Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890
tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình
nhà nho yêu nước. Từ nhỏ, Người đã tiếp thu ảnh hưởng tư tưởng yêu nước tiến
bộ, nhân cách cao thượng của cụ Phó bảng và những nhà chí sĩ yêu nước. Vì
vậy, Người đã sớm nhận thức được con đường cứu nước riêng cho dân tộc.
Năm 1911, Người đã
xin làm phụ bếp dưới tàu buôn Đô đốc Amiral Latouche với biệt danh Văn Ba
để được ra thế giới mở rộng kiến thức. Người đã đi qua rất nhiều
nước ở châu Âu và châu Phi. Năm 1917, Người từ Anh trở
lại Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt
kiều và phong trào công nhân Pháp.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng xã
hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng rất lớn đến
quyết định hoạt động cách mạng người thanh niên Nguyễn Tất Thành. Năm
1919, Nguyễn Tất Thành đã viết “Bản yêu sách của nhân dân An Nam”
gửi Hội nghị Versailles, đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền
tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách
được ký tên Nguyễn Ái Quốc. Cũng từ đó, cái tên ấy được nhiều người
trong nước và thế giới biết đến. Nguyễn Ái Quốc đã tham gia Đảng Xã hội
Pháp và từ đây, Người bắt đầu có quan niệm rõ ràng, chính xác về một
đảng cách mạng chân chính. Tại Đại hội Tour, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ
phiếu tán thành tham gia Quốc tế III, từ giờ phút ấy, Nguyễn Ái Quốc trở thành
Người Cộng sản.
Mặc dù không được hội nghị các
nước đế quốc xem xét, nhưng Bản yêu sách đã được đăng
trên tờ báo Dân chúng. Cảm kích, Nguyễn Ái Quốc đến tòa soạn
báo để cảm ơn. Chủ nhiệm báo - ông Jean Longuet là cháu ngoại của
Karl Marx và là Nghị sĩ Quốc hội Pháp đã khuyến khích Nguyễn Ái Quốc viết tin
tức ở thuộc địa cho báo với mong muốn giúp người Pháp hiểu rõ những bất công
xảy ra ở An Nam. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc thường lui tới tòa soạn báo Dân
Chúng để học hỏi và tích cực làm quen với những người Pháp khác. Cũng
trong thời gian này Người quen ông chủ bút tờ Đời sống thợ thuyền và
bắt đầu học kỹ năng làm báo từ viết những mẩu tin về thuộc địa.
Tại Pháp, những bài báo của Nguyễn Ái Quốc được
đăng ở nhiều tờ báo khác nhau như Nhân đạo, Đời sống thợ
thuyền, Dân chúng, Người tự do... Tháng 7/1921,
Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà yêu nước của các nước thuộc địa Pháp thành lập
Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địanhằm tổ chức và lãnh đạo phong
trào cách mạng giải phóng dân tộc. “Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận
động cách mạng các nước thuộc địa, năm 1922, Hội Liên hiệp thuộc địa cho xuất
bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ)”. Trong hoàn cảnh khó
khăn, Nguyễn Ái Quốc vừa là chủ bút kiêm chủ nhiệm, đồng thời là thủ quỹ, xuất
bản và liên lạc để đảm bảo duy trì hoạt động cho tờ báo.
Thời điểm đó, ở Paris có vô số tờ báo ra mỗi ngày nên ban
đầu tờ Le Paria không bán được nhiều. Nguyễn Ái Quốc đã mang báo đến các cuộc mít
tinh phát cho dân chúng, rồi lên diễn đàn nói: “Các bạn thân mến, báo Người cùng khổ phát không nhưng chúng tôi hết sức cảm ơn nếu các bạn vui lòng
quyên góp giúp ít nhiều để chúng tôi trả tiền in. Một xu, một quan, nhiều ít
cũng tốt”. Nhờ cách đó, Nguyễn Ái Quốc đã đủ
tiền chi trả cho việc ra báo và thỉnh thoảng còn có dư. Có thể nói, việc
xuất bản báo Người cùng khổ đã thổi một luồng sinh khí mới đến nhân dân các nước thuộc địa. Tờ
báo đã trở thành vũ khí chiến đấu để giải phóng con người!
Những bài báo, tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc viết thời gian
này rất nổi tiếng và được nhiều người trên thế giới biết đến. Năm 1923, chỉ
tính riêng “trên các trang báo Le
Paria, L’Humanite’, La Vie Ouvrière đã in khoảng gần 30 bài viết của Nguyễn Ái Quốc. Những bài báo này
đều tập trung lên án chủ nghĩa thực dân, sự tàn bạo của nó đối với các thuộc
địa, kêu gọi đoàn kết giữa những người lao động không phân biệt màu da, sắc
tộc, biên giới, chính quốc gia hay thuộc địa...”.
Năm 1923 - 1924, Nguyễn Ái Quốc theo học trường
đại học Phương Đông tại Liên Xô. Tại đây, Người đã viết “Lênin và các dân
tộc thuộc địa” đăng trên báo Sự
thật của Liên Xô,
ca ngợi Lênin - vị lãnh tụ vĩ đại của công nhân và nhân dân lao động
thế giới. Năm 1924, Người viết “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc
địa” đăng trên báo Đời
sống thợ thuyền, ví chủ
nghĩa tư bản như con đỉa hai vòi, một vòi hút máu của giai cấp vô sản chính
quốc, một vòi hút máu của giai cấp vô sản thuộc địa, muốn giết nó thì phải chặt
đứt cả hai vòi. Tháng 6/1924, Người tham gia Đại hội lần thứ V Quốc
tế Cộng sản và được bầu làm Ủy viên thường trực Bộ Phương Đông, phụ
trách Cục Phương Nam.
Đặc biệt, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tập
hợp nhiều bài viết của Nguyễn Ái Quốc khi hoạt động ở Pháp và Liên Xô,
xuất bản 1925, không chỉ dừng lại ở việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa
đế quốc mà đã nêu lên những luận điểm cơ bản về các vấn đề dân tộc và
thuộc địa, mở ra đường lối chính trị cho nhân dân các nước thuộc địa,
trong đó có dân tộc Việt Nam dựa trên những tư liệu đầy sức thuyết phục,
không những có giá trị về chính trị, lý luận mà còn có giá trị báo chí, văn
học.
Không chỉ là một lãnh tụ chính trị kiệt xuất, một
danh nhân văn hóa của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nhà báo vĩ
đại. Từ những viên gạch đầu tiên Người xây dựng cho nền Báo chí Cách mạng Việt
Nam, giờ đây báo chí nước ta đã phát triển mạnh mẽ. Và những lời căn dặn của
Người vẫn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động báo chí của nước ta, đó là phụng sự
Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Nhà báo lớn Hồ
Chí Minh
Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận ra vai trò và tác động to lớn của báo chí
trong đấu tranh xã hội. Trong quá trình tìm đường giải phóng dân tộc, giành độc
lập, tự do cho Tổ quốc, tiếp cận tác phẩm của Lênin, Người tâm đắc câu nói vị
lãnh tụ lỗi lạc phát biểu từ đầu thế kỷ XX: “cái mà chúng ta nhất thiết phải có
lúc này là một tờ báo chính trị. Trong thời đại ngày nay, không có tờ báo chính
trị thì không thể có phong trào gọi là chính trị... Không có tờ báo thì không
thể tiến hành hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động có nguyên tắc và toàn diện...”.
Chính
vì vậy, cuối năm 1917, tuy vốn ngôn ngữ chưa đủ để viết báo nhưng với tinh thần
quyết tâm cao, Bác đã tự học tiếng và học làm báo. Từ những mẩu tin, bài, tư liệu
tản mạn có chủ đề nhỏ, Bác viết thành các bài có chủ đề lớn, tập trung.
Ngày
28/6/1919, hội nghị các nước thắng trận trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất
khai mạc tại Versailles. Thay mặt những Việt kiều, Bác viết và gửi đến hội nghị
bản yêu sách 8 điểm đòi quyền lợi cho nhân dân Việt Nam. Đây cũng là bài viết nổi
tiếng đầu tiên của Bác được cơ quan ngôn luận Đảng Xã hội Pháp đăng dưới nhan đề
Quyền các dân tộc. Trong bài này, Người đã đưa ra 8 yêu sách thiết thực, đấu
tranh đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền độc lập tự do, dân chủ và quyền
bình đẳng của dân tộc Việt Nam, trong đó có cả quyền tự do tư tưởng và tự do
báo chí...
Năm
1921, Bác cùng một số nhà hoạt động cách mạng người Maroc, Algeria, Tunisia...
thành lập Hội Liên hiệp Thuộc địa và lập ra cơ quan ngôn luận của Hội - tờ Le
Paria (Người cùng khổ), số đầu tiên xuất bản ngày 1/4/1922. Bác trở thành trụ cột
của tờ báo.
Ngoài
tờ “Người cùng khổ”, Bác còn viết cho nhiều tờ báo bằng tiếng Pháp nữa. Theo thống
kê chưa đầy đủ, Bác đã trực tiếp sáng lập và tham gia sáng lập hàng chục tờ
báo. Ngoài “Người Cùng Khổ” (1922); Việt Nam Hồn (1923), “Quốc tế Nông dân”
(1924); còn có nhiều tờ báo như:
Ngày
21/6/1925, Bác đã sáng lập báo Thanh niên, khai sinh nền báo chí cách mạng Việt
Nam và đã trực tiếp chỉ đạo, biên tập và viết nhiều bài chính luận cho tờ báo
này.
Tháng
12/1926, Bác lập ra báo Công Nông cho giai cấp công nhân và nông dân Việt Nam.
Tháng
2/1927, báo Lính Kách Mệnh.
Năm
1930, Bác sáng lập tạp chí Đỏ, xuất bản ngày 5/8/1930, đồng thời là người chỉ đạo
và cộng tác mật thiết của các tờ báo Đảng như Búa Liềm, Tranh Đấu, Tiếng nói của
chúng ta...
Năm
1941, Bác sáng lập tờ Việt Nam Độc Lập.
Năm
1942, Bác chỉ đạo sáng lập báo Cứu Quốc nhằm tuyên truyền, cổ động và tổ chức
nhân dân các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn vào các đoàn thể cứu quốc của Mặt
trận Việt Minh.
Sau Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951), Bác chỉ đạo thành lập báo Nhân
dân. Kể từ ngày báo Nhân dân ra số đầu tiên (11/3/1951), Bác đã có 28 năm gắn
bó với tờ báo này. Người đã viết hàng trăm bài báo cho báo Nhân Dân để chỉ đạo,
tuyên truyền đường lối cách mạng.
Như vậy,
tính từ bài báo đầu tiên “nhỏ như bao diêm” đăng trên tờ báo Đời sống thợ thuyền
năm 1917 ở Pháp đến bài báo sau cùng mà Bác viết là bài “Thư trả lời Tổng thống
Mỹ R.M.Nich-xơn” (Báo Nhân dân, ngày 25/8/1969) (có tài liệu ghi là bài
"Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng", ký
tên T.L, đăng trên báo Nhân dân ngày 1/6/1969), Bác đã có một sự nghiệp làm báo
kéo dài 52 năm.
Bác đã
để lại một di sản báo chí lớn với hơn 2.000 bài báo các loại, gần 300 bài thơ,
gần 500 trang truyện và ký… thể hiện qua hơn 170 bút danh, viết bằng nhiều thứ
tiếng Việt, Anh, Pháp, Nga, Hán…
Người thầy vĩ
đại của báo chí cách mạng Việt Nam
Không
chỉ là người sáng lập báo chí cách mạng Việt Nam, là tác giả của một khối lượng
không nhỏ các bài báo, đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc,
Bác còn có những lời chỉ dạy sâu sắc về nghề báo, người làm báo.
Nói về
làm báo và viết báo, Bác cho rằng: “Tờ báo chỉ là giấy trắng mực đen mà thôi.
Nhưng với giấy trắng mực đen ấy, người ta có thể viết nên những bức tối hậu
thư, người ta có thể viết những bức thư yêu đương” (Trả lời phỏng vấn báo chí
năm 1946). Và “ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp
phò chính trừ tà” (Thư gửi anh em trí thức Nam Bộ, năm 1947).
Đặc biệt,
Bác luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của người làm báo: “Nói đến báo chí trước
hết phải nói đến những người làm báo”; “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng.
Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”.
Trong
kháng chiến chống Pháp, với những cán bộ, học viên vào học lớp viết báo đầu
tiên năm 1949, Bác dạy bảo: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn
luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung. Mục
đích chung là kháng chiến và kiến quốc” (Thư gửi Lớp học viết báo Huỳnh Thúc
Kháng, năm 1949).
Bác
căn dặn các nhà báo: Trước khi đặt bút xuống trang giấy, người viết cần tự mình
thật sáng tỏ, ta “Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?” (Phát biểu tại
Đại hội lần II Hội Nhà báo Việt Nam, năm 1959), “Cán bộ báo chí cũng là chiến
sĩ cách mạng” (Phát biểu tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam, năm
1962). Vì “Đối với những người viết báo chúng ta, cây bút là vũ khí sắc bén,
bài báo là tờ hịch cách mạng động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh...” (Điện
mừng Hội Nhà báo Á - Phi, năm 1965)...
Và “để
làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức
cách mạng. Đạo đức đó là cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”.
Bác
cũng yêu cầu cán bộ báo chí phải biết tự phê bình và phê bình. Bác coi đó “là
vũ khí cần thiết và sắc bén nó giúp cho chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển
ưu điểm.” Đối với nhà báo cách mạng “viết cũng như mọi việc khác, phải có chí,
chớ giấu dốt, nhờ tự phê bình và phê bình mới tiến bộ”.
Bác nhấn
mạnh: viết để nêu cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta. Đồng
thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của
bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn,
nêu cái hay, cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy.
Bác
còn dạy, thông tin trong tác phẩm báo chí phải “chân thực, chính xác,” phải bắt
nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét kiểm
tra, chọn lọc, “không được bịa ra, không nêu nói ẩu;” “chưa điều tra, chưa
nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết;” bài báo phải có bố cục “ngắn gọn;”
ngôn ngữ “trong sáng, giản dị, dể hiểu,” “viết cho đúng trình độ của người xem,
viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng nhiều chữ”...
Bác nhắc
nhở: “Muốn viết báo thì cần:
1. Gần
gũi quần chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực.
2. Ít
nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài và học kinh
nghiệm của người.
3. Khi
viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba, bốn lần, sửa chữa lại cẩn thận. Tốt
hơn nữa là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi cho những câu nào, chữ
nào họ không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu.
Nhắc lại những lời dạy thiêng liêng của Bác nhân
kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam để thấy rằng, trải qua các giai
đoạn của cách mạng, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Bác đều nghĩ đến báo chí, tác động
của báo chí. 97 năm trôi qua, báo chí cách mạng đã lớn mạnh, phát triển không
ngừng. Nhưng dù với công nghệ nào thì những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh với
báo chí vẫn còn nguyên giá trị và là kim chỉ nam cho hoạt động báo chí nước
nhà./.
Bước sang năm 1959, cách mạng Miền Nam đứng trước một bước ngoặt, đòi hỏi Đảng ta phải có quyết sách kịp thời. Việc nhanh chóng mở đường vận chuyển chi viện chiến lược cho các chiến trường trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta!
Trước tình hình đó, tháng 5-1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn công tác quân sự đặc biệt (sau gọi là Đoàn 559), làm nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc, với phương thức vận chuyển ban đầu hết sức thô sơ, chủ yếu là đi bộ, mang vác, gùi, thồ. Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 19-5-1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” làm nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng quân sự vào Miền Nam, tổ chức đưa đón bộ đội chuyển công văn, tài liệu từ Miền Bắc vào Miền Nam và ngược lại.
Năm 1959, Đoàn có nhiệm vụ soi đường, bảo đảm giao thông liên lạc từ Miền Bắc và Miền Nam, chuyển gấp 7.000 súng bộ binh, tổ chức bảo đảm đưa 500 cán bộ trung cấp, sơ cấp hành quân vào chiến trường làm nòng cốt xây dựng lực lượng chủ lực. Ngoài Đoàn bộ, Đoàn được tổ chức thành Tiểu đoàn Vận tải bộ 301 và các bộ phận; xây dựng kho, bao gói hàng và sửa chữa vũ khí, chế biến thực phẩm. Ngày 19-5-1959, ngày Bộ Chính trị và Thường trực Tổng Quân ủy triệu tập Ban Cán sự chính thức giao nhiệm vụ cho Đoàn mở đường chi viện cho chiến trường Miền Nam cũng là Ngày truyền thống của Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh.
Từ khi ra đời cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 toàn thắng, đường Hồ Chí Minh không ngừng được mở rộng, kéo dài, ngày càng phát triển, vươn sâu tới các chiến trường, các hướng chiến lược, chiến dịch. Đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, đường Hồ Chí Minh đã mở rộng, vươn dài tới Lộc Ninh (Bình Phước) với tổng chiều dài gần 17.000km đường cho xe cơ giới (gồm 5 trục dọc, 21 trục ngang); đường giao liên dài trên 3.000km; đường ống dẫn xăng, dầu gần 1.400km; cùng với hệ thống đường vòng tránh, đường sông, đường thông tin liên lạc…
Tính trong 6 tháng cuối năm 1959, khi tuyến đường mới hình thành, với phương thức gùi bộ là chủ yếu, Đoàn 559 mới vận chuyển được 32 tấn vũ khí giao cho Quân khu 5, thì trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, lượng hàng đưa đến các chiến trường là hơn 27.900 tấn, cùng hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, đơn vị kỹ thuật cung cấp cho các mặt trận. Khi ta mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, lượng hàng vận chuyển tới các chiến trường lên tới 66.500 tấn. Đặc biệt, trong 2 năm chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, lượng hàng đã giao cho các chiến trường đạt hơn 410.000 tấn. Tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, qua tuyến đường Hồ Chí Minh, Bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển chi viện cho các chiến trường trên 1,5 triệu tấn hàng hóa và 5,5 triệu tấn xăng dầu.
Cùng với vận chuyển hàng quân sự, trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tuyến giao thông vận tải Trường Sơn đã bảo đảm cho 1,1 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ đi vào chiến trường Miền Nam và các hướng mặt trận lớn, đưa hơn 650.000 lượt cán bộ, chiến sĩ từ các chiến trường về hậu phương Miền Bắc, trong đó có gần 310.000 thương binh, bệnh binh. Không chỉ là tuyến vận chuyển sức người và hàng hóa từ hậu phương ra tiền tuyến, Trường Sơn còn có 1 vị trí chiến lược quan trọng như “xương sống” ở bán đảo Đông Dương, là nơi “đứng chân” của các binh đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng, kỹ thuật; là vùng hậu phương trực tiếp của các chiến trường, là bàn đạp xuất kích đã được chuẩn bị sẵn cho các binh đoàn chủ lực tiến công ra các hướng chiến dịch, chiến lược quan trọng.
Trong suốt 16 năm, đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh và Bộ đội Trường Sơn đã phát huy vai trò to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện từ hậu phương lớn cho chiến trường Miền Nam Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, góp phần quan trọng làm nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, cuộc tiến công chiến lược năm 1972, Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào. Đặc biệt, từ năm 1973-1975, Bộ đội Trường Sơn đã nỗ lực vượt bậc, ra sức xây dựng, tu sửa, nâng cao chất lượng cầu đường, đáp ứng yêu cầu của thời cơ chiến lược mới trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, góp phần giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước./.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mắt bạn bè thế giới, chính là hình ảnh thu nhỏ của đất nước Việt Nam và nhắc đến Việt Nam cũngchính là nhắc đến Người và ngược lại. Người là một nhân vật lịch sử được yêu thích khắp năm châu không chỉ bởi tài năng lỗi lạc mà còn bởi phẩm chất đạo đức trong sáng, đẹp đẽ, kết tinh những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc Việt trải qua hàng ngàn năm lịch sử!
Cuộc đời cách mạng của Người đã thăng trầm cùng những bước ngoặt quan trọng của lịch sử dân tộc và thế giới. Chứng kiến cảnh đế quốc, thực dân bóc lột và đàn áp mà đồng bào mình, con người mảnh dẻ đó đã tự ghánh lấy sứ mệnh vĩ đại mang ngọn đuốc sáng soi đường đưa dân tộc mình bước qua đêm tối của khổ đau, nô lệ. Ý chí và khát vọng lớn lao đã giúp người vượt qua mọi gian khổ, tù đày để hoàn thành sứ mệnh với dân tộc và nhân loại, khắc tên mình trên bức tường danh nhân đã làm nên lịch sử thế giới thế kỷ 20.
Hồ Chí Minh - Giản dị là một sức mạnh
Điều khác biệt ở Hồ Chí Minh so với những nhà lãnh đạo khác trên thế giới có lẽ là ở sự gần gũi, giản dị của Người. Hồ Chí Minh là hình ảnh sống về đạo đức cách mạng. Nói về sự khiêm tốn, giản dị chân thành của Người, cố Tổng thống Chile Xanvado Agiende đã phát biểu : "Đằng sau vẻ bề ngoài mềm mỏng của Ông là một tinh thần quật cường, dũng cảm, bất khuất… Lúc đầu người phương Tây chỉ cười bộ quần áo của Ông, xong rồi nhiều người nhận rõ rằng bộ quần áo đặc biệt của Ông chứng tỏ cho dù bất cứ ở đâu, giữa những người thượng lưu hay giữa đám đông quần chúng, không bao giờ Ông quên mình là người trong quần chúng của đất nước Việt Nam yêu quý của mình… Nếu ai muốn tìm một từ có thể tóm gọn tất cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó là một sự hết sức giản dị và hết sức khiêm tốn của Ông.
Sau khi cách mạng thành công ở miền Bắc Việt Nam, Đảng và Nhà nước Việt Nam hoàn toàn có thể lo cho Người một cuộc sống tiện nghi hơn những năm kháng chiến, nhưng Người đã tù chối cuộc sống xa hoa trong những dinh thự sang trọng mà chọn cho mình một cuộc sống giản dị như bao người dân Việt Nam vào thời kỳ đó. Tiện nghi trong cuộc sống chỉ bao gồm những thứ tối cần thiết. Quần áo sang trọng nhất cũng chỉ là một bộ đại cán may bằng vải kaki. Những bữa ăn hàng ngày lúc nào cũng có rau luộc và cà muối dầm tương. Nhưng sự giản dị khiêm tốn đó vẫn toát lên tâm hồn, cốt cách thanh cao và tao nhã. Trong những năm tháng đất nước bộn bề những khó khăn, Người vẫn sáng tác những áng thơ tuyệt tác. Nơi ở của Người, bao giờ cũng tràn ngập màu xanh của cây cối và cỏ hoa, rộn tiếng chim ca trong vườn và tiếng cá quẫy dưới ao sâu. Nhà báo Mỹ Harrison S. Salisbury sau khi được gặp Bác, đã viết: "Cụ sống giản dị và khắc khổ tại căn buồng phụ nhỏ và đơn sơ sau dinh toàn quyền cũ ở Hà Nội, rất lịch thiệp khi uống trà với khách (tặng một bông hồng đối với khách nữ, nói một câu đùa hài hước đối với khách nam), tất cả đều là nhân tố của thần thoại và truyền thuyết…". Nhà văn nữ Blaga Đimitrova của Bulgaria cũng viết trong "Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh": "Niềm hy vọng cũng có nhiều tên gọi khác nhau, song ở Việt Nam niềm hy vọng được tượng trưng là Chủ tịch Hồ Chí Minh…
Những ai đã được một lần tiếp xúc với Người đều không thể quên được hình ảnh gần gũi, giản dị, cách ứng xử chân thành xóa đi mọi rào cản và khoảng cách. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: "Chủ tịch Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, sáng chói mà không gây choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu". Tại ngôi nhà sàn giản dị, tầng một để hoàn toàn thoáng với không gian xung quanh. Giữa thiên nhiên rộng mở, mọi nghi thức ngoại giao đều được xóa bỏ. Người dành cho các cháu thiếu nhi một chỗ đặc biệt trong ngôi nhà của mình, đó là những chiếc bệ bê tông lát gỗ phía trên bao quanh ngôi nhà. Có thể tưởng tượng ra tiếng nói, tiếng cười và cả tiếng hát vui tươi của trẻ thơ vẫn như còn rộn ràng nơi đây. Nơi người tiếp khách đôi khi ở giữa vườn cây, đôi khi lại chính là phòng làm việc ở tầng 2 ngôi nhà sàn, khách với chủ có thể ngồi cùng nhau dưới sàn nhà trò chuyện. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Anh Giôn Gô-lan có nhận xét sau khi làm việc với Chủ tịch Đảng Hồ Chí Minh rằng: "Được gặp gỡ và nói chuyện với đồng chí Hồ Chí Minh là một ấn tượng không thể nào quên được. Đây là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ tỏ ra mình là một con người vĩ đại. Mặc dầu có những trọng trách phải gánh vác, Người vẫn thân ái, nhiệt tình và sôi nổi làm cho bạn cảm thấy thoải mái. Chính phong cách giản dị và gần gũi đó lại làm nên phong cách riêng vô cùng đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nói về điều này, nhà báo Mỹ David Stamp đã từng nhận xét: "Ở ông Hồ, tính giản dị là một sức mạnh. Ở địa vị càng cao thì ông lại càng giản dị và trong sạch. Ông không cố tìm kiếm cho mình những trang sức về quyền lực bởi ông tự tin ở chính mình và ở mối quan hệ giữa ông với nhân dân và lịch sử".
"Hồ Chí Minh - Nguồn cổ vũ cho một thế giới hòa bình"
Suốt đời chiến đấu không ngừng nghỉ không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn cho cả nhân loại cần lao, Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu được bầu bạn khắp năm châu ngưỡng mộ và khâm phục. Trong Từ điển Danh nhân văn hóa thế giới, trong lĩnh vực chính trị - xã hội, từ điển đã dành hai trang 332-333 ghi rõ: "Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn cờ đầu của giải phóng dân tộc. Người đã dẫn dắt triệu triệu người Việt Nam cùng hàng ngàn triệu người nô lệ hơn 100 nước trên thế giới vùng lên giành độc lập tự do, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người đã làm nên cuộc đảo lộn thế giới chưa từng có từ sau khi chủ nghĩa tư bản lật đổ đế chế La Mã cổ xưa. Người đã vẽ lại bản đồ thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là Danh nhân văn hóa thế kỷ XX".
Hồ Chí Minh là một chiến sĩ đấu tranh cho tự do và tiến bộ của toàn thể loài người. Tên Người không chỉ được công nhân, nông dân, chiến sỹ Việt Nam nhắc đến với cả tấm lòng tôn kính và tình thương yêu sâu sắc, mà đồng thời là niềm cổ vũ đối với thanh niên tiến bộ toàn thế giới. Lòng yêu nước, tính trung thực, lòng trung thành với lý tưởng của Người, cũng như ý chí kiên cường và điêu luyện về chính trị đã làm cho ngay cả quân thù cũng phải khâm phục. Cho đến phút cuối cùng, cả cuộc đời ấy đã dành cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng đấu tranh cho thắng lợi của những lý tưởng thiêng liêng chung của loài người: Công lý xã hội, bình đẳng dân tộc. Chính vì vậy, giai cấp công nhân toàn thế giới, tất cả những người trung thực đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân và chống chiến tranh, đều ghi sâu công ơn Người trong tâm khảm của mình.
Với những cảm nhận chân thành, sâu sắc về Hồ Chí Minh, báo Le Figaro của Pháp đã viết về Bác: "Cụ Hồ Chí Minh là người đã buộc Pháp phải bỏ thuộc địa quan trọng nhất là Đông Dương… Cụ là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất và làm cho chúng ta kinh ngạc nhất của thế kỷ chúng ta".
Đối với nhân dân châu Phi, Hồ Chí Minh là hình ảnh được coi như "một lãnh tụ thần thoại", tượng trưng cho cuộc đấu tranh anh hùng và thắng lợi của dân tộc Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Ở đất nước Chile - nơi cách xa Việt Nam hàng vạn dặm, một người thanh niên tên Victore Hara đã đặt hình ảnh Hồ Chí Minh lên ngực mình và hát một bài hát về Bác tại quảng trường ở Helsinki trước hơn 5.000 đại biểu thanh niên, sinh viên thế giới vào lúc 09 giờ sáng ngày 23/08/1969. Victore Hara đã trút hơi thở cuối cùng dưới bàn tay tàn sát đẫm máu của chế độ độc tài Pinochet. Ông Houari Boumediene, Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng nước Cộng Hòa nhân dân Algeria đã viết: "Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước trong thế giới thứ ba để tự giải phóng mình khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc". Tổng thống Sekou Toure của Guinea cũng viết: "Xuất sắc và dũng cảm người anh Hồ Chí Minh là tấm gương tốt đẹp đối với các dân tộc Á - Phi trong cuộc đấu tranh cao cả chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới…).
Vào ngày 09/01/2008, Bí thư Đảng cộng sản Liên bang Nga D. T. Novikov đã đến thăm nơi ở của Chủ tịch Hồ Chí Minh và viết trong sổ lưu niệm: "Hồ Chí Minh sẽ còn ở lại mãi mãi trong lòng những chiến sĩ đấu tranh cho công lý, tự do và độc lập của dân tộc mình như là một trong những người kế tục vĩ đại và kiên cường nhất con đường của Các Mác và Lê-nin".
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tổ chức và sáng tạo ra lịch sử của dân tộc Việt Nam trong suốt nửa thế kỷ XX. Tuy Người đã đi xa song Người để lại cho dân tộc Việt Nam những thành quả là tư tưởng, lòng yêu nước nồng nàn và chủ nghĩa nhân đạo cao cả mà Người đã dày công vun đắp. Đồng thời, Người còn để lại cả di sản cao đẹp về một tấm gương của lòng trung thành phục vụ nhân dân, về ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất chống bạo lực của đế quốc, ý chí đó đã biến thành sức mạnh và là nguồn cảm hứng bất diệt cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh mất đi chẳng những là một tổn thất to lớn của nhân dân Việt Nam mà còn là một tổn thất lớn của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Ngày nay, mặc dù Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi, đã bước sang một vận hội mới phù hợp với xu thế tiến lên của thời đại, nhưng những ký ức về Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong mỗi người dân Việt Nam nói riêng và bạn bè quốc tế nói chung./.
Việt Nam là một quốc gia có độc lập, chủ quyền, mọi tổ chức, cá nhân hay quốc gia muốn đến Việt Nam, thực hiện các công việc trên lãnh thổ Việt Nam đều phải được sự đồng ý, chấp thuận của Nhà nước Việt Nam. Cũng do vậy, dù chỉ là dự án hay tiến hành cuộc khảo sát thực tế của tổ chức “Ủy ban cứu trợ người vượt biển” đều là cuộc khảo sát mang tính quy chụp, không đúng thực tế và không có giá trị pháp lý.
Nghiên cứu tìm hiểu về Nguyễn Đình Thắng và tổ chức “Ủy ban cứu trợ người vượt biển”, Đại tá Đinh Quốc Triệu, Chủ nhiệm Chính trị Trường Sĩ quan Chính trị (Bộ Quốc phòng) cho biết, đây thực chất là tổ chức phản động trá hình, nhằm mục đích chống phá Việt Nam. “Thời gian qua, Nguyễn Đình Thắng đã lợi dụng danh nghĩa hoạt động từ thiện, cứu trợ người tị nạn, sử dụng các nguồn tài trợ để tập hợp lực lượng, kích động, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và chính sách tôn giáo ở Việt Nam. Dưới vỏ bọc là một tổ chức phi chính phủ hoạt động cho cái gọi là dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nhưng xét về bản chất và thực chất của nó, tổ chức cứu người vượt biển là một tổ chức phản động lưu vong trá hình, luôn tìm mọi cách để chống phá Việt Nam” - Đại tá Triệu nhấn mạnh.
Tiến hành “Dự án khảo sát tôn giáo Việt Nam”, các đối tượng trong tổ chức “Ủy ban cứu người vượt biển” đã thu thập thông tin qua phỏng vấn, qua văn bản, tài liệu của Nhà nước Việt Nam. Thế nhưng sự thật lại không phải như vậy, bởi những đối tượng mà chúng lựa chọn phỏng vấn đều là những người có hành vi vi phạm pháp luật, thậm chí là có cả một số đối tượng liên quan đến vụ khủng bố ở Đắk Lắk trong tháng 6/2023 vừa qua; những đối tượng chức sắc tôn giáo có tư tưởng cực đoan chống phá Nhà nước Việt Nam, cũng được chúng hướng đến phỏng vấn.
