Nhiều thập kỷ qua, các nhà tư tưởng chống cộng liên tục tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tìm mọi cách đánh vào nguyên tắc tập trung dân chủ nhằm phá vỡ sự đoàn kết thống nhất của Đảng, làm tan rã hoặc phân liệt Đảng về mặt tổ chức. Những năm gần đây, cùng với việc tiếp tục đánh vào chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, họ cũng dấn tới tấn công quyết liệt vào nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ sở tổ chức và hoạt động của Đảng. Họ phê phán các đảng cộng sản là tuyên độc tài toàn trị; tán dương, cổ xuý đòi thực hiện đa nguyên chính trị, dân chủ cực đoan, trong đảng có nhiều phe phái khác nhau, có nhiều nhóm đối lập.
Trong công cuộc cải cách và đổi mới hiện nay, nhân
việc xem xét lại các quan điểm nhận thức, các nguyên lý lý luận, có một số cán
bộ, đảng viên "tự suy thoái", "tự diễn biến", "tự
chuyển hóa" cũng muốn đặt lại vấn đề, phê phán, lên án nguyên tắc tập
trung dân chủ, thậm chí có người đòi xóa bỏ nguyên tắc này. Họ cho rằng nguyên
tắc tập trung dân chủ nay đã lỗi thời, nó chỉ thích hợp với hoạt động của Đảng
khi chưa giành được chính quyền, còn hoạt động bí mật, hoặc lãnh đạo chiến
tranh; rằng thực hiện tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên
quyền, trong Đảng và trong xã hội sẽ không có dân chủ, không có nhân đạo.
Vậy điều đó đúng hay không đúng? Chúng ta có cần giữ
vững và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không? Làm thế nào để thực hiện
tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong điều kiện đổi mới hiện nay?
Trước hết phải thừa nhận rằng, tất cả những người phê
phán, đòi xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, dù đó là các nhà tư tưởng tư sản
chống cộng, những phần tử bất mãn, cực đoan, hay những người kém hiểu biết, mơ
hồ, họ đều có một phần căn cứ thực tế. Đó là tình trạng mất dân chủ ở không ít
Đảng Cộng sản và không ít nước xã hội chủ nghĩa trong suốt một thời gian dài
trước đây. Thậm chí có nơi, có lúc mất dân chủ rất nghiêm trọng. Một số người
lãnh đạo trên thực tế đã quan liêu, xa dân, độc đoán, gia trưởng, có người rơi
vào vũng bùn của chủ nghĩa phong kiến quân phiệt, gần như biến thành một ông
vua đầy quyền lực và tham vọng. Những hiện tượng cán bộ lãnh đạo trù dập, ức
hiếp quần chúng, là có thật. Những hiện tượng ở nơi này, nơi khác nội bộ đấu đá
nhau, tranh giành quyền lực, mưu hãm hại nhau, đối xử tàn tệ với nhau, là có
thật. Nhiều trường hợp quyền dân chủ của đảng viên, của nhân dân không được tôn
trọng và phát huy; hoạt động của cơ quan dân cử nhiều khi hình thức, không có
thực quyền. Trong quản lý kinh tế thì ở ta đã có thời kỳ nhấn mạnh một chiều
tập trung thống nhất (mà thực chất là tập trung quan liêu), coi nhẹ dân chủ;
nhấn mạnh một chiều tính kế hoạch, coi nhẹ tính năng động, chủ động của cơ sở;
nhấn mạnh một chiêu quan hệ dọc, coi nhẹ quan hệ ngang, do đó không phát huy
được tính đa dạng, tính phong phú, sáng tạo của các thành phần kinh tế, các
quan hệ kinh tế, các cơ sở kinh tế, làm cho kinh tế phát triển chậm chạp, trì
trệ, v.v..
Tất cả những cái đó là có thật.
Nhưng có phải đó là hậu quả của một việc thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ không? Phải chăng đó là "tội" của chính
bản thân nguyên tắc tập trung dân chủ?
Mọi người đều biết, trong điều lệ của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã ghi rõ những nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ như
sau:
- Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng đều do bầu cử dân
chủ mà lập ra theo nguyên tắc bỏ phiếu kín. Cơ quan lãnh đạo các cấp phải báo
cáo và chịu trách nhiệm trước đại hội cấp mình, trước cơ quan lãnh đạo cấp trên
và trước đảng bộ cấp dưới.
Cơ quan lãnh đạo các cấp phải thực hiện lãnh đạo tập
thể đi đôi với phát huy trách nhiệm cá nhân, thường xuyên tự phê bình và phê
bình.
- Các công việc của Đảng đều phải tuỳ theo tính chất
quan trọng của từng vấn đề mà do những cơ quan có đủ thẩm quyền của Đảng giải
quyết. Ví dụ: Những vấn đề về đường lối, chính sách cơ bản của Đảng, những vấn
đề có tầm quan trọng chung trên phạm vi cả nước đều phải do cơ quan lãnh đạo
toàn quốc của Đảng (tức là Đại hội đại biểu toàn quốc, Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương) quyết định. Những vấn đề thuộc trách nhiệm và quyền hạn của địa
phương thì các tổ chức đảng ở địa phương giải quyết không trái với đường lối,
chính sách chung và các quyết định của cấp trên.
- Nghị quyết các hội nghị của Đảng đều phải được biểu
quyết theo đa số. Trước khi biểu quyết, các đảng viên được thảo luận, trình bày
hết ý kiến của mình. Sau khi có nghị quyết, mọi đảng viên đều phải chấp hành;
nếu có điểm nào đảng viên không đồng ý thì được quyền bảo lưu ý kiến hoặc đề
đạt ý kiến của mình lên các cơ quan cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn
quốc, nhưng vẫn phải chấp hành nghị quyết của Đảng.
- Mọi đảng viên được thảo luận một cách dân chủ, thẳng
thắn các công việc của Đảng; bầu cử, ứng cử hoặc được đề cử vào các cơ quan
lãnh đạo các cấp của Đảng; có quyền phê bình, chất vấn về công việc của Đảng;
được trình bày hết ý kiến khi tổ chức đảng quyết định kỷ luật đối với mình.
- Cá nhân đảng viên phải phục tùng tổ chức và kỷ luật
của Đảng; thiểu số phục tùng đa số, tổ chức cấp dưới phục tùng tổ chức có thẩm
quyền cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương.
Như vậy, nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp
chặt chẽ, hài hoà giữa hai mặt tập trung và dân chủ trong một mối quan hệ hữu
cơ biện chứng, chứ không phải là chỉ tập trung hoặc chỉ là dân chủ. Dân chủ là
điều kiện, là tiền đề của tập trung; cũng như tập trung là cái bảo đảm cho dân
chủ được thực hiện. Dân chủ không phải là "tính từ" của tập trung.
Tuyệt đối hoá một mặt nào đều có thể dẫn đến những sai lầm nguy hiểm có hại cho
sự lãnh đạo và sức mạnh của Đảng.
Ngay từ những ngày đầu đấu tranh để thành lập Đảng
công nhân dân chủ xã hội Nga (tiền thân của Đảng Cộng sản (b) Nga sau này),
Lênin đã nêu ra yêu cầu phải kết hợp chặt chẽ tính tập trung, kỷ luật thống
nhất của Đảng với tỉnh thần dân chủ rộng rãi, tức là phải thực hiện nguyên tắc
tập trung dân chủ. Lênin một mặt khẳng định rằng "toàn bộ tổ chức của đảng
hiện nay được xây dựng một cách dân chủ... có nghĩa là toàn thể đảng viên bầu
ra những người lãnh đạo, những uỷ viên các ban chấp hành, v.v., rằng toàn thể
đảng viên thảo luận và quyết định vấn đề vận động chính trị của giai cấp vô
sản, rằng toàn thể đảng viên xác định phương hướng sách lược của các tổ chức
đảng".
