Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

Nhận diện các chiêu trò “nhân danh nhân dân” để chống phá Đảng và Nhà nước

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã núp dưới chiêu bài “nhân danh nhân dân” để thực hiện các hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm những quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, hòng chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân. Hành vi “nhân danh nhân dân” của họ có một số biểu hiện:

Một là, lợi dụng hoặc núp dưới danh nghĩa “nhân dân” để thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn tấn công, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua việc tuyên truyền xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, lịch sử vùng đất; bôi nhọ cá nhân lãnh tụ, lãnh đạo cao cấp của Đảng. Lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên; đặc biệt là lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, những vụ, việc cán bộ, đảng viên bị kỷ luật do liên quan đến các vụ án tham nhũng, tiêu cực,… Thời gian qua, các đối tượng chống phá đã quy kết rằng tham nhũng là tình trạng phổ biến, là hệ quả của chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng duy nhất cầm quyền (?!). Bên cạnh đó, ra sức tán dương sự hào nhoáng của chủ nghĩa tư bản; đồng thời hạ thấp, xuyên tạc những thành tựu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đó “nhân danh nhân dân” đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực hiện xã hội dân sự và cho rằng chỉ có như vậy mới sửa chữa được những “khuyết tật” của chủ nghĩa xã hội (?!)

Hai là, lợi dụng sự phát triển của internet và các phương tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch “nhân danh nhân dân” lập ra nhiều trang web, tài khoản mạng xã hội,… rồi thông qua đó, lấy danh nghĩa là các “chuyên gia phân tích chính trị”, các nhóm theo đuổi nhân quyền, dân chủ,… tung ra nhiều giọng điệu xuyên tạc, nhiều thông tin giả, khai thác triệt để các thủ thuật bóp méo sự thật,… nhằm đánh lạc hướng người dân, nhất là giới trẻ, để công kích Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Từ một vài sự việc, “điểm nóng” nhỏ lẻ, họ tìm cách tô vẽ, thổi phồng, dùng các thủ đoạn kích động tâm lý để lôi kéo sự đồng cảm của một số người thiếu thông tin, thiếu hiểu biết, tạo thành các hội, nhóm tự xưng là “đại diện nhân dân”, lấy danh nghĩa “người dân” để kích động biểu tình, lên tiếng đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền, qua đó chống phá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Song song với đó, họ còn lập ra các tổ chức, diễn đàn núp dưới danh nghĩa “nhân dân” để nêu ra các “yêu sách”, “kiến nghị” đối với Đảng và Nhà nước trong giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường,… thực chất là để tự nâng mình lên, đồng thời hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Hành vi “nhân danh nhân dân” của họ không chỉ gây nhiễu loạn thông tin mà còn tạo ra sự sự hoang mang, hoài nghi, ảnh hưởng đến mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tìm mọi cách để o bế các đối tượng bị bắt, bị pháp luật xử tội do chống phá Đảng, Nhà nước. Những kẻ “nhân danh nhân dân” thường tung ra luận điệu cho rằng những đối tượng này là những “nhà hoạt động dân chủ”, “nhà hoạt động xã hội” "có trách nhiệm" với Tổ quốc, là những "người dũng cảm", dám nói lên tiếng nói của nhân dân "bị xử oan" (?!). Từ đó, họ tìm mọi cách móc nối với các cá nhân, tổ chức lưu vong chống phá Đảng và Nhà nước ở trong và ngoài nước, “nhân danh nhân dân” đòi “công lý”, đòi trả tự do cho những đối tượng phạm pháp. Mặt khác, khi một số đối tượng có dấu hiệu phạm pháp tìm đường lẩn trốn ra nước ngoài bị lực lượng chức năng của ta ngăn chặn, những kẻ “nhân danh nhân dân” đã sử dụng nhiều phương tiện truyền thông, chủ yếu là các phương tiện truyền thông xã hội, để kêu gọi sự bênh vực, can thiệp, bảo lãnh từ các tổ chức nhân quyền quốc tế.

Bốn là, nhiều đối tượng nhận viện trợ của các nhóm phản động, các thế lực thù địch để thành lập các tổ chức xúi giục biểu tình, kiện tụng, đòi giải quyết những vụ, việc “nóng”, dù không liên quan đến quyền lợi trực tiếp của họ. “Nhân danh nhân dân” tạo lập nhiều tổ chức bất hợp pháp, lôi kéo nhiều người (trong đó có một số trí thức, văn nghệ sĩ…) có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị không vững vàng, gây dựng họ thành lực lượng chống đối cực đoan với Đảng và Nhà nước ta. Từ những vấn đề chưa có kết luận chính thức của Đảng và Nhà nước (như những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ quốc tế, tình hình Biển Đông,…), các đối tượng tạo dựng tin đồn, dư luận xã hội cho rằng chính quyền giải quyết mập mờ, có dấu hiệu làm tổn hại lợi ích quốc gia - dân tộc (?!). Lợi dụng danh nghĩa “nhân dân”, họ lôi kéo, kích động những phần tử cực đoan, người thiếu thông tin chính thống, thiếu hiểu biết thực hiện những cuộc biểu tình, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, cải tổ Nhà nước.

Năm là, lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, các đối tượng “nhân danh nhân dân” tìm mọi cách tấn công, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc bằng cách lợi dụng tình hình khó khăn ở một số khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa để kích động người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đòi “ly khai”. Hoặc lợi dụng niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo để mua chuộc một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo, tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài đòi “tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền cho người dân tộc thiểu số”; nhân danh “đồng bào dân tộc thiểu số”, “đồng bào tôn giáo” đòi tự trị, tiến tới thành lập tôn giáo riêng và nhà nước riêng (?!).

GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 


Tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên là thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW.

Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. 

Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam để có biện pháp xử lý, ngăn chặn kịp thời.

Các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của đảng viên để có biện pháp giải quyết kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, sai trái, thiếu gương mẫu của đảng viên. Phát hiện đảng viên tham gia các hội, nhóm trái quy định của Đảng, Nhà nước, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây ảnh hưởng xấu đến nội bộ Đảng.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng; thực hiện công khai, minh bạch; chú ý vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp; vai trò nêu gương của của người đứng đầu trong công tác phòng chống tham nhũng, có lập trường tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, chính kiến rõ ràng trước những vấn đề mới, khó, phức tạp, nhạy cảm. Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch; mẫu mực về đạo đức, lối sống; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;  trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành.

Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí trong đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Tổ chức chiến dịch truyền thông quy mô lớn, cung cấp thông tin chính thống, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, răn đe đối tượng vi phạm pháp luật, nâng cao cảnh giác, tăng sức “đề kháng” cho người dân khi tiếp cận thông tin; vô hiệu hóa các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phá hoại tư tưởng của các đối tượng, tổ chức phản động trong và ngoài nước, giúp chúng ta giành được thế chủ động trên lĩnh vực thông tin, tuyên truyền.

 

 

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐI ĐÔI VỚI HÀNH” VÀ VẬN DỤNG TRONG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHO CÁN BỘ!

     Trong công tác giáo dục, đào tạo nói chung; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng phương châm “học đi đôi với hành”. Người coi việc thực hiện phương châm này là nhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên; đồng thời là tiêu chuẩn của một đảng cách mạng chân chính. Quan điểm của Người về thực hiện “học đi đôi với hành” luôn mang giá trị thời sự để Đảng ta vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận cho đội ngũ cán bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay!

1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “học đi đôi với hành”
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: cán bộ là gốc của mọi công việc và muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Người xác định: “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”; và để huấn luyện cán bộ đạt hiệu quả thì phải thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”. Đây là quan điểm mang tính phương pháp luận sâu sắc, không những có ý nghĩa chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và cả hệ thống chính trị, mà còn trong xây dựng nền giáo dục mới của nước nhà.

Trong hành trình tìm đường cứu nước đầy gian nan, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không ngừng tự học tập và thực hiện gắn kết giữa học và hành để bổ sung những kiến thức mới trong kho tàng tri thức nhân loại, nhằm mục tiêu cao nhất là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhờ đó, Người đã vươn tầm trở thành một lãnh tụ vĩ đại, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, được nhiều nhà chính trị và cả những nhà văn hóa nổi tiếng trên thế giới cảm phục, yêu mến, ngưỡng mộ bởi cả đạo đức trong sáng, mẫu mực và trí tuệ lỗi lạc, uyên bác.

Khi sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925) và bắt tay vào công việc trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng những “hạt giống đỏ” của cách mạng Việt Nam, tại các lớp huấn luyện lý luận chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc trong những năm 1925 - 1927, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện nhất quán phương châm học đi đôi với hành. Chương trình đào tạo luôn có sự gắn kết giữa kiến thức lý luận và kiến thức thực tiễn, giữa truyền dạy lý thuyết và thảo luận, đặc biệt là thực hành, rèn luyện các kỹ năng tuyên truyền, làm báo, diễn thuyết, đi thực tế... Sau những khóa học, các học viên được đưa về nước hoạt động, thâm nhập thực tế đời sống nhân dân lao động, vận dụng những kiến thức đã học để vừa tuyên truyền, xây dựng, phát triển cơ sở cách mạng; vừa tìm kiếm, chọn lựa những học viên mới đưa sang Tổng bộ Thanh niên đào tạo.

Phương pháp huấn luyện cán bộ rất hiệu quả đó của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã lý giải được vì sao từ lúc ban đầu mới chỉ có 09 hội viên thì đến năm 1927, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã phát triển nhanh chóng các cơ sở về trong nước, trải rộng khắp ba miền Bắc - Trung - Nam với số lượng hàng trăm hội viên và ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần hình thành nên lớp đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng thông qua, việc gắn liền giữa học và hành không chỉ là phương châm trong công tác huấn luyện cán bộ, mà còn được xác định là một trong năm nhiệm vụ (trách nhiệm) của cán bộ, đảng viên, đó là: “Phải thực hành cho được chánh sách và nghị quyết của Đảng và Quốc tế Cộng sản”. Người phê bình các cuộc hội nghị của tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ chỉ đưa ra “các lời đề nghị đều có ý mênh mông, không thấy đề nghị thế nào để tất cả đảng viên, tất cả chi bộ thảo luận và thực hành được các nghị quyết án của Trung ương; không thấy đề nghị kế hoạch thiết thực cho mỗi địa phương”.

Phương châm học đi đôi với hành tiếp tục được Nguyễn Ái Quốc chú trọng trong việc tổ chức huấn luyện cán bộ vào những năm 1941-1942 và trong công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ sau này. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, sự thiếu hụt cán bộ có năng lực lãnh đạo, quản lý đặt ra yêu cầu cấp bách phải đẩy mạnh đào tạo, huấn luyện đội ngũ cán bộ. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng vừa quan tâm chỉ đạo mở những lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ; vừa chú ý uốn nắn những lệch lạc trong công tác huấn luyện, học tập lý luận chính trị. Người phê phán một số cán bộ: “Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách”. Người nhấn mạnh, người cán bộ đã đọc được sách, đã học được lý luận thì phải ra sức thực hành, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế, phải chữa bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông.

