Thứ Hai, 27 tháng 5, 2024

Thủ tướng Phạm Minh Chính: "3 đẩy mạnh, 3 tiên phong, 3 bứt phá" để góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động

 

Sáng 26-5 tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ tham dự Diễn đàn "Nâng cao năng suất lao động Quốc gia năm 2024" do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức. Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ Tháng Công nhân năm 2024 và là hoạt động tiêu biểu chào mừng kỷ niệm 95 năm thành lập Công đoàn Việt Nam (28-7-1929 – 28-7-2024).

Nhấn mạnh nâng cao năng suất lao động đã trở thành một vấn đề rất quan trọng, mang tính sống còn đối với tất cả các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị tập trung thực hiện "3 đẩy mạnh, 3 tiên phong, 3 bứt phá" để góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động, tạo môi trường sinh thái tốt nhất cho người lao động phát huy tính sáng tạo, đổi mới, yêu nước, yêu nghề.

6 điểm rút ra từ các tham luận tại Diễn đàn

Phát biểu tổng kết Diễn đàn và truyền thông điệp đến cán bộ, đoàn viên công đoàn và người lao động cả nước, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ rất vui mừng được tham dự sự kiện này, hoà chung không khí phấn khởi của cả nước trong những ngày tháng 5 lịch sử. Diễn đàn này càng có ý nghĩa khi được tổ chức đúng vào dịp Tháng Công nhân năm 2024 và hướng tới kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28-7-1929 – 28-7-2024).

Thủ tướng cho biết nhân Diễn đàn quan trọng này, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và toàn thể người lao động cả nước. Đồng thời thay mặt Chính phủ, Thủ tướng gửi tới quý vị đại biểu, khách quý và toàn thể các đồng chí lời chào trân trọng, lời thăm hỏi ân cần và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thủ tướng đánh giá cao Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã lựa chọn chủ đề rất đúng, rất trúng, rất cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, đánh giá cao báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các ý kiến phát biểu thẳng thắn, tâm huyết, trách nhiệm, sát thực tiễn của các đại biểu, đại diện người lao động, doanh nghiệp, nhà nghiên cứu.

Trong đó, có nhiều ý kiến đóng góp mang tính xây dựng, rất tích cực, phản ánh rõ những điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc trong nâng cao năng suất lao động (NSLĐ); đưa ra những mô hình tốt, cách làm hay; đặc biệt là đề xuất, kiến nghị những giải pháp sâu sắc, cụ thể.

Thủ tướng cho biết, cá nhân ông nhận thấy 6 điểm chung trong các tham luận: Yêu nghề, yêu lao động; luôn học hỏi, đề cao kiến thức và tay nghề; tuân thủ kỷ luật, vệ sinh, an toàn lao động và xây dựng môi trường lao động lành mạnh, bình đẳng; luôn đổi mới sáng tạo; được đãi ngộ thỏa đáng về vật chất, tinh thần, nhất là về tiền lương, phúc lợi xã hội, khen thưởng, tôn vinh, người lao động; Chính phủ, Công đoàn và các chủ thể liên quan phải xây dựng hệ sinh thái lao động tốt.

Điều xuyên suốt là: Con người là trung tâm, chủ thể của tăng NSLĐ, của sự phát triển; con người vừa là mục tiêu, vừa là nguồn lực, động lực của sự phát triển; không hy sinh tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần, như Đảng và Nhà nước ta đã đúc kết.

Thủ tướng yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương tổng hợp đầy đủ các kiến nghị, đề xuất, hiến kế của đoàn viên, người lao động; tập trung rà soát, tiếp thu tối đa để hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định pháp luật liên quan và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện; đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nghiên cứu, tiếp thu và có giải pháp cụ thể đối với những ý kiến liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền để triển khai trong thời gian tới; tạo môi trường sinh thái tốt nhất cho người lao động phát huy tính sáng tạo, đổi mới, yêu nước, yêu nghề.

Theo Thủ tướng, NSLĐ là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng - là một trong những thước đo quan trọng nhất để đánh giá, so sánh trình độ phát triển giữa các quốc gia, cũng như giữa các lĩnh vực, địa phương trong từng quốc gia.

Lịch sử kinh tế thế giới chứng minh NSLĐ là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của từng quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển. Nhà Lãnh tụ cộng sản vĩ đại C.Mác đã từng khẳng định: NSLĐ là cái bảo đảm cho sự thắng lợi của trật tự xã hội này đối với một trật tự xã hội khác. Gần đây, Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế Paul Krugman đã tổng kết: "Năng suất không phải là tất cả nhưng nó gần như là tất cả".

Trong thế giới ngày nay, tăng NSLĐ là một trong những nhân tố quan trọng nhất để các nước đang phát triển nỗ lực vươn lên, hướng đến phát triển nhanh và bền vững, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.

Tăng NSLĐ xã hội là một trong những chỉ tiêu chủ yếu được đặt ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng (cụ thể: Đại hội XII đề ra chỉ tiêu tăng NSLĐ xã hội bình quân khoảng 5%/năm cho giai đoạn 2016-2020; Đại hội XIII đề ra mục tiêu tăng NSLĐ xã hội bình quân trên 6,5%/năm cho giai đoạn 2021-2025).

Để tăng NSLĐ, từ Đại hội lần thứ XI đến nay, Đảng ta đã xác định rõ phát triển nguồn nhân lực là 1 trong 3 đột phá chiến lược (cùng với thể chế và hệ thống kết cấu hạ tầng). Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực gắn với khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo - đây chính là những nhân tố căn bản, cốt lõi và tạo nền tảng để tăng NSLĐ nhanh và bền vững.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu nhiều nhiệm vụ trọng tâm cụ thể, trong đó có nhiệm vụ: Đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Để cụ thể hoá những chủ trương theo Nghị quyết Đại hội Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành và tổ chức triển khai các cơ chế, chính sách, chiến lược, kế hoạch liên quan đến nâng cao NSLĐ. Đặc biệt, ngày 8-11-2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1305 phê duyệt "Chương trình quốc gia về tăng NSLĐ đến năm 2030" với mục tiêu đặt ra là: Đến năm 2030, NSLĐ trở thành một động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh, bền vững, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

NSLĐ của nước ta tăng trưởng tích cực và liên tục

Thủ tướng chỉ rõ: Thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, NSLĐ của nước ta tăng trưởng tích cực và liên tục trong suốt gần 40 năm đổi mới và hội nhập.

Từ năm 2011 đến nay, theo Tổng cục Thống kê, NSLĐ tăng 2,7 lần, từ 70 triệu đồng/lao động năm 2011 lên 188,7 triệu đồng/lao động năm 2023 - đây là mức cao so với khu vực và đang thu hẹp dần khoảng cách với các nước.

Theo WB, tính theo sức mua tương đương (PPP), trong giai đoạn 2021-2022, NSLĐX Việt Nam tăng bình quân 4%/năm, cao hơn nhiều bình quân chung của thế giới là 2% và đứng thứ 2 Đông Nam Á (NSLĐ bình quân của Xin-ga-po, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Căm-pu-chia, Thái Lan, Phi-líp-pin lần lượt là 5,8%, 3,7%, 3,3%, 2,2%, 1,9% và 1,2%; trong khi Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản tăng lần lượt 3,5%, 1,7% và 1,5%).

Tăng NSLĐ đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt là tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong quý I-2024, thu nhập bình quân của người lao động là 7,6 triệu đồng, tăng 549 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2023.

Chúng ta khẳng định: Đạt được những kết quả quan trọng trên đây là nhờ chủ trương, đường lối, chính sách, giải pháp đúng đắn của Đảng, Nhà nước; sự đồng hành, phối hợp chặt chẽ của các cơ quan trong hệ thống chính trị, trong đó có Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; sự chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm của Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương; sự nỗ lực của từng người lao động, nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương sự nỗ lực của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, công đoàn các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và toàn bộ đội ngũ công nhân, người lao động trên cả nước trong việc hăng hái thi đua lao động sản xuất, tăng NSLĐ, đóng góp cho thành tựu chung của đất nước.

Bên cạnh kết quả đạt được là cơ bản, việc thực hiện mục tiêu tăng NSLĐ ở nước ta vẫn còn những hạn chế, bất cập và khó khăn, thách thức, như nhiều đại biểu đã nêu.

Mặc dù đã có sự cải thiện nhưng NSLĐ của Việt Nam vẫn ở mức thấp; trong giai đoạn 2021-2023, tỉ lệ tăng NSLĐ thấp hơn mục tiêu đề ra là 5,5%/năm.

Xét theo giá trị tuyệt đối, NSLĐ của Việt Nam vẫn ở mức thấp so với các nước trong khu vực: NSLĐ của Việt Nam năm 2022 chỉ tương đương 11,4% của Xin-ga-po, 24,7% của Hàn Quốc, 26,3% của Nhật Bản, 35,4% của Ma-lai-xi-a, 64,8% của Thái Lan, 79% của In-đô-nê-xi-a, 94,5% của Phi-líp-pin.

Khoảng cách về NSLĐ và trình độ phát triển giữa các vùng, miền, khu vực còn khá lớn. Các yếu tố nền tảng cho tăng NSLĐ nhanh và bền vững vẫn còn gặp nhiều trở ngại, vướng mắc, chưa thực sự có bước đột phá…; như hạ tầng, chuyển dịch lao động từ nông thôn sang thành thị, từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức…

Theo Thủ tướng, thời gian tới, bối cảnh tình hình quốc tế dự báo tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, như nhiều đại biểu đã nêu. Trong đó có thể khái quát, về tổng thể thì hoà bình nhưng cục bộ có chiến tranh; về tổng thể thì hoà hoãn nhưng cục bộ có căng thẳng; về tổng thể thì ổn định nhưng cục bộ lại có xung đột. Kinh tế thế giới gặp những cơn gió ngược cho sự phát triển.

Đất nước ta vẫn còn những khó khăn, thách thức do một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá, là nước đang phát triển, nền kinh tế đang chuyển đổi, quy mô còn khiêm tốn, xuất phát điểm thấp, năng lực nội tại còn hạn chế, sức chống chịu và tính cạnh tranh chưa cao, độ mở lại lớn nên chịu nhiều tác động, ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài.

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, trong khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và khoa học công nghệ phát triển bùng nổ, thay đổi hàng ngày, nâng cao NSLĐ trở thành một vấn đề rất quan trọng, mang tính sống còn đối với tất cả các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

3 đẩy mạnh, 3 tiên phong, 3 bứt phá để góp phần thúc đẩy tăng NSLĐ

Thủ tướng đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, toàn thể các đoàn viên, người lao động, công đoàn các cấp, cộng đồng doanh nghiệp cùng các bộ, ngành, địa phương cùng chung tay tập trung thực hiện: 3 đẩy mạnh, 3 tiên phong, 3 bứt phá để góp phần thúc đẩy tăng NSLĐ.

"3 đẩy mạnh" bao gồm:

(1) Đẩy mạnh hoàn thiện khung khổ pháp lý, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, phát huy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

(2) Đẩy mạnh huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển cả từ bên trong và bên ngoài, nhất là hợp tác công tư, thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc.

(3) Đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo để tạo nền tảng cho tăng NSLĐ.

"3 tiên phong" bao gồm:

(1) Tiên phong trong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế tri thức, các ngành, lĩnh vực mới nổi, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

(2) Tiên phong trong hội nhập quốc tế, tận dụng tốt mọi cơ hội, phát huy tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

(3) Tiên phong trong các phong trào thi đua tăng NSLĐ, phát huy sáng kiến về quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, cải tiến kỹ thuật, thúc đẩy mạnh mẽ các sáng kiến tăng NSLĐ.

"3 bứt phá" bao gồm:

(1) Bứt phá về phát triển nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nhân lực chất lượng cao và dạy nghề.

(2) Bứt phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là trong những ngành, lĩnh vực mới nổi như kinh tế số, kinh xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức, kinh tế chia sẻ, trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, hydrogen…

(3) Bứt phá về môi trường lao động, bảo đảm xanh, sạch, đẹp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

Về các nhiệm vụ, giải phát trọng tâm tăng NSLĐ, Thủ tướng yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương và đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, công đoàn các cấp cùng chung tay tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về tăng NSLĐ theo các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; trong đó chú trọng một số nội dung trọng tâm sau:

Một là, ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng - coi đây là nền tảng để tăng NSLĐ (xuất phát từ công thức: NSLĐ xã hội = GDP/Lao động bình quân trong năm). Trong đó lưu ý gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn.

Hai là, đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược về thể chế, kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn nhân lực gắn với khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Ba là, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và dạy nghề ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành, lĩnh vực, bảo đảm đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng, số lượng, cơ cấu hợp lý.

Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu lao động từ phi chính thức sang chính thức, từ lĩnh vực nông nghiệp năng suất thấp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ năng suất cao hơn.

Năm là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nâng cao tỉ trọng các khu vực công nghiệp, dịch vụ, công nghiệp hoá nông nghiệp.

Sáu là, chăm lo, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động về đãi ngộ, tiền lương, phúc lợi xã hội, y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, đặc biệt là về nhà ở, triển khai tốt chương trình xây dựng 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội.

Đồng thời, Thủ tướng đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát huy vai trò của tổ chức đại diện, nhất là vai trò tham gia quản lý xã hội, làm cầu nối thực hiện các hoạt động đối thoại chính sách, chia sẻ kinh nghiệm về tăng NSLĐ; phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, đề xuất xây dựng chương trình hỗ trợ, nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, phát triển kĩ năng nghề cho người lao động.

Cùng với đó, thường xuyên trao đổi, đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư, người lao động, nhà nghiên cứu và kiến nghị giải pháp phù hợp. Chú trọng công tác thương lượng, đối thoại, ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thể. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người lao động nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc. Đổi mới công tác khen thưởng, thúc đẩy mạnh mẽ các sáng kiến tăng NSLĐ, tôn vinh người lao động.

Thủ tướng đề nghị cộng đồng doanh nghiệp phát huy hơn nữa vai trò của doanh nghiệp - chủ thể chính tạo ra của cải vật chất cho xã hội; ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, nhất là công nghệ số, công nghệ xanh. Tăng NSLĐ, tăng giá trị chứ không phải tăng thời gian làm việc của người lao động; quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người lao động; chú trọng đào tạo, đào tạo lại; tạo dựng môi trường làm việc an toàn, sạch đẹp, xanh; có chế độ lương, thưởng đối với người lao động có nhiều sáng kiến, năng suất cao, chất lượng tốt

Thủ tướng đề nghị toàn thể anh chị em công nhân, người lao động phát huy hơn nữa vai trò của người lao động - chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, tạo ra của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội. Không ngừng trau dồi, tự học tập nâng cao trình độ, kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm, khả năng thích ứng.

Nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng động sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc. Đổi mới tác phong, ý thức chấp hành pháp luật và kỷ luật lao động, tạo môi trường lao động lành mạnh, bình đẳng, hiệu quả.

Nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc với nhận thức sâu sắc rằng NSLĐ gắn liền với thu nhập, chất lượng cuộc sống của chính bản thân, gia đình và mang lại lợi ích cho đất nước.

Kết thúc bài phát biểu, người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh: Nâng cao NSLĐ là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa mang tính chiến lược, lâu dài của cả hệ thống chính trị - là con đường ngắn nhất đưa nước ta bắt kịp, tiến cùng và vượt lên trong xây dựng, phát triển đất nước nhanh, bền vững.

"Chúng ta mong muốn và tin tưởng rằng, với tinh thần "Công đoàn Việt Nam đồng hành với Chính phủ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển bền vững đất nước", nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, tổ chức Công đoàn Việt Nam, toàn thể đoàn viên, người lao động cả nước sẽ chung tay, chung sức, đồng lòng cùng cả nước, phát huy truyền thống của dân tộc ta, đất nước ta "càng áp lực lại càng nỗ lực", huy động sức mạnh tổng lực của cả hệ thống chính trị, của mỗi người dân, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao", Thủ tướng phát biểu. 

 

KHÔNG LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ NÀO THAY THẾ ĐƯỢC VỊ THẾ, VAI TRÒ LÃNH ĐẠO, CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Xuyên tạc, phủ nhận, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, cả lý luận và thực tiễn đã chứng minh, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo Nhà nước và xã hội hiện nay.

VẪN CHIÊU BÀI VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN CỦA VIỆT TÂN

 


                

Trong khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang sôi nổi chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ thì các thế lực thù địch với danh nghĩa là “những người Việt Nam yêu nước” tổ chức các sự kiện, để bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Chúng cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá thiếu khách quan, không chính xác, đổi trắng, thay đen về vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ nhân quyền, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền. Đây là hoạt động không phải mới mẻ trong những thủ đoạn của tổ chức Việt Tân và những lực lượng phản động.

BÁC BỎ QUAN ĐIỂM CHO RẰNG “CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ LỖI THỜI, KHÔNG CÒN GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM”

                                            

Hiện nay, trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô, các phần tử cơ hội chính trị, các học giả tư sản đang đẩy mạnh hoạt động “công kích” chủ nghĩa Mác - Lênin với tham vọng làm sụp đổ nền tảng tư tưởng của các Đảng Cộng sản trên thế giới nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Họ đã cố tình đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô với thất bại của chủ nghĩa Mác - Lênin. Điều xót xa hơn nữa là, có nhiều kẻ đã một thời được coi là người mácxít, nay cũng trở mặt ra sức bác bỏ, xuyên tạc, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng chủ nghĩa đó đã lỗi thời. Trong khi đó, một số học giả, với giọng điệu có vẻ khách quan” hơn thì cho rằng: Học thuyết Mác ra đời từ thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản còn đang là chủ nghĩa tư bản cổ điển” nên có đóng góp khá nhiều cho lịch sử và đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử rồi; nhưng với thời đại ngày nay, học thuyết Mác không còn phù hợp nữa và cần phải được thay thế bằng một học thuyết mới.

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH

 


Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta xác định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết lý luận sâu sắc, toàn diện trên nhiều lĩnh vực, mà cơ bản, trọng yếu, cốt lõi, nhất là: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những học thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn minh của tư duy nhân loại; liên tục được bổ sung, phát triển từ những kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử trong nước và thế giới, cùng những dự báo khoa học về tương lai. Khái niệm Nền tảng tư tưởng còn được hiểu rộng hơn, đó còn là các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về các vấn đề chiến lược của đất nước (như về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; Về đường lối phát triển kinh tế – xã hội, Về an ninh – quốc phòng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

BẢO VỆ TÍNH CÁCH MẠNG, KHOA HỌC CỦA NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ

 


Nhiều thập kỷ qua, các nhà tư tưởng chống cộng liên tục tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tìm mọi cách đánh vào nguyên tắc tập trung dân chủ nhằm phá vỡ sự đoàn kết thống nhất của Đảng, làm tan rã hoặc phân liệt Đảng về mặt tổ chức. Những năm gần đây, cùng với việc tiếp tục đánh vào chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, họ cũng dấn tới tấn công quyết liệt vào nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ sở tổ chức và hoạt động của Đảng. Họ phê phán các đảng cộng sản là tuyên độc tài toàn trị; tán dương, cổ xuý đòi thực hiện đa nguyên chính trị, dân chủ cực đoan, trong đảng có nhiều phe phái khác nhau, có nhiều nhóm đối lập.

Hồ Chí Minh thâu thái, kết tinh, lan tỏa những giá trị dân tộc và thời đại

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh những giá trị dân tộc như bất khuất, kiên cường, tự chủ, sáng tạo, thích ứng hoàn cảnh và mọi biến đổi để giành thắng lợi; là sự thâu thái những giá trị của nhân loại: hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác, tiến bộ, nhân văn và phát triển. Người đã lan tỏa những giá trị đó trên toàn thế giới, cống hiến vào phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội.

1. Hồ Chí Minh là sự kết tinh, tỏa sáng những giá trị dân tộc
Trên nền tảng một lãnh thổ chung, “một tiếng nói chung”, một lối sống mang sắc thái riêng, dân tộc Việt Nam đã tự khẳng định sự tồn tại của mình, bản lĩnh vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo, vững vàng tiến lên. Trong hơn 1.000 năm thống trị của phong kiến phương Bắc, qua “Ngô Vương Quyền nối lại quốc thống” (Ngô Quyền xưng vương hiệu 939 sau chiến thắng Bạch Đằng), suốt thời kỳ Đại Việt, những lời thề và quốc hiệu Việt Nam chứa đựng biết bao giá trị về tinh thần quật cường, bất khuất, tự cường, tự chủ, tự lập, sáng tạo. Đó là khí phách “rửa sạch nước thù để nối lại nghiệp xưa họ Hùng”, khẳng định chủ quyền “Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta” (Trưng Trắc). Đó là phụ nữ Lạc Hồng muốn “cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta” (Bà Triệu). “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo... lấy yếu chống mạnh...lấy ít địch nhiều” (Nguyễn Trãi). Lời vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự tiện bỏ đi được”. Đó là sự khẳng khái “đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ nói với vua Trần); Trần Quốc Tuấn với nhiệt huyết “Sát Thát”; là đồng thanh “Quyết đánh” trong Hội nghị Diên Hồng (triều Trần với cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên); là lời nói đanh thép “nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi đi đã” (Trần Quốc Tuấn); “ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc (Trần Bình Trọng); là “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” (nhà Trần). Đó là ý thức tự chủ với những quốc hiệu như: Vạn Xuân (năm 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, tuyên bố dựng nước, đặt quốc hiệu Vạn Xuân), Đại Việt (năm 1054 thời vua Lý Thánh Tông)...

Việt Nam là trường hợp hiếm thấy trong lịch sử thế giới khi đã mất chủ quyền 1.000 năm vẫn giành lại được. Không nhiều nước như Việt Nam, dù kẻ thù quân đông, vũ khí mạnh, nhiều lần xâm lược nước ta nhưng bằng sức mạnh đoàn kết, cả nước chung sức, trí thông minh, sáng tạo, lòng hy sinh quả cảm, chúng ta đều giành thắng lợi: Lý Thường Kiệt hai lần chống Tống thắng lợi (1075, 1077); quân Mông - Nguyên ba lần xâm lược Đại Việt đều bị đánh bại (1285, 1287, 1288); ba trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, đánh tan giặc ngoại xâm, nhấn chìm dã tâm xâm lược của các thế lực bành trướng phương Bắc (Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán năm 938; Lê Hoàn (vua Lê Đại Hành) đại thắng quân Tống năm 981; Trần Quốc Tuấn đánh bại quân Mông - Nguyên năm 1288); v.v..

Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển các giá trị của dân tộc trong thời đại mới, Người cho rằng, việc cứu nước và giải phóng dân tộc mình không thể dựa vào bất kỳ nước nào, dù đó là Nhật, Anh hay Mỹ. Bởi dựa vào nước đế quốc này để đánh đổ chế độ thực dân kia là cách làm “đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau”. Phải đi ra nước ngoài tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá, xem xét các nước họ làm thế nào rồi tự mình tìm ra con “Đường cách mệnh” cho dân tộc mình. Khi bắt gặp lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta. Với Người, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin là ở chỗ phương pháp làm việc biện chứng, là cái cẩm nang thần kỳ, là “kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh”(1).

Hồ Chí Minh là người “tìm đường” (1911-1920), “mở đường” (1920-1930), “dẫn đường” (1930-1945), “thiết kế tương lai” (1945-1969). Giá trị dân tộc được kết tinh ở Người với quyết tâm: Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập. Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do, v.v..

Sau khi “tìm đường đi cho dân tộc theo đi” - con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(2). Người cùng cả dân tộc “rũ bùn đứng dậy chói lòa”, “biến người nô lệ thành người tự do”, đem lại quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc cho mỗi người và cả dân tộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do. Người vạch ra một lộ trình sau khi nước Việt Nam giành được độc lập sẽ đi theo con đường riêng của mình, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Luận điểm sáng tạo về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam chưa có tiền lệ trong lịch sử là một kinh nghiệm quý cho các nước có hoàn cảnh như Việt Nam.

