Những đối tượng chống phá nền
tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rất rõ về sự ảnh hưởng to lớn
của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, văn hóa tinh thần của đất
nước.
Họ cho rằng sở dĩ chế độ cộng sản ở Việt Nam còn tồn tại là nhờ
núp vào cái bóng thần tượng Hồ Chí Minh, nên phải xóa bỏ bằng được thần tượng
ấy. Vì vậy, bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những lý lẽ khoa học, căn cứ thực
tiễn là việc làm rất cần thiết hiện nay.
1. Một trong những thủ đoạn nham hiểm ấy là thời gian gần
đây, một số đối tượng xuyên tạc rất trắng trợn: “Hồ Chí Minh không phải là
Nguyễn Ái Quốc”. Nghệ thuật viết tuồng truyền thống thường dựa vào tích cũ để
soạn những bổn mới, mang chủ đề, ý nghĩa mới. Cách này đang được một số đối
tượng sử dụng, nhưng là lấy tích cũ thật/giả để biến thành bổn mới giả, có cả
“bổn cũ soạn lại”.
Theo lịch sử ghi lại, từ ngày 6-6-1931 đến ngày 22-1-1933, Tống
Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc) bị bắt giam ở Hồng Công và được luật sư
Francis Henry Loseby bào chữa trắng án. Thực dân Pháp rất muốn được phía
Anh trục xuất về Đông Dương để bắt Nguyễn Ái Quốc thực thi án tử hình. Có thể
là cố ý đánh lạc hướng mật thám Pháp mà Quốc tế Cộng sản cho loan tin Nguyễn Ái
Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong nhà tù Hồng Công, đăng trên cả báo nước
ngoài (The Daily Worker (Anh) ngày 11-8-1932, L’Humanité (Pháp) ngày
9-8-1932) và cả báo trong nước (Đông Pháp thời báo ngày 3-7-1932, Đuốc Nhà Nam
ngày 23-7-1932). Sau khi Nguyễn Ái Quốc được thả (ngày 28-12-1932), để đảm bảo
an toàn cho thân chủ, chính luật sư Loseby cũng loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết
vì bệnh phổi.
Sau đó vẫn lấy những tin
tức này, không cần quan tâm mục đích, lý do của nguồn tin, tác giả Hồ Tuấn Hùng
(Đài Loan) viết “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (in năm 2008 tại Đài
Loan) “khẳng định” Hồ Chí Minh có tên thật là Hồ Tập Chương, không phải Nguyễn
Ái Quốc, vì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ tháng 8-1932. Đầu năm 2013, sách được
Thái Tuấn dịch ra tiếng Việt có tên “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” cho
đăng trên trang điện tử “Đối thoại”.
Lợi dụng vấn đề
đó, thời gian qua, trên nhiều trang mạng phản động lại đăng nhiều bài "dựa
hơi" vào những sự kiện trên (chủ yếu từ sách của Hồ Tuấn Hùng), bịa đặt
trắng trợn thêm nhiều chi tiết để xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là
Nguyễn Ái Quốc, mà do “một người khác thế vào”!
Lập luận của các
bài viết trên, một mặt dựa vào “lý lẽ” của Hồ Tuấn Hùng, mặt khác, vẫn theo
kiểu mượn tích cũ để “soạn bổn giả mới”. Ví như lấy sự kiện có thật Nguyễn Ái
Quốc lấy bí danh Hồ Quang (từ ngày 1-1-1938) mang quân hàm thiếu tá, công tác
tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, không hề chứng minh,
phân tích nhưng nhiều tác giả đã “khẳng định” lấy được: “Hồ Quang chính là Hồ
Tập Chương” từ đây (tức năm 1938) bắt đầu “sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt
Nam”.
Về điểm này, xin
dẫn sự giải thích của chính Bác Hồ, nhân một đồng chí Trung Quốc hỏi: “Tại sao
đồng chí lại lấy tên Hồ Quang?”. Bác trả lời hóm hỉnh: “Tôi có râu, lại trọc
đầu nên gọi là Hồ Quang” (vì đọc theo tiếng Bắc Kinh, hồ có nghĩa là râu, quang
có nghĩa là trọc). Đây là cách chơi chữ quen thuộc của Bác lý giải cách đặt tên
theo đặc điểm bản thân gắn liền với ngôn ngữ, địa danh nơi sinh sống.
Để có thêm cơ sở
lịch sử và khoa học khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Hồ Chí Minh, xin nhắc
lại những sự kiện lịch sử liên quan. Ngày 1-6-1946, trên chuyến bay sang Pháp,
tướng Raoul Salan tháp tùng Hồ Chủ tịch hỏi có ý tò mò về đời tư (vốn là điều
tối kỵ trong ngoại giao): “Trong bản Hiệp định ngày 6-3, ngài ký tên Hồ Chí
Minh. Nhưng tên chính của ngài có phải là Nguyễn Ái Quốc không?”. Bác Hồ đáp:
“Cũng trong bản hiệp định đó, vị đại diện của Chính phủ ngài ký tên là
Sainteny, nhưng tên thật của ông ta chẳng phải là Jean Roger đó sao?”. Một câu
đáp thật tuyệt vời của một trí tuệ nhạy bén, gần như khẳng định nhưng lại nói
vòng sang chuyện tương tự để “chặn họng”, hàm ý nhắc nhở, đẩy đối phương vào
thế bối rối, bị động: Ngay đại diện chính phủ của ngài cũng vậy đó thôi!
2. Về tập
thơ “Nhật ký trong tù”, nhiều đối tượng cho rằng chữ viết ấy, nội dung ấy, thi
pháp ấy thì “không thể một người Việt Nam nào, dù tài năng đến mấy” thể hiện
được; thế nên Nguyễn Ái Quốc nếu còn sống cũng không thể là tác giả. Vả lại
những năm ở Pháp, ở Nga, ở Hồng Công trước đó, sao Nguyễn Ái Quốc không có bài
thơ chữ Hán nào?
Điều đáng phê
phán các "tác giả" đưa ra cái gọi là “lý lẽ” nêu trên lại không hiểu
rằng, Nguyễn Sinh Cung từ nhỏ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, học giỏi
chữ Hán, là trò của các bậc đại Nho (Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Phan Quỳnh, Vương
Thúc Quý). Trong khi đó, từ những năm 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rất quan tâm
và viết nhiều bài về tình hình Trung Quốc in trên báo L’Humanité, La Vie
Ouvrière. Cũng trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc kiếm sống
bằng viết báo (tiếng Trung, Pháp, Anh) và có mối quan hệ mật thiết với một số
yếu nhân, trong đó có bà Tống Khánh Linh.
Vì vậy, các nhà
nghiên cứu chân chính khẳng định, với tâm hồn ấy, tài năng ấy, trong hoàn cảnh
tù đày, thơ đến một cách tự nhiên với Nguyễn Ái Quốc. Các bài thơ trong tập thơ
này là kết tinh các luồng tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ, là tiếng nói của
tâm hồn vĩ đại, trí tuệ siêu việt, khí phách lớn. Đó cũng là lý do để nhiều nhà
nghiên cứu văn học quốc tế đã khẳng định tập thơ “Nhật ký trong tù” là tài sản
văn hóa nhân loại và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ trên thế giới.
3. Trong
chuyên luận “Tiếng cười trào phúng Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia-Sự thật xuất bản năm 2010, tác giả cuốn sách chứng minh Hồ Chí Minh là
người “Việt Nam nhất”. Chỉ xét ở mục đích trào phúng, trong các tác phẩm, có
232 lần Bác Hồ sử dụng các dẫn ngữ. Thành ngữ, tục ngữ là sự kết tinh lời ăn
tiếng nói có mạch nguồn từ đời sống tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Không phải là
người Việt Nam làm sao dùng được nhiều dẫn ngữ, chưa nói tới cách dùng của Bác
rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, sắc thái và rất mực tinh tế.
Với tư cách là
người nghiên cứu, chúng tôi xin khẳng định, từ thời thanh niên đến khi về với
thế giới người hiền, ở Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có sự nhất quán về mục
đích: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, rộng hơn là vì hạnh
phúc nhân loại nói chung. Mọi suy nghĩ, việc làm, hành động, dù nói hay viết
của Người tất cả đều vì mục đích cao cả ấy.
Cũng xin được
nhắc lại 3 cuộc hội thảo khoa học quốc tế gần đây nhất về Hồ Chí Minh. Ngày
18-4-2023, tại thủ đô Roma (Italy) diễn ra hội thảo với chủ đề “Quãng đời làm
việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italy”. Trước đó, ngày 14-5-2022, tại Ấn Độ là
Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” tổ chức ở Kolkata. Tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ
Chí Minh toàn cầu” tổ chức tại thành phố New York (Mỹ).
Các hội thảo đều
khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp 3 luồng văn hóa:
Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại
tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu
quốc tế đều nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của
Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người
mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả
thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa
cao đẹp của Người được cả nhân loại đón nhận.
Đảng Cộng sản
Việt Nam và nhân dân Việt Nam tự hào có Bác Hồ, coi việc học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là lý tưởng, lẽ sống, niềm tin và cũng
là hạnh phúc. Hạnh phúc được đón nhận ánh sáng thời đại vì đó là con người nhân
văn nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất của dân tộc Việt Nam và là một trong những
nhà văn hóa lừng danh của nhân loại. Đó cũng là minh chứng sinh động để bác bỏ
hoàn toàn những ý đồ, thủ đoạn xuyên tạc thân thế, tên tuổi, sự nghiệp cách
mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét