Thứ Tư, 22 tháng 5, 2024

Phật giáo Việt Nam nêu cao tinh thần "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội".

 ùng với các tín ngưỡng, tôn giáo khác, Phật giáo Việt Nam đã định hướng đời sống tinh thần và xây dựng các chuẩn mực đạo đức, góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chúc mừng Lãnh đạo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và dự Đại lễ Phật đản với chức sắc, tăng ni, Phật tử tại chùa Quán Sứ, Hà Nội 

Sáng 22/5, nhân Đại lễ Phật đản Phật lịch 2568 - Dương lịch 2024, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã tới chúc mừng Lãnh đạo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và dự Đại lễ Phật đản với chức sắc, tăng ni, Phật tử tại chùa Quán Sứ, Hà Nội.

Cùng dự có đồng chí Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải; đồng chí Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương; Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hoàng Công Thủy; Hoà thượng Thích Thanh Dũng - Phó Pháp chủ, Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Hòa thượng Thích Thanh Dục, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam; chư tôn giáo phẩm lãnh đạo Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và thành phố Hà Nội.

Bày tỏ vui mừng tới dự Đại lễ Phật đản Phật lịch 2568 - Dương lịch 2024 do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức, Thủ tướng trân trọng chuyển lời chúc mừng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến đồng bào Phật giáo cả nước nhân Đại lễ Phật đản, đồng thời nhắc lại lời của Tổng Bí thư về tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo: "Việt Nam là đất nước đa dân tộc, đa tôn giáo, với 54 dân tộc anh em, nhiều tôn giáo cùng sinh hoạt tại các cộng đồng... Hiến pháp, pháp luật Việt Nam quy định tất cả mọi người dân đều có quyền theo hoặc không theo tôn giáo. Ở Việt Nam không có xung đột tôn giáo, xung đột dân tộc, tất cả chung sống hòa thuận...", vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Lãnh đạo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam dâng hương Đại lễ Phật đản Phật lịch 2568 - Dương lịch 2024 tại chùa Quán Sứ, Hà Nội 

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, đây là sự kiện tôn giáo quan trọng trong đời sống tinh thần và tín ngưỡng của đồng bào theo đạo Phật, là lễ hội văn hóa tôn giáo thế giới được Liên hợp quốc công nhận.

Thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và với tình cảm cá nhân, Thủ tướng trân trọng gửi tới chư tôn giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tăng ni, đồng bào Phật tử trong và ngoài nước, cùng các đại biểu lời chúc mừng tốt đẹp nhất; chúc Đại lễ Phật đản Phật lịch 2568 - Dương lịch 2024 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành tựu viên mãn.

Thủ tướng nêu rõ: Ngày Phật đản là ngày lễ thiêng liêng, mang nhiều ý nghĩa đối với xã hội, đặc biệt là những người theo Phật giáo, là dịp để tôn vinh những giá trị cao đẹp mà Phật giáo mang đến cho đời sống con người, đó là tinh thần từ bi, trí tuệ, đoàn kết và phát triển bền vững, nhân văn.

Qua hàng nghìn năm kể từ khi đạo Phật được truyền vào Việt Nam, lễ Phật đản đã có sức sống văn hóa mãnh liệt trong đời sống tinh thần người dân Việt Nam; không đơn thuần có ý nghĩa tôn giáo thiêng liêng mà còn là một lễ hội văn hóa tinh thần chung của xã hội, truyền đi thông điệp về lòng yêu thương, tinh thần đoàn kết, hoà hợp cùng phát triển.

Là tôn giáo của từ bi, của lòng nhân ái và tính hướng thiện, Phật giáo ra đời vì cuộc sống của con người và cho chính hạnh phúc, an lạc của nhân loại. Trong thực hành giáo lý và cuộc sống, đạo Phật luôn đề cao tinh thần đạo và đời luôn gắn liền nhau. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Phật giáo đã bén rễ, ăn sâu và hòa nhập vào xã hội Việt Nam, trở thành một thành tố của nền văn hóa truyền thống cao đẹp của người Việt Nam, nền văn minh, văn hiến Việt Nam.

Thủ tướng khẳng định: Với tinh thần "Hộ quốc an dân", Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc; lịch sử Phật giáo Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với lịch sử dân tộc trong cả quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, của đất nước ta. Trong lịch sử hào hùng của dân tộc, nhiều vị thiền sư, danh tăng đã hết lòng phù trợ các triều đại để xây dựng đất nước phát triển rực rỡ; trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, nhiều nhà sư đã "cởi cà sa, khoác chiến bào" để lại những chiến công lưu danh cho hậu thế. Với những giá trị nhân văn sâu sắc, cao cả, Phật giáo có ảnh hưởng tích cực đến quan niệm, tư tưởng, đạo đức, lối sống của dân tộc; góp thêm nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần có giá trị đặc sắc, làm đậm đà thêm văn hóa phong phú, độc đáo, đậm đà bản sắc của dân tộc ta, của nền văn minh, văn hiến Việt Nam.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Đại lễ 

Trong suốt gần 80 năm qua, Phật giáo đã có những tác động, ảnh hưởng tích cực và đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa do Đảng ta lãnh đạo

Với những triết lý sâu sắc và tinh thần "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội", các hoạt động Phật sự và hoạt động xã hội của Phật giáo luôn hướng đến con người, vì con người, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển phồn vinh của đất nước, vì sự trường tồn của dân tộc. Kết hợp và hoà quyện với tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân ta, đây cũng chính là một trong những nhân tố góp phần viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc ta trong suốt quá trình kháng chiến, kiến quốc, đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, nhiều tăng ni, Phật tử đã trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng, nhiều cơ sở thờ tự của Phật giáo đã trở thành nơi che chở, nuôi giấu cán bộ cách mạng, nhiều nhà sư đã lên đường ra mặt trận, nhiều người đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Như Ni trưởng Thích Đàm Thảo ở Chiến trường Điện Biên Phủ; 27 nhà sư thành lập Trung đội Phật tử ở chùa Cổ Lễ năm 1947; Huyền tích chùa Thắng Phúc (Tiên Thắng, Tiên Lãng, Hải Phòng) có 5 nhà sư là liệt sĩ anh dũng hy sinh hưởng ứng Lời kêu gọi "Toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh và biết bao những tấm gương anh hùng, dũng cảm khác đã hy sinh quên mình vì Tổ quốc thân yêu.

Trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, cùng với các tôn giáo khác, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phật tử trên khắp mọi miền của đất nước đã có nhiều đóng góp trên các lĩnh vực, góp phần vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước.

"Chúng ta rất phấn khởi, tự hào và cảm động trước những đóng góp của các tăng ni, Phật tử trên nhiều mặt công tác xã hội, các hoạt động từ thiện, nhân đạo, góp phần làm vơi đi những nỗi lo toan hàng ngày của nhiều người dân cả về vật chất và tinh thần, đóng góp cho việc thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phòng chống dịch bệnh, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững", Thủ tướng nhấn mạnh.

Theo Thủ tướng, đất nước ta có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng - mỗi tín ngưỡng, tôn giáo mang những nét văn hóa riêng, nhưng đều hướng đến các giá trị Chân - Thiện - Mỹ; bởi vậy có sự dung hợp, đan xen và hòa đồng, thống nhất trong đa dạng. Cùng với các tín ngưỡng, tôn giáo khác, Phật giáo Việt Nam đã định hướng đời sống tinh thần và xây dựng các chuẩn mực đạo đức, góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu - Người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới - Người đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân và hòa bình, tiến bộ của nhân loại rất tôn trọng, khâm phục tinh thần hy sinh cao cả của những người sáng lập ra Phật giáo, Kitô giáo và cho rằng mục đích cao cả của các vị ấy giống nhau ở chỗ họ đều muốn "mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội", thể hiện một phương pháp cách mạng độc đáo mang đậm phong cách Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt động giao lưu quốc tế, có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của Phật giáo thế giới; qua đó góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần khẳng định chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng trân trọng cảm ơn và đánh giá cao những đóng góp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, của toàn thể các tăng, ni, Phật tử Việt Nam cho cộng đồng, cho toàn xã hội và cho đất nước Việt Nam anh hùng.

Thủ tướng nêu rõ: Năm 2024 là năm có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước ta và Giáo hội Phật giáo Việt Nam - là năm thứ hai triển khai chương trình hoạt động Phật sự theo Nghị quyết Đại hội IX của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhiệm kỳ 2022 - 2027.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Lãnh đạo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam 

Thủ tướng nhấn mạnh, trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó lường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc cần được phát huy hơn bao giờ hết, trong đó các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng. Nhìn từ lịch sử 4 nghìn năm văn hoá dựng nước và giữ nước, đây cũng chính là một trong những nhân tố có ý nghĩa rất quan trọng, tạo ra sức mạnh "muôn người như một" của dân tộc Việt Nam anh hùng, nhân dân Việt Nam anh hùng. Sức mạnh bất khả chiến bại này cần được tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới để tạo thêm động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, đưa đất nước vững bước trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và Đảng ta đã lựa chọn.

Với tinh thần đó, cùng với các tôn giáo khác trong cả nước, Thủ tướng đề nghị Giáo hội Phật giáo Việt Nam thực hiện phương châm "1 đẩy mạnh - 2 tiên phong - 3 trọng tâm".

"1 đẩy mạnh" là: Đẩy mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy tinh thần đoàn kết trong nước, đoàn kết quốc tế, đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết trong nhân dân.

"2 tiên phong" gồm: Tiên phong vận động đồng bào cả nước hiến tạng, hiến máu cứu người với tinh thần "Cho đi là còn mãi", đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, từ thiện trong cả nước; Tiên phong chống mê tín, dị đoan, bảo đảm hoạt động tôn giáo lành mạnh với tinh thần "Đạo và đời - đời và đạo", kiên quyết không để các hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để chống lại Nhà nước, dân tộc, nhân dân, hoặc trục lợi, vì động cơ cá nhân, vi phạm quy định cả về Phật pháp và pháp luật.

"3 trọng tâm" gồm: Góp phần giáo dục lòng yêu nước, thương dân trong Phật tử và trong toàn xã hội với tinh thần "Hộ quốc an dân"; Sống tốt đời đẹp đạo, phát huy hiệu quả hơn nữa tư tưởng "Đạo pháp – Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội"; Góp phần xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau với tinh thần "Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng", "Thương người như thể thương thân", "Lá lành đùm lá rách", "Lá rách đùm lá rách hơn", nhất là trong khó khăn, hỏa hoạn, thiên tai, bão lũ...

Thủ tướng nêu rõ, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán nguyên tắc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, các hoạt động tinh thần lành mạnh, chính đáng, hợp pháp của tín đồ các tôn giáo, thể hiện đầy đủ bản chất tốt đẹp của chế độ ta, của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Thủ tướng mong muốn và tin tưởng rằng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục đạt được nhiều thành công trong công tác Phật sự; hoạt động và phát triển theo định hướng "Kỷ cương - Trách nhiệm - Đoàn kết - Phát triển" mà Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX đã đề ra, hướng dẫn tăng ni, tín đồ Phật tử Phật giáo Việt Nam tiếp tục thực hiện phương châm hoạt động "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội", đóng góp nhiều hơn nữa cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thay mặt Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn gửi lời cảm ơn lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành đã chúc mừng Đại lễ Phật đản.

Theo Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, năm 2024 là năm thứ 2 thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu phật giáo Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2022 – 2027, nửa năm qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã bám sát chương trình, chủ trương hoạt động của Giáo hội là "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội", "kỷ cương, trách nhiệm, đoàn kết, phát triển" và "tốt đời, đẹp đạo", đạt nhiều kết quả quan trọng.

Trong đó, Giáo hội tổ chức Đại lễ cầu siêu, tưởng niệm, tri ân các anh hùng, liệt sĩ nhân kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ; ủng hộ xây dựng 500 căn nhà tình nghĩa với trị giá 60 tỷ đồng tặng người khó khăn về nhà ở tỉnh Điện Biên; tham dự Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc lần thứ XIX tại Thái Lan...

Cho biết Việt Nam được chọn và Giáo hội Phật giáo Việt Nam được đăng cai tổ chức Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak) lần thứ XX năm 2025 (lần thứ 4 tại Việt Nam) tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn đề nghị các cấp, các ngành hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức thành công Đại lễ Vesak.

Hòa thượng Thích Thiện Nhơn khẳng định Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cùng tăng ni, đồng bào Phật tử toàn quốc luôn đồng hành với dân tộc, với đất nước, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Hiến chương của Giáo hội, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, văn minh, thịnh vượng và hội nhập./.

Phát huy tri thức và sức trẻ tham gia giải quyết vấn đề xã hội đang đặt ra.

 Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương Lại Xuân Lâm đề nghị tổ chức hoạt động tình nguyện gắn việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, của địa phương nơi triển khai các hoạt động tình nguyện, đồng thời hướng vào việc phát huy tri thức và sức trẻ tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn xã hội đang đặt ra.

Các đại biểu thực hiện nghi thức khởi động Lễ ra quân Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè của Đoàn Khối các cơ quan Trung ương

Ngày 22/5, tại Hà Nội, Đoàn Khối các cơ quan Trung ương tổ chức Lễ ra quân Chiến dịch Thanh niên tình nguyện Hè năm 2024. Đồng chí Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương và đồng chí Nguyễn Minh Triết, Bí thư Trung ương Đoàn đã tới dự.

Phát biểu tại lễ ra quân, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương Lại Xuân Lâm cho rằng, những mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, việc làm, an sinh xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, gìn giữ văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường... của đất nước hiện nay cũng như trong tương lai, rất cần có sự tham gia xung kích, tinh thần dấn thân, góp sức của tuổi trẻ nói chung trong đó có tuổi trẻ Khối các cơ quan Trung ương.

Đồng chí Lại Xuân Lâm khẳng định, phong trào thanh niên tình nguyện trong các cơ quan Trung ương mà cao điểm là các hoạt động ý nghĩa, mang đậm tính nhân văn sâu sắc trong Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè hằng năm đã phát huy được sức mạnh của các lực lượng thanh niên trong toàn Khối. Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè thực sự là môi trường và điều kiện để các bạn trẻ phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện, tính sáng tạo của mình, đóng góp quan trọng vào việc xây dựng một Việt Nam phát triển hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Để phong trào tình nguyện và chiến dịch tình nguyện hè mang lại nhiều giá trị mới, đồng chí Lại Xuân Lâm đề nghị các cấp bộ Đoàn trong Khối cần có chương trình, kế hoạch phối hợp triển khai một cách hiệu quả, khoa học, cụ thể, gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương nơi triển khai các hoạt động tình nguyện; hướng vào việc phát huy tri thức và sức trẻ của thanh niên tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn xã hội đang đặt ra…

Đồng thời, các cấp bộ đoàn trong Khối tăng cường đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong các mặt công tác của Đoàn, tăng cường tiếp cận, tuyên truyền, chia sẻ thông tin rộng rãi đến với thanh niên và xã hội; kịp thời phát hiện, giới thiệu và nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả; đồng thời động viên, biểu dương các gương điển hình trong Chiến dịch và chú trọng phát hiện những nhân tố tích cực để bồi dưỡng, phát triển nguồn đảng viên trẻ có chất lượng...

Các đơn vị trong Khối trao tặng công trình cho địa bàn tình nguyện tại Lễ ra quân. 

Phát động tại Lễ ra quân, Bí thư Đoàn Khối các cơ quan Trung ương Bùi Hoàng Tùng chia sẻ, đã thành truyền thống, mỗi khi hè đến, cùng với tuổi trẻ cả nước, tuổi trẻ Khối các cơ quan Trung ương lại bước vào một mùa chiến dịch tình nguyện mới. Vào thời điểm này, nhiều đoàn viên, thanh niên trong Khối đã sẵn sàng cho một mùa hè tình nguyện với đầy ắp những hoạt động đầy ý nghĩa và khát khao cháy bỏng được cống hiến sức trẻ cho quê hương, đất nước.

Khi mang trên mình màu áo thanh niên tình nguyện, chính các bạn đang góp sức mình để viết tiếp truyền thống tốt đẹp của bao thế hệ thanh niên Việt Nam; là tham gia một hành trình trải nghiệm thực tế đầy ý nghĩa, ở đó đòi hỏi cao nhất và không thể thiếu tinh thần đoàn kết, ý thức kỷ luật của mỗi đoàn viên, thanh niên.

Bí thư Đoàn Khối các cơ quan Trung ương tin rằng và hy vọng thời gian tham gia chiến dịch sẽ là những ngày tháng trải nghiệm đáng nhớ cho mỗi bạn trẻ, sẽ mang lại cho các bạn những giá trị để cuộc sống của mình tốt đẹp hơn và điều quan trọng đó là để lại những đóng góp thiết thực cho người dân tại địa bàn hoạt động với tinh thần cống hiến, mình vì mọi người, tinh thần sẻ chia, trách nhiệm.

Trong Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè 2024, Ban Thường vụ Đoàn Khối xác định triển khai 01 chương trình (Tiếp sức mùa thi), 02 chiến dịch (Mùa hè xanh, Kỳ nghỉ hồng), tổ chức 10 hoạt động quy mô cấp Khối trong toàn Chiến dịch (tiêu biểu như Lễ phát động ra quân Chiến dịch tại Hà Nội và hành trình tình nguyện tại tỉnh Quảng Bình; ngày hội hiến máu tình nguyện cấp Khối năm 2024; hành trình Tuổi trẻ Khối các cơ quan Trung ương vì biển đảo quê hương; Chiến dịch Kỳ nghỉ hồng tại tỉnh Cao Bằng; Lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt lĩ và các hoạt động kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ 27/7 tại tỉnh Điện Biên….).

Ngoài ra, Ban Thường vụ Đoàn Khối đề ra 12 chỉ tiêu phấn đấu bao gồm như: Tổ chức cho ít nhất 40.000 lượt đoàn viên, thanh niên tham gia các hoạt động tình nguyện do tổ chức Đoàn triển khai; xây dựng, hỗ trợ xây mới ít nhất 05 tuyến phố (đường, hẻm) văn minh; xây mới ít nhất 15 nhà nhân ái, nhà tình nghĩa..; trồng mới ít nhất 15.000 cây xanh; sửa chữa ít nhất 7 km, làm mới ít nhất 5 km đường giao thông nông thôn.

Hỗ trợ triển khai, hiện thực hóa 600 ý tưởng, sáng kiến của đoàn viên, thanh niên; nâng cao năng lực số khoảng 30.000 lượt thanh thiếu nhi và người dân; hỗ trợ 15 dự án khởi nghiệp sáng tạo của thanh niên; tư vấn hướng nghiệp và việc làm cho ít nhất 20.000 lượt đoàn viên, thanh niên; giới thiệu việc làm cho ít nhất 5.000 đoàn viên, thanh niên; giới thiệu 1.000 đoàn viên ưu tú cho Đảng, kết nạp 700 đảng viên mới từ đoàn viên ưu tú…

 Đoàn Thanh niên Đài Truyền hình Việt Nam và Đoàn Thanh niên Đài Tiếng nói Việt Nam tham gia xây dựng điểm trường tại xã Cần Nông, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với trị giá 500 triệu đồng. 

Tại Lễ ra quân, các cơ sở đoàn trong Khối trao tặng địa phương các công trình, phần việc thanh niên như Nhà tình nghĩa, các phần quà ý nghĩa cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng; trao tặng máy tính, xe đạp cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn… với tổng trị giá 400 triệu đồng; Đoàn Thanh niên Đài Truyền hình Việt Nam và Đoàn Thanh niên Đài Tiếng nói Việt Nam trao tặng điểm trường tại xã Cần Nông, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với trị giá 500 triệu đồng…

* Cùng ngày, Ban Thường vụ Đoàn Khối các cơ quan Trung ương tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt nghiên cứu, học tập chuyên đề tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh năm 2024.

Tại Hội nghị, đoàn viên, thanh niên Khối được lắng nghe nội dung chuyên đề: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung” do TS. Đinh Quang Thành, Phó Tổng biên tập Tạp chí Lý luận Chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trình bày.

Hội nghị góp phần nâng cao nhận thức trong đội ngũ đoàn viên, thanh niên Khối các cơ quan Trung ương, từ đó phát huy ý thức, trách nhiệm của bản thân, tinh thần cống hiến, lao động sáng tạo, tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh./.

THẾ NÀO LÀ "CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HOANG TƯỞNG"?

Xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội là những luận điệu từ trước đến nay các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn luôn tiến hành, đặc biệt là những thời điểm có tính quyến định về đường hướng phát triển của đất nước. Chúng cho rằng “Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đi theo vết xe đổ của Liên Xô”, “Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản là trái quy luật, là duy ý chí nên thất bại”, “Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa”.

Hay gần đây trang mạng “Dân làm báo” vừa đăng tải bài viết “Việt cộng lải nhải chủ nghĩa xã hội hoang tưởng và quảng cáo dân chủ giả hiệu là do dốt nát hay điếm đàng?”. Vậy thực tế có phải chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước xã hội chúng ta đã và đang lựa chọn là “chế độ xã hội hoang tưởng” như những gì “Dân làm báo” đã đăng tải?

Thứ nhất, chúng ta phải nhận thấy rõ việc Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội là hợp quy luật phát triển của lịch sử. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, ngay từ Chánh cương vắn tắt được thông qua tại Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng đã xác định làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đến Cương lĩnh năm 1991, Đảng đã xác định “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội và đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa khẳng định “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”, “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Thứ hai, thực tiễn phát triển của cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đã xác định: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn. Lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã ội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Những thành tựu của 35 năm thực hiện cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Vậy nên những gì mà Dân làm báo hay những kẻ chống phá đất nước xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta hay về cái gọi là "chủ nghĩa xã hội hoang tưởng"... là hoàn toàn sai sự thật và đó là luận điệu của những kẻ lạc lõng trong gần 100 triệu người dân Việt Nam mà thôi.

 

TRÁNH NHẸ DẠ, VÔ TÌNH BỊ LỢI DỤNG.

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức… có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam. Thực tế đáng lo ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết liệt, tẩy trừ dứt điểm.

Nguy hại từ những câu chuyện làm quà

Ông cán bộ nọ, từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với “cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan “chẳng đẹp đẽ” gì. Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.

Lại có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định… nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng “câu like”, “câu view” hoặc “nói cho bõ tức”…

Những câu chuyện như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc… nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức… Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước.

Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng “nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng”… Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội.

Bắt bệnh và trị bệnh

Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!

Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc… nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo…

Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác… vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề…

Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ… cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản… cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên.

Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy… khiến dư luận phải dị nghị, xem thường!

Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng…

Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh… rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”…

Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

PHẢI CÓ HÀNG RÀO PHÁP LUẬT

          Ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, chứ không thể có sự tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc. Và dĩ nhiên, ở Việt Nam cũng vậy!

          Nói về điều này, trước hết phải nhắc lại Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó nêu rõ, quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình phải chịu các giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác. Nói cách khác, quyền tự do tôn giáo hay bất cứ một quyền nào khác trên phương diện pháp lý đều bị giới hạn bởi khuôn khổ luật pháp.

          Cần phải thấy rằng, quyền tự do tôn giáo là vấn đề gắn với thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội ở từng quốc gia cụ thể, không thể tồn tại một khái niệm quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng. Cũng không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng, đo lường hoặc đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Trên phương diện đối ngoại giữa các quốc gia, không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc các quốc gia khác phải tuân theo.

          Trở lại với âm mưu, luận điệu vu cáo rằng Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, một lần nữa cần nhìn vào thực tế để thấy mặt thật của vấn đề. Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các tổ chức tà giáo mang danh nghĩa Tin lành truyền vào Việt Nam như Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ, Tân Thiên Địa... Hoạt động của đa phần các tổ chức này đều trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, nhuốm màu mê tín dị đoan, hoạt động lén lút, có dấu hiệu trục lợi và nhìn chung là vi phạm pháp luật, bị dư luận lên án. Tuy nhiên, đối với các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật của các tổ chức tà giáo như vậy, lực lượng chức năng Việt Nam chủ yếu nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật.

          Như vậy, một lần nữa chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng để nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.

          Điều đáng mừng là trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế, chúng ta đã có thêm nhiều kênh quan trọng để đưa ra tiếng nói và khẳng định thực tế tình hình tự do tôn giáo ở đất nước mình. Thông qua các cơ chế và diễn đàn song phương, đa phương, khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc, có một sự thật rõ ràng đang được thừa nhận, đó là Việt Nam đang tích cực cùng các quốc gia khác trên thế giới đấu tranh bảo vệ, phát huy các nguyên tắc, nội dung tiến bộ về tự do tôn giáo, và vẫn sẽ kiên trì bảo vệ lẽ phải trong lĩnh vực này.

 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VỀ TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM:

          Thực tế hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cho thấy rõ ràng chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, cũng như các nước khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân... Chính sách đó đã luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định và thực hiện nhất quán.

          Cũng có thể khẳng định rằng, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay khá sôi động, đa dạng với nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhiều tổ chức tôn giáo và mô hình tổ chức tôn giáo. Trong xu thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể, chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các ngày lễ trọng, lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành... được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Cùng với sự phát triển về tổ chức, đăng ký hoạt động cho các tôn giáo đủ điều kiện, số lượng tín đồ và các hoạt động tôn giáo tại Việt Nam cũng không ngừng gia tăng trong những năm gần đây.

          Sự ra đời của các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt đối xử giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào, dù là nội sinh hay truyền từ nước ngoài, tôn giáo đã ổn định hay mới được công nhận, miễn sao hoạt động của họ nằm trong khuôn khổ pháp luật. Dư luận của tuyệt đại bộ phận chức sắc, tín đồ cũng thừa nhận rằng, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, phù hợp, không có cản trở nào trong các hoạt động và sinh hoạt tôn giáo của họ.

          Sự thật là thế, vậy mà những năm gần đây, trong các báo cáo tự do tôn giáo của một số nước lại đề cập đến Việt Nam với những thông tin sai lệch, vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp một số tín đồ tôn giáo. Bên cạnh đó, còn một bộ phận nhỏ chức sắc, tín đồ của một số tôn giáo cho rằng họ không được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; rêu rao rằng ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, Nhà nước Việt Nam xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của giáo hội...

          Những đánh giá ấy chẳng những không phản ánh đúng bản chất tình hình mà thậm chí cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam trong tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thực chất đây không chỉ là những nhận thức sai lệch, mà xuất phát từ âm mưu, mục đích chính trị, nhằm lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta và chính quyền các cấp.

BÍ KÍP NGỒI TÙ CỦA CÁC NHÀ “DÂN CHỦ”

Trần Thị Xuân - một thành viên của Hội anh em dân chủ, đang chấp hành án tù 9 năm với tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (năm 2017) mới đây trở thành nhân vật chính của màn kịch “bị bệnh nặng trong tù nhưng không được chữa trị”.

Còn nhớ cách đây bốn năm, Xuân chính là đối tượng “hăng hái” nhất trong vụ việc kích động người dân đập phá tài sản, gây mất an ninh, trật tự tại trụ sở UBND huyện Lộc Hà dưới sự giật dây của các tổ chức phản động bên ngoài. Có thể nói, với số tiền nhận được từ các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong và các đối tượng cực đoan trong nước, Xuân hoạt động rất “tích cực” với vai trò là thành viên hội anh em dân chủ nhằm chống phá đất nước. Giờ đây khi phải đối diện với án phạt tù, lại giở chiêu trò “bệnh nặng” để hòng tìm kiếm sự hậu thuẫn từ bên ngoài.

Không chỉ Trần Thị Xuân mà các đối tượng “hành nghề dân chủ” cũng đều giở chiêu bài “khổ nhục kế” này với quy trình rất bài bản. Đó là hoạt động chống phá – bị kết án vào tù và sau đó là các màn kịch tuyệt thực hay sức khỏe suy nhược, mắc bệnh nặng hay bị ngược đãi... Từ lâu nó trở thành “ngón nghề”, bí kíp để các đối tượng “hành nghề dân chủ” tìm kiếm sự hậu thuẫn, lên tiếng từ phía các tổ chức mang vỏ bọc về nhân quyền như Tổ chức theo dõi nhân quyền HRW hay tổ chức phóng viên không biên giới RFS về cái gọi là “tù nhân lương tâm”.

“Tù nhân lương tâm” vốn dĩ là sự đánh tráo khái niệm về những kẻ đột lốt “dân chủ” để chống phá đất nước, vi phạm pháp luật bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù. Sự lươn lẹo này thực chất nhằm bao biện, lấp liếm và thay đổi bản chất của các hoạt động chống phá đất nước dưới sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài và sự cổ súy của một số báo đài nước ngoài thiếu thiện chí.

Đúng là ở ngoài thì thách thức, coi thường pháp luật, chống phá đất nước nhưng khi vào tù lại bày chiêu trò “khổ nhục kế”, bệnh tật.

 


KẾ LY GIÁN – CHIÊU TRÒ ĐỐN MẠT CỦA CHỦ NGHĨA XÉT LẠI

Nhằm hạ bệ tượng đài, đặc biệt là những tượng đài vĩ đại – anh hùng dân tộc, đám lật sử có chiêu thức rất khốn nạn như thế này: đó là đem so sánh tượng đài đó với một tượng đài khác lừng lẫy không kém, và nói rằng hai người xung đột lý niệm với nhau. Chúng nói rằng chiến công của người này thực sự là của người kia, khuyết điểm của người kia là lỗi người này tác động. Hội fan cuồng của 2 bên sẽ bắt đầu nảy sinh hoài nghi, và nhằm để thần tượng của mình hoàn hảo vô khuyết sẽ quay sang công kích vĩ nhân khác.

Chiêu bài này vô cùng thâm độc, mang tính then chốt trong chiến lược xét lại lịch sử, việc vờ ca ngợi người này để bôi nhọ người kia một cách tinh vi ấy đã dắt mũi và định hướng được rất nhiều người, hắt chậu nước bẩn lên những anh hùng dân tộc.

Như các bạn biết đấy, nhằm hạ bệ Stalin, chúng đã phao ra âm mưu rằng Stalin là người phá bỏ những thành tựu và ý chí của Lenin, dùng lời kể của nạn nhân và kẻ thù của Stalin để vu cho ông độc tài và khát máu. Và rốt cục, chúng đã thành công tạo ra một mối xung đột, gây chia rẽ giữa Stalin – biểu tượng của kỷ luật sắt đá của Hồng Quân với Lenin – ngọn đuốc sáng soi lối con đường chính trị của Xô Viết.