Từ vai trò là một trong những phương châm chỉ đạo công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ, rồi trở thành một nhiệm vụ, trách nhiệm của người đảng viên, phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực hành được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là một trong 12 tiêu chuẩn của một đảng cách mạng chân chính: “Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”. Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, lý thuyết và thực hành, trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực hành là một chỉnh thể không thể tách rời trên thực tế của quá trình nhận thức. Sự phân định ra từng khâu trong quá trình nhận thức chỉ mang ý nghĩa tương đối, để thực hiện một cách hiệu quả, hoàn toàn không bị biệt lập.

Người nhấn mạnh: “Hiểu biết do thực hành mà ra. Hiểu biết lại trải qua thực hành mà thành lý luận. Lý luận ấy lại phải dùng vào thực hành. Sự tiến tới của hiểu biết chẳng những ở chỗ từ cảm giác tiến đến lý luận, mà cốt nhất là từ lý luận tiến đến thực hành cách mạng. Đã nắm được quy luật thế giới, thì phải dùng nó vào thực hành cải tạo thế giới, thực hành tăng gia sản xuất, thực hành giai cấp đấu tranh, dân tộc đấu tranh. Đó là quá trình liên tiếp của hiểu biết”. Vì vậy, Người phê bình những sai lầm, hạn chế xảy ra do tách rời giữa việc học và hành, lý thuyết và thực hành: “Những bệnh duy tâm, máy móc, mạo hiểm, chủ quan,v.v, đều vì tách rời điều kiện khách quan với chủ quan, tách rời lý luận với thực hành mà có”. Đây là sự cảnh báo có ý nghĩa thời sự rất cao đối với công tác lãnh đạo, quản lý nói chung; việc xây dựng chủ trương, chính sách, biện pháp nói riêng.

Trước khi về cõi vĩnh hằng, trong bản Di chúc thiêng liêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trăn trở dặn lại một trong những công việc cần phải làm sau ngày nước nhà thống nhất là: “Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập nửa ngày lao động”. Đó là mô hình các trường học gắn liền giữa học và hành, giữa chương trình học trên lớp và thực tế đầy sinh động của cuộc sống.

2. Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “học đi đôi với hành” để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, việc quán triệt, thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học đi đôi với hành, lý thuyết gắn kết chặt chẽ với thực hành là một yêu cầu cấp thiết đối với nền giáo dục Việt Nam nói chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và hệ thống chính trị nói riêng. Trong thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được nêu ra từ Đại hội ĐBTQ lần thứ XI và Hội nghị Trung ương lần thứ tám, khóa XI, nhiều ý kiến của các nhà quản lý, nhà khoa học đã chỉ ra những vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết là chất lượng nền giáo dục còn thấp và lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới, lạc hậu với thực tế; chương trình học vừa nặng nề, quá tải, vừa không thiết thực, nặng về truyền thụ kiến thức hàn lâm, ít chú trọng giáo dục đạo đức công dân, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng sống; tình trạng “hư học” nhiều hơn “thực học”; tình trạng thừa thầy, thiếu thợ; học xong mà không sử dụng được, học nghề này, nhưng khi ra trường lại làm nghề khác...

Riêng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và hệ thống chính trị, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII đã chỉ ra một trong những hạn chế, yếu kém là: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới”. Nghị quyết xác định một trong chín biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đánh giá: “Sự trưởng thành, lớn mạnh và phát triển của đội ngũ cán bộ 20 năm qua là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Song, những khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận không nhỏ cán bộ và những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ cũng là một nguyên nhân chủ yếu làm cho đất nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và mong muốn của chúng ta, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”. Một trong những biểu hiện cụ thể của những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ được Nghị quyết chỉ ra là: “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh”.

Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có một thực tế là quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học đi đôi với hành, lý thuyết gắn kết với thực hành chưa thực sự được chú trọng đầy đủ và thực hiện nghiêm túc trong nền giáo dục nói chung, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng. Vì vậy, việc vận dụng quan điểm “học đi đôi với hành” nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay, cần chú ý những nội dung sau:
Một là, đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải thực sự quán triệt và thực hiện nghiêm túc phương châm học đi đôi với hành mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, coi đây là một trong những nguyên tắc chỉ đạo trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Quan điểm học đi đôi với hành phải được thể hiện nhất quán và toàn diện trong các khâu của quá trình đào tạo, bồi dưỡng, từ mục tiêu, nội dung, chương trình đến tài liệu giảng dạy, học tập; phương pháp giảng dạy và học tập; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; từ cán bộ quản lý nhà trường đến giảng viên. Đặc biệt, phải chú ý làm rõ: “Người đến chịu huấn luyện rồi, có áp dụng được ngay không? Có thực hành được ngay không?”.

Hai là, đối với học viên, khi tham dự các khóa đào tạo, bồi dưỡng phải ý thức được học tập là để vận dụng vào thực tiễn công tác, để làm cho công tác đạt hiệu quả cao hơn. Qua quá trình vận dụng nhuần nhuyễn những kiến thức đã học vào thực tiễn công tác, mỗi người mới thực sự nắm bắt những kiến thức đã học, biến những kiến thức trong kho tàng tri thức nhân loại thành tri thức của bản thân; đồng thời trên cơ sở vận dụng những kiến thức đó trong thực tiễn để bổ sung, phát triển những tri thức mới. Mỗi người học cũng cần có ý thức rõ rằng việc tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng không phải là học tập cho xong việc, không phải vì chạy theo bằng cấp, hoặc “vì tạo cho mình một cái vốn để sau này đưa ra mặc cả với Đảng”. Bởi lẽ, quá trình giáo dục chỉ thực sự đạt được kết quả khi người học nhận thức được và biến nó thành quá trình tự giáo dục. Mục tiêu, động cơ học tập đúng đắn là tiền đề giúp quá trình học tập đạt hiệu quả tối ưu.

Ba là, trong quá trình học tập, đặc biệt là việc học tập lý luận chính trị, cần tránh việc học thuộc lòng câu chữ và áp dụng một cách máy móc, rập khuôn những kiến thức đã học; phải có tư duy độc lập, tự chủ để hiểu rõ, hiểu đúng các quan điểm, nguyên lý và xem xét chúng có phù hợp với tình hình mới hay không. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các đồng chí phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”.

Bốn là, để thực hiện tốt phương châm học đi đôi với hành, mỗi học viên phải luôn nêu cao tinh thần khiêm tốn, không ngừng học hỏi, cầu tiến bộ, tránh chủ quan, kiêu ngạo tự phụ, tự mãn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”./.
Môi trường ST.

ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 


Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân. Thời gian tới, để bảo đảm hiệu quả cao nhất, cần mạnh dạn hoàn thiện, bổ sung và đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch qua một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Cấp ủy, chính quyền các cấp và đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận diện rõ các quan điểm sai trái, thù địch để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát với tình hình thực tế. Phát huy vai trò nòng cốt của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự phối hợp của các đơn vị, địa phương. Xác định rõ, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, phản bác quan điểm sai trái thù địch không chỉ có bộ phận chuyên trách, mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn thể nhân dân. Ban Chỉ đạo 35 cần xây dựng và ban hành “Chiến lược quốc gia về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch”.

Hai là, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Đảng phải tự cường, thực sự trong sạch, vững mạnh trên tất cả các mặt về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ... để có khả năng tự bảo vệ mình. Do vậy, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây và chống” trong xây dựng và thực hành đạo đức cách mạng; đẩy mạnh thực chất công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tránh việc triển khai theo kiểu hình thức.

Ba là, thực hiện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bằng nhiều hình thức đa dạng, thiết thực, hiệu quả. Công tác này không được áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính, chủ quan, duy ý chí, mà phải dựa trên sự tự giác, có trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thông tin phản bác phải được phân tích, luận giải có lý lẽ, dựa trên cơ sở thực tiễn khách quan, tăng sức thuyết phục; nắm vững trình độ, nhu cầu, nguyện vọng, tâm lý của từng nhóm đối tượng để có phương thức phù hợp. Cụ thể: Sử dụng “người thật, việc thật” đấu tranh với các quan điểm phản động, sai trái, thù địch; cùng với lấy phẩm chất, đạo đức, hành động đúng đắn, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên phản bác lại luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, vu khống...; Phân biệt “phản động” với “yêu nước” thông qua nhận thức, tư duy, hành động của từng cán bộ, đảng viên và nhân dân trên cơ sở xây dựng “tư duy mở” về “phản biện”, “trái chiều”, nhưng mang tính tích cực, theo đó chấp nhận tư duy phản biện, đối lập tích cực, không được nâng quan điểm hoặc chụp mũ, đồng thời cần nhận thức và xác định lại chính xác “nội dung tích cực, thể hiện lòng yêu nước”, tránh thực hiện phương thức đấu tranh không phù hợp, dễ bị thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc trở thành tiêu cực, “tự diễn biến, tự suy thoái”, có thể biến chuyển thành phản động; Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bằng việc nhận thức và áp dụng đúng đắn “nguyên tắc tập trung dân chủ” trong thực tiễn, tránh việc lợi dụng nguyên tắc này để áp dụng theo kiểu độc quyền, tập trung, nhưng không dân chủ.

Bốn là, chú trọng và nâng cao hiệu quả xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Để thực hiện tốt phương thức này, trong thời gian tới phải thực hiện đồng thời các vấn đề: Quán triệt rõ, nhân dân đóng vai trò chủ thể, vị trí trung tâm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Đảng không ngừng chăm lo, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; phổ biến, tuyên truyền, làm tốt công tác dân vận để nhân dân tin, hiểu, tự hào với đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Năm là, xây dựng phương thức “giá trị pháp lý - chuẩn mực cao nhất” làm nền tảng cho việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, bôi nhọ. Phương thức này muốn đạt hiệu quả cao nhất, thời gian tới cần thực hiện: Bảo đảm văn bản của Đảng phải đúng tinh thần Hiến pháp, pháp luật, không được cao hơn, vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật, theo đó, các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; thể chế hóa triệt để, đúng tinh thần, nội dung và cách thức từ văn bản của Đảng thành văn bản của Nhà nước. Dựa trên nền tảng này để tuyên truyền, giáo dục, đồng thời để áp dụng và xử lý theo quy định của Đảng và Nhà nước.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "MÓN QUÀ QUÝ NHẤT ĐỐI VỚI TÔI LÀ NHỮNG BÁO CÁO THÀNH TÍCH THI ĐUA ÁI QUỐC"!

     Những ngày tháng 5 lịch sử, nhớ đến sinh nhật Bác, trong tim mỗi người dân Việt Nam lại trào dâng một cảm xúc bồi hồi khi hướng về Thủ đô Hà Nội, hướng về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh với tấm lòng thành kính và biết ơn!

Ngày 19.5.1946, lần đầu tiên nhân dân ta kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đó trở đi, hằng năm cứ đến dịp 19.5, toàn dân ta lại được sống những giờ phút đặc biệt với lòng kính yêu lãnh tụ vô hạn.

Từ năm 1941 đến 1969, đến sinh nhật, nhận được hàng ngàn bức thư, điện chúc thọ của nhân dân, cán bộ, quân đội trong nước và bạn bè quốc tế, Người đều gửi lời cảm ơn. Ngày 19.5.1941 (từ ngày 10-19.5), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Pắc Bó, tỉnh Cao Bằng. Hội nghị đã xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng Đông Dương.

Ngày 18.5.1946, trên trang nhất Báo Cứu Quốc xuất bản tại Hà Nội có đăng một bài báo đặc biệt với tựa đề: “Cụ Hồ Chí Minh với dân tộc Việt Nam”, bài báo đã chính thức thông báo ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh: 19.5.1890.

Ngày 19.5.1946, lần đầu tiên một hình thức mừng sinh nhật được tổ chức như để biểu thị khối đại đoàn kết của toàn dân, toàn dân đối với vị lãnh tụ của một quốc gia non trẻ đang đương đầu với những thử thách to lớn. Hôm đó, tại Bắc Bộ phủ, tiếp đại biểu thiếu nhi Thủ đô, tự vệ, hướng đạo sinh và các đại biểu Nam bộ đến chúc thọ, Bác đã chụp ảnh chung với các cháu thiếu nhi và nói chuyện với các đại biểu Nam bộ.

Đáp lại tình cảm của mọi người, Bác nói: “Thật ra, các bác ở đây làm to sinh nhật tôi, chứ tuổi 56 chưa có gì đáng chúc thọ, cũng hãy còn như thanh niên cả, mà trước các anh, các chị, trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật thấy làm xấu hổ rằng trong Nam chưa được thái bình”.

Là lãnh tụ tối cao nhưng Bác Hồ không tỏ ra “quan dân lễ cách”, không phân biệt giữa lãnh tụ với dân thường. Hằng năm, cứ đến dịp sinh nhật của mình, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình.

Ở Hà Nội, đúng ngày 19.5, Người thường tìm cách đi một nơi khác để tránh những nghi lễ phiền phức, tốn kém. Vào dịp đó, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng chí, đồng bào, các cơ quan, đoàn thể trong nước và bầu bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết, và có những lần Bác làm thơ nói về tuổi tác thay vì những lời cảm tạ.

Mỗi bức thư, mỗi dòng thơ của Bác Hồ, tuy nói về ngày sinh của Người, nhưng lại là tình cảm, trách nhiệm đối với non sông đất nước và đồng bào, là nguyên tắc sống của Bác: “Trung với Đảng, hiếu với dân”, và là đường lối lãnh đạo của Bác đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc ở từng thời điểm lịch sử.

Trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Cứu Quốc dịp sinh nhật năm 1949, Người nói: “Món quà quý nhất đối với tôi là những báo cáo thành tích thi đua ái quốc”. Bác nhắc: “Mừng sinh nhật tôi, đồng bào cho tôi nhiều hoa, bánh. Những thứ đó đáng giá cả. Nhưng xin đồng bào nghĩ đến các đồng bào nghèo khó, hơn là hao phí cho tôi”. Bác dặn chuyển những lẵng hoa đẹp, các loại quà mà các nơi gửi đến biếu Bác để tặng các đơn vị bộ đội, công an, thanh niên xung phong, các nhà trẻ.

Lần sinh nhật năm 1969, giữa lúc chiến tranh lan ra cả nước còn đang ác liệt, Thư ký riêng của Bác, ông Vũ Kỳ kể lại: Bác đề nghị không tổ chức sinh nhật vì “Đồng bào ta, nhất là đồng bào miền Nam đang chiến đấu gian lao, hy sinh như thế, Bác không có lòng dạ nào hưởng niềm vui riêng”.

Bác không đồng ý về việc đưa ngày 19.5 làm ngày kỷ niệm lớn trong năm và yêu cầu “tiền bạc dùng để tuyên truyền ngày sinh của Bác… nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, chớ lãng phí”. Trước lời xin phép của Trung ương, nghĩ đến miền Nam và bạn bè quốc tế, Bác miễn cưỡng đồng ý tổ chức sinh nhật và giục: “Thôi, nếu vậy thì các chú làm thật nhanh cho Bác. Đừng kéo dài, đừng bày vẽ tốn kém. Chỉ cho Bác mấy bông hoa là được rồi. Chỉ 5 bông hồng đỏ thôi”.

Suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, nhận trọng trách do nhân dân tín nhiệm, ủy thác, Người không bao giờ coi mình là lãnh tụ mà chỉ như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trận, suốt đời tận tụy phục vụ nhân dân. Nhân cách, đạo đức, sự cao thượng ấy làm cho Bác Hồ trở nên cao đẹp, trở thành tấm gương mẫu mực về đạo đức làm người. Mỗi người dân Việt Nam đều chung một tình cảm: Bác Hồ vẫn đang sống cùng non sông, đất nước, vẫn luôn thấy “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” trong tất cả các thời kỳ lịch sử, trong bất cứ thắng lợi nào của đất nước và dân tộc.

Kỷ niệm 134 năm Ngày sinh của Bác (19.5.1890 - 19.5.2024) là dịp để chúng ta bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn sâu sắc tới Bác Hồ kính yêu. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam báo công với Bác về những thành tích cả nước đạt được và quyết tâm sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, sai lầm để tiếp tục tiến bước trên con đường dựng xây đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai các cường quốc năm châu như sinh thời Bác hằng mong muốn./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: UY TÍN, HÌNH ẢNH NGƯỜI CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Trong bối cảnh hiện nay, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng đó của Người để giữ gìn uy tín, danh dự, hình ảnh người cán bộ, Đảng viên, xứng đáng với niềm tin, kỳ vọng của nhân dân!

Năm 1925 - 1927, tại Quảng Châu, Trung Quốc, khi chuẩn bị những điều kiện thành lập đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn những thanh niên ưu tú để đào tạo, huấn luyện chính trị. Theo Người, chỉ những người có đủ phẩm chất, trí tuệ mới có thể tiếp nhận được giá trị lý luận, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và phương pháp cách mạng đúng đắn và thực hiện được vai trò lãnh đạo của Đảng. Trong tác phẩm "Đường Cách mệnh" Người đặt lên hàng đầu về Tư cách một người cách mệnh, gồm 23 điểm. Theo đó, mỗi người khi phấn đấu theo những điểm căn cốt đó sẽ góp phần làm nên bản chất cách mạng của Đảng; đồng thời, giúp cho Đảng có được đội ngũ cán bộ trung kiên, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì cách mạng, dân tộc và nhân dân. Sau này, trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Bác lại đề cập 12 điều về "Tư cách của Ðảng chân chính cách mạng". Người nêu bật những tính tốt của người cách mạng cần được bồi đắp là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.

GS, TS Hoàng Chí Bảo, nguyên Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương phân tích: "12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng, đây có thể coi là một hệ thống lý luận và phương pháp, cũng như quan điểm và phong cách về đảng cầm quyền. Điều quan trọng nhất Đảng phải là một tổ chức cách mạng, không phải là một tổ chức làm quan phát tài. Đây chính là động cơ, mục đích chính trị và đạo đức của Đảng, đảng viên".

Trong những năm tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng, phần lớn cán bộ nắm bộ máy chính quyền và nhân viên nhà nước đều tận tụy, nỗ lực khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng cá biệt cũng có những "con sâu làm rầu nồi canh", một số cán bộ "ngông nghênh, cậy thế, cậy quyền", ức hiếp dân. Trên báo Cứu quốc ngày 12/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài "Sao cho được lòng dân?". Người thẳng thắn nêu rõ thực trạng có "tiếng phàn nàn oán thán nhiều hơn tiếng người khen"; "Những Ủy ban đó không những không được dân yêu, còn bị dân khinh, dân ghét". Người chỉ dẫn: "muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư".

TS. Chu Đức Tính, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh phân tích: "Bác Hồ giải thích rất đơn giản ngay từ những ngày mới giành chính quyền. Bác nói: "không có nhân dân thì Chính phủ không có lực lượng" mà "không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường". Cho nên phải dựa vào dân. Bác dạy cán bộ ta từ lúc hoạch định đường lối, chính sách và trong quá trình thực hiện phải lấy phương châm "Điều gì lợi cho dân, ta hết sức làm. Điều gì hại cho dân, ta hết sức tránh". Vì cuối cùng nhân dân tin vào lãnh đạo chính là họ được hưởng thụ như thế nào".

Những hành vi không đúng mực của một số cán bộ chính quyền đã ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín, làm xấu đi hình ảnh của bộ máy chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên nắm các chức vụ, quyền hạn. Hiện tượng lạm quyền, lộng quyền và các thói xấu khác ở một số cán bộ đã khiến cho niềm tin của nhân dân bị suy giảm. Bởi vậy, uy tín và hình ảnh của người cán bộ phải xuất phát từ sự tận tụy, hết lòng, hết sức vì việc công, "dĩ công vi thượng", không tơ hào, vun vén cho lợi ích bản thân và gia đình mình, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không quan liêu, xa cách và hống hách với dân, luôn khiêm nhường, giản dị trong cuộc sống. Muốn vậy, Đảng phải ra sức giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; đồng thời, mỗi người phải có ý thức tự rèn luyện, tự tu dưỡng thường xuyên, liên tục.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan khẳng định: Uy tín, hình ảnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được xây dựng dựa trên trình độ trí tuệ, năng lực thực hiện sự lãnh đạo, quản lý, phẩm hạnh, đạo đức: "Bác nói là đức làm gốc. Cũng như cái cây có gốc. Nếu người có đức mà không có tài thì vô dụng. Nhưng có tài mà không có đức thì không có một cán bộ lãnh đạo nào có thể lãnh đạo được nhân dân. Không lãnh đạo được nhân dân thì sự nghiệp cách mạng sụp đổ".

Thực tế cho thấy, cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý tốt, giỏi có vai trò quyết định đến sự phát triển của từng địa phương, từng lĩnh vực hoạt động và phạm vi phụ trách. Nếu cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu yếu kém, ảnh hưởng tiêu cực đến thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật; đến uy tín của Đảng và niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và chế độ. Ngược lại, lựa chọn được cán bộ tốt sẽ góp phần đưa đất nước, địa phương, ngành, lĩnh vực đó phát triển... Điều này đặt ra yêu cầu quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược cho nhiệm kỳ Khóa XIV của Đảng. 

PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Giám đốc Học viện Chính trị Khu vực 2, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng và lối sống của cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ đảng viên có chức có quyền làm nhiệm vụ cực kỳ to lớn, là then chốt để giải quyết vấn đề uy tín của Đảng. Chúng ta đang ở trong những năm chuẩn bị cho Đại hội lần thứ 14 của Đảng và Đại hội các cấp vào năm 2025 thì việc lựa chọn cán bộ như thế nào là vấn đề rất lớn. Những cán bộ ấy phẩm chất đạo đức thật trong sáng, phải thật sự trung thành lý tưởng của những người cộng sản, lý tưởng phục vụ nhân dân. Thứ hai là người cán bộ phải thật sự có tài năng. Muốn lấy uy tín của nhân dân cán bộ phải "vừa hồng, vừa chuyên".

Uy tín, hình ảnh của cán bộ, đảng viên phải được xây dựng dựa trên năng lực trí tuệ, năng lực lãnh đạo, quản lý, đạo đức và phong cách khoa học, dân chủ, tình thương yêu đồng chí, đồng bào. Khi cán bộ, đảng viên có được uy tín trong Đảng và trong nhân dân, được đồng chí, đồng bào quý trọng thì đó là niềm hạnh phúc, tự hào rất to lớn. Bởi vậy, dù ở vị trí, chức vụ nào cũng đều cần giữ gìn uy tín, danh dự, hình ảnh để xứng đáng với niềm tin, kỳ vọng của nhân dân, góp phần bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc đi đến thắng lợi./.

Yêu nước ST.

Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin trong Bộ Quốc phòng

 

Ngày 20-5, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo cải cách hành chính và chuyển đổi số Bộ Quốc phòng làm việc với Bộ tư lệnh 86 và các cơ quan, đơn vị về cơ sở dữ liệu gốc trong Bộ Quốc phòng.

Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin trong Bộ Quốc phòng
 Thượng tướng Lê Huy Vịnh phát biểu tại hội nghị. 

Hiện nay, trong toàn quân có khoảng gần 300 cơ sở dữ liệu đã được các cơ quan, đơn vị xây dựng để quản lý thông tin trên tất cả các mặt hoạt động. Trong đó có 17 cơ sở dữ liệu liên quan tới quản lý thông tin quân nhân; 5 cơ sở dữ liệu liên quan đến hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính; 28 cơ sở dữ liệu liên quan tới quản lý thông tin vũ khí, trang bị, vật tư; 20 cơ sở dữ liệu liên quan tới quản lý thông tin đất quốc phòng, địa hình quân sự. Các cơ sở dữ liệu đang được các cơ quan, đơn vị duy trì hoạt động thường xuyên. Nhiều cơ sở dữ liệu đã phát huy vai trò trong công tác quản lý của các cơ quan đầu ngành trong Bộ Quốc phòng như: Cơ sở dữ liệu cán bộ, cơ sở dữ liệu đảng viên, cơ sở dữ liệu tài chính…

Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin trong Bộ Quốc phòng
Các đại biểu tham dự hội nghị.

Tại hội nghị, Bộ tư lệnh 86 và các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đánh giá cao công tác xây dựng cơ sở dữ liệu của các cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, Bộ tư lệnh 86 cũng chỉ ra một số vấn đề về chất lượng dữ liệu, công tác lưu trữ dữ liệu. Các đại biểu cho rằng hiện nay số lượng cơ sở dữ liệu nhiều nhưng chưa xác định được dữ liệu gốc, điều này dẫn tới các cơ sở dữ liệu chưa có sự kết nối, chia sẻ thông tin với các hệ thống khác.

Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin trong Bộ Quốc phòng
Quang cảnh hội nghị. 

 Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Lê Huy Vịnh nêu rõ: Trong Bộ Quốc phòng, dữ liệu gốc là dữ liệu làm cơ sở để các cơ quan, đơn vị tham chiếu xây dựng các cơ sở dữ liệu ngành. Dữ liệu gốc có ý nghĩa quyết định đến việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin từ đó xây dựng bức tranh tổng thể phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và chỉ huy các cấp cũng như xây dựng các hệ thống tự động hóa chỉ huy.

Thời gian tới, đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu Bộ tư lệnh 86 và các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin. Việc xây dựng, khai thác và sử dụng dữ liệu gốc phải được thực hiện thống nhất từ Bộ Quốc phòng xuống các đơn vị cấp dưới. Dữ liệu phát sinh từ hoạt động nghiệp vụ thuộc cơ quan, đơn vị cấp nào thì cơ quan, đơn vị cấp đó chịu trách nhiệm cập nhật chính xác, kịp thời vào dữ liệu gốc. Đặc biệt, dữ liệu gốc phải được xác định cấp độ bảo mật. Các cơ quan, đơn vị phải xây dựng giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho các hệ thống tương ứng phù hợp theo các quy định tại Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 1-7-2016 của Chính phủ về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ.

Tin, ảnh: TUẤN NAM 

Ngày 20-5, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo cải cách hành chính và chuyển đổi số Bộ Quốc phòng làm việc với Bộ tư lệnh 86 và các cơ quan, đơn vị về cơ sở dữ liệu gốc trong Bộ Quốc phòng.

Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin trong Bộ Quốc phòng
 Thượng tướng Lê Huy Vịnh phát biểu tại hội nghị. 

Hiện nay, trong toàn quân có khoảng gần 300 cơ sở dữ liệu đã được các cơ quan, đơn vị xây dựng để quản lý thông tin trên tất cả các mặt hoạt động. Trong đó có 17 cơ sở dữ liệu liên quan tới quản lý thông tin quân nhân; 5 cơ sở dữ liệu liên quan đến hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính; 28 cơ sở dữ liệu liên quan tới quản lý thông tin vũ khí, trang bị, vật tư; 20 cơ sở dữ liệu liên quan tới quản lý thông tin đất quốc phòng, địa hình quân sự. Các cơ sở dữ liệu đang được các cơ quan, đơn vị duy trì hoạt động thường xuyên. Nhiều cơ sở dữ liệu đã phát huy vai trò trong công tác quản lý của các cơ quan đầu ngành trong Bộ Quốc phòng như: Cơ sở dữ liệu cán bộ, cơ sở dữ liệu đảng viên, cơ sở dữ liệu tài chính…

Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin trong Bộ Quốc phòng
Các đại biểu tham dự hội nghị.

Tại hội nghị, Bộ tư lệnh 86 và các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đánh giá cao công tác xây dựng cơ sở dữ liệu của các cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, Bộ tư lệnh 86 cũng chỉ ra một số vấn đề về chất lượng dữ liệu, công tác lưu trữ dữ liệu. Các đại biểu cho rằng hiện nay số lượng cơ sở dữ liệu nhiều nhưng chưa xác định được dữ liệu gốc, điều này dẫn tới các cơ sở dữ liệu chưa có sự kết nối, chia sẻ thông tin với các hệ thống khác.

Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin trong Bộ Quốc phòng
Quang cảnh hội nghị. 

 Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Lê Huy Vịnh nêu rõ: Trong Bộ Quốc phòng, dữ liệu gốc là dữ liệu làm cơ sở để các cơ quan, đơn vị tham chiếu xây dựng các cơ sở dữ liệu ngành. Dữ liệu gốc có ý nghĩa quyết định đến việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin từ đó xây dựng bức tranh tổng thể phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và chỉ huy các cấp cũng như xây dựng các hệ thống tự động hóa chỉ huy.

Thời gian tới, đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu Bộ tư lệnh 86 và các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin. Việc xây dựng, khai thác và sử dụng dữ liệu gốc phải được thực hiện thống nhất từ Bộ Quốc phòng xuống các đơn vị cấp dưới. Dữ liệu phát sinh từ hoạt động nghiệp vụ thuộc cơ quan, đơn vị cấp nào thì cơ quan, đơn vị cấp đó chịu trách nhiệm cập nhật chính xác, kịp thời vào dữ liệu gốc. Đặc biệt, dữ liệu gốc phải được xác định cấp độ bảo mật. Các cơ quan, đơn vị phải xây dựng giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho các hệ thống tương ứng phù hợp theo các quy định tại Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 1-7-2016 của Chính phủ về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ.

Tin, ảnh: TUẤN NAM 

Ngày 20-5, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo cải cách hành chính và chuyển đổi số Bộ Quốc phòng làm việc với Bộ tư lệnh 86 và các cơ quan, đơn vị về cơ sở dữ liệu gốc trong Bộ Quốc phòng.

Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin trong Bộ Quốc phòng
 Thượng tướng Lê Huy Vịnh phát biểu tại hội nghị. 

Hiện nay, trong toàn quân có khoảng gần 300 cơ sở dữ liệu đã được các cơ quan, đơn vị xây dựng để quản lý thông tin trên tất cả các mặt hoạt động. Trong đó có 17 cơ sở dữ liệu liên quan tới quản lý thông tin quân nhân; 5 cơ sở dữ liệu liên quan đến hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính; 28 cơ sở dữ liệu liên quan tới quản lý thông tin vũ khí, trang bị, vật tư; 20 cơ sở dữ liệu liên quan tới quản lý thông tin đất quốc phòng, địa hình quân sự. Các cơ sở dữ liệu đang được các cơ quan, đơn vị duy trì hoạt động thường xuyên. Nhiều cơ sở dữ liệu đã phát huy vai trò trong công tác quản lý của các cơ quan đầu ngành trong Bộ Quốc phòng như: Cơ sở dữ liệu cán bộ, cơ sở dữ liệu đảng viên, cơ sở dữ liệu tài chính…

Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin trong Bộ Quốc phòng
Các đại biểu tham dự hội nghị.

Tại hội nghị, Bộ tư lệnh 86 và các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đánh giá cao công tác xây dựng cơ sở dữ liệu của các cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, Bộ tư lệnh 86 cũng chỉ ra một số vấn đề về chất lượng dữ liệu, công tác lưu trữ dữ liệu. Các đại biểu cho rằng hiện nay số lượng cơ sở dữ liệu nhiều nhưng chưa xác định được dữ liệu gốc, điều này dẫn tới các cơ sở dữ liệu chưa có sự kết nối, chia sẻ thông tin với các hệ thống khác.

Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin trong Bộ Quốc phòng
Quang cảnh hội nghị. 

 Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Lê Huy Vịnh nêu rõ: Trong Bộ Quốc phòng, dữ liệu gốc là dữ liệu làm cơ sở để các cơ quan, đơn vị tham chiếu xây dựng các cơ sở dữ liệu ngành. Dữ liệu gốc có ý nghĩa quyết định đến việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin từ đó xây dựng bức tranh tổng thể phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và chỉ huy các cấp cũng như xây dựng các hệ thống tự động hóa chỉ huy.

Thời gian tới, đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu Bộ tư lệnh 86 và các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý cơ sở dữ liệu gốc và bảo đảm an toàn thông tin. Việc xây dựng, khai thác và sử dụng dữ liệu gốc phải được thực hiện thống nhất từ Bộ Quốc phòng xuống các đơn vị cấp dưới. Dữ liệu phát sinh từ hoạt động nghiệp vụ thuộc cơ quan, đơn vị cấp nào thì cơ quan, đơn vị cấp đó chịu trách nhiệm cập nhật chính xác, kịp thời vào dữ liệu gốc. Đặc biệt, dữ liệu gốc phải được xác định cấp độ bảo mật. Các cơ quan, đơn vị phải xây dựng giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho các hệ thống tương ứng phù hợp theo các quy định tại Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 1-7-2016 của Chính phủ về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ.

Tin, ảnh: TUẤN NAM 

Nguồn : Báo QĐND


VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CẤP CƠ SỞ TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


          Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đã được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị xác định rõ: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, sống còn của công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị-xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của từng cán bộ, đảng viên”.

        Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đây là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, trong đó vai trò của cán bộ, đảng viên cơ sở trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng, mang yếu tố quyết định đến thành bại của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi vì, cán bộ, đảng viên cấp cơ sở là đội ngũ hoạt động tại hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước, các đoàn thể xã hội với Nhân dân, là lực lượng trực tiếp tổ chức, triển khai thực hiện mọi chủ trương, đường lối, pháp luật, chính sách với nhân dân, gắn bó với phong trào của quần chúng nhân dân, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, để giải thích, vận động thực hiện cho hiệu quả, vừa thực thi quyền lãnh đạo, quản lý, điều hành ở địa phương, cơ sở.