Đại tá Lê Xuân Thủy, Chủ nhiệm Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng) phân tích: “Không khó để nhận diện một số đối tượng luôn lớn tiếng cho rằng, ở Việt Nam không có tự do, tôn giáo. Tuy nhiên, những đối tượng nguy hiểm nhất là những phần tử phản động lưu vong ở nước ngoài và được các thế lực thù địch dung dưỡng, đào tạo ở nước ngoài, hà hơi tiếp sức tung về Việt Nam cấu kết với một số thành phần cơ hội chính trị, lợi dụng các hoạt động tôn giáo để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, quan điểm chính sách của Nhà nước ta”.
Thực tiễn cho thấy, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tính đến nay, Việt Nam có 16 tôn giáo với hơn 40 tổ chức tôn giáo được công nhận và đăng ký hoạt động, cả nước có trên 27 nghìn cơ sở thờ tự với hơn 25 triệu tín đồ, giáo dân, chiếm gần 30% dân số cả nước. Nhiều nhà chức sắc, tu hành là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Một nghiên cứu về đa dạng tôn giáo gần đây do Trung tâm Nghiên cứu Pew của Mỹ thực hiện đã xếp hạng Việt Nam là quốc gia đứng thứ ba trên thế giới về mức độ đa dạng tôn giáo. Nghiên cứu về đa dạng tôn giáo ở phạm vi toàn cầu nói trên cũng cho thấy, các quốc gia như Australia, Canada, Mỹ và các nước châu Âu không được xếp vào nhóm 12 quốc gia có sự đa dạng tôn giáo ở mức độ cao. Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng luôn quan tâm, tạo điều kiện để cho các tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Hằng năm, đồng bào dân tộc Khmer đều tổ chức lễ hội mừng năm mới Chol Chnam Thmay theo tín ngưỡng của đồng bào Khmer, trở thành nét đẹp truyền thống của cả cộng đồng người Khmer. Ảnh: Duy Quang
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Chu Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Tôn giáo cho rằng: “Có thể nói rằng, gần như tất cả các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, đều có những cơ sở tôn giáo, hay là có nơi, không gian để sinh hoạt tôn giáo. Các tôn giáo lớn ví dụ như là Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Hòa Hảo thì có các cơ sở thờ tự, có thánh đường, nhà thờ, có các điểm nhóm, có những nhà nguyện để người dân đến sinh hoạt và cùng nhau để thực hiện các nghi lễ. Điều đó chứng tỏ Nhà nước luôn tạo điều kiện cho tôn giáo hoạt động, khẳng định tự do tôn giáo ở Việt Nam đang đảm bảo rất tốt".
Ông Nguyễn Văn Long, Chánh Văn phòng Ban Tôn giáo Chính phủ khẳng định: “Đảng, Nhà nước ta cũng có những quy định tôn trọng và bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của mọi người dân. Đây là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước. Và Đảng, Nhà nước tạo điều kiện để các tôn giáo phát huy nguồn lực của tôn giáo như là về y tế, giáo dục, dạy nghề, đóng góp cho công tác an sinh xã hội của đất nước, với mục tiêu là xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thanh bình cho nhân dân, chức sắc tôn giáo và cho đồng bào có đạo".
Hằng năm ở Việt Nam, các tôn giáo đều có những sự kiện lớn được tổ chức, với sự tham gia của đông đảo chức sắc, chức việc, tín đồ và giáo dân. Ví dự như năm 2009, kỷ niệm 350 năm thành lập hàng giáo phẩm của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, Nhà nước đã cho phép tổ chức sự kiện kỷ niệm tại tỉnh Hà Nam, với sự tham gia của 30 giám mục, 1.200 linh mục và hơn 100 nghìn giáo dân trên khắp mọi miền đất nước. Hay kỷ niệm Ngày sinh Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập ra đạo Phật giáo Hòa Hảo, khoảng 100 nghìn tín đồ đã quy tụ tại tỉnh An Giang để tham dự buổi lễ. Tại Tòa thành Tây Ninh, hằng năm cũng thu hút hàng trăm nghìn tín đồ Cao Đài về dự Lễ hội Diêu Trì Kim Mẫu.
Đặc biệt, trong các năm 2008, 2014 và 2019, Việt Nam đã cho phép Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc. Đại lễ đã thu hút hàng trăm nghìn đại biểu đến từ các quốc gia trên thế giới. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Lan Hiền, Viện trưởng Viện Tôn giáo, Tín ngưỡng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, sự kiện Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công 3 lần Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc có ý nghĩa rất lớn, vượt ra ngoài phạm vi của một lễ hội tôn giáo. Điều đó cũng khẳng định về tinh thần cởi mở và tự do tôn giáo ở Việt Nam./.
CĐ,VS (st)
Đoàn kết dân tộc là chủ trương, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Đồng bào các dân tộc dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo nào đều là công dân nước Việt Nam, đều chung cội nguồn dân tộc, cùng chung mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Vì thế, mọi âm mưu, chia rẽ, kích động đồng bào tôn giáo, phá hoại đại đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, vạch trần bản chất, âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Chủ trương của Đảng ta là xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại để đáp ứng được yêu cầu trong huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu trong mọi tình huống!
Thực tiễn lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước cho thấy, chỉ khi chúng ta tự lực, tự cường trong Quân đội, nhất là về vũ khí, trang bị kỹ thuật, thì mới bảo đảm giành thắng lợi. Mỗi khi lơi là trong việc phòng bị là lúc nước ta bị các thế lực ngoại bang dòm ngó, xâm chiếm.
Để xâm lược nước ta, các nước thực dân, đế quốc sử dụng ưu thế vượt trội về vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại. Chỉ đến khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh tìm ra con đường cách mạng cho dân tộc, xây dựng và rèn luyện Đảng ta lãnh đạo cuộc cách mạng trường kỳ của dân tộc, với chiến lược quan trọng về việc tự lực, tự cường phát triển ngành công nghiệp quốc phòng hiện đại, cách mạng của nước ta mới đi đến thắng lợi.
Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục thành công người kỹ sư nổi tiếng ở Pháp và châu Âu là Phạm Quang Lễ trở về nước phục vụ quê hương, phục vụ cách mạng. Về nước, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bí danh là Trần Đại Nghĩa.
Trên cương vị Cục trưởng Cục Quân giới, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã nhanh chóng đặt những viên gạch đầu tiên cho việc kiến tạo ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam phát triển, góp phần quan trọng vào sự thành công trong các cuộc chiến tranh giành lại độc lập, tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cho nước ta.
Thực tiễn các cuộc chiến tranh trên thế giới cũng cho thấy, bất cứ quốc gia nào, lực lượng nào không tự lực, tự cường bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại, mà chỉ dựa vào viện trợ từ nước ngoài thì rất khó tự bảo vệ mình trước sự tấn công của các nước khác.
Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình, tự vệ và vì nhân dân. Do vậy, Việt Nam phát triển công nghiệp quốc phòng không nhằm đe dọa tấn công nước nào, mà chỉ đơn giản để sẵn sàng tự vệ khi cần thiết.
Tuy thực hiện chính sách tự vệ, nhưng muốn giữ thế chủ động để bảo đảm thắng lợi trong mọi tình huống tự vệ, Việt Nam cần có nền công nghiệp quốc phòng tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, chưa thể đáp ứng được tất cả nhu cầu đầu tư của ngành công nghiệp quốc phòng, chúng ta nên thành lập Quỹ Công nghiệp quốc phòng, an ninh theo dạng quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách để hỗ trợ phát triển công nghiệp quốc phòng, nhất là trong việc thực hiện các nhiệm vụ cấp bách hoặc nghiên cứu, phát triển sản phẩm công nghiệp quốc phòng, an ninh mới./.
Quốc hội sẽ thảo luận nhiều vấn đề quan trọng trong chương trình nghị sự tại tuần làm việc thứ hai của Kỳ họp thứ 7 (diễn ra từ ngày 27-31/5)!
Trong tuần làm việc thứ hai của Kỳ họp thứ 7 (từ ngày 27-31/5), Quốc hội thảo luận nhiều vấn đề quan trọng trong chương trình nghị sự.
Cụ thể, trong tuần làm việc thứ hai, Quốc hội sẽ thảo luận về dự thảo 4 Luật, bao gồm: Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi); Luật Thủ đô (sửa đổi) và Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp.
Trong ngày 29/5, các đại biểu sẽ thảo luận tại hội trường để đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2023; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách Nhà nước những tháng đầu năm 2024; Kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2023; Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2023.
Quốc hội cũng sẽ thảo luận về dự kiến Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2025; dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024.
Cũng trong tuần làm việc, Quốc hội thảo luận về: Dự thảo Nghị quyết về thí điểm bổ sung một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Nghệ An; Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 119/2020/QH14 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng.
Trong tuần làm việc này, Quốc hội cũng sẽ cho ý kiến về: Phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước năm 2022 (trong đó có việc thực hiện quy định tại Nghị quyết số 91/2023/QH15 về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2021 và Nghị quyết số 94/2019/QH14 về khoanh nợ tiền thuế, xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước); Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050./.
Đó là tên bài báo của RT DE (kênh tiếng Đức của đài truyền hình Nga RT, được tài trợ bởi chính phủ Nga) đăng ngày 30.04.2024, lúc 21:46 giờ Berlin (giờ Hà Nội +5 h, giờ mùa Hè)!
Dưới đây là toàn bộ bài báo:
Trong ván cờ kinh tế với Washington, sau quyết định cuối cùng của Mỹ về việc tịch thu tài sản của Nga, Moscow đã có một bước đi thông minh và đẩy mọi khó khăn sang đối thủ, như tác giả cổng thông tin Trung Quốc Sohu Li Yunfei lưu ý. Theo ý kiến của ông Li, điều này khẳng định rằng "Moscow không phải là Tokyo, họ cần được đối xử tử tế và không tồi tệ". Bài đăng trên cổng thông tin giải thích:
"Đây là một ví dụ. Sau khi biết rằng ngân hàng Mỹ JPMorgan Chase muốn trốn khỏi Nga, một tòa án Nga đã ra lệnh đóng băng tất cả tài sản của ngân hàng này ở nước này, bao gồm cả động sản và bất động sản, cũng như cổ phần trong công ty con của Nga là. Trường hợp này liên quan đến thực tế là trong số hơn 300 tỷ USD tài sản của Nga đã bị phương Tây phong tỏa, có 439,5 triệu USD nằm trong tài khoản của JPMorgan. Cái này người ta gọi là (*): 'Khi người hét vào rừng, tiếng vang lên sẽ vọng lại'! Lấy trường hợp này làm ví dụ, có thể thấy Moscow trước đây ngần ngại hành động nhưng giờ đây đã có bước đi mạnh mẽ! Họ chắc chắn đã đưa ra những giả định tồi tệ nhất: cuối cùng chúng ta ở trong một trận chiến khó khăn.”
Tác giả nhấn mạnh, hậu quả của hành động của Moscow là Washington hiện đang rơi vào tình thế tuyệt vọng. Bởi vì nếu Mỹ trả đũa và tịch thu trực tiếp tiền của Nga, Điện Kremlin sẽ dùng mọi cơ chế và công cụ có thể để phong tỏa nguồn lực đủ lớn từ các công ty phương Tây. “Vào cuối năm 2022, giá trị tài sản tổng hợp của Hoa Kỳ và Châu Âu ở Nga là khoảng 288 tỷ USD,” tác giả Li viết tiếp trong bài đăng: “Điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ không nhận được gì”.
(*) Ghi chú của Hồ Ngọc Thắng: tác giả sử dụng câu thành ngữ của người Đức, wie man in den Wald hineinruft, so schallt es heraus, có nghĩa là: cách bạn đối xử với người khác chính là cách bạn sẽ được đối xử với chính mình./.
Chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành hoặc văn bản hướng dẫn chưa rõ, chưa thống nhất... là một nguyên nhân khiến một số chính sách quan trọng được Quốc hội đề ra tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội chậm được triển khai thực hiện, hiệu quả chưa cao, thậm chí có chính sách chưa triển khai được dù đây đều là những chính sách cấp bách với nguồn lực lớn nhằm hỗ trợ nền kinh tế và người dân, cộng đồng doanh nghiệp phục hồi sau đại dịch.
Kỳ họp thứ Bảy Quốc hội Khóa XV
Trên diễn đàn Quốc hội cuối tuần qua, một số đại biểu Quốc hội chia sẻ và thông cảm với tình trạng trên bởi tính chất đặc thù, thậm chí là chưa có tiền lệ của một số chính sách trong Nghị quyết số 43 nên quá trình triển khai có những lúng túng là khó tránh khỏi. Nhiều bài học kinh nghiệm quý giá và đắt giá cũng đã được Đoàn giám sát của Quốc hội chỉ ra. Dù vậy, qua việc thực hiện Nghị quyết cũng cho thấy, câu chuyện chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết hay ban hành nhưng còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thống nhất... vẫn chưa có lời giải hiệu quả.
Báo cáo tổng hợp kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội năm 2023 cho thấy, dù đã có chuyển biến tích cực so với năm 2022, nhưng trong số 325 văn bản được giám sát vẫn còn tới 32 văn bản ban hành chậm hơn thời điểm có hiệu lực thi hành của luật, pháp lệnh, nghị quyết. Văn bản chậm ít nhất là 14 ngày, văn bản chậm nhiều nhất là 35 tháng 24 ngày, một số văn bản chậm từ 22 đến 25 tháng.
Báo cáo kết quả giám sát cũng chỉ rõ, có 83 điều, khoản thuộc 24 luật, 1 pháp lệnh, 5 nghị quyết giao quy định chi tiết nhưng chưa ban hành văn bản, kèm theo đó là phụ lục thống kê chi tiết cơ quan nào nợ, nợ bao nhiêu điều khoản của những luật, pháp lệnh, nghị quyết nào.
Đó là về tiến độ. Về nội dung, qua giám sát, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban đã pháthiện 6 văn bản có dấu hiệu trái quy định của pháp luật, 7 văn bản chưa bảo đảm tính khả thi, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật hoặc còn những vướng mắc, bất cập, có thể tạo ra kẽ hở trong công tác quản lý cần được rà soát, hoàn thiện. Có văn bản còn nội dung chưa được hướng dẫn cụ thể, chưa có sự thống nhất giữa các văn bản luật gây khó khăn trong triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, vẫn còn văn bản có sai sót kỹ thuật về căn cứ pháp lý nhưng đã được phát hiện, sửa đổi, bổ sung kịp thời; số lượng văn bản chậm đăng Công báo theo thời hạn quy định tại khoản 4 Điều 150 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn khá nhiều...
Tại phiên giám sát tối cao sáng 25.5 vừa qua, đại biểu Quốc hội Trần Quốc Tuấn (Trà Vinh) chỉ ra một hiện tượng đáng lo ngại. Đó là, có hai trong số các hạn chế, nguyên nhân được Đoàn giám sát báo cáo Quốc hội đã xuất hiện trong hầu hết các báo cáo trình Quốc hội từ Kỳ họp thứ Năm đến Kỳ họp thứ Bảy. Một là, tình trạng đùn đẩy, né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ dẫn đến giải quyết công việc chưa hiệu quả. Hai là, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn chậm; văn bản hướng dẫn cụ thể một số chính sách có quy định chưa rõ, chưa thống nhất.
Dẫn chiếu cụ thể hai hạn chế, nguyên nhân nêu trên vào việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 43, đại biểu Trần Quốc Tuấn chỉ rõ, Phụ lục số 5 của Đoàn giám sát nêu có đến 70 nội dung của 27 địa phương, bộ, ngành kiến nghị về hoàn thiện văn bản pháp luật liên quan. Hay trước đó, Báo cáo số 135 ngày 10.4.2024 của Chính phủ trình Quốc hội về kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật cũng cho thấy, có đến 545 nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật khó thực hiện, trong đó có 69 nội dung mâu thuẫn, chồng chéo và 476 nội dung vướng mắc, bất cập.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh, nghị quyết cũng như sự chồng chéo, mâu thuẫn trong các văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng nguyên nhân căn cốt nhất là gì? Nếu không “bắt trúng bệnh” thì không thể kê đúng thuốc.
Những con số thể hiện “sức khỏe” thực sự của nền kinh tế, những áp lực đối với điều hành vĩ mô thời gian tới đã được Quốc hội tập trung thảo luận trong tuần qua càng cho thấy, phải có giải pháp căn cơ để khắc phục câu chuyện này. Bởi cái chúng ta chậm trễ, lỡ nhịp không phải chỉ là một văn bản, một chính sách, một điều luật mà hơn thế còn là cơ hội phát triển.
Quá trình phát triển lý luận về đường lối đổi mới đất nước gắn với đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc những vấn đề lý luận, thực tiễn về đường lối đổi mới đất nước là một phần không thể thiếu trong xây dựng và củng cố sự hiểu biết chính xác, toàn diện về các chính sách, biện pháp và kết quả quá trình đổi mới. Trong đó, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng là một nhiệm vụ trọng yếu; việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc lý luận của công cuộc phòng chống tham nhũng và tiêu cực giúp thúc đẩy sự thay đổi văn hóa và tư duy, tạo ra môi trường xã hội không khoan nhượng đối với tham nhũng và tiêu cực…
Một phần không thể thiếu
Đảng ta đã và đang tích cực lan tỏa những thành tựu đột phá, sáng tạo về lý luận trong đường lối đổi mới của Đảng, bảo vệ vững chắc cơ đồ đã xây dựng, tạo vị thế, tiềm lực đất nước trong bối cảnh mới. Việc phát huy các thành tựu đột phá và sáng tạo về lý luận trong đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là một phần quan trọng đối với việc xây dựng, củng cố vai trò, vị thế và tiềm lực của đất nước trong tình hình mới. Điều này đòi hỏi phải thường xuyên nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu lý luận, cũng như việc truyền tải, vận dụng lý luận vào thực tế cuộc sống và sản xuất xã hội; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà nghiên cứu, nhà lý luận có thể tự do phát triển ý tưởng và thảo luận một cách sâu sắc, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Quá trình phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ thực tiễn gần 40 năm đổi mới đất nước gắn với đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc các vấn đề lý luận, thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trong suốt thời gian này, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn và đối diện với nhiều thách thức, từ việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, phát triển kinh tế thị trường đến tối ưu hóa các chính sách xã hội và bảo đảm công bằng xã hội. Quá trình này, sự phát triển lý luận đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các hướng đi mới và phản bác những luận điệu không chính xác về chủ nghĩa xã hội.
Thực trạng hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục đối mặt với các thách thức mới, từ biến đổi khí hậu đến sự phát triển kinh tế bền vững và công bằng. Trong bối cảnh này, việc phát triển và thúc đẩy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là một nhiệm vụ quan trọng, giúp định hình chiến lược và chính sách phát triển đất nước theo hướng bền vững và phát triển toàn diện. Quá trình phát triển lý luận về đường lối đổi mới đất nước gắn với đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc các vấn đề lý luận, thực tiễn về đường lối đổi mới đất nước. Đây là một phần không thể thiếu trong xây dựng và củng cố sự hiểu biết chính xác, toàn diện về các chính sách, biện pháp và kết quả của quá trình đổi mới.
Trong quá trình này, việc phản bác các luận điệu xuyên tạc thường được thực hiện thông qua nghiên cứu, phân tích và trình bày các bằng chứng cụ thể, minh bạch và khoa học. Các nhà nghiên cứu, nhà lý luận và nhà hoạch định chính sách thường đóng vai trò quan trọng trong tiếp cận, đánh giá các thông tin và quan điểm, từ đó đưa ra những phản biện, bằng chứng và luận điểm để phản bác các luận điệu không chính xác. Ngoài ra, việc tạo ra và lan tỏa thông tin chính xác, minh bạch về các thành tựu, thách thức của đổi mới cũng là một phần quan trọng của quá trình này. Điều này giúp tạo ra sự tin tưởng và ủng hộ từ phía công chúng, từ đó thúc đẩy quá trình đổi mới và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng - nhiệm vụ trọng yếu
Vấn đề cần đặt ra đó là nâng cao năng lực lãnh đạo và củng cố cầm quyền của Đảng là một trong những yếu tố quan trọng để xây dựng và chỉnh đốn Đảng cũng như hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Điều này đòi hỏi sự tập trung vào việc đào tạo và phát triển cán bộ Đảng, đặc biệt là những người đảm nhận vai trò lãnh đạo ở mọi cấp bậc, từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng cũng bao gồm việc ứng phó với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức. Điều này đòi hỏi sự chặt chẽ và quyết liệt trong việc ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm nguyên tắc và quy định của Đảng, đặc biệt là các hành vi như "tự diễn biến" và "tự chuyên hóa". Gắn kết việc xây dựng Đảng về mặt chính trị, tư tưởng và đạo đức với đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc cực kỳ quan trọng. Việc này giúp tạo ra một môi trường thông tin lành mạnh và minh bạch, từ đó đẩy mạnh sự phát triển của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng tích cực và bền vững.
Xây dựng “thể trận lòng dân” trên không gian mạng
Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay. Việc kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ trọng yếu, đặc biệt trong bối cảnh đối mặt với các quan điểm sai trái và thù địch hiện nay. Chúng ta có thể nhận thấy, Đảng cần duy trì và phát triển những nguyên tắc cốt lõi về tư tưởng và đạo đức, từ đó định hình và hướng dẫn hành động của mình và của cán bộ Đảng. Tính kiên định trong các nguyên tắc xây dựng Đảng không chỉ là để bảo vệ nền tảng tư tưởng mà còn là bảo đảm tính liên tục và ổn định trong phát triển của Đảng. Điều này giúp Đảng duy trì sự đồng thuận và đoàn kết nội bộ, từ đó tạo ra sức mạnh lớn trong ứng phó với các thách thức và mối đe dọa từ bên ngoài.
Thúc đẩy sự thay đổi văn hóa và tư duy
Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam; an sinh xã hội, y tế, giáo đục - đào tạo, khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường thực hiện chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội gắn với đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về vấn đề trên. Quá trình này, việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về các vấn đề trên rất quan trọng. Điều này giúp bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia, từ cơ sở văn hóa và giáo dục cho đến các lĩnh vực khác như y tế và môi trường. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không chỉ là nhiệm vụ của Chính phủ mà còn là của toàn bộ xã hội. Điều này đòi hỏi sự tham gia tích cực và ủng hộ từ các tầng lớp Nhân dân, cũng như sự hiểu biết và chấp nhận từ phía quốc tế.
Trên con đường xây dựng và từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc lý luận của việc phòng chống tham nhũng và tiêu cực rất quan trọng. Điều này giúp tạo ra một môi trường thông tin lành mạnh và minh bạch, từ đó tăng cường sự ủng hộ và tham gia của cộng đồng trong cuộc đấu tranh chống lại tham nhũng và tiêu cực. Điều quan trọng hơn là thúc đẩy sự thay đổi văn hóa và tư duy, từ đó tạo ra một môi trường xã hội không khoan nhượng đối với tham nhũng và tiêu cực.
Đảng và Nhà nước ta dần hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người; gắn với đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về thành tựu bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong thời kỳ đổi mới, bao gồm việc xây dựng các quy định pháp luật và cơ chế thực thi mạnh mẽ, minh bạch và công bằng, từ đó bảo đảm rằng mọi công dân đều được đối xử và được bảo vệ quyền lợi của họ. Cần không ngừng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vai trò của các giai cấp, tầng lớp trong xây dưng và bảo vệ Tổ quốc. Đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung quan trọng, xuyên suốt trong đường lối, chiến lược của Đảng, nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quan điểm nhất quán đó được Đảng ta tiếp tục khẳng định trong Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24.11.2023 về “Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Trong đó, xác định rõ quan điểm, mục tiêu và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, cần được quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng, giai tầng xã hội, địa phương và vùng miền...
Xây dựng “thể trận lòng dân” trên không gian mạng
Xây dựng “thể trận lòng dân” trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động; nhận diện và đấu tranh với những biểu hiện mới của “diễn biến hòa bình”. “Thế trận lòng dân” là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí, niềm tin, quyết tâm của toàn dân tộc, được khơi dậy, quy tụ và phát huy, tạo nền tảng chính trị, tinh thần vững chắc, cho phép huy động sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, quân sự, quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sẽ không bao giờ có lực lượng cách mạng và phong trào cách mạng, nếu không có Nhân dân. Theo Bác, một trong những yếu tố quyết định thành công của cách mạng là sự đồng sức, đồng lòng của toàn dân, là sự đoàn kết “muôn người như một” dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, theo Người: “Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành bức tường đồng xung quanh Tổ quốc”.
Trong tình hình mới, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" luôn nhiệm vụ cấp bách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, năm 1994 Đảng xác định âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là “4 nguy cơ trước mắt” của Đảng. Tới nay, cùng với các nguy cơ đã được Đảng chỉ ra, nguy cơ âm mưu “diễn biến hòa bình” vẫn đang tồn tại, thậm chí có phần gay gắt, phức tạp hơn.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đặc biệt là công nghệ thông tin, internet đã trở thành không gian xã hội mới. “Không gian mạng” - khái niệm mới này được sử dụng rất nhiều, đây là mộṭ phần tất yếu của đời sống xã hội hiện đại; được hiểu là “mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian, thời gian”.
“Thế trận lòng dân” trên không gian mạng là sự tin tưởng của Nhân dâṇ vào sự lãnh đạo của Đảng; quản lý, điều hành của Nhà nước về phát triển, vận hành trong sạch, lành mạnh không gian mạng; là phương thức, động lực phát triển kinh tế, xã hội và các vấn đề xã hội trên không gian mạng mà không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Đảng và Nhà nước ta nhận thức được điều đó, ngày 12.6.2018, Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua. Nhận diện, đấu tranh phản bác luận điệu mới của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc”, “xã hội dân sự”, “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, “an sinh xã hội”, “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, “lập hội” để chỗng Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang; kiên quyết đâu tranh làm thât bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thủ địch, phản động; nhận diện vả đầu tranh với những biểu hiện mới của “diễn biến hòa bình".
Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách thông tin sai lệch bản chất chính sách dân tộc nhằm gây hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước; kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Nhận diện luận điệu, thủ đoạn của chúng để nâng cao cảnh giác, đấu tranh phản bác, đồng thời khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng về vấn đề dân tộc là rất quan trọng.
Khơi dậy khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc
Để khắc phục những thách thức, hạn chế trên, Chính phủ cần thẳng thắn nhìn nhận các vấn đề thực tiễn, đồng thời hoàn thiện chính sách phát triển đất nước thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc với mục tiêu trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI; gắn với nhận diện, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về vấn đề trên.
Quan điểm “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” là sự phát triển mới, lần đầu tiên được xác định trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Đây là điểm nhấn quan trọng trong tư duy, sự phát triển nhận thức của Đảng về sức mạnh nội sinh của dân tộc và phương thức phát triển đất nước trong bối cảnh mới; được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân biểu thị sự nhất trí cao (thông qua đại hội Đảng các cấp, các hình thức lấy ý kiến đã tham gia thảo luận rộng rãi trong toàn dân), góp phần xây dựng Nghị quyết. Ngay sau thành công của Đại hội, các cấp, ngành từ Trung ương đến các địa phương, đơn vị cơ sở đã có chương trình, kế hoạch quán triệt, triển khai thực hiện trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng đất nước: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Mặc dù vậy, với âm mưu, thủ đoạn chống phá toàn diện nước ta, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong đó, tập trung xuyên tạc quan điểm “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong văn kiện của Đại hội. Họ ra sức rêu rao rằng, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” là quan điểm duy tâm chủ quan, một “khẩu hiệu” trống rỗng, phản khoa học, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn, rơi vào chủ quan, duy ý chí... Hùa theo đó, những phần tử cơ hội, phản động hoặc bất mãn chính trị tích cực móc nối với các thế lực bên ngoài đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc với nhiều hình thức khác nhau, nhằm gây nên sự hoài nghi trong các tầng lớp Nhân dân đối với nội dung này.
Bên cạnh đó, các nhóm đối tượng lợi dụng việc thiếu thông tin, trình độ nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận Nhân dân, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từng bước làm phai mờ ý chí, quyết tâm, thui chột khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam; làm suy giảm uy tín, vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Những luận điệu này, dù được các thế lực cố tô vẽ, thêu dệt thế nào chăng nữa cũng không thể phủ nhận được tính cách mạng, khoa học của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nói chung, quan điểm “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” nói riêng. Đó là quan điểm hoàn toàn đúng đắn, là nguyên vọng chính đáng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; được Đảng xây dựng trên cơ sở lý luận, thực tiễn.
Kết hợp giữa pháp luật và đạo đức nghiêm túc
Cách đây 72 năm, trong bối cảnh toàn dân tộc đang thực hiện đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện” chống thực dân Pháp, ngày 5.1.1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các họa sĩ, văn nghệ sĩ, người nổi tiếng với lời căn dặn: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Soi rọi vào mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, lời dạy của Người vẫn nóng hổi tính thời sự… Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phần nào khẳng định trong mọi hoạt động kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội, người nổi tiếng giữ vị thế quan trọng. Ngày nay, trước kỷ nguyên số 4.0, người nổi tiếng có môi trường tự do sáng tạo, có điều kiện khẳng định năng lực, cống hiến cho xã hội. Bên cạnh thể hiện quyền lực của mình, người nổi tiếng cần có trách nhiệm với xã hội và cần tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Nhiều người hiện nay đang gắn cuộc sống với mạng xã hội. Theo thống kê của Viện Chiến lược Thông tin và truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) mới nhất vào năm 2023, Việt Nam có 77 triệu người dùng (chiếm 79,1% dân số). Mạng xã hội cũng trở thành nền tảng quan trọng với hơn 70 triệu người tham gia. Thời gian sử dụng mạng xã hội trung bình trong một ngày của mỗi người là 2 giờ 21 phút. Các mạng xã hội được sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay là Youtube, Facebook, TikTok, Zalo, Instagram…
Trước bối cảnh phát triển mạnh mẽ của Internet, mạng xã hội, những người nổi tiếng có nhiều cơ hội để xây dựng hình ảnh, tạo sức ảnh hưởng. Với mỗi người nổi tiếng, các lời nói, hành động trong đời thường hay một status, comment, hình ảnh đăng trên trang cá nhân có thể tạo ra những hiệu ứng xã hội rất lớn với cả cộng đồng. Tuy nhiên, mặt trái của công nghệ, mạng xã hội cũng đặt ra cho người nổi tiếng những áp lực, thách thức lớn. Khi đã khoác trên mình cái áo rộng, họ nhất định phải rèn luyện cho mình một quy tắc ứng xử chuẩn mực. Bởi hơn ai hết, những phát ngôn, hành động của người nổi tiếng có sức ảnh hưởng rất lớn đối với xã hội.
Trong khi Đảng và Nhà nước ta luôn nỗ lực làm trong sạch nội bộ thì một bộ phận người nổi tiếng có những phát ngôn, bình bàn về những vấn đề mình không có hiểu biết và trải nghiệm để lập ngôn kiểu võ đoán, quy chụp là rất tai hại. Từ đó, làm cản trở công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tạo tâm lý bi quan, hoài nghi trong đời sống xã hội. Suy xét rộng hơn, đây còn là cớ và có thể là bàn đạp để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến dịch tuyên truyền kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong bối cảnh Đảng ta quyết liệt xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ và đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị cần có nhận thức thấu đáo, đầy đủ về nguy cơ, biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Nhận điện và đấu tranh với những luận điệu chống phá đối với đường lối, quan điểm chỉ đạo mới của Đảng trong nghị quyết các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII và các chính sách, pháp luật của Nhà nước mới được ban hành. Nhận diện, đấu tranh với những luận điệu chống phá mới về kết quả giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng và công tác chuẩn bị (nội dung, nhân sự, tổ chức) cho Đại hội XIV của Đảng.
Thế giới vốn được kiến tạo hai lần, một lần là sự sáng tạo trong suy nghĩ và lần thứ hai là sự sáng tạo thông qua hành động. Suy nghĩ chỉ huy hành động và qua hành động thể hiện ra phẩm chất, năng lực nhận thức. Suy nghĩ, hành động điều chỉnh hành hành vi, tạo nên quá trình tu rèn, duy dưỡng để trở thành một cá thể, công dân tốt trong cộng đồng. Kết hợp giữa pháp luật và đạo đức một cách nghiêm túc và có kỷ luật để quản lý hệ thống hành lang chính trị - xã hội mới là hiệu quả nhất.