực tiếp trong nội dung nhiều văn kiện, nghị quyết, quyết định, chỉ thị qua các thời kỳ cách mạng. Đến nay, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(3). Nhìn chung, việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được biểu hiện trực tiếp ở việc nâng cao vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cụ thể:

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Theo đó, yếu tố “quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(4). Thời gian qua, tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị được đổi mới, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chú trọng hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị, khắc phục sự chồng chéo, bất hợp lý nhằm hoàn thiện thể chế, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tổ chức bộ máy; phương thức lãnh đạo, năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương được đổi mới.

Mặt khác, Đảng tiến hành kiểm tra đối với các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chủ yếu khác trong hệ thống chính trị; phát hiện, xử lý kịp thời tình trạng tham ô, tham nhũng, thoái hóa, biến chất, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; bảo đảm làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị, giữ vững niềm tin trong nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả, hình thành nền nếp trong triển khai các quy định về tổ chức và hoạt động của Đảng, như Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”.

 Hai là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc phát huy tốt sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”(5); đồng thời, nhấn mạnh mọi chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(6). Mặt khác, Nhà nước phải không ngừng “cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(7) và luôn vì mục tiêu “phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn(8).

Thời gian qua, bộ máy nhà nước được xây dựng theo hướng ngày càng tinh gọn, trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 tập trung vào sáu nội dung cơ bản, đó là: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; cải cách chế độ công vụ; cải cách tài chính công và xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

Đến nay, nhiệm vụ xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số được chú trọng, từng bước vận hành hiệu quả các trung tâm hành chính công nhằm đáp ứng yêu cầu của công dân và xã hội; đồng thời, tiếp tục triển khai hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp giải quyết thủ tục hành chính,... từ đó, không ngừng củng cố lòng tin trong nhân dân. Bên cạnh đó, tập trung nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm thống nhất, thông suốt trong lãnh đạo, quản lý, điều hành cũng như phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý kinh tế - xã hội từ Trung ương đến địa phương; phát huy tính chủ động, tích cực, tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương, bảo đảm phục vụ tốt nhất người dân, doanh nghiệp. 

 Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội không ngừng đổi mới, sáng tạo, đa dạng hóa phương thức vận động quần chúng, coi trọng các phong trào thực tiễn, hạn chế việc ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, chỉ đạo điều hành chung chung; phương thức vận động các giai tầng trong xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào theo tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số và người Việt Nam ở nước ngoài được đổi mới; chủ động nghiên cứu, xây dựng, đề xuất chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài để thu hút, huy động mọi nguồn lực cho phát triển.

Hiện nay, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của người dân được đẩy mạnh; đồng thời, chú trọng kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả. Mặt khác, cơ chế hoạt động, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từng bước được hoàn thiện; có sự hiệp thương, phối hợp thống nhất hành động giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên để phát động, triển khai sâu rộng và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua, vận động từng tổ chức, tầng lớp nhân dân chăm lo, bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, hội viên, tạo nên sự lan tỏa và tạo dựng niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa trên tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng(9).

Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã có sự tổng kết, đánh giá khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được cùng những hạn chế, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, cụ thể: 1- Công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Trung ương, Quốc hội, Chính phủ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện thông qua các nghị quyết, chỉ thị, luật định, chiến lược hành động và đạt được nhiều kết quả tích cực; trình độ nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng lên; sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được phát huy trên mọi lĩnh vực,...; 2- Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những khó khăn, thách thức cần được giải quyết triệt để, như tình trạng phân hóa giàu nghèo, di cư trái phép; tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp; tỷ lệ cán bộ là người đồng bào dân tộc thiểu số trong chính quyền còn khá thấp; hoạt động chống phá, gây chia rẽ của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, hiện đại, tác động xấu đến mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc; việc cụ thể hóa trong thực tiễn chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số lĩnh vực, địa bàn còn hạn chế, hiệu quả chưa cao,... Từ đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra các yêu cầu nhiệm vụ, giải pháp trong tình hình mới, như khẩn trương, nghiêm túc xây dựng, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách, đồng thời giữ vững vai trò tiên phong, hạt nhân lãnh đạo của Đảng; không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong xây dựng và thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng theo hướng sáng tạo, thực sự đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, phục vụ công cuộc phát triển đất nước(10),...; thống nhất ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”.

Giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

LHQ-ST