Dưới ánh sáng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh luôn độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo với hai điểm cốt yếu sau:

Thứ nhất, Người có cách nhìn “động” về xã hội, về thế giới, về tình hình khách quan, về nhân dân như là cơ sở cho tinh thần đổi mới, sáng tạo. Theo Người, xã hội ngày một phát triển, thế giới ngày càng đổi mới, tình hình khách quan thay đổi hằng giờ hằng phút, nhân dân ngày càng tiến bộ, cho nên tư tưởng, hành động, chủ trương, năng lực, sáng kiến của ta cũng phải thay đổi cho kịp. Mặt khác, chủ trương hôm nay đúng đắn, nhưng vì tình hình khách quan thay đổi nhanh chóng nên có thể hôm sau không hợp thời, quá thời, sai hỏng. Vì vậy, phải tỉnh táo kiểm điểm, bỏ đi những cái cũ kỹ, lạc hậu, lỗi thời để không bị bỏ rơi, không bị những người nhanh nhẹn vượt lên trước, để theo kịp tình thế. Còn “nếu cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả”(3). Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Khi tình thế đổi mới, ta đủ gan góc, đủ tinh thần phụ trách để quyết định phương hướng chính trị mới, thay đổi cách thức công tác và đấu tranh, dám bỏ những khẩu hiệu và những nghị quyết đã cũ, không hợp thời, đưa những nghị quyết và khẩu hiệu mới thay vào”(4).

Người dày công nghiên cứu thực tiễn, mục tiêu, nhiệm vụ của đất nước và khả năng thích ứng của con người Việt Nam với từng giai đoạn phát triển. Xã hội càng phát triển thì nhận thức của con người phải thích ứng và phát triển thuận chiều cùng với sự phát triển của xã hội. Người viết: “Xã hội ngày càng tiến, công tác của ta cũng phải ngày càng tiến. Chúng ta phải kháng chiến thắng lợi, phải thực hiện dân chủ mới, phải tiến đến chủ nghĩa xã hội, rồi tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, năng lực của ta, sáng kiến của ta, tiến bộ của ta cũng phải luôn luôn phát triển, tiến lên không ngừng. Không tiến, tức là thoái”(5)

Thứ hai, Hồ Chí Minh hiểu rất rõ hoàn cảnh đặc biệt của nước ta, đất nước hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến, gần trăm năm thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, nông nghiệp lạc hậu, khoa học kỹ thuật kém phát triển, công cuộc đổi xã hội cũ thành xã hội mới sẽ vô cùng gian nan, phức tạp, khó hơn nhiều so với việc đánh giặc, thắng đế quốc và phong kiến. Đây là cả một cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Người chỉ rõ: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có bóc lột áp bức”(6).

Hồ Chí Minh nhìn nhận, khó khăn của cuộc cách mạng XHCN ở Việt Nam bắt đầu từ những đặc điểm, nhiệm vụ trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Không như cách mạng vô sản Nga, sau khi giai cấp vô sản nắm được chính quyền là bước ngay vào thời kỳ quá độ lên CNXH, Việt Nam phải qua chín năm xây dựng chế độ dân chủ nhân dân trong hoàn cảnh vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, chuẩn bị tiền đề chính trị, kinh tế, văn hóa để khi kết thúc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh đã chỉ ra nội dung, bước đi, biện pháp xây dựng CNXH cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta.

Vạch ra con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, Hồ Chí Minh bổ sung vào lý luận và thực tiễn CNXH những đặc điểm, bản sắc Việt Nam. Nghiên cứu CNXH trong di sản Hồ Chí Minh, chúng ta dễ dàng nhận ra tư tưởng của Người về đặc trưng, mục tiêu, động lực của CNXH Việt Nam, trong đó phản chiếu ánh sáng của CNXH khoa học theo học thuyết Mác - Lênin nhưng rất Việt Nam, đậm dấu ấn Hồ Chí Minh. Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Chủ nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam là sự kết thúc thắng lợi hành trình lịch sử của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã vạch ra từ đầu thế kỷ, là sự thực hiện trọn vẹn Di chúc của Người, là đỉnh cao của sự nghiệp cách mạng ba cuộc giải phóng của Việt Nam, từ đó chân trời càng mở rộng cho đà tiến cao xa hơn nữa, trên con đường phát triển vô hạn của dân tộc, xã hội và con người”(7). Xây dựng CNXH theo bản sắc Việt Nam theo lý giải của Thủ tướng Phạm Văn Đồng “là phương hướng, là ý nguyện, là mục tiêu mà Hồ Chí Minh, Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn. Đối với con người Việt Nam ta, từ những năm 20 của thế kỷ này, ý chí độc lập dân tộc gắn liền với ý chí xã hội chủ nghĩa”(8).

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo tiến hành gần được 40 năm. Đảng đề ra mục tiêu của đổi mới là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu. Thực chất quan điểm của Đảng chính là chủ nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam. Phạm Văn Đồng cho rằng: “kết quả cuối cùng của công cuộc đổi mới là tạo ra một xã hội xã hội chủ nghĩa theo đặc điểm Việt Nam, mang đậm dấu ấn thiên tài và cốt cách dân tộc, trong mục tiêu và động lực, trong con đường, bước đi và cách làm”(9).

2. Hồ Chí Minh kết tinh, tỏa sáng những giá trị thời đại

Giá trị thời đại ở đây trước hết là học thuyết Mác - Lênin, ánh sáng soi đường cách mạng của dân tộc Việt Nam, là tinh hoa văn hóa của nhân loại. Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều mặt, trên cơ sở đó không chỉ mở đường cho dân tộc mình mà còn mở đường cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Hồ Chí Minh từng bước xác lập một hệ thống tư tưởng với những luận điểm sáng tạo, đúc kết thành quy luật giải phóng và phát triển ở các nước có hoàn cảnh như Việt Nam.

Cống hiến lớn lao của C.Mác, Ph.Ăngghen là xác lập CNXH khoa học, vạch ra quy luật tiến hóa của lịch sử loài người, chỉ ra con đường cách mạng, giải phóng những người bị áp bức trên thế giới. Trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của C.Mác, cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin là lãnh đạo cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên ở nước Nga và tiên đoán làn sóng cách mạng diễn ra ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười rọi chiếu ánh sáng tới triệu triệu người trên trái đất. Hồ Chí Minh là số ít trong những “nhân vật huyền thoại” tiếp thu được ánh sáng Tháng Mười, hưởng ứng lời kêu gọi của V.I.Lênin, đưa CNXH khoa học về cho dân tộc mình.

Trong khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã xác định, Việt Nam không làm cách mạng vô sản kiểu Nga mà làm cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, đây là con đường duy nhất đúng để cứu nước và giải phóng dân tộc. Người rút ra, muốn thực hiện được sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người thì phải thành lập Đảng kiểu mới theo học thuyết Mác - Lênin. Đảng đó không phải chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân, mà phải kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đó chính là quy luật ra đời của Đảng Cộng sản đối với các nước như Việt Nam.

Cống hiến của Hồ Chí Minh mà quốc tế ghi nhận là để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nếu V.I.Lênin là bậc thầy trong lên án mạnh mẽ chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi thế giới, thì Hồ Chí Minh là lãnh tụ cộng sản viết nhiều, tố cáo sâu sắc tội ác dã man của chủ nghĩa thực dân. Trăn trở về số phận của các dân tộc thuộc địa, Người đưa ra bản án đối với chế độ thực dân Pháp. Đây là tư duy và cách làm cần thiết để thức tỉnh các dân tộc thuộc địa chìm đắm trong áp bức, bóc lột, đè nén của chủ nghĩa thực dân. Hồ Chí Minh nêu cao ngọn cờ và tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc. Đặt ra cho mình sứ mệnh giải phóng dân tộc mình và các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn vào sự nghiệp vẻ vang đó. Người đã hiện thực hóa giá trị về quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp, đồng thời mở rộng, nâng cao quyền con người thành quyền của các dân tộc. Quan điểm của Hồ Chí Minh đi trước nghị quyết của Liên hiệp quốc, khi năm 1960 tổ chức này mới tuyên bố trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa.

Cách đây 100 năm, nhà thơ Liên Xô Ôxíp Manđenxtam qua cuộc trò chuyện với Nguyễn Ái Quốc, cảm nhận từ phong cách, phong thái của Người, ông viết: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị... Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải là văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai... Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”(10). Nghị quyết của UNESCO khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân cho những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

Hồ Chí Minh là một nhân vật kiệt xuất của lịch sử bởi những đóng góp của Người vào kiến tạo hòa bình, hòa giải, thúc đẩy và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Phát hiện và khai thác điểm chung mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội trong chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Tôn Dật Tiên, Khổng giáo, Thiên Chúa giáo là một tư duy hiếm thấy trong tư tưởng nhân loại. Theo Người, văn hóa Việt Nam là sự kết hợp có chọn lọc văn hóa phương Đông và phương Tây.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tiếp nhận các trào lưu tư tưởng, là giao hòa sự đa dạng, tôn trọng các nền văn hóa, sự kết tinh các giá trị thời đại, mở ra xu hướng trao đổi và đối thoại giữa các nền văn hóa, góp phần thúc đẩy sự xích lại gần nhau của các nền văn hóa, được bạn bè quốc tế thừa nhận. Trong Hội thảo quốc tế tổ chức tại Việt Nam Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, một đại biểu phát biểu: “Chúng tôi đến đây, có người theo đạo Hồi, có người theo đạo Phật, đạo Tin lành, đạo Thiên Chúa, trước chúng tôi không hiểu nhau, qua hai ngày hội thảo, chúng tôi có thể ngồi lại nói chuyện vui vẻ với nhau, vì chúng tôi có cái chung là lý tưởng Hồ Chí Minh: muốn cho nhân loại được tự do, hạnh phúc”(11). Tại Hội thảo quốc tế lớn với chủ đề “Hồ Chí Minh - Việt Nam - Hòa bình thế giới”, nhân dân Ấn Độ cảm ơn Việt Nam, ngưỡng mộ Hồ Chí Minh, coi Người là lãnh tụ của Việt Nam và của cả chính họ. Dự hội thảo có khoảng 12.000 người xếp thành hình ảnh Hồ Chí Minh, thành khẩu hiệu “Hồ Chí Minh muôn năm”. Tổng thống Ấn Độ coi kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ quốc tế mà còn là nhiệm vụ của quốc gia Ấn Độ.

Hồ Chí Minh đã tạo nên “chất keo” gắn kết các dân tộc, sợi dây bền chặt nối liền các nền văn hóa. Chính những suy nghĩ, việc làm tiến bộ, tích cực của Người đã xóa bỏ những rào cản của các nền văn hóa khác nhau liên quan đến chủng tộc, màu da, tiếng nói, tôn giáo, thể chế chính trị. Theo Hồ Chí Minh, hòa bình là khát vọng của nhân loại tiến bộ. Chế độ chính trị khác nhau không ngăn cản việc chung sống hòa bình và phấn đấu cho một nền hòa bình bền vững. Người “tin chắc rằng mọi sự phân tranh trên thế giới đều có thể giải quyết bằng cách hòa bình; tin chắc rằng các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được”(12). Hồ Chí Minh chỉ ra giải pháp thiết lập một nền hòa bình bền vững trên thế giới là mỗi dân tộc cần có ý thức và trách nhiệm về giá trị cao quý của hòa bình và bằng mọi cách để có được hòa bình. Các nước, nhất là những nước lớn, cần có thái độ hợp tác chân thành, giải quyết mâu thuẫn bằng thương lượng hòa bình, không đe dọa và dùng vũ lực, không có thái độ “cá lớn nuốt cá bé”. Tổ chức UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất, đề cao việc thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau. Trong trao đổi và đối thoại văn hóa, Hồ Chí Minh đã tạo ra một công cụ hữu hiệu để kiến tạo hòa bình. Câu nói nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” có giá trị toàn cầu vì nó khẳng định khát vọng về những giá trị chung của nhân loại; đoàn kết thế giới theo tinh thần “bốn phương vô sản, bốn biển đều là anh em”; là tình hữu nghị, hữu ái giữa nhân dân các nước; là thái độ và tấm lòng vị tha, nhân văn, nhân đạo cao cả, v.v..

Hồ Chí Minh yêu Tổ quốc và đồng bào mình, cũng yêu nhân dân và Tổ quốc các nước. Người quý trọng sinh mệnh của người Việt Nam cũng như sinh mệnh của người nước khác. Trong ngày thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Nam Bộ, trở lại xâm lược Việt Nam (23-9-1945), cùng với việc phê phán một số người Pháp gây nên cuộc xung đột đổ máu giữa hai bên, Hồ Chí Minh “nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh”. Người “cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”(13).

Khi Hồ Chí Minh qua đời, Đảng Cộng sản Mỹ trong điện chia buồn đã viết những lời hết sức cảm động: “Nhân loại đã mất một vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người thầy mácxít - lêninnít xuất sắc mà tấm lòng ưu ái đầy thi vị mong muốn một thế giới tốt đẹp có hương hoa tươi thắm và tiếng cười náo nức của trẻ em đã thấm nhuần vào chủ nghĩa nhân đạo toàn diện của cuộc đời mà Người đã sống, thấm nhuần vào những việc kỳ diệu mà Người đã làm và sự nghiệp trọn đời Người đã phục vụ. Tên tuổi của đồng chí Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi gắn bó với những hành động cao cả nhất và những ước mơ cao quý nhất của nhân loại nhằm thực hiện một khối cộng đồng anh em thực sự của nhân dân các nước được hưởng quyền bình đẳng và được thỏa mãn đầy đủ về những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình, một thế giới không có chiến tranh, không có sự tàn bạo, nghèo khổ và phân biệt đối xử”(14). Một đại biểu Mỹ phát biểu trong Hội thảo quốc tế Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nếu chủ nghĩa cộng sản như chủ nghĩa cộng sản Hồ Chí Minh thì cũng chấp nhận được”(15).

Bạn bè thế giới, học giả quốc tế đã nói lên những điều chúng ta cần nói về Hồ Chí Minh - người kết tinh, tỏa sáng những giá trị trường tồn của thời đại. Đúng như ngài Rômét Chanđra, Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới đã viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(16).

 

VUI CÓ CHỪNG, ĐỪNG QUÁ LỐ!

 Vui chơi là một trong những nhu cầu tự nhiên, chính đáng của con người. Thời nay người ta có câu "Vui thôi, đừng vui quá", với hàm ý sự vui chơi nào cũng nên có chừng mực, không nên quá đà, quá trớn...

Trong cuộc sống, có nhiều niềm vui để thỏa mãn nhu cầu sở thích cá nhân. Niềm vui chính đáng đó sẽ chẳng có gì đáng chê trách nếu không làm phiền người khác, gây phản cảm nơi công cộng.
Thời gian gần đây xuất hiện nhiều hành vi như nhảy múa ở sân bay, mặc đồ bó sát cơ thể tập dân vũ, tập thể dục trên đường giao thông rồi chụp ảnh đưa lên mạng xã hội nhằm mục đích câu view, câu like... rất phản cảm.
Mới đây, một nhóm phụ nữ tại thị trấn Kiến Xương (huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) tập yoga dưới lòng đường có nhiều phương tiện giao thông di chuyển qua lại, khiến các phương tiện này phải bấm còi liên tục và giảm tốc độ. Hình ảnh sau đó được đăng tải trên mạng xã hội.
Nhiều ý kiến cho rằng nhóm tập yoga coi thường Luật Giao thông đường bộ, bất chấp nguy hiểm tính mạng bản thân và những người xung quanh. Hành vi này đã bị cơ quan chức năng lập biên bản và chính quyền địa phương xử phạt hành chính kịp thời, nghiêm minh.
Trong sinh hoạt, việc luyện tập thể thao, vui chơi, nhảy múa, ca hát là một trong những hoạt động để rèn luyện sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần, tạo cơ hội cho mọi người giao lưu và giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống.
Không ai cấm mọi người vui chơi, giải trí, nhưng mỗi môn tập, loại hình sinh hoạt, trò chơi đều có không gian riêng và các điều kiện bảo đảm an toàn cho người tham gia, không được làm ảnh hưởng, gây nguy hiểm đến người khác, do đó không được lạm dụng nơi công cộng, đường giao thông để thể hiện niềm vui, sở thích của mình.
Thực tế, nhiều người muốn thể hiện trước đám đông là một đặc tính để khẳng định bản thân. Với những người có tài thực sự, họ trình diễn trước công chúng ở những nơi quy định nhằm khẳng định tài năng, dấu ấn cá nhân. Ngược lại, những người thích khoe mẽ kiểu “thùng rỗng kêu to” lại chọn cách phô trương bằng những chiêu trò độc lạ, hành vi phản cảm, bất chấp nguy hiểm của bản thân và mọi người xung quanh. Thói quen thích gì làm đó miễn là thỏa mãn cá nhân sẽ dẫn đến những hành động tự phát, lãng phí thời gian, công sức mà còn tiềm ẩn những nguy cơ mất an toàn.
Truyền thống của người Việt luôn coi trọng sự khiêm tốn, giản dị và tế nhị trong cư xử, sinh hoạt. Dù có tiếp thu, học hỏi những yếu tố mới từ nước ngoài nhưng phải biết chọn lọc, vận dụng vào điều kiện thực tế, bảo đảm thuần phong mỹ tục, đạo đức truyền thống, không vì sở thích cá nhân mà có những hành vi thô thiển, ảnh hưởng đến người khác và trật tự công cộng xã hội.
Vui chơi là một trong những nhu cầu tự nhiên, chính đáng của con người. Thời nay người ta có câu "Vui thôi, đừng vui quá", với hàm ý sự vui chơi nào cũng nên có chừng mực, không nên quá đà, quá trớn, quá lố, vừa dễ gây phản cảm trong cộng đồng, vừa tự làm tổn hại đến danh dự, uy tín bản thân.
Mọi nết ăn, nết ở, sinh hoạt cá nhân rất nên hài hòa và phù hợp với quy ước, đạo đức cộng đồng. Mình vì mọi người, mọi người vì mình là vậy. Biết tôn trọng bản thân cũng là tôn trọng tập thể, tôn trọng đạo đức xã hội. Khi đó, giá trị nhân cách của mỗi người sẽ được nâng lên.
Việc mỗi người lựa chọn và thể hiện cách ứng xử văn hóa, hành động chuẩn mực nơi công cộng là thiết thực, góp phần tạo ra nếp sống văn minh, văn hóa ứng xử lành mạnh trong xã hội./.
St

30 NĂM VÀ HÀNH TRÌNH CỦA "CÔNG TRÌNH THẾ KỶ"

 Cách đây 30 năm, ngày 27.5.1994, Việt Nam đã chứng kiến một sự kiện mang tính lịch sử khi đường dây 500kV Bắc Nam mạch 1 chính thức đóng điện. Đây là công trình điện lực siêu cao áp đầu tiên của nước ta, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước thời kỳ đổi mới.

Quyết định lịch sử
Đầu những năm 1990, hệ thống điện của Việt Nam vẫn còn khá chắp vá và phân tán, với ba lưới điện riêng biệt ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Trong khi miền Bắc thừa điện nhờ vào sự hoạt động hiệu quả của Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, thì miền Nam lại thiếu điện trầm trọng do nhu cầu năng lượng tăng cao cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ. Tình trạng này dẫn đến mất cân bằng cung cầu, phải hạn chế phụ tải bằng cách cắt điện luân phiên, đòi hỏi một giải pháp cấp bách để cân bằng cung cầu điện năng giữa các vùng miền.
Trước tình hình đó, vào tháng 1.1992, Bộ Chính trị đã thông qua việc xây dựng đường dây 500kV Bắc Nam mạch 1. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) Võ Văn Kiệt ra Quyết định số 61/CT ngày 25/2/1992 phê duyệt dự án với mục tiêu hoàn thành trong vòng 2 năm, cho phép thực hiện song song công tác khảo sát, thiết kế, nhập vật tư - thiết bị và thi công để đảm bảo tiến độ dự án. Đây là một quyết định mang tính lịch sử, thể hiện sự quyết tâm và tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo đất nước.
Ngày 5.4.1992, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã phát lệnh khởi công xây dựng công trình. Công trình này không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của hàng nghìn cán bộ, kỹ sư và công nhân, mà còn cần sự hợp tác chặt chẽ của chính quyền và người dân tại 17 tỉnh, thành phố nơi dự án đi qua. Sau 2 năm thi công, ngày 27.5.1994, đường dây 500kV Bắc Nam mạch 1 với 1.487km đường dây 500kV đã chính thức đóng điện, nối liền hai miền Bắc - Nam bằng dòng điện ổn định.
Nhờ có công trình thế kỷ này, từ mức tăng trưởng điện thương phẩm toàn quốc chỉ 5 - 6% giai đoạn 1990-1992 đã tăng đột biến lên 18,2% giai đoạn 1993 - 1997, đỉnh điểm là 21% năm 1995; riêng khu vực miền Trung và miền Nam là 21% trong toàn giai đoạn, năm 1995 là 25%.
Ý nghĩa to lớn với sự phát triển của đất nước
Việc xây dựng đường dây 500kV là một thách thức lớn đối với Việt Nam khi lúc bấy giờ đất nước còn nghèo khó, thiếu thốn về vật tư, thiết bị và công nghệ trong khi 80% đường dây đi qua vùng núi cao và rừng rậm. Công trình này cũng là minh chứng cho khả năng tiếp thu và làm chủ khoa học, công nghệ mới của đội ngũ cán bộ, kỹ sư Việt Nam. Toàn bộ quá trình thiết kế, thi công, chế tạo cột thép và giám sát, nghiệm thu đều do người Việt Nam đảm nhận. Đây là một bước tiến quan trọng, khẳng định năng lực của ngành điện Việt Nam trong việc thực hiện các công trình lớn, đòi hỏi kỹ thuật cao.
Đường dây 500kV Bắc Nam mạch 1 không chỉ là một công trình kỹ thuật, mà còn mang ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế và xã hội. Nó đã giải quyết tình trạng thiếu điện ở miền Nam và miền Trung, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam. Chính nhờ vào việc vận hành hệ thống lưới điện thống nhất ba miền Bắc - Trung - Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã tăng từ 5,1% vào năm 1990 lên 9,5% vào năm 1995, trong đó tốc độ tăng trưởng sản lượng công nghiệp bình quân đạt từ 12% đến 14%.
Hiện đại hóa hệ thống
Sau hơn 10 năm vận hành đường dây 500kV Bắc Nam mạch 1, vào ngày 23.9.2005, ngành điện Việt Nam lại đánh dấu một kỳ tích mới khi hoàn thành đóng điện đường dây 500kV Bắc Nam mạch 2. Trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2005, đường dây 500kV Bắc - Nam một lần nữa khẳng định tính hiệu quả của mình bằng việc truyền tải ngược một lượng lớn điện năng để hỗ trợ miền Bắc, đặc biệt trong những thời kỳ khô hạn, nắng nóng.
Đến tháng 5.2014, cung đoạn đầu tiên của tuyến đường dây 500kV mạch 3 từ Pleiku đến Mỹ Phước và Cầu Bông đã được hoàn thành và đưa vào vận hành. Công trình này đã kịp thời đảm bảo cung cấp điện cho khu vực miền Nam, đáp ứng nhu cầu điện tăng cao liên tục trong những năm gần đây.
Năm 2018, đường dây 500kV mạch 3, bao gồm các đoạn Quảng Trạch - Vũng Áng, Quảng Trạch - Dốc Sỏi và Dốc Sỏi - Pleiku 2 được triển khai xây dựng. Mặc dù gặp nhiều thách thức từ việc giải phóng mặt bằng và dịch COVID-19, các cán bộ, kỹ sư và công nhân ngành điện vẫn nỗ lực vượt qua để đảm bảo tiến độ dự án. Dự án hoàn thành trong 4 năm giúp tăng cường năng lực truyền tải lưới điện 500kV của hệ thống điện quốc gia; giải tỏa công suất nguồn nhiệt điện và đặc biệt là nguồn năng lượng tái tạo phát triển mạnh trong khu vực. Hiện nay, Chính phủ đang gấp rút hoàn thành việc xây đường dây 500kV mạch 3 ra Bắc, hoàn thành trong tháng 6.2024 để kiện toàn hệ thống lưới điện quốc gia.
30 năm đã qua, việc xây dựng và vận hành đường dây truyền tải 500kV từ Bắc vào Nam đã ghi dấu những hy sinh, vất vả thầm lặng và cả máu xương của hàng nghìn cán bộ, kỹ sư và công nhân. Họ đã kiên cường vượt qua muôn vàn khó khăn về thời tiết, địa hình hiểm trở, thi công trên các sườn đồi, rừng núi để hoàn thành công trình vĩ đại này./.
ST

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - MỘT NHÂN CÁCH VĨ ĐẠI

 Nhân cách Hồ Chí Minh là nhân cách của người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại - thật toàn bích, toàn vẹn, có tầm vóc vĩ đại mà rất bình dị. Trong đó được thể hiện ở đức dày; tâm lành sáng, năng lực dồi dào, thông tuệ; có ý chí, nghị lực phi thường, không ngừng phấn đấu hoàn thiện bản thân, vươn tới chân, thiện, mỹ; suốt đời đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Nhân cách Hồ Chí Minh là giá trị văn hóa Hồ Chí Minh, được kết tinh từ nhiều yếu tố: truyền thống gia đình, quê hương, đất nước; hoàn cảnh của thời cuộc; tư chất, năng lực cá nhân cùng với quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện của bản thân; sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, của các học thuyết, tư tưởng tiến bộ; sự tiếp thu, học hỏi các nhà hoạt động chính trị tiến bộ, nhà văn hóa trên thế giới. Nhân cách Hồ Chí Minh được hình thành, bồi đắp, hoàn thiện, thể hiện đậm nét và tỏa sáng suốt cả cuộc đời đấu tranh kiên cường, bền bỉ cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân... Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ có thể đề cập được một số khía cạnh trong tổng thể nhân cách Hồ Chí Minh vĩ đại.
Thứ nhất, nhân cách Hồ Chí Minh là lòng yêu nước gắn liền với yêu dân, thương dân, lấy nguyện vọng, nhu cầu của người dân làm nguyện vọng, ham muốn của mình. Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ lo cho dân, cho nước từ những việc lớn đến việc nhỏ là trách nhiệm, bổn phận của người lãnh tụ của dân tộc. Người đau nỗi đau chia cắt đất nước, vui, buồn cùng với nhân dân, sẵn sàng hy sinh cuộc sống riêng tư. Người nói: “Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như yêu đồng bào ở miền Nam. Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi... Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi” (Trả lời phóng viên báo Granma - Cu Ba - ngày 14/7/1969).
Thứ hai, một trong những nội dung cốt lõi trong nhân cách Hồ Chí Minh là tình thương bao la đối với nhân loại cần lao. Khác với các nhân sĩ, trí thức phong kiến, tình thương của Hồ Chí Minh không phải là tình thương chung chung, mơ hồ và cũng không phải là lòng thương hại; mà là tình thương thực sự dành cho tất cả những người lao động trong nước cũng như trên thế giới, từ người nô lệ, người tù đến người nông dân, công nhân cùng khổ dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, đặc biệt là đối với những lớp người yếu đuối, bị nhiều tổn thương như người bị tàn tật, phụ nữ, trẻ em... và đó là sự tôn trọng đối với con người, cảm thông với số phận những “người cùng khổ”. Điều đó được minh chứng bằng chính cuộc đời hoạt động của Người vì độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam và nhân dân lao động trên thế giới. Chính vì thương dân còn nghèo, vì “chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, nên dù đã ở cương vị lãnh tụ của đất nước, của một Đảng cầm quyền nhưng cuộc sống của Bác vẫn rất khiêm tốn, bình dị, trong sáng với chỉ một nếp nhà sàn nhỏ bằng gỗ, một đôi dép cao su, hai bộ quần áo kaki bạc màu.
Thứ ba, nhân cách Hồ Chí Minh là sự tôn trọng nhân phẩm, nhân quyền và sự đấu tranh quyết liệt với kẻ thù chà đạp lên nhân phẩm con người. Điều đó không chỉ dừng lại ở mức độ chia sẻ cảm thông sâu sắc với nỗi khổ cực của người dân, mà cao hơn là bằng hành động bôn ba khắp năm châu bốn biển, vượt qua mọi hiểm nghèo để tìm đường cứu nước, giành lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; dũng cảm lên tiếng vạch trần, tố cáo thực dân, đế quốc dùng mọi thủ đoạn khốc liệt để bóc lột, chà đạp lên nhân phẩm của người dân lao động nói chung, người dân bản xứ nói riêng, qua đó đấu tranh đòi thực hiện công lý (Bản yêu sách gửi đến Hội nghị Véc-xây - 1919, Bản án chế độ thực Pháp - 1925...); là ở cách xử thế, ở lối sống trong đời sống hằng ngày.
Thứ tư, nhân cách Hồ Chí Minh là tấm gương cao đẹp về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Theo Hồ Chí Minh, cần là cần cù, siêng năng, chăm chỉ, kiên trì, bền bỉ, dẻo dai trong mọi công việc; đồng thời phải tăng năng suất lao động, là làm việc có kết quả tốt. Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí; việc gì đáng chi phải chi, việc gì chưa đáng chi thì hoãn lại, việc gì không đáng chi thì dứt khoát không chi. Liêm là liêm khiết, trong sạch, không tham lam. Chính là thẳng thắn, không tà, việc gì tốt thì dù nhỏ cũng cố làm, việc gì xấu thì dù nhỏ cũng cố tránh. Hồ Chí Minh còn cho rằng, tự mình phải chính trước thì mới giúp được người khác chính; mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý. Còn chí công vô tư là hết mực công bằng, công tâm; không được có lòng riêng, thiên tư, thiên vị. Muốn có chí công vô tư phải chiến thắng chủ nghĩa cá nhân; bởi cuộc sống bị chủ nghĩa cá nhân hoành hành thì đạo đức bị xuống cấp một cách nghiêm trọng. Đây là một yêu cầu đối với nhân cách của người cách mạng, nó trái ngược với chủ nghĩa cá nhân.
Thứ năm, nhân cách Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở bình diện nhận thức, mà còn được thể hiện bằng hành động để đạt mục đích, là sự thống nhất cao độ giữa đạo đức và thực hành đạo đức. Đây là điểm nổi bật, nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người, là điểm khác biệt với nhiều nhà hiền triết phương Đông, làm nên sự vĩ đại của Hồ Chí Minh. Đối với Hồ Chí Minh, ngoài yêu cầu đạo đức của con người xã hội, Người còn đòi hỏi rất cao về đạo đức cách mạng là phải đủ cả bốn đức: Cần kiệm liêm chính, thiếu một đức thì không thành người. Đặc biệt, mặt hành động trong nhân cách Hồ Chí Minh không chỉ vì hạnh phúc con người, mà còn là sự tự hoàn thiện bản thân: Hoàn thiện về lối sống, cách ứng xử và đặc biệt là trí tuệ. Vì vậy, Hồ Chí Minh không chỉ nêu lên yêu cầu về đạo đức, mà Người còn gương mẫu thực hành để làm gương cho mọi người noi theo.
Hồ Chí Minh vĩ đại bởi mặc dù là một lãnh tụ thiên tài được UNESCO vinh danh “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất nhân loại”, được nhân dân Việt Nam và thế giới tôn vinh, ngưỡng mộ như một bậc thánh nhân, nhưng Người lại là một con người hết sức giản dị, không siêu thực mà ở ngay trong lòng dân, giữa cuộc sống của nhân dân. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói về Người: Giản dị là đặc trưng nổi bật cho lối sống và phong cách của Người. Người giản dị chứ không giản đơn. Bởi thực sự vĩ đại, nên giản dị ở Người như một lẽ tự nhiên, hồn nhiên làm lay động mỗi tấm lòng. Đó là giản dị của bậc vĩ nhân, hiền triết. Thực sự vĩ đại nên Người giản dị thực sự, tất cả đều toát lên sự gần gũi thân thương của con người giữa đời thường. Phải trải nghiệm cuộc sống vô cùng phong phú, sâu sắc, thành ra cốt cách, bản lĩnh văn hóa mới đạt tới sự giản dị ấy - lão thực và hiền minh. Đã từng có một danh ngôn: Giản dị là nỗ lực cao nhất và cuối cùng của bậc thiên tài./.
ST

THAY ĐỔI LÃNH ĐẠO CẤP CAO NHƯNG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ ỔN ĐỊNH

 Để xây dựng Đảng thực sự tiêu biểu về đạo đức, văn minh như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, Đảng ta thời gian qua đã đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm được triển khai bài bản, thường xuyên, liên tục, không ngừng, không nghỉ, đi vào chiều sâu với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào" và được tiến hành sâu rộng từ Trung ương đến cơ sở.

Do thực hiện tốt chủ trương này, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã thu được nhiều kết quả quan trọng, qua đó củng cố niềm tin vững chắc của toàn dân, toàn quân vào sự lãnh đạo của Đảng.
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG LÀ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta nhiều lần chỉ rõ: Tham nhũng, tiêu cực “uy hiếp sự tồn vong của chế độ ta”, là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng và cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta.
Trước thực trạng tham nhũng diễn biến phức tạp, phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020 ngày 12-12-2020 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng (nay là Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực) chỉ rõ: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm. Kỷ luật một vài người để cứu muôn người và sẽ còn phải tiếp tục làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới theo tinh thần Bác Hồ đã dạy: “Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây”...
Tiếp đó, phát biểu tại phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 20-1-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu phải: “Chấn chỉnh, đấu tranh đẩy lùi, loại bỏ tư tưởng lo ngại việc đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng sẽ “làm chậm sự phát triển”, làm “hạn chế sức sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, “nhụt chí”, “làm cầm chừng”, “phòng thủ” trong một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”.
Với chủ trương đúng đắn, kịp thời, từ năm 2013, khi Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng được thành lập, trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được tiến hành ráo riết, quyết liệt; đạt nhiều kết quả toàn diện, tích cực; nhiều vụ án về kinh tế, nhất là các vụ đại án tham nhũng được điều tra, xử lý đúng người, đúng tội. Trong giai đoạn 2013-2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên.
Năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức Đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành kỷ luật hàng chục cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đặc biệt, năm 2023 và nửa đầu năm 2024, nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng đưa ra xử lý, nhiều cựu cán bộ, lãnh đạo ở các bộ, ngành, địa phương bị xử lý hình sự với những mức án nghiêm minh. Hàng loạt các vụ án khác đang được mở rộng điều tra như vụ án Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (giai đoạn 2); vụ án Tập đoàn Phúc Sơn; vụ án xảy ra tại Tập đoàn Thuận An… Kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là minh chứng rõ nét nhất về vai trò lãnh đạo của Đảng. Nói cách khác, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta.
ĐẤU TRANH QUYẾT LIỆT, XỬ LÝ NGHIÊM MINH ĐỂ TẠO SỰ ỔN ĐỊNH, PHÁT TRIỂN
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra rất quyết liệt, nghiêm minh nhưng cũng rất nhân văn, có lý, có tình. Nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm, kể cả cán bộ cấp cao, lãnh đạo quản lý các cấp bị xử lý phải tâm phục, khẩu phục. Đảng đã xử lý nghiêm khắc với kẻ chủ mưu, cầm đầu, tích cực thực hiện hành vi vi phạm, song cũng xem xét toàn diện đối với những người làm công hưởng lương, phụ thuộc, không chủ động, không cố ý hưởng lợi… Điều này khẳng định công tác phòng, chống tham nhũng ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, góp phần thức tỉnh, cảnh báo, ngăn chặn từng bước và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được nhân dân đồng tình ủng hộ, cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tờ Le Monde (Pháp) số ra ngày 21-6-2022 bình luận: “Cuộc chiến chống tham nhũng của Việt Nam đã tăng tốc mạnh mẽ và giờ đây không loại trừ ai, từ các đại gia ở khu vực kinh tế tư nhân cho tới các đảng viên là quan chức cấp cao”. Đặc biệt, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden bày tỏ ấn tượng trước nỗ lực trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng ta và người đứng đầu Đảng - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Tôi hoan nghênh nỗ lực chống tham nhũng và thúc đẩy quản trị tốt của Ngài trên cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Giải quyết nạn tham nhũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hòa bình và an ninh trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới”.
Tuy nhiên, lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các thế lực thù địch sử dụng mạng xã hội và một số trang báo phản động, đã tích cực tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo với nhiều lời lẽ bịa đặt nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận thành quả và quyết tâm phòng, chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Không dừng lại ở đó, lợi dụng việc một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt, cấp cao xin từ chức, miễn nhiệm hoặc bị bắt để điều tra, làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật, các trang mạng phản động ngay lập tức hướng dư luận thành kết quả của “sự thanh trừng nội bộ”, “tranh giành phe cánh”…, thậm chí đặt vấn đề về trách nhiệm của Tổng Bí thư, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Có thể khẳng định rất rõ rằng, các đối tượng chống phá, cơ hội chính trị cố tình xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhằm gây nhiễu loạn thông tin, gây rối tình hình, tạo hoang mang trong xã hội; phá hoại công tác tổ chức, cán bộ của Đảng. Mục đích cao nhất của chúng là làm bất ổn xã hội, dẫn đến suy yếu thể chế chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
Trong suốt hơn 94 năm lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chủ trương lựa chọn cán bộ, đảng viên xứng đáng, đủ đức, đủ tài để gánh vác nhiệm vụ cách mạng. Theo đó, Đảng đã từng bước xây dựng được đội ngũ cán bộ kiên trung với Đảng, tận hiếu với nước, với dân; xứng đáng là người “công bộc”, “đầy tớ” của nhân dân; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hy sinh vì lợi ích chung, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Việc cho “thôi chức”, “miễn nhiệm” đối với một số cán bộ, đảng viên là một trong những dấu ấn nổi bật, có tính đột phá khi đánh giá, xem xét cán bộ, góp phần để phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra” được triển khai sâu rộng, đồng bộ; để xu hướng đó trở thành một việc làm bình thường trong quá trình kết hợp nhuần nhuyễn “vừa xây”, “vừa chống”, làm cho Đảng ngày càng đoàn kết, trong sạch, vững mạnh.
Điểm đặc biệt, dù có thay đổi nhân sự ở cấp nào nhưng nguyên tắc hoạt động, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng luôn nhất quán, bảo đảm tính kế thừa, không bị chi phối bởi bất cứ thế lực nào. Tuy có sự thay đổi đối với cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhưng đó là thay đổi để phát triển, thay đổi cán bộ lãnh đạo cấp cao nhưng thể chế chính trị luôn ổn định; vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được khẳng định. Do đó, những lời lẽ lạc lõng của các thế lực thù địch lợi dụng việc cho “thôi chức”, “miễn nhiệm” đối với một số cán bộ cấp cao để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trở nên vô giá trị. Bằng chứng là gần đây nhất, việc Quốc hội bầu đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội giữ chức Chủ tịch Quốc hội; bầu Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an làm Chủ tịch nước cho thấy sự kiện toàn kịp thời, phát triển liên tục, có sự kế thừa trong công tác cán bộ chủ chốt của Đảng.
*
* *
Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo với tinh thần “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt” và với phương châm “kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” được tiến hành mạnh mẽ, trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược, được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận và là động lực quan trọng phát triển đất nước, để "đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
Những luận điệu chống phá công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam; xuyên tạc việc cho “thôi chức”, “miễn nhiệm” đối với một số cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước là sự chống phá chưa bao giờ ngừng nghỉ của các thế lực thù địch trong âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ để bảo vệ chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, để “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời!
St