Mặt khác, Người đòi hỏi trong Đảng phải thực hiện kỷ luật tập trung, mọi đảng
viên phải phục tùng kỷ luật của tổ chức đảng; sự thống nhất tư tưởng của Đảng
phải được bảo đảm và củng cố bằng sự thống nhất vật chất về tổ chức. Không thể
hình dung được một tổ chức chính trị mà lại tồn tại ngoài tổ chức, không có sự
cố kết, ràng buộc về tổ chức. Lênin nhấn mạnh: "tôi muốn và tôi đòi hỏi
Đảng, đội tiền phong của giai cấp, phải hết sức có tổ chức, rằng Đảng chỉ nên
thu nhận những phần tử ít nhất cũng phải chấp nhận một tính tổ chức tối thiểu".
Kẻ nào từ chối không chịu phục tùng kỷ luật của Đảng, làm yếu kỷ luật của Đảng
"tức là từ chối không muốn làm đảng viên, tức là phá hoại Đảng".
Người nói rõ hơn: "ở đây chúng ta đi đến một nguyên tắc rất quan trọng
trong toàn bộ tổ chức Đảng và hoạt động của Đảng: nếu trong việc lãnh đạo phong
trào và cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản về mặt tư tưởng và thực
tiễn cần có chế độ tập trung càng mạnh càng tốt thì về phương diện làm cho
Trung ương Đảng (và như vậy là toàn Đảng nói chung) nắm lấy tình hình phong
trào, về phương diện trách nhiệm trước Đảng, cần có chế độ phân cấp càng rộng
rãi càng tốt".
Thống nhất hành động phải luôn luôn đi liền với tự do thảo luận và phê bình;
dân chủ rộng rãi phải kết hợp chặt chẽ với kỷ luật tập trung. Sau này, khi vạch
ra nhiệm vụ cấp bách của Chính quyền Xôviết, nhiệm vụ tổ chức và quản lý nước
Nga sau Cách mạng Tháng Mười, Lênin lại nêu công thức phải kết hợp chặt chẽ
tinh thần dân chủ tràn trề như nước lũ mùa xuân với kỷ luật tập trung thống
nhất. Tại Đại hội X của Đảng Cộng sản (b) Nga (tháng 3-1921), chính Lênin đã
thảo ra Nghị quyết "Về sự thống nhất của Đảng", bắt phải giải tán
ngay tất cả các nhóm có tính chất bè phái trong Đảng; Người còn đề nghị Đại hội
giao cho Ban Chấp hành Trung ương được quyền áp dụng các biện pháp tích cực, kể
cả việc khai trừ các uỷ viên trung ương nào phá hoại kỷ luật của Đảng hoặc để
xảy ra tình trạng bè phái trong Đảng. Như vậy, Lênin chưa lúc nào chủ trương để
cho đảng viên hoạt động một cách thụ động, ỷ lại, hoặc vô tổ chức, vô kỷ luật;
chưa lúc nào cho phép trong Đảng tồn tại những phe nhóm bè phái đối lập (như
gần đây có người xuyên tạc).
Nguyên tắc tập trung dân chủ chính là điều kiện bảo
đảm cho tổ chức đảng cố kết về mặt tổ chức, thống nhất ý chí, thống nhất hành
động; đồng thời phát huy sáng kiến và tính tích cực sáng tạo của mọi đảng viên,
mọi tổ chức đảng.
Những người đòi xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ
chứng tỏ họ hiểu không đúng hoặc cố tình xuyên tạc nội dung và bản chất của
nguyên tắc này. Họ tưởng đâu như nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ là kỷ luật,
là tập trung, mà quên mất nội dung rất căn bản và quan trọng của nguyên tắc này
là dân chủ. Họ dẫn ra những ví dụ (chưa nói là có phần thổi phồng) về sai lầm
quan liêu, độc đoán, mất dân chủ của một số người lãnh đạo như Xtalin,
Xêauxexcu... để phê phán và kết tội nguyên tắc tập trung dân chủ, mà không biết
rằng đấy chính là hậu quả của việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.
Có người cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ
đúng trên lý thuyết, chỉ ghi trên giấy tờ, chứ trong thực tế không được thực
hiện. Đúng là cuộc sống đã chứng kiến không ít những hiện tượng vi phạm nguyên
tắc tập trung dân chủ, thậm chí có những trường hợp vi phạm nghiêm trọng dẫn
đến những hậu quả tai hại. Ngay những quy định cụ thể bảo đảm thực hiện nguyên
tắc này cũng còn rất chưa đầy đủ. Nhưng chẳng lẽ vì trong thực tế chưa được
thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt mà xóa bỏ đi cả một nguyên lý, một nguyên
tắc, mặc dù đó là nguyên lý, nguyên tắc đúng đắn và cần thiết? Ở đâu và lúc nào
không thực hiện đúng tập trung dân chủ, để xảy ra những hiện tượng gia trưởng,
độc đoán, quan cách hoặc vô tổ chức, vô kỷ luật, thì phải kiên quyết đấu tranh
khắc phục những thói tệ đó, thực hiện bằng được nguyên tắc tập trung dân chủ,
chứ sao lại dại dột xóa bỏ nguyên tắc đó đi. Làm như thế thì có khác gì
"đổ chậu nước tắm đổ luôn cả đứa bé trong đó" như Lênin từng phê
phán, hoặc "đập con chuột nhắt đập luôn cả bình hoa" như Bác Hồ đã
từng phê bình.
Một số người lập luận rằng, nguyên tắc tập trung dân
chủ chỉ đúng và thích hợp với hoạt động của Đảng trong điều kiện bí mật hoặc
trong thời kỳ chiến tranh. Trong hoàn cảnh đó phải có kỷ luật chặt chẽ, phải có
tập trung thống nhất cao độ, còn trong hoàn cảnh hòa bình xây dựng, kẻ thù
không còn, nhân dân đã làm chủ, cần gì phải thực hiện chế độ tập trung, kỷ luật
và chuyên chính. Lúc này mà còn thực hiện tập trung dân chủ là không thức thời,
là vi phạm dân chủ, là tạo điều kiện để quay về chế độ phong kiến cực quyền
(!).
Cả lập luận trên cũng không đúng. Bởi vì như trên đã
nói, nguyên tắc tập trung dân chủ không phải chỉ nhằm tạo ra kỷ luật thống
nhất, mà còn nhằm phát huy mọi sáng kiến, sáng tạo, khai thác trí tuệ của đảng
viên, của cơ sở. Trong thời kỳ hoạt động bí mật, hoặc trong điều kiện lãnh đạo
chiến tranh, một mặt tổ chức đảng phải rất chặt chẽ, đảng viên và cán bộ phải
có kỷ luật nghiêm minh; nhưng mặt khác cũng rất cần phát huy dân chủ. Điều kiện
hoạt động bí mật, hoàn cảnh chiến tranh đòi hỏi các cán bộ, đảng viên trên mỗi
cương vị công tác, trong từng nhiệm vụ cụ thể của mình phải rất chủ động, sáng
tạo, linh hoạt, chứ không thể chỉ thụ động ngồi chờ lệnh cấp trên. Thực tế cuộc
đấu tranh lâu dài gian khổ của Đảng ta, nhân dân ta, cuộc chiến tranh nhân dân
thần thánh của Việt Nam đã có biết bao ví dụ cụ thể sinh động về sự sáng tạo,
tinh thần chủ động, linh hoạt, khôn khéo của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta.
Và chính đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm nên sức mạnh to lớn
của Đảng ta và chiến thắng kỳ diệu của dân tộc ta.
Còn trong điều kiện hoà bình xây dựng ngày nay, chúng
ta chẳng những phải phát huy mạnh mẽ dân chủ, mở rộng dân chủ (vì dân chủ là
bản chất, là nội dung, là động lực của xã hội mới), mà còn phải giữ gìn kỷ luật
thống nhất, tính tập trung cao. Không thể quan niệm một tổ chức chiến đấu và
lãnh đạo như Đảng Cộng sản mà lại chỉ chặt chẽ về tổ chức trong hoàn cảnh này,
còn trong hoàn cảnh khác thì lỏng lẻo cũng được. Thực tế vừa qua có những đảng
tuy có lịch sử mấy chục năm đấu tranh anh dũng, kiên cường, nhưng do trong chốc
lát buông lỏng kỷ luật, tính tập trung, nhấn mạnh một chiều vấn đề dân chủ, để
cho các phần tử cơ hội, cực đoan tự do hoạt động, đã dẫn đến vô tổ chức, vô
chính phủ, nội bộ bị chia rẽ, tổ chức rối loạn, thậm chí tan rã thành từng
mảng.
Vả chăng, trong điều kiện hoà bình quá độ lên chủ
nghĩa xã hội chưa phải đã hết những yếu tố tự phát, những khuynh hướng tự do vô
chính phủ, những âm mưu và thủ đoạn chia rẽ, phá hoại ở cả trong nước và từ
nước ngoài. Nhất là ở một nước sản xuất nhỏ còn phổ biến, lại bị bao vây về
nhiều mặt như ở nước ta, có biết bao nhiêu những yếu tố tự phát, phức tạp, mà
chúng ta không thể buông lỏng kỷ luật, kỷ cương. Thực tế gần đây cho thấy, nếu
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với sự đa dạng hoá về sở hữu,
chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh, sử dụng cả thành phần cá thể và tư
nhân tư bản, mà không làm tốt công tác quản lý vĩ mô, vừa hợp tác vừa đấu
tranh, buông lỏng kế hoạch, pháp luật, không kiểm tra, không điều tiết, thì
nhất định không tránh khỏi những hiện tượng phân tán, cục bộ, vô tổ chức, thậm
chí hỗn loạn. Chúng ta giải thích thế nào về những hiện tượng tiêu cực xảy ra
như tình trạng đổ bể trong ngành tín dụng, ngân hàng, tranh chấp đất đai, nhập
hàng lậu vô tội vạ, xuất khẩu gạo tràn lan, giá cả thất thường..., nhiều khi
nhà nước không kiểm soát được? Chẳng lẽ đó không phải là hậu quả của việc dân
chủ không đi liền với kỷ luật và pháp luật, buông lỏng kiểm tra, quản lý vĩ
mô?.
Rõ ràng, trong tình hình hiện nay, chúng ta vừa phải
mở rộng dân chủ, vừa phải giữ gìn kỷ luật, kỷ cương; kết hợp chặt chẽ hai mặt
tập trung và dân chủ, thực hiện thật tốt nguyên tắc tập trung dân chủ.
Thực ra, những "lý lẽ" mà các nhà tư tưởng
chống cộng và các phần tử cơ hội, cực đoan nêu ra chẳng có gì mới. Đó chỉ là sự
nhắc lại, nhai lại những điều cũ rích mà các phần tử chống cộng, cơ hội lặp đi
lặp lại hàng mấy chục năm nay rồi. Có "mới" chăng chỉ là ở chỗ ngày
nay người ta giả trá, ngụy biện một cách thâm hiểm và táo tợn hơn; người ta núp
dưới chiêu bài đổi mới, nhân danh đổi mới, hoặc khai thác và lợi dụng triệt để
những sai lầm của các đảng cộng sản để phản kích một cách quyết liệt hơn.
Tất cả những điều đã nói trên đây cho phép rút ra kết
luận: Nguyên tắc tập trung dân chủ đến nay chưa lỗi thời; chúng ta không thể và
không nên từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ.
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh mới ngày nay, chúng ta phải
hiểu và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ một cách đúng đắn, theo tinh
thần mới của thời đại, không máy móc, giáo điều, càng không được đi theo vết xe
đổ của thời kỳ trước đây.
Hiểu đúng bản chất, nội dung của nguyên tắc tập trung
dân chủ đã khó. Nhưng khó hơn và điều quyết định là phải có cơ chế đúng, có
những quy định cụ thể, và phải có tinh thần đấu tranh kiên quyết để thực hiện
nguyên tắc đó đạt hiệu quả cao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét