Không chỉ là một lãnh tụ chính trị kiệt xuất, một
danh nhân văn hóa của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nhà báo vĩ
đại. Từ những viên gạch đầu tiên Người xây dựng cho nền Báo chí Cách mạng Việt
Nam, giờ đây báo chí nước ta đã phát triển mạnh mẽ. Và những lời căn dặn của
Người vẫn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động báo chí của nước ta, đó là phụng sự
Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Nhà báo lớn Hồ
Chí Minh
Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận ra vai trò và tác động to lớn của báo chí
trong đấu tranh xã hội. Trong quá trình tìm đường giải phóng dân tộc, giành độc
lập, tự do cho Tổ quốc, tiếp cận tác phẩm của Lênin, Người tâm đắc câu nói vị
lãnh tụ lỗi lạc phát biểu từ đầu thế kỷ XX: “cái mà chúng ta nhất thiết phải có
lúc này là một tờ báo chính trị. Trong thời đại ngày nay, không có tờ báo chính
trị thì không thể có phong trào gọi là chính trị... Không có tờ báo thì không
thể tiến hành hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động có nguyên tắc và toàn diện...”.
Chính
vì vậy, cuối năm 1917, tuy vốn ngôn ngữ chưa đủ để viết báo nhưng với tinh thần
quyết tâm cao, Bác đã tự học tiếng và học làm báo. Từ những mẩu tin, bài, tư liệu
tản mạn có chủ đề nhỏ, Bác viết thành các bài có chủ đề lớn, tập trung.
Ngày
28/6/1919, hội nghị các nước thắng trận trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất
khai mạc tại Versailles. Thay mặt những Việt kiều, Bác viết và gửi đến hội nghị
bản yêu sách 8 điểm đòi quyền lợi cho nhân dân Việt Nam. Đây cũng là bài viết nổi
tiếng đầu tiên của Bác được cơ quan ngôn luận Đảng Xã hội Pháp đăng dưới nhan đề
Quyền các dân tộc. Trong bài này, Người đã đưa ra 8 yêu sách thiết thực, đấu
tranh đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền độc lập tự do, dân chủ và quyền
bình đẳng của dân tộc Việt Nam, trong đó có cả quyền tự do tư tưởng và tự do
báo chí...
Năm
1921, Bác cùng một số nhà hoạt động cách mạng người Maroc, Algeria, Tunisia...
thành lập Hội Liên hiệp Thuộc địa và lập ra cơ quan ngôn luận của Hội - tờ Le
Paria (Người cùng khổ), số đầu tiên xuất bản ngày 1/4/1922. Bác trở thành trụ cột
của tờ báo.
Ngoài
tờ “Người cùng khổ”, Bác còn viết cho nhiều tờ báo bằng tiếng Pháp nữa. Theo thống
kê chưa đầy đủ, Bác đã trực tiếp sáng lập và tham gia sáng lập hàng chục tờ
báo. Ngoài “Người Cùng Khổ” (1922); Việt Nam Hồn (1923), “Quốc tế Nông dân”
(1924); còn có nhiều tờ báo như:
Ngày
21/6/1925, Bác đã sáng lập báo Thanh niên, khai sinh nền báo chí cách mạng Việt
Nam và đã trực tiếp chỉ đạo, biên tập và viết nhiều bài chính luận cho tờ báo
này.
Tháng
12/1926, Bác lập ra báo Công Nông cho giai cấp công nhân và nông dân Việt Nam.
Tháng
2/1927, báo Lính Kách Mệnh.
Năm
1930, Bác sáng lập tạp chí Đỏ, xuất bản ngày 5/8/1930, đồng thời là người chỉ đạo
và cộng tác mật thiết của các tờ báo Đảng như Búa Liềm, Tranh Đấu, Tiếng nói của
chúng ta...
Năm
1941, Bác sáng lập tờ Việt Nam Độc Lập.
Năm
1942, Bác chỉ đạo sáng lập báo Cứu Quốc nhằm tuyên truyền, cổ động và tổ chức
nhân dân các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn vào các đoàn thể cứu quốc của Mặt
trận Việt Minh.
Sau Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951), Bác chỉ đạo thành lập báo Nhân
dân. Kể từ ngày báo Nhân dân ra số đầu tiên (11/3/1951), Bác đã có 28 năm gắn
bó với tờ báo này. Người đã viết hàng trăm bài báo cho báo Nhân Dân để chỉ đạo,
tuyên truyền đường lối cách mạng.
Như vậy,
tính từ bài báo đầu tiên “nhỏ như bao diêm” đăng trên tờ báo Đời sống thợ thuyền
năm 1917 ở Pháp đến bài báo sau cùng mà Bác viết là bài “Thư trả lời Tổng thống
Mỹ R.M.Nich-xơn” (Báo Nhân dân, ngày 25/8/1969) (có tài liệu ghi là bài
"Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng", ký
tên T.L, đăng trên báo Nhân dân ngày 1/6/1969), Bác đã có một sự nghiệp làm báo
kéo dài 52 năm.
Bác đã
để lại một di sản báo chí lớn với hơn 2.000 bài báo các loại, gần 300 bài thơ,
gần 500 trang truyện và ký… thể hiện qua hơn 170 bút danh, viết bằng nhiều thứ
tiếng Việt, Anh, Pháp, Nga, Hán…
Người thầy vĩ
đại của báo chí cách mạng Việt Nam
Không
chỉ là người sáng lập báo chí cách mạng Việt Nam, là tác giả của một khối lượng
không nhỏ các bài báo, đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc,
Bác còn có những lời chỉ dạy sâu sắc về nghề báo, người làm báo.
Nói về
làm báo và viết báo, Bác cho rằng: “Tờ báo chỉ là giấy trắng mực đen mà thôi.
Nhưng với giấy trắng mực đen ấy, người ta có thể viết nên những bức tối hậu
thư, người ta có thể viết những bức thư yêu đương” (Trả lời phỏng vấn báo chí
năm 1946). Và “ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp
phò chính trừ tà” (Thư gửi anh em trí thức Nam Bộ, năm 1947).
Đặc biệt,
Bác luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của người làm báo: “Nói đến báo chí trước
hết phải nói đến những người làm báo”; “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng.
Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”.
Trong
kháng chiến chống Pháp, với những cán bộ, học viên vào học lớp viết báo đầu
tiên năm 1949, Bác dạy bảo: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn
luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung. Mục
đích chung là kháng chiến và kiến quốc” (Thư gửi Lớp học viết báo Huỳnh Thúc
Kháng, năm 1949).
Bác
căn dặn các nhà báo: Trước khi đặt bút xuống trang giấy, người viết cần tự mình
thật sáng tỏ, ta “Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?” (Phát biểu tại
Đại hội lần II Hội Nhà báo Việt Nam, năm 1959), “Cán bộ báo chí cũng là chiến
sĩ cách mạng” (Phát biểu tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam, năm
1962). Vì “Đối với những người viết báo chúng ta, cây bút là vũ khí sắc bén,
bài báo là tờ hịch cách mạng động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh...” (Điện
mừng Hội Nhà báo Á - Phi, năm 1965)...
Và “để
làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức
cách mạng. Đạo đức đó là cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”.
Bác
cũng yêu cầu cán bộ báo chí phải biết tự phê bình và phê bình. Bác coi đó “là
vũ khí cần thiết và sắc bén nó giúp cho chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển
ưu điểm.” Đối với nhà báo cách mạng “viết cũng như mọi việc khác, phải có chí,
chớ giấu dốt, nhờ tự phê bình và phê bình mới tiến bộ”.
Bác nhấn
mạnh: viết để nêu cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta. Đồng
thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của
bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn,
nêu cái hay, cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy.
Bác
còn dạy, thông tin trong tác phẩm báo chí phải “chân thực, chính xác,” phải bắt
nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét kiểm
tra, chọn lọc, “không được bịa ra, không nêu nói ẩu;” “chưa điều tra, chưa
nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết;” bài báo phải có bố cục “ngắn gọn;”
ngôn ngữ “trong sáng, giản dị, dể hiểu,” “viết cho đúng trình độ của người xem,
viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng nhiều chữ”...
Bác nhắc
nhở: “Muốn viết báo thì cần:
1. Gần
gũi quần chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực.
2. Ít
nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài và học kinh
nghiệm của người.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét