Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong công tác thanh niên

 

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong công tác thanh niên

BÙI QUANG HUY
Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
23:15, ngày 25-03-2024

TCCS - Đảng ta xác định, thanh niên Việt Nam là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, là chủ nhân tương lai của đất nước. Việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, thực hiện có hiệu quả các giải pháp trên các lĩnh vực là cơ sở quan trọng để thanh niên Việt Nam - nòng cốt là các tổ chức đoàn, hội - phát huy mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa vai trò của mình trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

Quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác thanh niên và tổ chức đoàn

Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo công tác thanh niên và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác thanh niên và coi đó là nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhằm vận động, tập hợp, đoàn kết thanh niên và chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, phát huy thanh niên. Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 25-7-2008, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã đánh giá cao vai trò của thanh niên và xác định rõ nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, phát huy thanh niên: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước”(1).

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà và Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Bùi Quang Huy trao giải thưởng Lý Tự Trọng 2024 cho cán bộ đoàn tiêu biểu_Ảnh: TTXVN

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định mục tiêu, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, Đại hội cũng đặt ra mục tiêu đối với thế hệ trẻ: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội; xây dựng môi trường, điều kiện học tập, lao động, giải trí, rèn luyện để phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ. Tạo động lực cho thanh niên xung kích trong học tập, lao động sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp; làm chủ các kiến thức khoa học, công nghệ hiện đại, phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, phát triển toàn diện và bảo đảm quyền của trẻ em; dành những điều kiện tốt nhất, sự chăm lo chu đáo nhất cho trẻ em - tương lai của đất nước”(2).

Công tác thanh niên là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong đó, Đảng là hạt nhân lãnh đạo, chỉ đạo, chính quyền có vai trò, trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp giáo dục, bồi dưỡng, phát huy thanh niên. Nghị quyết số 25-NQ/TW chỉ rõ, xây dựng Đoàn vững mạnh là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước. Đảng đề ra đường lối, chủ trương định hướng cho thanh niên hành động; xác định các chuẩn mực cho thanh niên phấn đấu; xây dựng các tấm gương điển hình tiêu biểu cho thanh niên học tập và noi theo.

Giải pháp nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác thanh niên

Để nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên đi vào cuộc sống, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến và truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và người dân về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác thanh niên, tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, các cấp ủy, lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm quyền tiếp cận của đoàn viên, thanh niên với chính sách và luật pháp (như: được biết chính sách và luật pháp sắp được ban hành; đối thoại và tham vấn thanh niên; huy động thanh niên tham gia vận động chính sách và phản biện chính sách; tuyên truyền, phổ biến cho đoàn viên, thanh niên hiểu về chính sách và luật pháp); triển khai thực hiện chính sách và luật pháp.

Các cấp ủy coi trọng nhiệm vụ chăm lo xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là tổ chức của thanh niên, vì thanh niên. Mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên trong nước và ngoài nước bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Chú trọng nâng cao chất lượng đoàn viên, chất lượng cán bộ đoàn, nhất là chất lượng về chính trị, tư tưởng và tính tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm nêu gương của cán bộ và đoàn viên. Đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của Đoàn, nhất là ở cơ sở, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đồng hành với thanh niên và cảm thông, chia sẻ với thanh niên, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của thanh niên, chăm lo đáp ứng những lợi ích hợp pháp và nhu cầu chính đáng của thanh niên, kịp thời định hướng, hỗ trợ, giúp đỡ thanh niên. Xây dựng Đoàn vững mạnh làm nòng cốt chính trị trong các hội của thanh niên. Thực hiện tốt nhiệm vụ phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và quan tâm chăm sóc, hướng dẫn, giáo dục thiếu niên, nhi đồng.

Thứ hai, đổi mới nội dung và phương thức giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với tâm lý, trình độ nhận thức của thanh niên; tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, truyền thống văn hóa, lịch sử của Đảng và dân tộc cho thanh niên; tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

- Tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về chính trị tư tưởng, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt chủ trương, đường lối và các nghị quyết của Đảng, của Đoàn; tăng cường các hình thức tạo diễn đàn trao đổi, đối thoại có tính tương tác với đoàn viên, thanh niên; thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng dư luận trong thanh niên thông qua mạng lưới thăm dò dư luận xã hội do Đoàn tổ chức; đổi mới nội dung và phương thức học tập các bài học lý luận chính trị trong đoàn viên, thanh niên; chủ động, tích cực đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch nhằm vào thanh, thiếu niên.

Đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị trao đổi với thanh niên tại Chương trình "Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh gặp mặt, đối thoại với thanh niên năm 2024"_Ảnh: TTXVN

- Chú trọng tuyên truyền, giáo dục về truyền thống yêu nước, đoàn kết, cần cù, sáng tạo và khát vọng vươn lên trong mọi hoàn cảnh, bồi dưỡng, xây dựng lớp thanh niên có bản lĩnh, tự tin đảm nhận vai trò chủ nhân tương lai của đất nước. Giáo dục truyền thống vẻ vang của Đảng, của Đoàn, ý thức giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, truyền thống của quê hương, gia đình, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; đấu tranh với các biểu hiện, hành vi đi ngược lại với chuẩn mực giá trị xã hội, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

- Triển khai sâu, rộng các nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng cống hiến vì Tổ quốc; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội, gắn với các phong trào hành động cách mạng của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Nghiên cứu chỉnh sửa, bổ sung nội dung Chương trình “Rèn luyện đoàn viên”, Chương trình “Rèn luyện đội viên”, các cuộc vận động trong các nhóm đối tượng thanh niên phù hợp với tình hình mới và khả năng tổ chức thực hiện.

- Tiếp tục đổi mới và triển khai sâu rộng các mô hình giáo dục giá trị sống, kỹ năng xã hội. Tăng cường định hướng giá trị thông qua các loại hình văn hóa, văn học - nghệ thuật. Định hướng cho thanh niên phát triển loại hình văn hóa hiện đại mang tính khoa học và nhân văn, tham gia bảo tồn và phát triển các lễ hội văn hóa.

- Đẩy mạnh tổ chức các hoạt động giáo dục, hỗ trợ nhằm giảm số lượng đối tượng thanh, thiếu niên chậm tiến, tạo điều kiện để những thanh, thiếu niên lầm lỡ tái hòa nhập cộng đồng và không tái vi phạm pháp luật.

- Tăng cường giáo dục thanh niên thông qua những tấm gương điển hình tiên tiến, cá nhân có thành tích vượt trội. Cán bộ, đảng viên phải làm gương về đạo đức, học tập, lao động. Thường xuyên chú trọng xây dựng, phát hiện, nhân rộng những mẫu hình cá nhân tiêu biểu, vượt trội ở các nhóm đối tượng thanh niên. Lấy “xây” để “chống”, làm cho các giá trị tốt đẹp có sức lan tỏa trong cộng đồng thanh niên.

- Đoàn Thanh niên chủ động phối hợp với nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh, thiếu nhi; làm cho thế hệ trẻ hôm nay biết yêu cuộc sống, giàu lòng nhân ái, kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn của dân tộc, ứng xử văn minh, thanh lịch, nghĩa tình; chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; dám bày tỏ chính kiến, đấu tranh với cái xấu. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, từng bước bài trừ các tệ nạn xã hội.

Thứ ba, đổi mới phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách và luật pháp cho thanh niên bằng những hình thức mới bảo đảm sự tham gia của đoàn viên, thanh niên ngay từ khâu xây dựng, vận động, phản biện, tuyên truyền, phổ biến, chủ động thực hiện, kiểm tra và giám sát. Các cấp ủy, lãnh đạo chính quyền định kỳ tổ chức đối thoại với thanh niên về chính sách và lãnh đạo các đoàn thể nhân dân, nhất là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện những hình thức mới, như đối thoại, diễn đàn, tham vấn và tư vấn thanh niên trong xây dựng và thực hiện chính sách.

Thứ tư, phát huy ưu thế của các phương tiện truyền thông hiện đại, đa phương tiện, hệ thống báo chí, xuất bản của Đoàn và báo chí chính thống của Đảng, Nhà nước trong công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến chính sách và luật pháp cho thanh niên bằng hình thức diễn đàn, đối thoại, các gameshow, trao đổi của thanh niên về thực hiện chính sách và luật pháp; sử dụng có hiệu quả các hình thức, công cụ tuyên truyền, giáo dục mới, như internet, các phương tiện truyền thông xã hội... Các cấp bộ đoàn tiếp tục phát huy ứng dụng internet, các phương tiện truyền thông xã hội để chuyển tải thông tin qua cổng thông tin điện tử của Đoàn, hệ thống website của các tỉnh đoàn, huyện đoàn, các đơn vị đoàn trực thuộc, thư điện tử cho đội ngũ cán bộ, đoàn viên, thanh niên...; xây dựng các diễn đàn trên mạng để trở thành kênh thông tin phục vụ cho việc trao đổi, chia sẻ của thanh niên về thực hiện chính sách. Đặc biệt, cần chỉ đạo việc thực hiện văn hóa ứng xử trên không gian mạng của người dân, nhất là đối với thanh niên.

Thứ năm, khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội trong công tác vận động, tuyên truyền, giáo dục thanh, thiếu nhi. Nâng cao hiệu quả các chương trình phối hợp; lồng ghép các hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh với các đoàn thể nhân dân và các chủ thể xã hội khác, nhằm giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên. Lựa chọn, phân công cán bộ giỏi lý luận, kỹ năng, nghiệp vụ, nắm chắc thực tiễn làm công tác vận động, tuyên truyền, giáo dục thanh niên; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, duy trì và phát triển đội ngũ cộng tác viên trong công tác tuyên truyền, giáo dục của Đoàn.

Thứ sáu, có các giải pháp hỗ trợ, khuyến khích cán bộ, đoàn viên tự tìm hiểu, tự học chính sách và luật pháp. Coi cán bộ, đoàn viên là tuyên truyền viên làm nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến chính sách và luật pháp cho thanh niên và người dân.

Giải pháp về cơ chế phối hợp đồng bộ, liên ngành trong công tác thanh niên

Sự phối hợp liên ngành trong việc chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thanh niên là cơ chế có tính ưu việt nhằm tạo ra sự thống nhất về nội dung, phương thức và tạo ra nguồn lực cần thiết để thực hiện chính sách phát triển thanh niên. Cơ chế phối hợp liên ngành trong thực hiện nghị quyết của Đảng  về công tác thanh niên được thực hiện như sau: Một là, các cơ quan quản lý nhà nước về thanh niên, các ngành giáo dục, lao động, y tế, văn hóa, quân đội, công an… phối hợp và lồng ghép hoạt động với nhau dưới sự điều phối của Ủy ban quốc gia về thanh niên Việt Nam và Bộ Nội vụ (cơ quan được giao quản lý thanh niên); Hai là, các cơ quan quản lý nhà nước về thanh niên và quản lý lĩnh vực có liên quan đến phát triển thanh niên phối hợp và lồng ghép các hoạt động với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, nhất là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức của thanh niên để làm công tác định hướng, giáo dục chuẩn mực giá trị, đạo đức, lối sống cho thanh niên; Ba là, sự phối hợp và lồng ghép hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các đoàn thể nhân dân với nhà trường và cộng đồng dân cư trong thực hiện công tác định hướng, giáo dục chuẩn mực giá trị, đạo đức, lối sống cho thanh niên; Bốn là, sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong định hướng, giáo dục chuẩn mực giá trị, đạo đức, lối sống cho thanh niên; Năm là, sự phối hợp giữa đoàn thể nhân dân và nhà trường với các đơn vị của lực lượng vũ trang, các đơn vị cung ứng dịch vụ xã hội và các doanh nghiệp trong định hướng, giáo dục chuẩn mực giá trị, đạo đức, lối sống cho thanh niên.

Thanh niên huyện Đông Anh, Hà Nội chia tay người thân lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự_Ảnh: TTXVN

Trong thực tế, sự phối hợp liên ngành trong thực hiện nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên là cơ chế có tính ưu việt nhằm tạo ra sự thống nhất về nội dung, phương thức và tạo ra nguồn lực cần thiết để thực hiện. Trong thời gian tới, cần tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước về thanh niên cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thiết thực với các chủ thể xã hội để xây dựng và thực hiện chính sách phát triển thanh niên.

Thứ hai, các cấp chính quyền, trong phạm vi quyền hạn của mình bố trí đủ nguồn lực cho các chủ thể xã hội tham gia thực hiện nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên.

Thứ ba, các cấp ủy cần giao cho Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm đầu mối trong việc xã hội hóa, nhằm huy động sức mạnh tổng thể trong thực hiện chính sách phát triển thanh niên.

Thứ tư, các chủ thể xã hội sử dụng các hình thức phối hợp sau: Tổ chức ký nghị quyết, chương trình hoặc kế hoạch liên tịch; tổ chức các hội nghị, hội thảo; tổ chức các diễn đàn thanh niên; phối hợp kiểm tra, đánh giá liên ngành việc thực hiện chính sách; nghiên cứu tác động của chính sách đối với phát triển thanh niên.

Thứ năm, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh các cấp cần chủ động phối hợp và lồng ghép các hoạt động với chính quyền, gia đình, nhà trường, các doanh nghiệp, đơn vị cung ứng dịch vụ xã hội và hợp tác xã, các đơn vị của lực lượng vũ trang, các tôn giáo, cộng đồng dân cư trong thực hiện chính sách phát triển thanh niên; lồng ghép các hoạt động với các chủ thể xã hội khác trong xây dựng và thực hiện nghị quyết của Đảng; lồng ghép các hoạt động xây dựng tổ chức, phát động phong trào với hoạt động thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW đối với công tác thanh niên.

Thứ sáu, các cấp bộ đoàn tiếp tục đẩy mạnh chương trình phối hợp hoạt động với Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp, các ban, ngành, các đoàn thể, tổ chức kinh tế - xã hội ở Trung ương và địa phương, để tạo nên sức mạnh tổng hợp và huy động nguồn lực cho công tác thanh niên./.

--------------------

Nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh và những chỉ dẫn đối với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay

PGS, TS NGUYỄN XUÂN TRUNG - NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
Trưởng Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị khu vực I - Học viện Chính trị khu vực I
07:19, ngày 24-05-2024

TCCS - Nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm niệm và gương mẫu thực hành trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng. Tư tưởng này của Người đã trở thành những chỉ dẫn vô cùng sâu sắc đối với công tác giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Trong bối cảnh hiện nay, trước yêu cầu của quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển thì nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với đồng bào dân tộc xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum_Ảnh: TTXVN

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên đều phải có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc và “Phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”(1). Bởi theo Người, thấm nhuần đạo đức cách mạng là phải biết đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình; vì Đảng, vì nhân dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Trong thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân. Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó”(2). Người chỉ có một tâm nguyện “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(3); cho đến khi phải từ biệt thế giới này, Người chỉ “tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”(4) cho quốc dân, đồng bào. Tựu trung, tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân được thể hiện trên một số điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu phục vụ nhân dân trong xây dựng Đảng và bộ máy chính quyền.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước phải lấy nhân dân làm gốc; bởi vì, “Gốc có vững cây mới bền,/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(5). “Lấy dân làm gốc” có nghĩa là phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân. Tất cả cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị phải xác định mình là “công bộc” của nhân dân, trong mọi hoạt động phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Bởi vậy, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân đòi hỏi phát huy cao độ việc thực hành dân chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, coi dân chủ là nhân tố động lực của sự phát triển; thực hành dân chủ là “chìa khóa” vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. 

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(6). Chính bởi vậy, khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, trách nhiệm của Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên là phục vụ nhân dân, vì nhân dân, chứ không phải trở thành những vị “quan cách mạng”, để “vinh thân phì gia”. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, do yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, công việc, trách nhiệm của Đảng có khác nhau; tuy nhiên, trong mọi hoạt động, Đảng luôn phải đặt lợi ích của nhân dân, dân tộc lên trên hết, trước hết. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ rằng, việc nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân là mục đích và bản chất của Đảng. Đảng cầm quyền là để bảo đảm cho nhân dân làm chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân; đồng thời, để chă­m lo cho cuộc sống của nhân dân, trước hết phải xây dựng Nhà nước thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính phủ phải là “công bộc” của nhân dân; mọi công việc của Chính phủ đều phải hướng đến mục tiêu là đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Bởi theo Người, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(7). Tinh thần phục vụ nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh quán triệt rõ trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(8). Vì vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở, đều phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân; phải lãnh đạo, tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân chính là thước đo xác thực nhất trong đánh giá mức độ hiệu quả, khả năng hiện thực hóa chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước.

Thứ hai, để nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng.

Từ thực tiễn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ta quan tâm đời sống quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta. Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác”(9). Niềm tin của nhân dân đối với Ðảng là tài sản quý báu nhất của Ðảng; vì vậy, muốn được dân tin, dân phục, muốn được lòng dân, trước hết mỗi người cán bộ, đảng viên phải yêu dân, kính dân, phải đặt quyền lợi của nhân dân lên trên, lên trước quyền lợi cá nhân; phải tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng, suốt đời phục vụ nhân dân. Đây là vừa là trách nhiệm, vừa là nhiệm vụ cao quý nhất của người cán bộ, đảng viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng chăm lo giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, chống chủ nghĩa cá nhân. Người nhấn mạnh: “Những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng”(10), vì quần chúng nhân dân chỉ quý trọng những người cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức cách mạng, có tinh thần trách nhiệm đối với công việc, đối với đời sống của người dân, làm gương tốt cho nhân dân noi theo. Cho nên, Người căn dặn: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến... Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính”(11). Cán bộ, đảng viên phải quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí; gương mẫu trong thi đua học tập, chiến đấu, tăng gia sản xuất; thật thà tự phê bình và phê bình để luôn luôn tiến bộ. Từ đó, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ tự giác tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng phục vụ nhân dân với tinh thần “kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân” như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để có thể chăm lo tốt hơn đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, góp phần thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững.   

Thứ ba, tinh thần phục vụ nhân dân được biểu hiện trong ý thức trách nhiệm đối với công việc, nhiệm vụ được giao của người cán bộ, đảng viên.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm(12). Theo Người, tinh thần trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên là nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ; là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, thì người cán bộ, đảng viên đều phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, cố gắng làm cho thành công. Vì thế, Người căn dặn cán bộ, đảng viên: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.  Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(13). Mỗi người khi phấn đấu và trở thành cán bộ, đảng viên đều phải tự mình nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, đối với dân tộc và nhân dân. Tinh thần và trách nhiệm phục vụ nhân dân không phải chỉ thể hiện bằng lời nói, mà cần thông qua hành động cụ thể, bằng hiệu quả thực hiện công việc được giao.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức được rằng, mình là “công bộc”, là người “đày tớ” của nhân dân, chứ không phải làm “quan cách mạng”.  Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải thật sự gần dân, hiểu dân, phải thật sự trăn trở về lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phải thật sự vì nhân dân phục vụ. Do vậy, trong công tác, người cán bộ, đảng viên phải nắm vững và nghiêm túc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phải căn cứ vào tình hình thực tế mà xây dựng kế hoạch rõ ràng, thiết thực; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh, trí tuệ và lực lượng to lớn của nhân dân, tiếp thu sáng kiến của nhân dân để đột phá, sáng tạo khi thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới.

Cán bộ công an nhân dân hướng dẫn người dân thao tác xin cấp phiếu lý lịch tư pháp trên ứng dụng VNeID_Ảnh: TTXVN

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân vào việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên hiện nay

Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân vào quá trình xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ được quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, sau gần 40 năm đổi mới toàn diện đất nước, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, “một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(14). Một số cán bộ, đảng viên có tư tưởng “vinh thân phì gia”, thay vì làm tròn chức trách, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” lại chỉ lo vun vén cá nhân, làm giàu cho bản thân và gia đình mình, dẫn tới hậu quả là bệnh xa dân. Tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn xảy ra ở một số nơi. Những hạn chế, khuyết điểm trên đã ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Hiện nay, trước yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín trong tình hình mới, một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu là nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh; cụ thể là:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục việc rèn luyện, thực hành đạo đức cách mạng phục vụ nhân dân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Công tác tuyên truyền, giáo dục phải làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc nội dung và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân; “thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách”(15). Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần cụ thể hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng phục vụ nhân dân, đề ra phương hướng, mục tiêu, nội dung và giải pháp để tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm tình hình của từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Công tác tuyên truyền phải chính xác, đầy đủ; kịp thời đấu tranh, phản bác thông tin xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; qua đó, giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện và giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải không ngừng đổi mới nội dung giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đối với chương trình đào tạo, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, bên cạnh phần kiến thức lý luận cơ bản, cần chú trọng nội dung tuyên truyền, giáo dục về những tấm gương người tốt, việc tốt, những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, của Đảng gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, bảo đảm gắn lý luận với thực tiễn, rèn luyện kỹ năng cho người học để phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn trong thực tiễn công tác.

Thứ hai, nêu cao tinh thần tự giác của cán bộ, đảng viên trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời phục vụ nhân dân. Thực hiện hiệu quả việc tự tu dưỡng, rèn luyện, lấy đó làm cơ sở, nền tảng để xây dựng và phát huy phẩm chất, đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Do vậy, dù ở vị trí công tác nào, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện để giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng. Hiện nay, để thực hiện tốt phẩm chất đạo đức này, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời, thực hiện hiệu quả các nguyên tắc trong tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Trước tiên, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải luôn “nói đi đôi với làm”, thực hiện trách nhiệm nêu gương ở mọi nơi, mọi việc, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên; chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm, gắn với chức trách, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên. Tính tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng phục vụ nhân dân yêu cầu người cán bộ, đảng viên gương mẫu toàn diện về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, trong lời nói và hành động cụ thể, trên mọi lĩnh vực, trong mọi hoàn cảnh nhằm hướng tới mục tiêu hoàn thành tốt nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Thứ ba, thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu trong công tác cán bộ. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi cán bộ và công tác cán bộ là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu trong công tác cán bộ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học và hiệu quả. Ngay từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Đảng đã ban hành và thực hiện nhiều quy định, kết luận về công tác cán bộ(16). Đây là những định hướng chỉ đạo rất quan trọng của Đảng, góp phần tạo nên sự đồng bộ, kết nối chặt chẽ giữa các khâu trong công tác cán bộ. Việc tổ chức thực hiện một cách đồng bộ, chặt chẽ các văn bản chỉ đạo của Đảng sẽ là cơ sở quan trọng, góp phần xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, trong đó có việc rèn luyện, thực hành phẩm chất đạo đức suốt đời phục vụ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có tinh thần trách nhiệm với công việc, thật sự là “công bộc” của nhân dân. Nhìn lại lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, biết bao tấm gương cán bộ, đảng viên đã quên mình vì nước, vì dân. Đó thật sự là những con người từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu quan trọng là cần tiếp tục tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có tinh thần trách nhiệm, thật sự là “công bộc” của nhân dân. Tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên là luôn nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình, sẵn sàng phấn đấu, hy sinh cho lý tưởng cách mạng, vì cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên phải dựa trên tiêu chí phục vụ nhân dân, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Trong thực hiện nhiệm vụ được giao, cán bộ, đảng viên cần quán triệt nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm đúng quy trình, thủ tục; đồng thời, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Khi triển khai thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, đảng viên cần nhanh chóng xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, tránh để chậm trễ gây tồn đọng, ách tắc; đồng thời, cần tiếp thu ý kiến đóng góp, phê bình của người dân với tinh thần “tự soi”, “tự sửa”, để không ngừng nâng cao đạo đức công vụ, gần dân, sát dân, hiểu và phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn. Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp phải kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, cửa quyền, mệnh lệnh hành chính, xa rời quần chúng; nâng cao tinh thần trách nhiệm, chống biểu hiện thờ ơ, vô cảm khi tiếp xúc, giải quyết công việc và trước khó khăn, vướng mắc của nhân dân. Bên cạnh đó, yêu cầu cấp thiết hiện nay là có cơ chế để “khơi dậy tinh thần cống hiến vì đất nước, tạo động lực và áp lực để mọi cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, tận tụy phục vụ nhân dân; có cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”(17).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Tư tưởng đó của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên còn là hành động thiết thực để tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - một yêu cầu khách quan của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

--------------------------

Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc tên tuổi Hồ Chí Minh

         Những đối tượng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rất rõ về sự ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, văn hóa tinh thần của đất nước.

Họ cho rằng sở dĩ chế độ cộng sản ở Việt Nam còn tồn tại là nhờ núp vào cái bóng thần tượng Hồ Chí Minh, nên phải xóa bỏ bằng được thần tượng ấy. Vì vậy, bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những lý lẽ khoa học, căn cứ thực tiễn là việc làm rất cần thiết hiện nay.

1. Một trong những thủ đoạn nham hiểm ấy là thời gian gần đây, một số đối tượng xuyên tạc rất trắng trợn: “Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc”. Nghệ thuật viết tuồng truyền thống thường dựa vào tích cũ để soạn những bổn mới, mang chủ đề, ý nghĩa mới. Cách này đang được một số đối tượng sử dụng, nhưng là lấy tích cũ thật/giả để biến thành bổn mới giả, có cả “bổn cũ soạn lại”.

Theo lịch sử ghi lại, từ ngày 6-6-1931 đến ngày 22-1-1933, Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc) bị bắt giam ở Hồng Công và được luật sư Francis Henry Loseby bào chữa trắng án. Thực dân Pháp rất muốn được phía Anh trục xuất về Đông Dương để bắt Nguyễn Ái Quốc thực thi án tử hình. Có thể là cố ý đánh lạc hướng mật thám Pháp mà Quốc tế Cộng sản cho loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong nhà tù Hồng Công, đăng trên cả báo nước ngoài (The Daily Worker (Anh) ngày 11-8-1932, L’Humanité (Pháp) ngày 9-8-1932) và cả báo trong nước (Đông Pháp thời báo ngày 3-7-1932, Đuốc Nhà Nam ngày 23-7-1932). Sau khi Nguyễn Ái Quốc được thả (ngày 28-12-1932), để đảm bảo an toàn cho thân chủ, chính luật sư Loseby cũng loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh phổi.

Sau đó vẫn lấy những tin tức này, không cần quan tâm mục đích, lý do của nguồn tin, tác giả Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan) viết “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (in năm 2008 tại Đài Loan) “khẳng định” Hồ Chí Minh có tên thật là Hồ Tập Chương, không phải Nguyễn Ái Quốc, vì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ tháng 8-1932. Đầu năm 2013, sách được Thái Tuấn dịch ra tiếng Việt có tên “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” cho đăng trên trang điện tử “Đối thoại”. 

Lợi dụng vấn đề đó, thời gian qua, trên nhiều trang mạng phản động lại đăng nhiều bài "dựa hơi" vào những sự kiện trên (chủ yếu từ sách của Hồ Tuấn Hùng), bịa đặt trắng trợn thêm nhiều chi tiết để xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, mà do “một người khác thế vào”! 

Lập luận của các bài viết trên, một mặt dựa vào “lý lẽ” của Hồ Tuấn Hùng, mặt khác, vẫn theo kiểu mượn tích cũ để “soạn bổn giả mới”. Ví như lấy sự kiện có thật Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh Hồ Quang (từ ngày 1-1-1938) mang quân hàm thiếu tá, công tác tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, không hề chứng minh, phân tích nhưng nhiều tác giả đã “khẳng định” lấy được: “Hồ Quang chính là Hồ Tập Chương” từ đây (tức năm 1938) bắt đầu “sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam”.

Về điểm này, xin dẫn sự giải thích của chính Bác Hồ, nhân một đồng chí Trung Quốc hỏi: “Tại sao đồng chí lại lấy tên Hồ Quang?”. Bác trả lời hóm hỉnh: “Tôi có râu, lại trọc đầu nên gọi là Hồ Quang” (vì đọc theo tiếng Bắc Kinh, hồ có nghĩa là râu, quang có nghĩa là trọc). Đây là cách chơi chữ quen thuộc của Bác lý giải cách đặt tên theo đặc điểm bản thân gắn liền với ngôn ngữ, địa danh nơi sinh sống.

Để có thêm cơ sở lịch sử và khoa học khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Hồ Chí Minh, xin nhắc lại những sự kiện lịch sử liên quan. Ngày 1-6-1946, trên chuyến bay sang Pháp, tướng Raoul Salan tháp tùng Hồ Chủ tịch hỏi có ý tò mò về đời tư (vốn là điều tối kỵ trong ngoại giao): “Trong bản Hiệp định ngày 6-3, ngài ký tên Hồ Chí Minh. Nhưng tên chính của ngài có phải là Nguyễn Ái Quốc không?”. Bác Hồ đáp: “Cũng trong bản hiệp định đó, vị đại diện của Chính phủ ngài ký tên là Sainteny, nhưng tên thật của ông ta chẳng phải là Jean Roger đó sao?”. Một câu đáp thật tuyệt vời của một trí tuệ nhạy bén, gần như khẳng định nhưng lại nói vòng sang chuyện tương tự để “chặn họng”, hàm ý nhắc nhở, đẩy đối phương vào thế bối rối, bị động: Ngay đại diện chính phủ của ngài cũng vậy đó thôi!

2. Về tập thơ “Nhật ký trong tù”, nhiều đối tượng cho rằng chữ viết ấy, nội dung ấy, thi pháp ấy thì “không thể một người Việt Nam nào, dù tài năng đến mấy” thể hiện được; thế nên Nguyễn Ái Quốc nếu còn sống cũng không thể là tác giả. Vả lại những năm ở Pháp, ở Nga, ở Hồng Công trước đó, sao Nguyễn Ái Quốc không có bài thơ chữ Hán nào?

Điều đáng phê phán các "tác giả" đưa ra cái gọi là “lý lẽ” nêu trên lại không hiểu rằng, Nguyễn Sinh Cung từ nhỏ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, học giỏi chữ Hán, là trò của các bậc đại Nho (Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý). Trong khi đó, từ những năm 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rất quan tâm và viết nhiều bài về tình hình Trung Quốc in trên báo L’Humanité, La Vie Ouvrière. Cũng trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc kiếm sống bằng viết báo (tiếng Trung, Pháp, Anh) và có mối quan hệ mật thiết với một số yếu nhân, trong đó có bà Tống Khánh Linh.

Vì vậy, các nhà nghiên cứu chân chính khẳng định, với tâm hồn ấy, tài năng ấy, trong hoàn cảnh tù đày, thơ đến một cách tự nhiên với Nguyễn Ái Quốc. Các bài thơ trong tập thơ này là kết tinh các luồng tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ, là tiếng nói của tâm hồn vĩ đại, trí tuệ siêu việt, khí phách lớn. Đó cũng là lý do để nhiều nhà nghiên cứu văn học quốc tế đã khẳng định tập thơ “Nhật ký trong tù” là tài sản văn hóa nhân loại và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ trên thế giới.

3. Trong chuyên luận “Tiếng cười trào phúng Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật xuất bản năm 2010, tác giả cuốn sách chứng minh Hồ Chí Minh là người “Việt Nam nhất”. Chỉ xét ở mục đích trào phúng, trong các tác phẩm, có 232 lần Bác Hồ sử dụng các dẫn ngữ. Thành ngữ, tục ngữ là sự kết tinh lời ăn tiếng nói có mạch nguồn từ đời sống tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Không phải là người Việt Nam làm sao dùng được nhiều dẫn ngữ, chưa nói tới cách dùng của Bác rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, sắc thái và rất mực tinh tế.

Với tư cách là người nghiên cứu, chúng tôi xin khẳng định, từ thời thanh niên đến khi về với thế giới người hiền, ở Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có sự nhất quán về mục đích: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, rộng hơn là vì hạnh phúc nhân loại nói chung. Mọi suy nghĩ, việc làm, hành động, dù nói hay viết của Người tất cả đều vì mục đích cao cả ấy.

Cũng xin được nhắc lại 3 cuộc hội thảo khoa học quốc tế gần đây nhất về Hồ Chí Minh. Ngày 18-4-2023, tại thủ đô Roma (Italy) diễn ra hội thảo với chủ đề “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italy”. Trước đó, ngày 14-5-2022, tại Ấn Độ là Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” tổ chức ở Kolkata. Tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” tổ chức tại thành phố New York (Mỹ).

Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp 3 luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người được cả nhân loại đón nhận.

Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tự hào có Bác Hồ, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là lý tưởng, lẽ sống, niềm tin và cũng là hạnh phúc. Hạnh phúc được đón nhận ánh sáng thời đại vì đó là con người nhân văn nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất của dân tộc Việt Nam và là một trong những nhà văn hóa lừng danh của nhân loại. Đó cũng là minh chứng sinh động để bác bỏ hoàn toàn những ý đồ, thủ đoạn xuyên tạc thân thế, tên tuổi, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sưu tầm

Hãy tâm niệm bản thân sống tốt

 Đảng viên hãy tâm niệm bản thân sống tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm sao cho nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc, trong đó có ta cũng ấm no, tự do, hạnh phúc thì đất nước sẽ phát triển. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức có quyền cần đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, mọi quyền lợi đều thuộc về nhân dân.

Sự thật cái gọi là "Việt Nam vi phạm nhân quyền"

        Những năm qua, Việt Nam luôn nhất quán chính sách thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; coi con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Tuy nhiên, với động cơ thiếu trong sáng, vẫn có một số tổ chức quốc tế cố tình đưa ra những báo cáo phiến diện nhằm xuyên tạc tình hình, phủ nhận các thành tựu trong bảo vệ và thực thi quyền con người ở Việt Nam.

Đánh tráo khái niệm, xuyên tạc thực tế

Cuối tháng 4 vừa qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố Báo cáo nhân quyền năm 2023, trong đó tiếp tục đưa ra những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam khi cho rằng “Việt Nam vi phạm nhân quyền”, “chính quyền Việt Nam vẫn không có tiến bộ về nhân quyền”... Để minh chứng cho nhận định phiến diện đó, cũng giống những năm trước, báo cáo nhấn mạnh rằng Việt Nam đã bắt, giam giữ những người vì hoạt động chính trị hoặc nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội... Họ thống kê, tính đến ngày 31-10-2023, Việt Nam đã bắt giữ 25 cá nhân và kết án 23 người đang thực hiện các quyền con người được quốc tế công nhận như quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp ôn hòa và lập hội. Điều đáng nói là những “tù nhân chính trị”, “nhà hoạt động chính trị”, “nhà bảo vệ nhân quyền” được liệt kê trong báo cáo, như Bùi Tuấn Lâm, Ngụy Thị Khanh, Lê Anh Hùng, Phan Tất Thành, Châu Văn Khảm... đều là những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, phạm các tội danh theo quy định của Bộ luật Hình sự nên bị bắt giữ, điều tra; một số đối tượng đưa ra xét xử và tuyên phạt với những bản án hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Ở đây, khái niệm “tù nhân chính trị” đã bị đánh tráo nhằm đánh lừa dư luận, hòng bảo vệ cho những đối tượng lợi dụng dân chủ, mượn danh nhân quyền để vi phạm pháp luật, gây mất ổn định xã hội. Bởi lẽ, lâu nay, khái niệm “tù nhân chính trị” thường được dùng để chỉ những chiến sĩ cách mạng dũng cảm đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân nhưng phải chịu cảnh tù đày do bị thực dân, đế quốc bắt giam. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, nhiều tù nhân chính trị đã trở thành biểu tượng cho tinh thần anh dũng, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc. Do đó, những đối tượng được nêu tên trong báo cáo nhân quyền nêu trên hoàn toàn không xứng đáng và không thể là “tù nhân chính trị” theo đúng nghĩa. Thực tế ở Việt Nam hiện nay không có ai là “tù nhân chính trị” như mô tả của Báo cáo nhân quyền năm 2023. Vì thế, mục đích việc đánh tráo khái niệm chính là nhằm bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam; tôn vinh, cổ xúy cho những đối tượng lợi dụng dân chủ, nhân quyền để vi phạm pháp luật.

Bên cạnh đó, Báo cáo nhân quyền năm 2023 còn xuyên tạc thực tế khi đưa ra đánh giá “Việt Nam hạn chế nghiêm trọng tự do internet” với minh chứng là cơ quan chức năng xử lý các trang Facebook cá nhân của một vài đối tượng hoạt động chống phá Nhà nước trên mạng xã hội.

Song, điều nực cười là báo cáo trên đã phớt lờ sự thật, rằng internet ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Internet có mặt ở mọi nơi, từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, tính đến đầu năm 2023, nước ta có 77,93 triệu người dùng internet, chiếm 79,1% dân số; có 70 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương 71% dân số. Tổng số kết nối di động đang hoạt động là 161,6 triệu (164,0% tổng dân số). Nhờ đó, sau gần 30 năm kết nối internet, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới, đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Trung bình người Việt Nam dành gần 7 giờ/ngày để sử dụng internet. Tỷ lệ người dùng sử dụng internet hằng ngày lên tới 94%.

Rõ ràng, internet ở Việt Nam đã “bùng nổ” mạnh mẽ, hoàn toàn không có việc “Việt Nam hạn chế nghiêm trọng tự do internet” như nội dung nêu trong Báo cáo nhân quyền năm 2023. Không thể đồng nhất việc xử lý các đối tượng lợi dụng internet, lợi dụng mạng xã hội để tán phát những thông tin sai trái, chống phá Nhà nước, xâm hại lợi ích của tổ chức, cá nhân, với cái gọi là “hạn chế nghiêm trọng tự do internet”. Bởi việc xử lý các đối tượng dùng internet vi phạm pháp luật là biện pháp đã và đang được tất cả quốc gia áp dụng nhằm lành mạnh hóa môi trường internet, bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng xã hội.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, khi trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị bình luận về Báo cáo nhân quyền năm 2023 của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong đó có một số nội dung về Việt Nam vừa được công bố hôm 22-4 vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nêu rõ: “Báo cáo nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 22-4-2024 mặc dù đã phản ánh các thành tựu và bước tiến của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người, nhưng rất tiếc vẫn tiếp tục đưa ra một số nhận định không khách quan dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế ở Việt Nam”.

Không thể phủ nhận nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Thực tế, các quyền con người cơ bản đã được ghi nhận trong Hiến pháp của Việt Nam; được bảo vệ, bảo đảm bởi hệ thống văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai hiệu quả trên thực tiễn. Theo đó, nhiều năm gần đây, Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn nhằm bảo đảm quyền con người, nhất là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó Việt Nam là thành viên. Từ năm 2019 đến nay, Quốc hội nước ta đã thông qua 44 luật, trong đó nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Việt Nam cũng đã và đang rà soát để sửa đổi, bổ sung một số luật phù hợp với các cam kết quốc tế; đồng thời, rà soát, gia nhập các công ước quốc tế về quyền con người cũng như triển khai các điều ước một cách nghiêm túc. Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia 7/9 điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người, 25 công ước quốc tế về quyền lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO); đàm phán và chính thức tham gia Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (GCM).

Mặt khác, như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh: “Nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, phát huy tối đa yếu tố con người”. Đến nay, sau gần 40 năm đổi mới, Đảng, Nhà nước ta đã luôn luôn nhất quán chính sách “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền, quyền và nghĩa vụ của công dân”. Mọi quyết sách đều xuất phát từ con người; mọi thành quả phát triển đều hướng vào bảo đảm tốt nhất quyền con người. Chỉ tính từ năm 2019 đến nay, GDP bình quân ở Việt Nam đã tăng 25%, tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,5%/năm. Mạng lưới y tế dự phòng được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc, gắn chặt với y tế cơ sở, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đã tăng từ hơn 81% năm 2016 lên mức 93,35% vào năm 2023; 85% người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc và phục hồi chức năng...

Đặc biệt, năm 2023, kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng trên 5%, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống 3%. Hằng năm, Việt Nam dành trung bình khoảng 3% GDP cho bảo đảm an sinh xã hội. Chỉ trong vòng hơn một thập kỷ gần đây, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng gần 50%, thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ tăng cao nhất thế giới.

Những con số khái lược nêu trên đã chứng minh rõ quyết tâm và nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Những thành tựu không thể phủ nhận đó đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình cho sự ghi nhận ấy là việc ngày 11-10-2022, Việt Nam lần thứ hai trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 (lần đầu là nhiệm kỳ 2014-2016). Đây là sự công nhận vị thế của Việt Nam, thể hiện sự tín nhiệm, tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với vai trò và đóng góp của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người.

Đến đây, chúng ta hoàn toàn có thể thấy rõ cái gọi là “Việt Nam vi phạm nhân quyền”, “chính quyền Việt Nam vẫn không có tiến bộ về nhân quyền”... được đề cập trong Báo cáo nhân quyền năm 2023 của Bộ Ngoại giao Mỹ là những nhận định thiếu khách quan, không chính xác về vấn đề quyền con người ở Việt Nam.

Sưu tầm

Chuyện tưởng là nhỏ...

         Được về phép, đến nhà Thủy Tiên chơi, đúng dịp nhà bạn vừa mua bộ hát karaoke mới nên Trung úy Phi hòa cùng mọi người trong gia đình thử chất lượng âm thanh.

Sau khi nhờ Thủy Tiên chọn cho mình một bài hát, Phi say sưa thể hiện như đang đứng trên sân khấu thực thụ. Đợi Phi hát xong, ông Tiến là bố của Thủy Tiên lại gần, nói:

- Cháu có chất giọng tốt đấy! Bây giờ, hai bác cháu ra ngoài bàn đá uống nước, trò chuyện một lát nhé!

- Dạ vâng ạ!

Vừa rót xong chén trà mời ông Tiến, Phi giật mình bởi câu hỏi bất ngờ của người cựu chiến binh tuổi ngoài thất tuần:

- Cháu có biết bài cháu vừa hát của tác giả nào không?

- Dạ, cháu mới nghe và hát bài này vài lần nên chưa để ý tác giả ạ!

- Thế cháu có biết bài hát được sáng tác trong hoàn cảnh nào không?

- Dạ, cháu cũng... không biết ạ!

- Thế cháu có hiểu nội dung bài hát này không?

- Dạ, bài này nói về người lính! Cháu cũng là người lính nên thích ạ!

Nghe Phi nói vậy, ông Tiến cầm chén trà lên nhấp một ngụm. Sau khi trầm ngâm một lát, ông khẽ khàng:

- Đúng! Đây là bài hát về người lính! Và bác cũng biết cháu là sĩ quan Quân đội, chính vì thế nên bác mới mời cháu ra đây trò chuyện. Bài hát này thuộc thể loại nhạc vàng, do người của chế độ ngụy quyền Sài Gòn sáng tác. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bài hát này được phía bên kia sử dụng làm tác phẩm “tâm lý chiến” nhằm gây lung lạc lý tưởng, ý chí, giảm sức chiến đấu của bộ đội ta. Hồi đó, các bác đã phải rất vất vả để ứng phó với thủ đoạn này của địch...

- Ồ vậy ạ! Thế mà cháu không biết! Nhưng cháu nghĩ...

- Cháu nghĩ là bây giờ hòa bình, đất nước thống nhất, dân tộc hòa hợp rồi nên không cần phân biệt bài hát của “bên” này, “bên” kia nữa đúng không? Nghĩ như vậy là thiếu chín chắn, chưa sâu sắc cháu ạ! Sở dĩ Quân đội ta “bách chiến bách thắng” bởi chúng ta là những người lính làm nhiệm vụ chính nghĩa, cao cả. Vì vậy, chúng ta không thể hát những bài lâm ly bi đát, đầy thực dụng của đội quân phi nghĩa nhằm đánh vào tư tưởng của quân và dân ta. Nếu ở đơn vị mà cháu hát những bài “tâm lý chiến” kia, rồi các chiến sĩ cấp dưới hát theo, thì công tác tư tưởng ở đó thế nào? Nếu ra ngoài doanh trại, đứng trước quần chúng mà cháu chọn hát những bài như vậy, mọi người sẽ có cái nhìn về tâm thế, bản lĩnh của người sĩ quan hôm nay ra sao? Nhất là nếu có người quay lại bài cháu hát rồi tung lên mạng xã hội để kẻ xấu vào bình luận xuyên tạc thì hậu quả sẽ rất lớn. Các thế lực thù địch luôn tìm cách lôi kéo thế hệ trẻ vào thứ văn hóa tiêu cực này. Cháu là sĩ quan trẻ, có giọng tốt, sao không chọn những bài trong sáng, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, truyền thống hào hùng của dân tộc và Quân đội ta để hát? Như vậy, vừa được thỏa mãn sở thích, lại vừa tuyên truyền văn hóa, lối sống tốt đẹp, qua đó góp phần tôn lên vẻ đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và của chính cháu, phải không nào?

Trước những phân tích hợp lý, hợp tình của ông Tiến, Trung úy Phi như bừng tỉnh, nhận ra sự bồng bột, hồn nhiên của mình:

- Cháu cảm ơn bác vì những góp ý chân thành đã giúp cháu nhận ra mình cần phải tinh tế, sâu sắc hơn. Từ nay cháu sẽ không mắc những lỗi tương tự như vậy nữa.

Sưu tầm