Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM

 


Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để xuyên tạc bản chất phòng chống tham nhũng ở Việt Nam, chúng gieo rắc sự hoài nghi trong dư luận nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân ta đối với Đảng. Nhận thức đúng đắn bản chất phòng chống tham nhũng là cơ sở nhận diện, đấu tranh vạch trần thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Trước những thành quả không thể phủ nhận trong công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua đã nói lên quyết tâm phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là lời nói suông, những việc làm trên đã được đông đảo quần chúng nhân dân quan tâm và đồng tình ủng hộ. Song các thế lực thù địch lại “vin cớ” vào việc xử lý các vụ án tham ô, tham nhũng để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; chúng cho rằng ở Việt Nam không có các đảng phái đối lập, không có “tam quyền phân lập” giám sát lẫn nhau như các nước tư bản nên tình trạng tham ô, tham nhũng là vấn đề phổ biến không thể chống lại, nhưng thực tế ở các nước tư bản tình trạng tham ô, tham nhũng còn xảy ra nhiều với mức độ còn nghiêm trong hơn so với Việt Nam

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi rõ: "... Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân".. Do vậy mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là người ưu tú, có phẩm chất chính trị, đạo đức sáng ngời trách nhiệm cao trong công việc, gương mẫu, chuẩn mực trong lời nói và hành động. Thực hiện Di chúc và lời dạy của Bác, Đảng ta đã và đang đẩy mạnh quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, mà đặc biệt là công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực với quan điểm “Không có vùng cấm”, “Không có ngoại lệ”, bất kỳ người đó là ai, giữ cương vị gì. Mục đích làm trong sạch bộ máy Nhà nước, đội ngũ đảng viên, xây dựng Đảng, đội ngũ cán bộ ngày càng trong sạch đủ đức, đủ tài thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Với quyết tâm phòng chống tham nhũng, tiêu cực mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tin tưởng rằng công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phòng chống tham nhũng, tiêu cực sẽ đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp./.

ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP - MỤC TIÊU HƯỚNG TỚI CỦA "XÃ HỘI DÂN SỰ" KIỂU PHƯƠNG TÂY

 


Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền cổ vũ cho chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tại Việt Nam. Luận điệu của họ là trong nền chính trị Việt Nam phải tồn tại các nhóm chính trị, các chính đảng khác nhau để đa dạng hóa đường lối cho nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử tự do thì mới đảm bảo cho một nền dân chủ. Vì vậy, những năm qua các phần tử chống CNXH luôn tìm mọi cách tập hợp lực lượng, cho ra đời tổ chức, đảng phái chính trị đối lập trong nước.

Thời gian tới, hoạt động của các thế lực thù địch đối với vấn đề “xã hội dân sự” ở Việt Nam sẽ được đẩy mạnh theo các hướng sau:

Một là, gia tăng hoạt động truyền bá tư tưởng “xã hội dân sự” của phương Tây, đề cao và tuyệt đối hóa để gây áp lực xã hội đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm tiền đề cho sự ra đời, phát triển của “xã hội dân sự” Việt Nam - mầm mống của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Hai là, tập trung tuyên truyền tác động phá hoại nội bộ, thúc đẩy quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm tạo dựng, phát triển lực lượng chống đối, bổ sung nhân sự cho việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị, đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ba là, gia tăng các hoạt động móc nối, tác động chuyển hóa các tổ chức xã hội dân sự đích thực ở Việt Nam, nhất là các hội, các tổ chức phi chính phủ trở thành các tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây, làm mất dần bản chất đích thực, vai trò quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự hiện nay. Từ đó sẽ trực tiếp chi phối, khích lệ các hoạt động chống đối chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở nước ta. Đây là bước chuẩn bị điều kiện nhân sự, tổ chức cho sự ra đời của đảng chính trị đối lập, từng bước công khai hóa, hợp thức hóa, quốc tế hóa trở thành đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua đấu tranh chính trường, từng bước gạt Đảng Cộng sản Việt Nam khỏi vũ đài chính trị, chiếm đoạt quyền lực, đưa nước ta theo quỹ đạo của phương Tây.

Bốn là, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị làm công cụ tuyên truyền tác động tư tưởng, lôi kéo quần chúng, những người có tâm tư bất mãn trong các giai tầng xã hội, các phần tử chống chủ nghĩa xã hội để tập hợp lực lượng quần chúng, chuẩn bị điều kiện kết hợp với các hoạt động gây mất ổn định chính trị - xã hội để phát động một cuộc “cách mạng đường phố”, thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.

Đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “xã hội dân sự” chống phá Việt Nam trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Trước hết, phải xác định đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, các ngành, các cấp, các lực lượng vũ trang.

Vấn đề đầu tiên đặt ra là phải thống nhất và nâng cao nhận thức về xã hội dân sự, phân biệt và đánh giá đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự đích thực để tập trung lãnh đạo, định hướng cho các tổ chức này tuân thủ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, cảnh giác trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, không để bị tác động, lôi kéo vào các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Không đánh đồng các tổ chức xã hội dân sự đích thực với các tổ chức “xã hội dân sự” theo mô thức của phương Tây.

Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân các giai tầng xã hội để thấy rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong việc cổ súy và sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” vào mục đích thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác nắm tình hình, tham mưu cho các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước. Kiên quyết giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phục vụ đất nước ổn định và phát triển đúng định hướng./.

TÔN VINH NHỮNG NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA ĐẤT NƯỚC

Tại tỉnh Quảng Trị, Khe Hó thuộc xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh là điểm xuất phát của tuyến đường Hồ Chí Minh hay Đường 559. Đây là địa điểm mà “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” (Đoàn 559) đã chọn làm nơi tập kết hàng hóa, đạn dược, khởi đầu của tuyến đường Hồ Chí Minh chi viện cho chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Khe Hó nằm giữa thung lũng hẹp, dưới chân dãy núi Động Nóc, cạnh thượng nguồn sông Rào Thanh. Năm 2011, Khe Hó được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích cấp quốc gia “Địa điểm xuất phát của Đường dây 559”.

Để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đường Hồ Chí Minh được Chính phủ quan tâm đầu tư xây dựng, trở thành tuyến đường huyết mạch trong hệ thống giao thông quốc gia. Năm 2000, đường Hồ Chí Minh đoạn qua tỉnh Quảng Trị được khởi công xây dựng với hai nhánh Đông và Tây. Theo đó, đường Hồ Chí Minh nhánh Đông đi qua các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ; nhánh Tây có hai đoạn (một đoạn đi qua huyện Hướng Hóa, một đoạn đi qua huyện Đakrông) với tổng chiều dài các nhánh hơn 200 km. Tuyến đường này trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội địa phương và liên kết vùng.

Đường Hồ Chí Minh nhánh Đông cùng với Quốc lộ 1A, cao tốc đường bộ Vạn Ninh - Cam Lộ (đang xây dựng) trở thành tuyến giao thông huyết mạch theo trục Bắc - Nam. Tuyến đường này hiện có hai làn, thảm bê tông nhựa, đi xuyên qua vùng gò đồi phía Tây của Quảng Trị. Sau khi được xây dựng, phương tiện lưu thông trên tuyến đường này ngày càng nhộn nhịp, các khu dân cư đông đúc hình thành; những cánh đồng trồng hồ tiêu, cao su, rừng sản xuất trải dài cùng nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất xây dựng ở hai bên đường.

Ông Phan Văn Chiến, ở thị trấn Bến Quan, huyện Vĩnh Linh - địa phương nằm trên đường Hồ Chí Minh nhánh Đông chia sẻ, trước năm 2000, nơi đây còn hoang vắng, dân cư thưa thớt. Đường Hồ Chí Minh nhánh Đông được xây dựng giúp kết nối các tuyến đường nhánh khác, tạo thuận lợi cho lưu thông. Do đó, người dân đến địa phương lập nghiệp ngày càng đông đúc, với nghề chính là trồng rừng kinh tế, cao su và thu mua, chế biến gỗ.

Đường Hồ Chí Minh nhánh Đông ngày nay được xây dựng hiện đại và phương tiện lưu thông nhộn nhịp. Đến nay, đi trên con đường này vẫn có thể nhận thấy một thời “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến” của quân và dân ta. Nằm bên đường Hồ Chí Minh nhánh Đông đoạn qua xã Linh Trường, huyện Gio Linh là cầu treo Bến Tắt. Đây là cầu treo đầu tiên do lực lượng Công binh Trường Sơn xây dựng từ năm 1973 - 1974 ở phía thượng nguồn sông Bến Hải - Vĩ tuyến 17 chia cắt hai miền Nam - Bắc từ năm 1954. Với sức chịu tải cho xe 10 tấn, cấu trúc cáp treo nhịp vượt hơn 100 m qua sông Bến Hải, cầu treo Bến Tắt góp đẩy nhanh tốc độ chi viện hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam.

Trên đồi Bến Tắt ở bên đường Hồ Chí Minh nhánh Đông đoạn qua xã Linh Trường là Nghĩa trang Liệt sỹ quốc gia Trường Sơn - nơi an nghỉ của hơn 10.000 liệt sỹ là bộ đội Trường Sơn. Được khởi công xây dựng vào tháng 10/1975 và hoàn thành tháng 4/1977, Nghĩa trang Liệt sỹ quốc gia Trường Sơn thể hiện lòng thương nhớ sâu sắc, lòng biết ơn vô hạn và sự tôn vinh, trân trọng của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đối với những người con ưu tú của đất nước đã không tiếc máu xương vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất non sông.

Ông Phạm Thanh Hòa, 57 tuổi, đến từ tỉnh Thanh Hóa chia sẻ, Nghĩa trang Liệt sỹ quốc gia Trường Sơn được xây dựng ở vị trí có nhiều ý nghĩa, khi nằm bên đường Hồ Chí Minh nhánh Đông, con đường bộ đội Trường Sơn đã sống, chiến đấu can trường trong cuộc chiến tranh vĩ đại bảo vệ Tổ quốc.

Ở nghĩa trang này, ngày ngày khói hương thơm ngát quyện vào nhau, dòng người từ khắp mọi miền Tổ quốc đến dâng hoa, dâng hương tưởng nhớ và tri ân công ơn to lớn của các Anh hùng liệt sỹ là bộ đội Trường Sơn. Tiếng đại hồng chung đặt tại Tháp chuông của Nghĩa trang Liệt sỹ quốc gia Trường Sơn vang lên liên hồi, vang vọng núi rừng Trường Sơn như lan tỏa tinh thần trong bốn câu thơ của Giáo sư Vũ Khiêu được khắc trên đại hồng chung ở nghĩa trang này:

"Bát ngát Trường Sơn hồn liệt sỹ

Dạt dào Đông Hải khí anh linh

Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí

Muôn dặm non sông nặng nghĩa tình".

 Nghĩa trang Liệt sỹ quốc gia Trường Sơn, Khe Hó, cầu treo Đakrông và cầu treo Bến Tắt là những di tích thành phần thuộc Di tích Lịch sử quốc gia Đặc biệt “Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh”, được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng năm 2013.

 


VẪN LÀ CHIÊU BÀI LỢI DỤNG VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN CỦA NHỮNG KẺ PHẢN ĐỘNG

 


Trong khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang sôi nổi chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ thì các thế lực thù địch với danh nghĩa là “những người Việt Nam yêu nước” tổ chức các sự kiện, để bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Chúng cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá thiếu khách quan, không chính xác, đổi trắng, thay đen về vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ nhân quyền, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền. Đây là hoạt động không phải mới mẻ trong những thủ đoạn của tổ chức Việt Tân và những lực lượng phản động.

Thực tiễn, ngay từ khi thành lập, Nhà nước Việt Nam luôn đặt quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của công dân lên hàng đầu, và vấn đề này được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu ra trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948 và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người. Nhà nước Việt Nam luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”

Theo bài “Cần nhìn nhận khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam” của Đại tá Đỗ Mạnh Cường đăng trên báo Hà Nội mới online ngày• 13/03/2024, có đoạn viết: “Về tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng, Nhà nước Việt Nam nhất quán tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; mọi công dân có quyền theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào. Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 26,7 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số, hơn 55 nghìn chức sắc, 135 nghìn chức việc, gần 30 nghìn cơ sở thờ tự. Trong chuyến thăm và làm việc tại Hoa Kỳ của Đoàn công tác liên ngành và chức sắc tôn giáo của Việt Nam, trao đổi về thành tựu và chính sách tôn giáo, từ ngày 10 đến 22-10-2023, phía Hoa Kỳ đã ghi nhận những thành tựu, kết quả đạt được của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Về bình đẳng giữa các dân tộc, Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng vai trò của việc phát huy ý chí, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều 5, Điều 6 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng tiến bộ, các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật. Điển hình như Quốc hội khóa XV có 89/499 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 17,8%.

Những kết quả trên là sự thật mà không một thế lực thù địch nào có thể đảo ngược, là sự khẳng định nhất quán rằng quyền dân chủ, quyền con người, quyền công dân đã và đang được bảo vệ vững chắc ở Việt Nam. Đó cũng là ý kiến phản biện đanh thép nhất đối với những luận điệu phủ nhận về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Ông Jean-Pierre Archambault, nguyên Tổng Thư ký Hội Hữu nghị Pháp - Việt trong bài trả lời phỏng vấn năm 2023, nêu rõ: “Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận”.

Việt Nam tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, ký ngày 24-9-1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, ký ngày 18-12-1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, ký ngày 19-3-1982; Công ước về quyền trẻ em, ký ngày 20-2-1990… Những công ước này đều được luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Với tư cách là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền, trong nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam có nhiều đóng góp, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người; là đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết, hoặc trực tiếp là tác giả một số nghị quyết được Hội đồng Nhân quyền thông qua bằng đồng thuận. Với những đóng góp to lớn đối với nhân quyền thế giới, Việt Nam xứng đáng khi trúng cử, trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc lần thứ hai, nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam đã chứng tỏ ngay vai trò của mình trong lĩnh vực quyền con người trên phạm vi toàn cầu khi hỗ trợ khẩn cấp Thổ Nhĩ Kỳ và Syria sau thảm họa động đất diễn ra ngày 6-2-2023. Thêm nữa, việc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 3-4-2023 đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo là dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025”

Những kết quả trên đã khẳng định nhất quán rằng quyền dân chủ, quyền con người, quyền công dân đã và đang được bảo vệ vững chắc ở Việt Nam. Đây là ý kiến phản biện đanh thép nhất đối với những luận điệu phủ nhận, xuyên tạc, bịa đặt về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Do đó, chúng ta cần phải cảnh giác trước các luận điệu trên, không mơ hồ, mất cảnh giác mắc mưu của các thế lực phản động.

CẢNH GIÁC VỚI "GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN" CỦA CÁC TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG

 


 Những năm qua, một số giải thưởng “tự phong” như: "giải thưởng nhân quyền", "tự do báo chí"… đã được các tổ chức, hội nhóm nhân danh dân chủ, nhân quyền lập ra và quảng bá rùm beng. Những cá nhân được trao thưởng cơ bản đều là những kẻ phạm tội và có nhiều hành động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Không khó để nhận ra mưu đồ của các tổ chức này khi sáng lập việc trao thưởng cho các cá nhân, đó là thông qua cái gọi là "giải thưởng nhân quyền" để tự đánh bóng tên tuổi của tổ chức, cổ súy cho các đối tượng chống đối, đối tượng có hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Thông qua việc "trao giải thưởng" này, tổ chức "Mạng lưới nhân quyền Việt Nam" còn muốn lừa bịp những người nhẹ dạ cả tin, lôi kéo họ vào các hoạt động chống phá dưới các vỏ bọc khác nhau như "nhà báo tự do", "nhà hoạt động nhân quyền", "nhà hoạt động xã hội".

Nhìn vào phía chủ thể đứng ra "trao giải", có thể nhận thấy đó là các tổ chức, hội nhóm vốn thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam hoặc chính giới các nước còn nhiều quan điểm thiếu đúng đắn về Việt Nam như các tổ chức như Phóng viên không biên giới, tổ chức Theo dõi Nhân quyền, các đài BBC, RFA, RFI, VOA tiếng Việt và một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động khác

Thực tế cho thấy, các tổ chức, hội, nhóm "trao" cái gọi là "giải thưởng" luôn tìm cách lợi dụng vấn đề nhân quyền qua việc cố tình hiểu sai lệch, phiến diện, cố tình không tuân thủ những giá trị phổ quát về quyền con người đã được LHQ khẳng định. Nói cách khác, các tổ chức, hội, nhóm đó đã khoác cái áo gắn dòng chữ "dân chủ", "nhân quyền" để thực hiện những mưu đồ đen tối, tạo cớ để can thiệp những công việc nội bộ của quốc gia, không đi theo ý muốn của thế lực đang đứng sau họ giật dây, đó là chưa kể đến động cơ mờ ám của hành vi "trao giải". Các 'giải thưởng nhân quyền" trên khiến dư luận lâu nay vẫn râm ran rằng việc "xướng tên" tạo cớ xin tiền tài trợ, quyên góp từ các nhóm chống Cộng ở nước ngoài hoặc một số cá nhân nhẹ dạ, cả tin, thiếu thông tin, bị lừa dối, lợi dụng, dẫn dắt đi theo.

Điểm mặt một số cá nhân được các tổ chức nêu trên "vinh danh" có thể thấy ngay được bản chất của các loại "giải thưởng" này:

Lê Thị Công Nhân, người được nhiều "giải thưởng nhân quyền" nhất, chỉ được biết đến sau khi Tòa án kết tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Hầu như năm nào, nhân vật này cũng được các tổ chức chống phá chính quyền Việt Nam trao "giải thưởng". Năm 2007 là "giải thưởng" của "Mạng lưới nhân quyền Việt Nam", năm 2009 là "giải thưởng quốc tế Clôc-pơ", năm 2010 là "giải thưởng Xê-va-nớt". Lý do "trao giải" không có gì khác ngoài việc xúi giục Lê Thị Công Nhân ngày càng kích động chống chính quyền. Đáp lại sự lăng xê của các tổ chức này, Lê Thị Công Nhân không ngại nói năng xằng bậy, cho rằng "cả dân tộc Việt Nam mê muội và cuồng tín", kích động quần chúng phải "đứng lên lật đổ chế độ hiện hành", ca tụng các hành động khủng bố điên cuồng của Lý Tống và gần đây là Phạm Thị Đoan Trang, đang được số chống đối ngông cuồng vận động vào đủ các thể loại "giải thưởng" trời ơi đất hỡi.

Việc trao đi, trao lại các "giải thưởng nhân quyền" cho 1 hoặc 2 đối tượng cho thấy sự bí bách của những kẻ chống đối, không thể tìm được gương mặt nào khác hoạt động chống phá như chúng. Bởi đơn giản tuyệt đại bộ phận người dân đều nhận thức được rõ đâu là tốt, đâu là xấu, đâu là vi phạm pháp luật để không dính vào chúng.

Đối với Phạm Thị Đoan Trang, kẻ được "vinh danh" nhận giải "nhân quyền" từng là một nhà báo nhưng sớm biến chất, hoạt động chống đối, thành lập hội, nhóm, trang web, tổ chức chống đối trong và ngoài nước như: Vì một Hà Nội xanh, Luật khoa tạp chí, Vietnam Magazine. Viết rất nhiều sách, tất cả đều là sách phản động, cổ vũ tư tưởng sùng bái tự do cá nhân, xuyên tạc tình hình Việt Nam, bôi nhọ lực lượng công an, quân đội, đòi thay đổi chế độ hiện tại ở Việt Nam như: "Cẩm nang nuôi tù", "Báo cáo Đồng Tâm", "Chính trị bình dân". Trang còn chủ mưu thành lập "Nhà xuất bản Tự do" với danh nghĩa là để tán phát các đầu sách do đối tượng viết, nhưng thực chất là giải ngân kinh phí hàng chục nghìn đô la tài trợ từ nước ngoài.

Bản chất của Phạm Thị Đoan Trang là một thành phần chống phá Việt Nam, cô ta từng được tập huấn bởi tổ chức VOICES, là một thành viên trong nước của tổ chức này, một tổ chức ngoại vi của Việt Tân. Chính vì thái độ chống đối đến cùng, không hối cải, không nhận thức được sai lầm nên tháng 10/2020, Trang bị bắt và ngày 14/12/2021, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam và lĩnh án 9 năm tù về tội chống phá Nhà nước.

Thực tế "giải thưởng nhân quyền" thường xuyên được các thế lực thù địch sử dụng trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" nhằm gây tổn hại và lấy cớ can thiệp vào nội bộ của các nước XHCN, trong đó có Việt Nam. Việc "vinh danh" trao "giải thưởng về nhân quyền" cho tù nhân đang thụ án tại Việt Nam chính là "màn kịch" vụng về trên "sân khấu chính trị" hải ngoại, ngày càng phơi bày bộ mặt chống phá cách mạng Việt Nam của những thế lực thù địch và những kẻ phản động lưu vong.

Đây là hoạt động trong âm mưu "Diễn biến hòa bình", tạo đà cho các hành động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam của các thế lực thù địch. Nếu chúng ta không tỉnh táo có thể mắc bẫy của các thế lực phản động này. Vì vậy mỗi người cần nhận diện rõ, đấu tranh với các biểu hiện và hành vi sai trái, lệch lạc, đi ngược lại tiến bộ xã hội, loại bỏ từ trong "trứng nước", không để phát triển và lây lan sự xấu độc trong nhận thức của từng người.

VIỆT NAM DẪN ĐẦU ASEAN VỀ KINH TẾ SỐ

Nền kinh tế số ASEAN đang bước vào một giai đoạn tươi sáng mới, trong đó Việt Nam đã trở thành thị trường đi đầu trong ngành công nghiệp số đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Nền kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất khu vực

Đông Nam Á hiện là một trong những khu vực mà kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất thế giới, đạt tổng giá trị giao dịch 218 tỷ USD trong năm 2023. Dự kiến quy mô nền kinh tế số tại khu vực sẽ đạt 600 tỷ USD vào năm 2030, tỷ lệ tăng trưởng kép là 16%/năm.

Nghiên cứu của Google ước tính, khoảng 3,8 triệu người dùng mới trên khắp Đông Nam Á sẽ tiếp tục truy cập trực tuyến mỗi tháng. Hiện có hơn 7.000 công ty khởi nghiệp kỹ thuật số ở khu vực, 80% trong số đó có trụ sở tại Indonesia, Singapore hoặc Việt Nam. Google cũng đánh giá, tốc độ phát triển kinh tế số của Việt Nam là nhanh nhất Đông Nam Á trong hai năm liên tiếp (28% vào năm 2022 và 19% vào năm 2023), vượt gấp 3,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Tổng doanh thu từ thị trường nước ngoài của hơn 1.500 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt 7,5 tỷ USD, tăng 4% so với năm 2022.

Phát biểu khi HSBC công bố Quỹ Tăng trưởng ASEAN trị giá 1 tỷ USD nhằm giúp các doanh nghiệp nền tảng số trong khu vực mở rộng quy mô vào cuối tháng 3 vừa qua, Giám đốc Khối khách hàng Doanh nghiệp, Khu vực Nam và Đông Nam Á thuộc HSBC châu Á - Thái Bình Dương Amanda Murphy cho biết, ngân hàng rất hào hứng với nền kinh tế số đang bùng nổ tại ASEAN. Với lực lượng lao động thuần thục về số hóa, đang trên đà tăng trưởng và sẵn sàng tiêu thụ nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, đặc biệt là trên nền tảng thương mại điện tử, ASEAN có rất nhiều tiềm năng để phát triển. Trong đó, Việt Nam là nền kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất trong ASEAN.

Theo lãnh đạo HSBC, tại ASEAN, Việt Nam là nền kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất trong năm 2022, 2023 và dự kiến sẽ duy trì vị trí này đến năm 2025. Kinh tế số Việt Nam hiện được dẫn dắt bởi thương mại điện tử, du lịch trực tuyến và truyền thông trực tuyến. Với dự báo số người dùng điện thoại thông minh đạt 67,3 triệu vào năm 2026, chiếm 96,9% người dùng Internet, Việt Nam trở thành thị trường hấp dẫn cho ngành công nghiệp số và cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động trong ngành.

Các chuyên gia của Ngân hàng HSBC trong bài viết “Nhận định nền kinh tế số ASEAN” ra mới đây đã cho rằng, nền kinh tế số ASEAN đang bước vào một giai đoạn tươi sáng mới, trong đó Việt Nam đã trở thành thị trường đi đầu trong ngành công nghiệp số đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Theo khảo sát của HSBC, 60% doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam cho biết, dự định đầu tư vào công nghệ và số hóa cho hoạt động kinh doanh hiện tại, với trọng tâm là thanh toán số, thương mại điện tử và trí tuệ nhân tạo.

          Trang The Star dẫn Báo cáo Kinh tế Kỹ thuật số Đông Nam Á lần thứ tám do Google, Temasek và Bain &Co thực hiện cho thấy, Việt Nam vẫn là nền kinh tế kỹ thuật số phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á trong năm thứ hai liên tiếp và dự kiến sẽ giữ vị trí này đến năm 2025. Việt Nam cũng là quốc gia áp dụng thanh toán kỹ thuật số có sự phát triển nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm dự kiến là 13% từ năm 2023 đến năm 2025. Tờ Strait Times nhận định, chìa khóa tạo nên sức hấp dẫn của Việt Nam nằm ở lực lượng lao động cần cù, 49,5% trong số đó ở độ tuổi từ 15-39. Những thanh niên có khả năng thích ứng cao, ham học hỏi và nhiệt huyết để thành công chính là động lực bí mật của nền kinh tế Việt Nam. Chuyên gia kinh tế phụ trách thị trường ASEAN của Ngân hàng HSBC Yun Liu cho rằng, tiềm năng về kinh tế số thực sự của Việt Nam là do dân số trẻ và đó là lợi thế của Việt Nam. Mặt khác đó là lợi thế về khả năng nhận thức, mức độ nhanh nhạy của người dân Việt Nam với các loại hình công nghệ mới.

Tiếp tục đẩy mạnh c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố quốc gia

Những đánh giá, số liệu thống kê của nước ta cũng cho thấy, kinh tế số đang phát triển nhanh và đạt được những thành quả tích cực. Theo Ủy ban Quốc gia về c.h.u.y ể.n đ.ổ.i s.ố, năm 2024 là năm “Phát triển kinh tế số với 4 trụ cột công nghiệp công nghệ thông tin, số hóa các ngành kinh tế, quản trị số, dữ liệu số”, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế số nền tảng từ 20-25% và tổng doanh thu lĩnh vực này đạt 40 tỷ USD, từ đó tạo đà cho các mục tiêu chiến lược năm 2025 đề ra trong Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số của Việt Nam.

Kết quả đo lường của Tổng cục Thống kê cho thấy, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2023 là 12,33%, trong đó ngành kinh tế số lõi đóng góp 7,42% (chiếm 60,19%), số hóa các ngành khác đóng góp 4,91% (chiếm 39,81%). Tỷ trọng kinh tế số trong GDP Việt Nam có xu hướng tăng trưởng trong giai đoạn 2020-2023. Năm 2020, tỷ trọng này là 12,66%; năm 2021 là 12,87%; năm 2022 là 12,63%. Tuy nhiên, năm 2023, tỷ trọng kinh tế số trong GDP có dấu hiệu giảm nhẹ, chỉ đạt 12,33%. Nguyên nhân là do ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (chiếm khoảng hơn 30% tổng giá trị tăng thêm của hoạt động kinh tế số) giảm do nhu cầu thế giới giảm. Dù vậy, tỷ trọng kinh tế số trong GDP Việt Nam vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), tỷ trọng kinh tế số trong GDP của Việt Nam cao hơn so với Thái Lan (12,1%), Indonesia (8,3%), Philippines (6,9%), Singapore (17,3%), Malaysia (23,1%).

Bộ Thông tin và Truyền thông vào cuối năm 2023 đã công bố kết quả c.h.u.y ể.n đ.ổ.i s.ố quốc gia với 62 mục tiêu đề ra. Trong số này, 18 mục tiêu đã được hoàn thành, chiếm 29%, 27 mục tiêu có khả năng hoàn thành cao (43,5%) và 17 mục tiêu còn lại đang đòi hỏi nỗ lực tập trung để hoàn thành đúng hạn (27,5%). Kế hoạch năm 2023 đặt ra 126 nhiệm vụ, trong đó đã hoàn thành 102 nhiệm vụ, đạt tỷ lệ 81%. Trong lĩnh vực sáng tạo và c.h.u.y ể.n đ.ổ.i s.ố, Việt Nam tiếp tục đứng trong nhóm 50 nước dẫn đầu với thứ hạng 46 trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2023, tăng 2 bậc so với năm 2022. Các cơ quan và bộ, ngành trong nước đến nay đã thành công trong việc đơn giản hóa 2.500 quy định kinh doanh và 528/1.086 thủ tục hành chính liên quan đến công dân, tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu để giải quyết hiệu quả các vấn đề liên ngành.

Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, kinh tế số Việt Nam có thể đạt mục tiêu 20% GDP vào năm 2025. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan, doanh nghiệp, người dân trong việc đẩy mạnh c.h.u.y ể.n đ.ổ.i s.ố, ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Nhằm c.h.u.y ể.n đ.ổ.i s.ố theo hướng hiệu quả, thiết thực, tạo bứt phá phát triển kinh tế - xã hội cũng như góp phần hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 và giai đoạn 2021 - 2025 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về c.h.u.y ể.n đ.ổ.i s.ố, đã ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2024. Kế hoạch đề ra những chỉ tiêu cụ thể để thực hiện chủ đề c.h.u.y ể.n đ.ổ.i s.ố năm 2024 “Phát triển kinh tế số với 4 trụ cột công nghiệp công nghệ thông tin, số hóa các ngành kinh tế, quản trị số, dữ liệu số - Động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững”./. 


VIỆT TÂN CỐ TÌNH BỊA ĐẶT, VU KHỐNG CÁN BỘ

 


Trong không khí thi đua sổi nổi của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày Chiến thắng Điện Biên phủ (7/5/1954-7/5/2024), nhằm tôn vinh, tri ân sâu sắc tới các thế hệ người Việt Nam đã hy sinh xương máu và có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, thì cá thế lực phản động luôn len lỏi tìm các chống phá, bôi nhọ sự thật, nói xấu Đảng, Nhà nước ta. Vừa qua, trang mạng Việt Tân có đăng tải bài viết với nội dung vô lý, bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh cán bộ.

Trong nhiệm kỳ Đại tướng Tô Lâm giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an, đã duy trì và phát huy Bộ Công an thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao và luôn phát huy truyền thống vì nhân dân phục vụ, góp phần to lớn vào bảo vệ an ninh, trật tự, chính trị, xã hội của đất nước. Đồng thời, phá rất nhiều vụ án nghiêm trọng, giúp Đảng, Nhà nước thu lại được nhiều tiền của góp vào ngân sách Nhà nước. Công an các đơn vị, địa phương đã có nhiều hành động cụ thể cứu giúp, hỗ trợ, giúp đỡ người dân trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Điển hình như: “Công an các tỉnh Miền trung - Tây Nguyên đã tích cực hỗ trợ nhân dân trong đợt lũ lụt vừa qua; Công an TP. Đà Nẵng đã kịp thời cứu được 02 học sinh đuối nước ngày 20/10/2023, cứu nạn 01 người quốc tịch nước ngoài bị mắc kẹt tại thác nước cao ở khu vực Suối Mơ Khe Răm thuộc địa phận huyện Hòa Vang ngày 29/10/2023; Công an thành phố Hà Nội kịp thời cứu 01 người nhảy cầu Nhật Tân vào ngày 29/10/2023; Công an tỉnh Hưng Yên kịp thời ngăn cản và cứu được 01 người định nhảy cầu Yên Lệnh tự tử ngày 25/10/2023; Công an tỉnh Khánh Hòa cứu nạn 01 người bị rơi xuống vách núi thuộc địa phận thành phố Nha Trang ngày 07/10/2023...”. Những việc làm nêu trên, tuy là bình dị thường ngày của lực lượng Công an, nhưng đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, sự dũng cảm, không quản ngại hy sinh, gian khổ, sẵn sàng đương đầu với hiểm nguy khi nhân dân gặp nạn, thể hiện rõ tinh thần "lúc dân cần, lúc dân khó, có Công an" để lại những dấu ấn đậm nét, lan tỏa hình ảnh đẹp của người chiến sỹ Công an là chỗ dựa tin cậy của người dân mỗi khi gặp khó khăn. Những thành công đó không thể không kể đến đóng góp to lớn của Đại tướng Tô Lâm, người đã đưa ra những quyết sách cứng rắn và đúng đắn.

Thời gian qua, việc một số cán bộ, Đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý bị xử lý sai phạm theo nguyên tắc của Đảng và các quy định pháp luật, được thực hiện một cách dân chủ, công bằng, công khai đã tạo được sự đồng thuận trong xã hội, được người dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Song các đối tượng phản động như Việt Tân lại mượn cớ để đưa ra những luận điệu xuyên tạc nhằm vu khống, bôi nhọ, vu cáo đối với phẩm giá của Đại tướng Tô Lâm.

Qua đây càng cho chúng ta càng thấy rõ bản chất thâm độc sâu xa của trang mạng Việt Tân luôn bới lông, tìm tòi, moi móc để nói xấu, các lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Do đó, chúng ta luôn phải cảnh giác trước những thông tin đăng tải của trang mạng Việt Tân. Bởi vì, đây là một trong những lực lượng phản động luôn tìm tòi, moi móc, để bẻ lái, bịa đặt, đặt điều, vu khống nhằm mục đích đổ lỗi, quy chụp cho sự yếu kém của cá nhân, tổ chức lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Đây quả thật là âm mưu thủ đoạn thâm độc đáng sợ, nham hiểm của Việt Tân nhằm từng bước kích động, lôi kéo quần chúng nhân dân. Đặc biệt là những thành phần bất mãn chế độ, lực lượng phản động vẫn luôn và đang thực hiện nhằm bôi nhọ danh dự các lãnh đạo Đảng, nhà nước ta hòng lật đổ chế độ Đảng cộng sản Việt Nam mà Đảng và Bác dày công vun đắp.

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU BÀI LỢI DỤNG “NHÂN QUYỀN” ĐỂ CHE GIẤU MỤC ĐÍCH “PHẢN ĐỘNG”

 


Nhân dịp Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chuẩn bị tổ chức kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ - lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; các tổ chức phản động và thế lực thù địch lại đẩy mạnh các hoạt động chống phá nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với bản chất phản động, ngày 02.5.2024 tổ chức Việt Tân kêu gọi tham gia biểu tình lúc 09 giờ 00 ngày 07.5.2024, trước trụ sở Liên Hợp Quốc tại Geneve - Thụy Sĩ nhằm lên án những vi phạm nhân quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây thực chất vẫn là chiêu bài lợi dụng “nhân quyền” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta; đồng thời xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu về nhân quyền mà chúng ta đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta cần tỉnh táo nhận diện những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.

Một là, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách nhất quán, tôn trọng và bảo đảm quyền con người; nhằm chống lại sự bất công, sợ hãi và đói nghèo, để không ai bị bỏ lại phía sau. Với quan điểm, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được thể hiện xuyên suốt trong các cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Kế thừa, phát triển Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992; Hiến pháp năm 2013 là đỉnh cao của hoạt động lập hiến, điểm sáng về quyền con người, đã dành trọn vẹn 36/120 điều để quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân.

Hai là, Việt Nam đã tích cực tham gia và là thành viên có trách nhiệm trong hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng về quyền con người như: Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa; Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về quyền trẻ em… Đặc biệt, ngày 11.10.2022 tại phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77 tại Mỹ, Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025; trước đó, Việt Nam cũng giữ vai trò này trong nhiệm kỳ 2014 - 2016. Điều này chứng minh cho vị thế, vai trò của Việt Nam trong các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc; đồng thời là sự tin tưởng, ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế trong việc thúc đẩy, bảo vệ quyền con người của Việt Nam.

Ba là, những thành tựu chúng ta đạt được trong thực hiện quyền con người đã chứng minh, phản bác luận điệu của các thế lực thù địch về vấn đè nhân quyền ở nước ta. Nhân dịp kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: “Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước) năm 2023… Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí”... Bên cạnh đó, trong các đợt thiên tai, dịch bệnh, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, hỗ trợ kịp thời cho những vùng gặp khó khăn và có chính sách an sinh xã hội phù hợp; Nhân dân ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, hoạn nạn.

Như vậy, với bản chất phản động của mình, tổ chức Việt Tân và các thế lực thù địch luôn tìm đủ mọi cách để chống phá Đảng, Nhà nước ta dưới nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi, gian xảo. Để không bị kích động, lôi kéo, mỗi chúng ta cần trang bị cho mình sự hiểu biết sâu sắc tình hình chính trị - xã hội của đất nước, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU VỀ VIỆC ĐỐI XỬ KHÔNG CÔNG BẰNG GIỮA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là bảo đảm các dân tộc được bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Tuy nhiên do những đặc điểm về trình độ phát triển vùng, miền, điều kiện kinh tế, nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) còn hạn chế mà họ dễ bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng thực hiện âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chúng đưa ra luận điệu “Đảng, Nhà nước Việt Nam đối xử không công bằng với đồng bào DTTS” hòng kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhận diện những luận điệu chống phá

Việt Nam có 54 thành phần dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 85,4% dân số Việt Nam (với 78,32 triệu người), 53 DTTS chiếm 14,6% dân số cả nước. Địa bàn sinh sống chủ yếu của đồng bào DTTS là các khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi như: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung.

Do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện địa lý nên cộng đồng các dân tộc Việt Nam có trình độ phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống dân trí và các hoạt động xã hội. Đặc biệt, các cộng đồng DTTS sống ở vùng sâu, vùng núi cao, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta chú trọng ban hành, triển khai thực hiện nhiều kế hoạch, chương trình, giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống của đồng bào DTTS và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên so với mặt bằng chung của cả nước, đời sống của đồng bào DTTS hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn. Kinh tế - xã hội vùng DTTS phát triển chậm, việc thoát nghèo vùng DTTS còn chưa bền vững, khoảng cách giàu, nghèo có xu hướng gia tăng. Lợi dụng những điều này, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã gia tăng những hoạt động xuyên tạc chống phá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đồng bào DTTS.

Chúng núp danh, tận dụng các diễn đàn, hội nghị, ra sức viết các bài, tung tin xuyên tạc rằng: Đảng, Nhà nước đối xử bất công bằng, không chăm lo phát triển đời sống đồng bào DTTS, khiến cho cuộc sống của đồng bào khó khăn, thiếu thốn, nghèo đói; đồng bào DTTS không được tham gia vào đời sống chính trị của đất nước, không được thực hiện được các quyền chính trị; Đảng và Nhà nước ta không tôn trọng các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc, tiến hành đồng hóa văn hóa để phục vụ mục đích cai trị.

Ngoài ra, nhiều luận điệu hết sức thâm độc khác cũng được chúng tung ra để công kích, vu khống Đảng và Nhà nước Việt Nam phân biệt đối xử, ngược đãi đồng bào DTTS. Từ đó, chúng truyền bá tư tưởng phản động, kích động ly khai dân tộc, gây chia rẽ đồng bào các dân tộc, mua chuộc, lôi kéo những phần tử xấu trong đồng bào DTTS để chống phá hệ thống chính quyền từ địa phương tới Trung ương; đồng thời tiến hành các hoạt động ly khai, tự trị, thành lập nhà nước riêng.

Các hoạt động gây rối, chống đối, lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch đã kích động tư tưởng tự trị, ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi nhằm thực hiện ý đồ phá hoại tính cố kết trong nội bộ từng tộc người và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc ở nước ta, tạo ra nhiều nguy cơ gây mất trật tự, an toàn xã hội, đe dọa đến an ninh quốc gia.

Nguyên tắc “bình đẳng giữa các dân tộc”

Xuất phát từ trình độ phát triển về kinh tế - xã hội không đồng đều giữa các dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương thực hiện bình đẳng dân tộc, xem đó là một nguyên tắc cơ bản, nhất quán, xuyên suốt trong chính sách dân tộc.

Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc Hiến định, được ghi rõ, cụ thể trong Hiến pháp của Việt Nam: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc… Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Bình đẳng giữa các dân tộc thể hiện ở việc tất cả các dân tộc dù đông người hay ít người, đều có tư cách chính trị - xã hội - pháp lý như nhau trong các quan hệ tộc người, trong quyền hạn và nghĩa vụ đối với đất nước, hay nói cách khác, tất cả các dân tộc đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt là DTTS hay đa số, thành phần, chủng tộc, trình độ phát triển.

Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan chức năng đã cụ thể hóa nguyên tắc “bình đẳng giữa các dân tộc” trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Đến tháng 11-2020, nước ta đã có 85 luật, bộ luật (với 267 điều khoản), 52 nghị định của Chính phủ, 49 thông tư và thông tư liên tịch quy định các nội dung về công tác dân tộc.

Trong các văn kiện của Đảng, nguyên tắc bình đẳng được bổ sung các thành tố tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng tiến bộ. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế  - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc nhất là các DTTS”.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đồng bào DTTS. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào DTTS trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường, của đồng bào các DTTS phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”.

Thực hiện chủ trương phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng, giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực và đảm bảo an sinh xã hội đối với đồng bào DTTS, từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội đầy đủ và toàn diện đối với vùng DTTS, như: nhóm các chính sách tạo việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo; nhóm các chính sách trợ giúp xã hội; nhóm các chính sách hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin), đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào DTTS. Đến nay, nước ta đã thực hiện 118 chính sách ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Riêng trong lĩnh vực an sinh xã hội, có trên 70 chính sách đang được thực hiện nhằm cải thiện mọi mặt cuộc sống của gia đình nghèo, từ việc tiếp cận dịch vụ, cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất đến thúc đẩy sản xuất hàng hóa và liên kết thị trường, đào tạo nghề, tham gia thị trường lao động.

Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, chính sách nhằm bảo đảm và thúc đẩy an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thông qua các chương trình giảm nghèo (Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo quốc gia, Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo vùng DTTS, Chương trình 30a; Chương trình 135); chính sách về giáo dục cho vùng dân tộc như miễn giảm học phí, hỗ trợ tiền ăn cho học sinh bán trú; chính sách hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt từ khi thực hiện Quyết định 134 (2005) đến Quyết định 2085 (2016); chính sách về bảo hiểm y tế với việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người DTTS vùng đặc biệt khó khăn, hộ nghèo; chính sách phát triển văn hóa - thông tin vùng sâu, vùng xa nhằm tăng khả năng tiếp cận thông tin cho người dân; chính sách hỗ trợ cấp gạo cho các vùng bị thiên tai, thiếu đói…

Như vậy, nội dung của nguyên tắc “bình đẳng giữa các dân tộc”, với tư cách là quyền đã được Đảng và Nhà nước ta cụ thể hóa thành các nghị quyết, chính sách về dân tộc, thể hiện trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, để từng bước giảm, tiến tới xóa bỏ khoảng cách giữa các dân tộc về phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình đó, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc từng bước được nâng cao.

Những kết quả trong công tác dân tộc thời gian qua

Thời gian qua, Nhà nước ta quan tâm và có chính sách ưu tiên đầu tư đối với các vùng DTTS, đặc biệt là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu như: phát triển hệ thống giao thông nông thôn, điện, thủy lợi, nước sinh hoạt, các công trình trường học, trạm y tế. Nhờ đó, bộ mặt nông thôn vùng DTTS, miền núi đã có sự chuyển biến rõ rệt. Đây là những tiền đề, điều kiện quan trọng cho phát triển toàn diện, bền vững ở các vùng DTTS và miền núi.

Sản xuất ở hầu hết các địa bàn vùng dân tộc đều phát triển, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng bào đã thay đổi phương thức canh tác truyền thống, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, giống mới có chất lượng năng suất cao. Các huyện, xã đều có điển hình sản xuất giỏi; một số vùng đã có sản xuất hàng hóa với các sản phẩm chủ lực, như: cà phê, hồ tiêu, cao su (ở các tỉnh Tây Nguyên); chè, lúa gạo, cây ăn quả (ở miền núi phía Bắc); cây ăn quả (ở các tỉnh Tây Nam Bộ). Việc làm và thu nhập của người dân tăng lên. Tỷ lệ hộ nghèo các vùng DTTS giảm rõ rệt, đặc biệt ở những huyện nghèo trong Chương trình 30a (với 3-4%/năm). Đời sống vật chất, tinh thần, chất lượng cuộc sống của đồng bào từng bước được cải thiện đáng kể.

Công tác giáo dục, đào tạo nhằm tăng cường nguồn nhân lực cho các DTTS đã đạt được những két quả đáng khích lệ. Cơ bản xóa được tình trạng mù chữ và thực hiện phổ cập giáo dục bậc tiểu học và trung học cơ sở trong độ tuổi.

Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, việc bảo tồn phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc được quan tâm gắn với thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Văn hóa các dân tộc tiếp tục được giữ gìn và phát huy. Thiết chế văn hóa cơ sở nhiều nơi được củng cố gắn với phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới. Đời sống tinh thần của đồng bào các DTTS được nâng lên. Mạng lưới thông tin, phát thanh, truyền hình phủ rộng khắp, giúp người dân tiếp cận được nhiều hơn chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đời sống chính trị, xã hội của đất nước, tiến bộ khoa học - kỹ thuật góp phần quan trọng mở mang dân trí. Các giá trị văn hóa dân tộc được bảo tồn, phát huy góp phần làm phong phú, sống động hơn văn hóa Việt Nam. Nhiều di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận như: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và một số di sản được công nhận là di sản quốc gia như: Sử thi Đam San - Tây Nguyên, Hát Then - dân tộc Tày, Nùng,…

Công tác y tế có bước cải thiện đáng kể. Mạng lưới y tế ở vùng dân tộc phát triển. Đến nay, nhiều xã đã đạt chuẩn về y tế, có bác sĩ. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu được nâng lên, tiêm chủng mở rộng cho trẻ em được thực hiện đều khắp, nhiều dịch bệnh nguy hiểm được kiểm soát và đẩy lùi như bệnh sốt rét, bạch hầu, uốn ván. Đồng bào nghèo được khám, chữa bệnh miễn phí và hưởng chính sách bảo hiểm y tế theo quy định. Đời sống mọi mặt của đồng bào các dân tộc không ngừng được cải thiện đã góp phần nâng cao chất lượng dân số và kiểm soát ban đầu tỷ lệ sinh tăng tự nhiên.

Lãnh thổ và chủ quyền quốc gia ở các vùng biên giới được bảo đảm. An ninh chính trị và trật tự xã hội trong vùng dân tộc cơ bản ổn định. Hiện nay, đại đa số đồng bào các DTTS tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào đoàn kết, nâng cao cảnh giác, chủ động, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch; đã và đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập với khu vực và thế giới của cả nước.

Tiếp tục thực hiện tốt nguyên tắc “bình đẳng giữa các dân tộc”

Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với công tác dân tộc.

Tiếp tục kiên định, nhất quán nguyên tắc: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào DTTS. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào DTTS trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các DTTS phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào DTTS. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Các quan điểm này phải được quán triệt sâu sắc trong toàn bộ hệ thống chính trị, được phổ biến sâu rộng trong các tầng lớp dân cư và phải được thực thi đầy đủ trong tất cả các lĩnh vực. Mọi chủ trương, chính sách cũng như tổ chức chỉ đạo thực tiễn trong công tác dân tộc cần bảo đảm cho sự phát triển hài hòa của từng tộc người trong sự phát triển chung của đất nước.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế chính sách, hành lang pháp lý liên quan đến đồng bào DTTS.

Chính sách phát triển các tộc người thiểu số ở Việt Nam cần được hoạch định trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa truyền thống và hiện trạng phát triển mọi mặt đời sống của các tộc người; cần xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của bản thân các tộc người, trong đó đồng bào các tộc người thiểu số là chủ thể, là trọng tâm của quá trình phát triển; tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa tộc người; tạo điều kiện, cơ hội cho các tộc người thiểu số nâng cao trình độ văn hóa, năng lực tham gia vào các hoạt động phát triển cũng như được hưởng lợi từ các chính sách, chương trình của Nhà nước.

Thứ ba, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chính sách dân tộc.

Theo đó cần quan tâm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao hiệu quả tổ chức thực tiễn công tác dân tộc từ cấp Trung ương tới địa phương.

Thứ tư, chú trọng phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS.

Tiếp tục quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu gắn với xây dựng nông thôn mới, trọng tâm là giao thông, điện, trường học và thủy lợi; gắn với bố trí, sắp xếp lại dân cư, giải quyết cơ bản vấn đề đất ở, đất sản xuất, đất phục vụ cộng đồng, nước sinh hoạt, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên.

Tập trung phát triển sản xuất gắn với thị trường, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; chú trọng đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo nhanh, bền vững, tăng dần mức thu nhập cho người dân; tạo điều kiện và cơ hội giúp đồng bào các DTTS nâng cao mức sống.

Thứ năm, nâng cao trình độ nhận thức của người dân, phát triển văn hóa vùng DTTS.

Cần ưu tiên phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng trí thức DTTS. Tăng cường hiệu quả các chính sách dạy nghề nhằm nâng cao kỹ năng lao động cho người DTTS, nhất là đối tượng thanh niên.

Hiện đại hóa mạng lưới thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng các sản phẩm văn hóa, thông tin phù hợp. Đẩy mạnh và phát huy hiệu quả công cụ phát thanh, truyền hình phù hợp với đồng bào các DTTS.

Chăm lo xây dựng đời sống văn hóa mới trong các vùng DTTS. Tôn trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc gắn liền với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, giàu bản sắc, thống nhất trong đa dạng. Đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các DTTS kết hợp với các chương trình phát triển kinh tế, phát triển nghề thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng với xóa đói, giảm nghèo./.