Nói thêm một chút về sự ra đời của “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi lãnh tụ Stalin mất, vào tháng 9 năm 1953, Nikita Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Mà Khrushchyov là một con người hẹp hòi, nhất là lạicó tư thù với Stalin khi một mực nhận định Stalin đã không dung thứ cho con trai của mình là Leonid. Khrushchyov. Thế là sau khi nắm quyền, tại đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ông ta đã đọc báo cáo về sự sùng bái cá nhân của I.V. Stalin. Và thế là Khrushchyov đã đề ra cái gọi là kế hoạch Phi Stalin hoá, cũng như chủ nghĩa xét lại.

Như các bạn biết đấy, nhằm hạ bệ Stalin, đám chủ nghĩa xét lại được sự cổ vũ của Khrushchyov đã phao ra âm mưu rằng Stalin là người phá bỏ những thành tựu và ý chí của Lenin, dùng lời kể của nạn nhân và kẻ thù của Stalin để vu cho ông độc tài và khát máu. Và rốt cục, chúng đã thành công tạo ra một mối xung đột, gây chia rẽ giữa Stalin – biểu tượng của kỷ luật sắt đá của Hồng Quân với Lenin – ngọn đuốc sáng soi lối con đường chính trị của Xô Viết.

(Dù ít hay nhiều, đám người theo chủ nghĩa xét lại đã phần nào hạ bệ được Stalin, cũng phải nói thêm rằng chính chính Khrushchyov đã chủ trương chung sống hòa bình với Chủ nghĩa Tư bản, đưa nhiều thanh niên Liên Xô sang Hoa Kỳ du học và trực tiếp đề bạt, từng bước xé nát những thành tựu xã hội dưới thời Stalin. Tuy tháng 10/1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ, nhưng 10 năm cầm quyền Khrushchyov cũng đã thành công gieo những mầm mống bât ổn “Tự do dân chủ” vào Nhà nước Xô Viết).

Sau khi chủ nghĩa xét lại cũng như tư tưởng của Khrushchyov được phổ cập, tại Việt Nam, đảng viên cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương tạm thời sống hòa bình với Hoa Kỳ), họ không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam ngay, mà cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Đám người này ảo vọng có thể thống nhất hòa bình như Hiệp định Genève quy định; ngược lại, nếu phát động đấu tranh vũ trang sẽ lo sợ Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, và khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô, khi đó Khrushchyov đang cầm quyền.

Ở chiều ngược lại, có nhiều người chống đối kịch liệt chủ nghĩa xét lại và theo quan điểm cứng rắn, tổ chức ngay chiến tranh giải phóng miền Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm "chủ hòa" rằng: "Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc". Trong hồi ký "Tử tù tự xử lí" của Trần Thư, ông mô tả không khí lúc bấy giờ là "tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc.

Nhưng, cũng chính vì điều này khiến cho mối quan hệ của Việt Nam và Liên Xô dưới thời Khrushchyov xảy ra mâu thuẫn. Xung khắc giữa Hà Nội và Moskva đưa đến Liên Xô làm áp lực, đe dọa cắt viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và thực sự viện trợ đã từng bước bị cắt giảm.

Phải lưu ý rằng, độc lập dân tộc của người Việt Nam phải do chính người Việt Nam giành lấy, vận mệnh dân tộc phải do chính người Việt quyết định, không thể ảo vọng tin vào lòng tốt của các nước đế quốc.

Và thực tế là đám đế quốc xưa nay luôn tráo trở và lật lọng, tình hình tại Việt Nam giữa hai miền Nam Bắc từ năm 1960 trở đi đã khiến Hiệp định Genève coi như không thể thi hành được nữa. Hội nghị Trung ương lần thứ 9 tháng 12 năm 1963 đã chính thức thừa nhận đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh chủ yếu, kêu gọi các lực lượng cách mạng miền Nam tìm cách giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất, bất kể có bị Liên Xô cắt viện trợ.

Thật may, năm 1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ. Quan hệ Việt-Xô lập tức được cải thiện ngay sau khi Brezhnev lên thay thế Khrushchyov năm 1964. Liên Xô sau đó lại viện trợ cho Việt Nam cực kỳ dồi dào trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước.

Kế ly gián, gây chia rẽ dân tộc đó cũng được đám lật sử trong Vietnam War sử dụng nhuần nhuyễn. Nhằm hạ bệ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chúng bắt đầu phao tin đồn rằng có một sự thù địch và kèn cựa giữa Đại tướng và Cố Tổng bí thư Lê Duẩn, một con người vĩ đại khác. Ngay như trong chiến thắng lịch sử mùa xuân 30/04/1975, chúng bắt đầu mang hết công lao cho Lê Duẩn và phủ nhận hoàn toàn những đóng góp to lớn của Võ Nguyên Giáp. Chúng cũng đã thành công tạo ra xung đột không cần thiết, mơ hồ tạo ra một suy nghĩ rằng có xung đột, kèn cựa và đấu đá lẫn nhau trong nội bộ lãnh đạo.

Không, chỉ có sự đoàn kết và thống nhất lớn lao mà dân tộc Việt Nam chúng ta mới có thể chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngụy quyền VNCH. Võ Nguyên Giáp – biểu tượng của tinh thần Quân đội nhân dân Việt Nam, và Lê Duẩn – người đại diện cho ý chí của Đảng Cộng Sản sau khi Hồ Chủ Tịch mất là hai đồng chí, hai người bạn thân thiết.

Tướng Giáp cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả hai không hoàn hảo, nhưng họ vĩ đại. Phụng sự một đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Gần đến ngày kỷ niệm chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ, 07/05/1954, nhiều kẻ khốn nạn đang cố gắng nói rằng để có được chiến thắng đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sử dụng chiến thuật “nướng quân”, và bắt đầu vờ ca ngợi Lê Duẩn để nhiều bạn hâm mộ ông quay sang nghi kỵ Tướng Giáp.

Một lũ đê hèn và khốn kiếp!

Thực tế thì năm 1952, Tổng Bí thư Lê Duẩn có ra Bắc và lần đầu tiên gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã sớm tiên đoán không thể có bầu cử thống nhất hai miền và đã soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam.

Cũng thời điểm ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh giao phụ trách chỉ đạo soạn thảo Nghị quyết 15, đáng chú ý là tư tưởng của Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cách mạng miền Nam có nhiều điểm trùng hợp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết rằng: “Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (Lê Duẩn) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc… Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói: “Anh là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”.

Điều ấy có nghĩa là mặc dù có đôi khi khác biệt nhau về nhận định, song TBT Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn hoà hợp, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần đồng chí cao cả. Trên các cương vị khác nhau họ đã đoàn kết cùng nhau dẫn dắt cả dân tộc đến bến bờ vinh quang, thống nhất nước nhà; hoàn thành thắng lợi di chúc thiêng liêng của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!

TẶNG CỜ TỔ QUỐC CHO NGƯỜI DÂN - HOẠT ĐỘNG THIẾT THỰC VÀ Ý NGHĨA

          Theo Thông báo số 174/TB-VP về kết luận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Trần Sỹ Thanh, bên cạnh nhiều hoạt động ý nghĩa hướng đến kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954-10/10/2024). Một thông tin được dư luận chú ý là Ủy ban nhân dân thành phố giao Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã tổ chức tặng mỗi hộ gia đình 1 lá cờ Tổ quốc theo mẫu chung của toàn thành phố.

          Sự việc này đã trở thành “điểm nóng” gây tranh cãi của một số đối tượng thiếu thiện chí, đặc biệt, một số đối tượng như Nguyễn Xuân Diện, Lưu Trọng Văn hay trang mạng của tổ chức Việt Tân đã liên tục chia sẻ những bài viết và hình ảnh mang tính mỉa mai và xuyên tạc về chủ trương này, thậm chí căn cứ vào những thông tin phiến diện để chỉ trích quyết định này là “lãng phí” và “không cần thiết” khi tự vẽ ra những con số về kinh phí để tặng cờ cho người dân.

          Ở đây, cần phải khẳng định rằng UBND Hà Nội chưa đưa ra số liệu về kinh phí tặng cờ cho người dân như một số trang mạng đã đăng tải để lập lờ đánh lận để xuyên tạc. Việc tặng cờ cho người dân cũng sẽ được chính quyền địa phương rà soát để bảo đảm vừa thiết thực và vừa ý nghĩa. Đồn thời, trong bất kỳ quyết định nào, việc kiểm tra, đánh giá và đảm bảo sự hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực công cũng là một phần không thể thiếu. Người dân và cơ quan truyền thông có quyền được biết và đòi hỏi minh bạch trong cách thức triển khai và quản lý tài chính của những sáng kiến như vậy.

          Chúng ta phải khảng định rằng, Cờ Tổ quốc mang trong mình ý nghĩa lịch sử và tinh thần dân tộc to lớn. Đây cũng là thời điểm lịch sử xứng đáng để người dân nhắc, nhớ về lịch sử 70 năm trước, các bậc cha ông đã nhuộm đỏ, tô thắm lá cờ vinh quang cho Thủ đô được như ngày hôm nay. Những lá cờ được trao tới tay người dân giúp gìn giữ và phát huy truyền thống anh hùng, tinh thần yêu nước.

          Phân tích sâu hơn về mục đích của việc tặng cờ, ta thấy rằng hành động này có thể nhìn nhận như một biện pháp xây dựng và củng cố tình cảm dân tộc trong một dịp lễ quan trọng. Việc sử dụng hình ảnh cờ Tổ quốc không chỉ là biểu trưng của lòng yêu nước và tự hào lịch sử, mà nó còn kích thích tinh thần đoàn kết trong xã hội, góp phần vào việc tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.

          Chúng ta không thể phủ nhận rằng, đối với một số người, việc tặng cờ có thể không mang lại giá trị tài chính trực tiếp, nhưng tặng lá cờ trong sự kiện lịch sử ý nghĩa này góp phần tạo nên không khí tưng bừng trong người dân Thủ đô, tạo động lực cho tinh thần yêu nước và sự tự hào dân tộc. Mỗi lá cờ là một lời nhắc nhở về lịch sử hào hùng và ý nghĩa của việc gìn giữ và bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc./.


THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA

          Thực hiện chủ trương tăng cường quốc phòng, an ninh “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, những năm gần đây, các địa phương có chung đường biên giới với nước láng giềng Campuchia trên địa bàn Quân khu tổ chức nhiều hoạt động giao lưu kết nghĩa, thực hiện các mô hình, cách làm sáng tạo đưa dân ra biên giới, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, triển khai các dự án kinh tế - quốc phòng, tạo mọi điều kiện để người dân làm ăn, sinh sống, góp phần giữ vững biên giới hòa bình, hữu nghị và phát triển. Để xây dựng “thế trận lòng dân” trên biên giới ngày càng vững chắc, các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động Nhân dân nhận thức đầy đủ những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đẩy mạnh ký kết, kết nghĩa với công tác ngoại giao nhân dân, giải quyết tốt những vấn đề về an ninh biên giới, chính sách dân tộc, tôn giáo, an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

          Lợi dụng việc phân giới cắm mốc, tổ chức lực lượng bảo đảm an ninh - quốc phòng, xây dựng công trình phòng thủ trên tuyến biên giới, các thế lực thù địch, phản động sử dụng thông tin và tư liệu lịch sử sai lệch viết bài, đưa tin lên các diễn đàn mạng xã hội đánh lừa dư luận, thực hiện mưu đồ chống phá. Các tổ chức phản động ra sức xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, mối quan hệ giữa các dân tộc và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội trên tuyến biên giới. Chúng cho rằng việc phát triển các dự án kinh tế là nguyên nhân đẩy đồng bào các dân tộc thiểu số lâm vào tình cảnh khốn khó, mất nguồn sinh kế. Chúng kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc và xuyên tạc người Kinh đã lấy đất, phá rừng, gây khó khăn cho đồng bào các dân tộc tham gia các dự án kinh tế - quốc phòng, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy yếu sức mạnh của quân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các đối tượng làm sai lệch tư liệu lịch sử, xuyên tạc, bịa đặt Việt Nam xâm chiếm đất của nước láng giềng nhằm phá hoại việc phân giới cắm mốc, đưa ra những thông tin thất thiệt về xây dựng các công trình phòng thủ gây hoang mang trong dư luận, gây chia rẽ tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia.

          Để bảo đảm an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội trên tuyến biên giới góp phần thực hiện kế sách “giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”. Mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân phải luôn đề cao cảnh giác, chủ động tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN./.

LUẬN ĐIỆU “XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC TAM QUYỀN PHÂN LẬP”

          Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (01/2021) đã đề ra chủ trương tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả. Thế nhưng, các thế lực thù địch luôn tập trung chống phá vào vấn đề Nhà nước - yếu tố trung tâm của hệ thống chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên, một số đối tượng tự xưng “người nghiên cứu luật học” cho rằng: phải xây dựng nhà nước Việt Nam theo kiểu “tam quyền phân lập” như các nước phương Tây, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội. Họ coi đây là con đường, biện pháp để “dân chủ hóa”, để “phá vỡ độc đoán, chuyên quyền”. Đây là những luận điệu sai trái, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

          Chúng ta đều biết rằng tư tưởng phân quyền có từ thời cổ đại ở phương Tây, với nội dung chính là: Trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án. Đây là nội dung có ý nghĩa tích cực, để chống lại sự chuyên quyền của các lãnh chúa, nhà vua trong chế độ phong kiến.

          Trên thực tiễn, quyền lực nhà nước tư sản dù có cố tổ chức theo tam quyền phân lập, nhưng thực chất vẫn là thống nhất, không tách rời. Một số người ca ngợi Hoa Kỳ là một “mẫu hình”, “thể hiện thành công nhất” về “tam quyền phân lập”. Nhưng trong thực tiễn nền chính trị Hoa Kỳ, phân quyền chỉ có trong văn bản Hiến pháp mà thôi; dù có phân quyền thế nào chăng nữa, thì lập pháp và hành pháp vẫn gắn bó với nhau. Theo Hiến pháp Hoa Kỳ: Quyền hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống. Nhưng Tổng thống thường là đại diện của đảng chiếm đa số trong Hạ viện, thì lập pháp và hành pháp đều trong tay một đảng, lúc này phân quyền đã bị biến dạng. Tổng thống có thể hướng Quốc hội về những chính sách theo ý chí của mình. Như vậy, hô hào “tam quyền phân lập” chẳng qua chỉ là thứ bánh vẽ, giả hiệu, là thủ đoạn chính trị của giai cấp tư sản nhằm che đậy bản chất bóc lột, chuyên quyền.

          Kế thừa những tinh hoa, giá trị về nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại, vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn xây dựng Nhà nước ta, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Ở đây, nhìn về mặt hình thức thì có sự phân quyền nhưng về bản chất, nội dung “phân quyền” thì lại khác hẳn về chất so với “tam quyền phân lập”. Quyền lực nhà nước là thống nhất. Đây là sự tiến bộ vượt trội của Hiến pháp Việt Nam; phản ánh xu thế thời đại, trình độ phát triển cao hơn hẳn của lập hiến Việt Nam.

          Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo là một đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, nhân dân ta đang xây dựng. Thực tiễn đã, đang và sẽ chứng minh tính đúng đắn, phù hợp của nhà nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đồng thời cũng sẽ bác bỏ những luận điệu sai trái, phủ nhận nhà nước pháp quyền, hướng nhà nước ta theo hình thức “tam quyền phân lập” giống phương Tây./.

 

Vị trí, vai trò của cấp ủy đảng


Đại hội (cơ quan lãnh đạo cao nhất ở mỗi cấp) và ban chấp hành (gọi tắt là cấp ủy) do đại hội cùng cấp bầu ra. Cấp ủy đảng là cơ quan lãnh đạo của Đảng giữa hai kỳ đại hội ở mỗi cấp, do đại hội cùng cấp bầu ra. Cấp ủy đảng là bộ phận hữu cơ của đảng bộ, nhưng là bộ phận hạt nhân lãnh đạo chính trị của đảng bộ, tiêu biểu cho năng lực trí tuệ, năng lực thực tiễn và phẩm chất đạo đức của đảng bộ. Cấp ủy đảng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của các tổ chức đảng ở mỗi cấp. Vai trò đó được thể hiện: Cấp ủy đảng là cơ quan lãnh đạo tập thể của đảng bộ ở mỗi cấp; là cơ quan tổ chức và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; là đại biểu tiêu biểu cho việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng; cấp ủy đảng còn giữ vai trò mắt xích trong trung tâm chỉ đạo công tác xây dựng nội bộ đảng trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức. Tùy theo đặc điểm và phạm vi lãnh đạo ở từng cấp, tập thể cấp ủy đảng có trách nhiệm và quyền hạn nhất định. Nhìn chung, trách nhiệm và quyền hạn của cấp ủy bao gồm những nội dung chủ yếu như: Quyết định các chủ trương, chính sách, biện pháp quan trọng để cụ thể hóa đường lối và tổ chức chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các nghị quyết của cấp trên; quyết định các chủ trương, biện pháp lớn về tổ chức và cán bộ, về việc bố trí, đề bạt và thi hành kỷ luật đối với cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý; thường xuyên chỉ đạo công tác xây dựng Đảng, công tác vận động nhân dân, công tác xây dựng chính quyền, định kỳ nghe báo cáo và chỉ đạo các cấp ủy đảng trực thuộc, các đảng đoàn, các ban của Đảng thực hiện chức trách, nhiệm vụ; xây dựng và điều hành bộ máy của cấp ủy đảng để bảo đảm sự lãnh đạo các mặt hoạt động của cấp ủy; chuẩn bị đại hội, thường xuyên báo cáo với cấp trên và thông báo cho cấp dưới tình hình chung và công việc của cấp ủy, bảo đảm việc thông tin tình hình trong và ngoài nước cho từng cấp ủy viên và cấp ủy trực thuộc một cách thường xuyên theo quy định của Điều lệ Đảng. Những nội dung trên được cụ thể hóa thành quy chế làm việc của cấp ủy đảng ở từng cấp cho phù hợp với đặc điểm và phạm vi lãnh đạo ở mỗi cấp của Đảng. Nhìn chung thường có 3 phần lớn: Quy định trách nhiệm và quyền hạn của tập thể cấp ủy đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện (của tập thể ban chấp hành của thường vụ, thường trực cấp ủy); Quy định trách nhiệm và quyền hạn của từng cá nhân cấp ủy viên ban chấp hành, ủy viên thường vụ, phó bí thư và bí thư; Quy định chế độ làm việc và phương pháp công tác của tập thể và cá nhân cấp ủy đảng.vn