Thứ Tư, 6 tháng 11, 2024

Yêu cầu về nêu gương trong quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

 Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cánh mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, nêu rõ các phẩm chất đạo đức người đảng viên cần thực hành và thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện. Trong đó, phẩm chất gương mẫu hay yêu cầu về nêu gương đối với cán bộ, đảng viên tiếp tục được nhấn mạnh, bởi đây không chỉ là một phẩm chất đạo đức, mà còn là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng. Phải thực sự gương mẫu, nêu gương trong công tác, trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên mới có thể tập hợp và lãnh đạo được quần chúng thực hiện thắng lợi các đường lối, chủ trương của Đảng. Bài viết phân tích yêu cầu về nêu gương đối với cán bộ, đảng viên trong Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024.

Ảnh minh họa: tuyengiaoangiang.vn

1. Mở đầu

“Gương mẫu” là những điều, những việc có tính chất tốt đẹp, điển hình, làm khuôn mẫu cho người khác noi theo. “Nêu gương” là hành động tự mình làm mẫu mực, thể hiện qua lối sống, hành vi, cách ứng xử chuẩn mực để người khác học tập và làm theo. Nêu gương không chỉ giới hạn ở việc làm đúng, mà còn ở việc làm tốt nhất có thể, vượt qua những yêu cầu tối thiểu để trở thành chuẩn mực, là tấm gương sáng về đạo đức và năng lực. Như vậy, có thể hiểu nêu gương hay gương mẫu có cùng nội hàm, và sự gương mẫu hay hành động nêu gương của mỗi người góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc thực hành nêu gương

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(4). Vì vậy, Người đặc biệt coi trọng trách nhiệm nêu gương, tính gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, đặc biệt là ở những thời điểm khó khăn, thử thách của cách mạng.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ lãnh đạo đất nước qua những giai đoạn gian khó mà còn thể hiện một tấm gương đạo đức mẫu mực để các thế hệ học tập và noi theo. Từ những ngày đầu tham gia cách mạng, Người đã thể hiện sự kiên định với lý tưởng của mình. Dù giữ các trọng trách trong Đảng và Nhà nước, Người luôn nêu gương đạo đức cách mạng và lối sống giản dị. Hồ Chí Minh không chỉ đề cao giáo dục lý tưởng cách mạng, mà còn thực hành đạo đức cách mạng một cách nghiêm túc, nhất quán. Điều này đã tạo lòng tin yêu từ phía nhân dân, giúp nâng cao hiệu quả công việc và củng cố niềm tin của người dân vào Đảng, vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường cách mạng của dân tộc.

Hồ Chí Minh luôn ý thức tự hoàn thiện bản thân và coi đó là một phương thức nêu gương mà cán bộ, đảng viên cần thực hiện. Trong cuộc sống hằng ngày, Người luôn khiêm tốn, giản dị và gần gũi với quần chúng nhân dân. Những hành động của Người phản ánh sự tinh tế trong ứng xử và tinh thần trách nhiệm cao, mang tầm vóc của một nhà lãnh đạo tài ba, một tấm gương đạo đức mẫu mực.

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cán bộ, đảng viên nêu gương thông qua hành động, việc làm cụ thể. Người khẳng định: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(5). Theo Người, hành động và lối sống thực tế là những minh chứng mạnh mẽ nhất để tuyên truyền, thuyết phục người khác, thay vì những lời nói suông, nói không đi đôi với làm.

Trong khi các bài diễn văn và tuyên truyền có thể tạo ra ấn tượng tạm thời, thì tấm gương của người lãnh đạo, đặc biệt là một lãnh tụ như Hồ Chí Minh, có sức mạnh lâu dài và bền vững hơn. Đó là một minh chứng cho giá trị của việc sống đúng với lý tưởng và nguyên tắc mà mình theo đuổi, và làm gương cho người khác học tập và noi theo.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị trong bối cảnh lịch sử của Việt Nam, mà còn mang ý nghĩa rộng lớn hơn đối với tất cả các dân tộc và quốc gia. Đó còn là sự khẳng định rằng sự lãnh đạo hiệu quả không chỉ dựa vào tài năng và trí tuệ, mà còn phụ thuộc vào đạo đức và sự gương mẫu của người lãnh đạo. Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một bài học quý về cách sống và cách lãnh đạo, đó là những bài học giá trị mà các thế hệ cán bộ, đảng viên cần học hỏi và thực hành.

3. Yêu cầu về nêu gương trong Quy định của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới

Ngày 9-5-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW “Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” (gọi tắt là Quy định 144). Ngoài Điều 6, về­ tổ chức thực hiện, Quy định 144 có 5 điều, 19 điểm, quy định cụ thể các chuẩn mực đạo đức mà mỗi cán bộ, đảng viên phải liên tục rèn luyện, trau dồi.

Điều 5, Quy định 144 nêu rõ: Cán bộ, đảng viên phải “Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời”(1). Quy định cũng cụ thể hóa chuẩn mực gươ­ng mẫu thành các nội dung, đó là: “Gương mẫu trong công tác và sinh hoạt, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, cấp trên gương mẫu trước cấp dưới, cấp ủy gương mẫu trước đảng viên, đảng viên gương mẫu trước quần chúng(2).

Không chỉ tự mình làm gương, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt phải “tích cực vận động, thuyết phục gia đình, người thân thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, trách nhiệm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(3). Khi cán bộ, đảng viên nêu gương sẽ tạo dựng được lòng tin đối với nhân dân, tạo nền tảng vững chắc để mỗi cán bộ, đảng viên có thể lãnh đạo và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên nêu gương sẽ lan tỏa các giá trị đạo đức, tinh thần yêu nước và trách nhiệm xã hội đến cộng đồng. Những hành động tích cực của cán bộ, đảng viên sẽ khuyến khích quần chúng cùng hành động tích cực để cùng tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh và tiến bộ. Ở một khía cạnh khác, việc nêu gương đòi hỏi cán bộ phải giữ vững sự liêm chính và trung thực, phải tuân thủ nghiêm các quy tắc đạo đức, kỷ luật công tác, từ đó giảm thiểu các hành vi tham nhũng, lạm quyền.

Thực tế, không phải đến nay Đảng ta mới đề ra các quy định về phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Vấn đề này đã được đề cập, chỉ rõ và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc quán triệt, thực hiện từ rất sớm. Các quy định này được thể hiện trong các văn bản như: Điều lệ Đảng (Điều 1, Điều 2); Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Ban Chấp hành Trung ương chỉ ra cụ thể tại Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng, v.v.. Quy định 144 là bước kế thừa các quy định trước đây và tiếp tục cụ thể hóa chủ trương của Đảng về yêu cầu nêu gương đối với cán bộ, đảng viên.

4. Thực hành nêu gương của cán bộ, đảng viên hiện nay

Thực tế cho thấy, nhờ những tấm gương quả cảm, anh dũng, hy sinh, luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, đảng viên trong suốt hơn 90 năm qua mà Đảng ta đã tập hợp được sức mạnh toàn dân, từ đó làm nên những thành tựu vĩ đại của dân tộc. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám; là thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước…

Đặc biệt, hiện nay, từ những nền tảng cha ông đã dựng xây, để lại, sự gương mẫu, nêu gương, sự sáng tạo, nhiệt huyết, quyết liệt của đội ngũ cán bộ, đảng viên góp phần làm nên những kỳ tích của đất nước trong công cuộc đổi mới. Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước đang vận hành tốt mô hình nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều chế độ sở hữu, với nhiều chính sách thích hợp, được điều hòa bởi Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; các hoạt động văn hóa, tinh thần được quan tâm, đời sống nhân dân được cải thiện, xã hội ngày càng phồn vinh…

Những thành tựu to lớn đó chính là kết quả của ý chí, của sự quyết tâm cao, cùng sự nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định, được Đại hội XIII của Đảng thông qua và đưa vào Nghị quyết Đại hội: Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(6).

Có được kết quả như vậy là nhờ sự hy sinh anh dũng của các thế hệ cha ông, sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân, trong đó đặc biệt có sự nêu gương của cán bộ, đảng viên. Họ là những nhà chính trị, những doanh nhân, những nhà khoa học và nhân dân lao động, đã bền bỉ, trách nhiệm lao động, cống hiến trên nhiều lĩnh vực. Họ là những người đã từng bước làm nên uy tín, sức mạnh lãnh đạo của Đảng, đó là điều không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, bên cạnh những tấm gương sáng, cùng những kết quả to lớn đã đạt được, hiện nay, lối sống thực dụng cùng những tác động của mặt trái cơ chế thị trường đã khiến cho phẩm chất nêu gương của cán bộ đảng viên đứng trước nhiều thử thách. Kết quả đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng chỉnh đốn Đảng cho thấy, có không ít cán bộ đảng viên, kể cả đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý trở nên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, bị ma lực của đồng tiền xô ngã, trở thành những người lời nói không đi đôi với việc làm, nói một đằng làm một nẻo, gây giảm sút niềm tin trong nhân dân.

5. Giải pháp tăng cường nêu gương của cán bộ, đảng viên hiện nay

Theo Quy định 144, nêu gương là một phẩm chất đạo đức, là điều mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thực hành để thể hiện vị trí lãnh đạo, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Là quy định của Đảng, tất cả cán bộ, đảng viên đều phải nghiêm túc thực hiện. Cán bộ chức vụ càng cao càng phải nêu gương trong thực hành. Để thực hiện có hiệu quả Quy định 144, làm tốt nhiệm vụ nêu gương của cán bộ, đảng viên, cần quán triệt, thực hiện một số yêu cầu sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về nêu gương.

Để làm tốt trách nhiệm nêu gương, mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt, nhận thức rõ vai trò của nêu gương, phải hiểu sâu, nắm chắc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ đó thực hiện đúng, thực hiện tốt, và khi đó các việc làm của mình mới có kết quả tốt, mới có tác dụng nêu gương trước quần chúng nhân dân. Cần tránh hiện tượng hình thức, hời hợt trong quán triệt nội dung và triển khai thực hiện. Hời hợt, hình thức thì không thể có được những hành động quyết liệt, dù có đạt kết quả chăng nữa, nhưng cũng khó đạt tới mức “nêu gương”. Vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về nêu gương là nhiệm vụ quan trọng, tác động vào nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên, từ đó mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao nhu cầu tự thân và tính tự giác để hành động đạt kết quả tốt nhất, đạt hiệu quả thực chất về nêu gương.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) nêu rõ: “Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”(7). Để khắc phục điều này, trong giai đoạn hiện nay, chỉ khi cán bộ, đảng viên chiến thắng được “ma lực" của đồng tiền, thật sự là người có đức, có tài, có sự cống hiến đích thực, tận tâm, thì người cán bộ, đảng viên đó mới là tấm gương để mọi người học tập, noi theo.

Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn quán triệt nói đi đôi với làm. Quy định 144 yêu cầu mỗi một cán bộ, đảng viên phải “nói đi đôi với làm, làm đi đôi với nói, đã nói là làm”(8). “Nói đi đôi với làm” là lời nói và việc làm phải thống nhất, gắn chặt với nhau. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhất quán trong nhận thức, phát ngôn, cũng như trong hành động thực tiễn; nêu gương phải được biểu hiện cụ thể trong sự thống nhất giữa suy nghĩ, lời nói và hành động, giữa tư tưởng và hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên.

Cụ thể, cán bộ, đảng viên cần nêu gương ở mục đích sống, sự tận tụy, cống hiến; nêu gương ở thái độ tôn trọng mọi người, đức tính khiêm tốn; nêu gương trong thực hành đoàn kết, nêu cao tinh thần dân chủ; nêu gương về phương pháp, cách thức làm việc; nêu gương về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nêu gương trong ứng xử văn hóa, khoan dung…

Thứ ba, nêu gương là một quá trình không ngừng tự rèn luyện nghiêm túc, bền bỉ của mỗi cán bộ, đảng viên. Các nội dung của Quy định 144-QĐ/TW là sự cụ thể hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Trong đó, nêu gương vừa là một phẩm chất, vừa là một phương pháp rèn luyện đạo đức, và hơn hết, đó là một phương thức lãnh đạo của Đảng. Để thực hiện tốt Quy định 144, mỗi cán bộ, đảng viên cần có sự bền bỉ, trách nhiệm trong tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu; sự nghiêm túc, nỗ lực vượt lên những cám dỗ và cạm bẫy trong cuộc sống thường ngày. Làm được những điều này, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ ngày càng hoàn thiện bản thân trên mọi phương diện.

Thứ tư, cán bộ chủ chốt phải tiên phong trong việc nêu gương. Cán bộ chủ chốt là lực lượng có vị trí nòng cốt, đóng vai trò quan trọng lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện các nhiệm vụ được giao. Để hoàn thành trọng trách, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được phân công trước Đảng, trước dân thì việc nêu gương và phát huy vai trò nêu gương trước tập thể, quần chúng nhân dân là một trong những yêu cầu quyết định, và cũng là biện pháp quan trọng để cán bộ chủ chốt nâng cao uy tín, vị thế của mình.

Thực tiễn phát triển đất nước đã khẳng định, nếu cán bộ chủ chốt phát huy tốt vai trò, trách nhiệm nêu gương, luôn mẫu mực từ lời nói đến việc làm, thì cán bộ ấy tự mình đã tỏa sáng, được mọi người tôn trọng, yêu quý, tin tưởng và ủng hộ; nhờ đó, có tác dụng động viên, cổ vũ, khích lệ cán bộ, quần chúng nhân dân học tập và noi theo.

Ngược lại, nếu cán bộ chủ chốt không thực hiện tốt việc nêu gương, không nỗ lực phấn đấu vươn lên trong tu dưỡng, rèn luyện, công tác, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, không giữ được chuẩn mực trong quan hệ, giao tiếp, ứng xử trong đời sống, sinh hoạt và công tác, thì cán bộ ấy không thể tạo dựng, củng cố hình ảnh, uy tín và vị thế của cá nhân đối với tập thể, không những thế, còn làm giảm sút niềm tin trong quần chúng, nhân dân. Chính vì vậy, việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là của cán bộ chủ chốt là phương thức tuyên truyền có sức thuyết phục tốt nhất, hiệu quả nhất.

Thứ năm, cần có cơ chế giám sát việc thực hành nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thực tế cho thấy, có khoảng cách nhất định giữa việc quán triệt, triển khai thực hiện các quy định; hiệu quả việc thực hiện phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Do vậy, để Quy định 144, trong đó có quy định về nêu gương được thực hiện hiệu quả, ngoài coi trọng việc đề cao tính tự giác trong rèn luyện, cần có cơ chế giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và của nhân dân đối với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong và hiệu quả công việc của mỗi cán bộ, đảng viên. Việc giám sát sẽ góp phần quan trọng giúp đánh giá chính xác hiệu quả thực hiện; bảo đảm cán bộ, đảng viên, đặc biệt là các cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý thực thi nhiệm vụ theo đúng quy định của Đảng và khuôn khổ pháp luật.

6. Kết luận

Nêu gương là một phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng Cương lĩnh, đường lối, công tác cán bộ, công tác kiểm tra và bằng sự nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Nhiều cán bộ, đảng viên nêu gương sẽ góp phần xây dựng nhiều tổ chức đảng nêu gương. Nhiều tổ chức đảng nêu gương sẽ xây dựng nên một Đảng nêu gương, để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, xứng tầm vị thế lãnh đạo đất nước, xứng đáng với sự tin yêu của nhân dân. Khi cán bộ, đảng viên nêu gương, uy tín và hình ảnh của Đảng sẽ được củng cố, các giá trị tích cực được lan tỏa, từ đó tạo động lực để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đề ra.

Kỷ niệm 204 năm Ngày sinh Ph. Ăngghen (28/11/1820 - 28/11/2024) Nhà lý luận và chiến sỹ cách mạng vĩ đại


Ph. Ăngghen là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản, người đã cùng Các Mác xây dựng nên lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học và đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động.

Ph. Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 trong một gia đình chủ xưởng dệt ở thành phố Barơmen, vương quốc Phổ (ngày nay là nước Đức). Ông sinh sống, thâm nhập thực tiễn vào phong trào cách mạng ở nhiều nước khác nhau để tìm hiểu cuộc sống người dân.

Xuất thân từ một gia đình tư sản, nhưng Ph. Ăngghen đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, Ông là người bạn, người đồng chí gần gũi nhất của C. Mác, đã cùng C. Mác xây dựng nên chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Trong nhiều thập kỷ, Ph. Ăngghen ra sức nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa những tinh hoa tư tưởng của nhân loại, mà trước hết và trực tiếp là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp. Quá trình nghiên cứu lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn phong phú, sinh động của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Từ đó, Ông đã cùng với Mác, xây dựng nên một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, bao gồm triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Cái đặc sắc nhất là hai ông đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phát hiện ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; xây dựng lý luận giá trị thặng dư chỉ ra các quy luật chi phối sự vận động, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Đây chính là vũ khí tư tưởng cho giai cấp công nhân; là những trụ cột của cả một hệ thống đồ sộ!

Rất nhiều tác phẩm cơ bản của chủ nghĩa Mác là do Mác và Ăngghen cùng viết. Tiêu biểu nhất là “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Nhiều công trình nghiên cứu của Ăngghen là sự phát triển những tư tưởng hình thành trong quá trình trao đổi thường xuyên với C. Mác. Về phía mình, nhiều tác phẩm của C. Mác được viết với những ý tưởng và kiến thức của Ăngghen. Lênin cho rằng: “Không thể nào hiểu được chủ nghĩa Mác và trình bày đầy đủ được chủ nghĩa Mác, nếu không chú ý đến toàn bộ những tác phẩm của Ăngghen”. Ăngghen còn sát cánh cùng C. Mác trong truyền bá tư tưởng cách mạng, xây dựng các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân, trở thành lãnh tụ của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân các nước châu Âu ở nửa cuối thế kỷ XIX. Lênin kết luận: “Sau bạn ông là Các Mác, Ph. Ăngghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh”.

Ăngghen được ngưỡng mộ, kính trọng không chỉ bởi trí tuệ của một nhà bác học, lòng dũng cảm, nhiệt huyết của một chiến sỹ cách mạng vĩ đại, mà còn bởi phẩm chất cao cả thể hiện trong tình bạn, tình đồng chí khăng khít, thủy chung, cảm động, hiếm có với Mác. Người tự nhận mình là “cây vĩ cầm số 2” bên cạnh Mác. Lênin khẳng định: “Giai cấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của mình là tác phẩm sáng tạo của hai nhà bác học kiêm chiến sỹ mà tình bạn đã vượt xa tất cả những gì là cảm động nhất trong những truyền thuyết của đời xưa kể về tình bạn của con người”.

Sau khi Mác qua đời, Ăngghen đã tập trung thời gian, công sức để thực hiện một công việc vô cùng nặng nề, hết sức khó khăn, mà chỉ Ông mới có thể làm được, đó là chỉnh lý, biên tập và cho xuất bản tiếp tục các bản thảo còn lại của bộ “Tư bản”- tác phẩm lớn nhất, vĩ đại nhất của Mác. Lê-nin cho rằng, thông qua công việc quan trọng này: “Ăngghen đã dựng cho người bạn thiên tài của ông một đài kỷ niệm trang nghiêm, trên đó Ăngghen cũng không ngờ là đã khắc luôn cả tên mình bằng những chữ không bao giờ phai mờ được”. Ngoài ra, Ông còn tiếp tục truyền bá sâu rộng những tư tưởng của Mác, đấu tranh bảo vệ và phát triển học thuyết Mác...

Từ khi xuất hiện, chủ nghĩa Mác đã luôn bị các trào lưu tư tưởng đối lập phê phán, đả kích. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, các thế lực thù địch coi đây là thời cơ lớn, đẩy mạnh tấn công, xuyên tạc, vu cáo, bác bỏ... Điều này không có gì là khó hiểu! Vì thế, phải bằng tinh thần khoa học và cách mạng, chúng ta tiếp tục đấu tranh bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của mình, phù hợp với tinh thần mác-xít, phù hợp với tính chất, đặc điểm mới của thời đại!

Ngày nay, mặc dù tình hình có nhiều thay đổi so với thời điểm đó, nhưng tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về chủ nghĩa xã hội khoa học, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về công tác xây dựng Đảng vẫn còn nguyên giá trị. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng và hành động cho các Đảng Cộng sản trên thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi “Chủ nghĩa Mác - Lênin là cái cẩm nang thần kỳ”; luôn vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là bằng chứng hùng hồn, khẳng định sự đúng đắn, vai trò và ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà Ăngghen là một trong những lãnh tụ sáng lập. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tập trung xây dựng Đảng thật trong sạch, vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, XIII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, vì vậy việc học tập, noi gương nhân cách người chiến sĩ cộng sản mẫu mực của Ph. Ăngghen càng có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao đạo đức cách mạng của người đảng viên, góp phần giữ vững bản chất cách mạng của Đảng Cộng sản, vì nhân dân mà phục vụ./.

St

Tăng cường giáo dục “liêm”, “chính” theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên hiện nay.

 Uy tín của Đảng và lòng tin của nhân dân với Đảng gắn liền với sự tu dưỡng và gương mẫu thực hành đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên cần gương mẫu thực hành “Liêm”, “Chính”, góp phần quan trọng củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Bài viết làm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về “Liêm”, “Chính” trong đạo đức cách mạng, sự vận dụng của Đảng ta và giải pháp tăng cường giáo dục “Liêm”, “Chính” cho cán bộ, đảng viên hiện nay. Bài viết đạt giải Triển vọng Cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ tư, năm 2024.

Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW
Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05 “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”_ Ảnh:danvan.vn

1. Mở đầu

Qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Thực tế cho thấy, trong từng lĩnh vực công tác, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã gắn việc tu dưỡng “Liêm”, “Chính” trong “tứ đức” (Cần, Kiệm, Liêm, Chính) gắn với nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đặc biệt phải tự soi mình và nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ đó, góp phần xây dựng những giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội, thúc đẩy các phong trào thi đua lao động sáng tạo, nhằm tạo động lực đưa công cuộc đổi mới vượt qua những khó khăn, thách thức mới, tiếp tục giành được những thành tựu mới và không ngừng củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về “Liêm”, “Chính”

Hồ Chí Minh quan niệm: “Liêm” là “trong sạch, không tham lam”(1), “luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân”(2), “không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”(3).

Trái với “Liêm” là “Bất Liêm”. Người cho rằng: “Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”(4). Sự “Bất Liêm” có vô vàn biểu hiện trong thực tế, như: “Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM”(5). Vì lẽ, tham tiền dẫn đến việc đục khoét của dân, trộm cắp của công, buôn gian bán lận, đầu cơ tích trữ, cho vay nặng lãi, cờ bạc, trộm cắp,...; tham danh vọng, địa vị dẫn đến việc dìm người giỏi, mua bán danh vị, nịnh trên, nẹt dưới; tham nhàn dẫn đến việc ngại khó, sợ khổ, đùn đẩy công việc cho người khác, nhưng khi có công thì tranh, khi có tội thì đổ vấy; tham sống dẫn đến sự hèn nhát, gặp giặc không dám đánh, thấy việc nghĩa không dám làm.

Theo Người, cán bộ “có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”(6). Người nhấn mạnh: “Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là LIÊM, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp... Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ LIÊM có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải LIÊM”(7); nghĩa là mọi người đều phải trong sạch, không tham lam. Sự thực hành chữ “Liêm” như vậy sẽ giúp tất cả mọi người, trước hết là cán bộ, đảng viên, tu dưỡng nhân cách phù hợp với sự cầm quyền lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng.

“Liêm”, về nguyên tắc, luôn gắn liền với “Chính”. Hồ Chí Minh định nghĩa: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà”(8). Người còn giải thích, trên quả đất có hàng muôn triệu người sống, số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người thiện và người ác; trong xã hội, có trăm công, nghìn việc, những công việc ấy có thể chia làm hai loại: việc chính và việc tà. Làm việc chính là người thiện. Làm việc tà là người ác.

Nói về “Chính” và mối quan hệ của “Cần, kiệm, liêm, chính”, Người chỉ dẫn: “CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có nhành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”(9). Như vậy, dù “Chính” là hệ quả của “Cần, Kiệm, Liêm”, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối, bởi nhiều khi có đủ “Cần, Kiệm, Liêm”, mà vẫn không thể “Chính”. Đức hạnh này đòi hỏi con người phải có sự chính trực, dũng cảm đấu tranh với cái xấu để bảo vệ lẽ phải; do đó, “Chính” là đức khó thực hiện nhất trong “tứ đức”, là sự biểu hiện tập trung nhất của nhân cách con người.

Người có đức “Chính” là người chính trực, đúng mực, công tâm, luôn hành động theo lẽ phải, kiên quyết bảo vệ lẽ phải, nên chính nghĩa có ý nghĩa quan trọng, vị trí rất lớn trong “tứ đức” (Cần, Kiệm, Liêm, Chính). Nói cách khác, “Chính” là chính tâm của nhân cách con người. Chính tâm thể hiện tâm hồn, tấm lòng, lương tâm, tâm trí của con người thẳng thắn, đúng đắn, sáng như tấm gương trong suốt. Chính tâm điều chỉnh bản thân cần trau dồi đạo đức, lối sống trong sáng và hướng đến chữ “Thiện”, tránh xa mọi sự thù hận, ích kỷ, đối với mình, với người và với việc.

“Chính” cũng có nghĩa gần với chân lý; việc gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân, thì đó là “Chính”, là chân lý. Việc gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân thì không phải là “Chính” và không phải là chân lý. Vì vậy, việc ra sức phụng sự Tổ quốc và nhân dân, tức là phụng sự chính nghĩa và chân lý.

“Liêm”, “Chính” được Hồ Chí Minh đặt lên vị trí hàng đầu trong giáo dục đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên xuất phát từ quan niệm hết sức độc đáo của Người về chính trị là: “1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ”(10). Theo đó, có thể hiểu làm cách mạng, trước hết phải đoàn kết, mỗi cá nhân phải giữ “Liêm”, “Chính”, xem đó là giá trị đạo đức cao quý của con người cách mạng, là thước đo danh dự trong đời sống xã hội mới. Suy rộng ra, một đảng chân chính muốn lãnh đạo cách mạng thành công, phải hội tụ được những phẩm chất đạo đức “Liêm”, “Chính” để “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” nhằm bảo đảm nền chính trị thanh khiết trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tháng 3-1947, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua xây dựng đời sống mới: “Cần, kiệm, liêm, chính”. Để giáo dục cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng, tháng 6-1949, Hồ Chí Minh viết tác phẩm Cần, Kiệm, Liêm, Chính, trong đó Người chỉ rõ “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” là bốn đức tính cốt lõi của người cách mạng, như:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thiếu một mùa, thì không thành trời.

Thiếu một phương, thì không thành đất.

Thiếu một đức, thì không thành người”(11).

Tiếp đó, trong tác phẩm Đạo đức cách mạng, đăng trên Tạp chí Học tập, số tháng 12-1958, với dự cảm về những nảy sinh phức tạp tác động đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và trăn trở trước yêu cầu mới của tình hình cách mạng, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo tổ chức một đợt sinh hoạt chính trị trong toàn Đảng, nhằm nâng cao đạo đức cách mạng. Người khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(12). Vì vậy, thực hành đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên phải là kết quả của quá trình tự giác ngộ, tu dưỡng, rèn luyện kết hợp với giáo dục, bồi dưỡng thường xuyên của tổ chức mới đạt được.

Hồ Chí Minh cho rằng, để giáo dục cán bộ, đảng viên trở thành người cách mạng chân chính phải ghi nhớ năm điều “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” theo nguyên tắc: “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”(13).

Để tu dưỡng, rèn luyện “Liêm”, “Chính”, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thực hành đạo đức thông qua ba mối quan hệ: a/ Đối với mình: Chớ tự kiêu, tự đại, phải khiêm tốn, luôn chịu khó học tập, thường xuyên tự phê bình và phê bình để mau tiến bộ. b/ Đối với người: Chớ nịnh hót người trên; Chớ xem khinh người dưới, luôn có thái độ chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết, phải thực hành chữ Bác - Ái. c/ Đối với việc: Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà; đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm; việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh(14). Con đường tu dưỡng là, mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân, bởi trong tiền đồ chung đều có tiền đồ riêng của mỗi người. “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(15).

3. Sự vận dụng của Đảng hiện nay

Việc thực hành “Liêm”, “Chính” không chỉ giúp người cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự rèn mình mà còn tạo ra sức mạnh mềm của tổ chức đảng và của cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bởi theo Hồ Chí Minh, “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”(16).

Thực tế cho thấy uy tín của Đảng cầm quyền, của mỗi cán bộ, đảng viên và lòng tin của nhân dân với Đảng gắn liền với sự tu dưỡng và gương mẫu thực hành đạo đức cách mạng, cho nên, nếu mỗi cán bộ, đảng viên chỉ biết nói lời hay, ý đẹp nhưng không gương mẫu thực hành “Liêm”, “Chính” thì cũng không thể có sức hấp dẫn, quy tụ, lãnh đạo được nhân dân. Vì thế, thực hành “Liêm”, “Chính” không chỉ là yêu cầu cần thiết trong tu dưỡng đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn là biện pháp quan trọng, không thể thiếu để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Tuy nhiên, trong điều kiện tác động của cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, bên cạnh những tấm gương “Liêm”, “Chính”, vẫn có không ít cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống, thiếu trách nhiệm trước nhiệm vụ, chức trách được giao; sa vào quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cục bộ, bè phái, chạy chức chạy quyền, vi phạm kỷ luật đảng, thậm chí có những trường hợp vi phạm pháp luật phải xử lý hình sự. Những “con sâu mọt” ấy đã làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, làm suy yếu tổ chức đảng và năng lực cầm quyền, lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Do vậy, cần tăng cường giáo dục “Liêm”, “Chính” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

4. Giải pháp tăng cường giáo dục “Liêm”, “Chính” cho cán bộ, đảng viên

Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và nhân dân về “Liêm”, “Chính”.

Công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, trong bối cảnh tình hình mới, cần chú trọng giáo dục phẩm chất “Liêm”, “Chính” nhằm hình thành niềm tin, động cơ đúng đắn để thực hiện hành vi đạo đức cách mạng trước những cám dỗ vật chất. Giáo dục phẩm chất “Liêm”, “Chính” có vai trò quan trọng, mấu chốt trong việc chuyển hóa những nguyên tắc, quy phạm, chuẩn mực đạo đức cách mạng thành hành động tự giác của cá nhân cán bộ, đảng viên. Do đó, phải tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, chính sách, pháp luật; thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức thực hành “Liêm”, “Chính” đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy viên.

Gắn thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị khoá XIII “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” với thực hiện NQTƯ 4 khóa XII (năm 2016) và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII (năm 2021) theo hướng nhấn mạnh một số nội dung mới. Đó là, mở rộng phạm vi, không chỉ xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (năm 2021); cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực; bổ sung, làm rõ hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “tiêu cực” sát hợp tình hình mới.

Trong đó, nhấn mạnh sự nguy hiểm của biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường XHCN, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh.

Những điểm nhấn này là đột phá quan trọng để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự tu dưỡng đạo đức cách mạng “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”; và đây cũng là việc làm thường xuyên, liên tục của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và của cả hệ thống chính trị.

Đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thực hành “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong Đảng và trong xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo hướng cụ thể, thiết thực, gắn liền với các tiêu chí thi đua, đánh giá, phân loại cán bộ, đảng viên ở mỗi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

Cần xây dựng một số chuyên đề về “Liêm”, “Chính” gắn với pháp luật theo hướng thiết thực để giáo dục cán bộ, đảng viên, nhằm góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở. Thông qua đó, xây dựng tác phong, lề lối làm việc “Liêm”, “Chính”, tận tụy phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan đảng, nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp phù hợp với chức trách, nhiệm vụ và điều kiện cụ thể.

Hai là, nêu cao trách nhiệm gương mẫu, thực hành nghiêm túc, thực chất đạo đức “Liêm”, “Chính” của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Theo Hồ Chí Minh, phải làm cho cán bộ, đảng viên hiểu rằng “tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”(17). Nếu cán bộ giữ được đức “Liêm”, “Chính” thì họ không chỉ mang lại điều lợi cho dân, cho nước, điều ích cho Đảng mà chính họ cũng có lợi ích lâu bền.

Cần nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ thường kỳ, sinh hoạt chuyên đề về “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” với những nội dung thiết thực, để cán bộ, đảng viên nhận thức đúng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở, sát với chức trách, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên.

Để được kính trọng, người cán bộ, đảng viên, trước nhất là người đứng đầu, phải là tấm gương về “Liêm”. Cán bộ lãnh đạo, quản lý mà không liêm, phạm vào các thói hư như tham ô, tư lợi bất chính, lãng phí... thì bản thân “Bất Liêm” và không mang lại niềm tin cho quần chúng, làm suy yếu nội bộ Đảng và xã hội. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu trong công tác và trong sinh hoạt hằng ngày; tự tu dưỡng, rèn luyện bằng cách tự phê bình. Cán bộ, đảng viên với tư cách là những người lãnh đạo, quản lý phải là người tiên phong trong mọi hoàn cảnh. Tiên phong, gương mẫu đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải miệng nói, tay làm, thống nhất giữa lời nói và hành động; phải hết sức nghiêm túc thực hiện “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”; kiên quyết đấu tranh với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,…

Để có phẩm chất và thực hành liêm chính, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức tự giác, tự tu dưỡng, rèn luyện, tận tâm, tận lực cống hiến trí tuệ, sức lực cho Đảng, phụng sự đất nước và phục vụ nhân dân, thực hành “Liêm”, “Chính”. Mặt khác, mỗi cán bộ, đảng viên phải biết và sẵn sàng sửa chữa khuyết điểm. Về cách sửa chữa, theo Hồ Chí Minh, là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp đỡ nhau sửa chữa. Người đứng đầu phải đề cao trách nhiệm và sự gương mẫu thực hành “Liêm”, “Chính” trước, để làm kiểu mẫu cho cấp dưới, cho nhân dân. Bởi niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào Đảng luôn gắn liền với niềm tin vào người đứng đầu. Đảng lãnh đạo bằng “hành động gương mẫu của đảng viên”, niềm tin của dân phụ thuộc vào sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ba là, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân giám sát việc thực hành tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất “Liêm”, “Chính” của cán bộ, đảng viên.

Hiện nay, để rèn luyện phẩm chất “Liêm”, “Chính” của cán bộ, đảng viên, cần bổ sung, hoàn thiện cơ chế đồng bộ, cụ thể để phát huy hiệu quả vai trò giám sát của nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ các cấp trong việc chấp hành, thực hiện Điều lệ Đảng, kỷ luật của Đảng, các quy định về thực hiện nêu gương, trong thực hành “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trong thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Các cấp ủy, chính quyền các cấp cần thực hiện một cách nền nếp và nghiêm túc việc lấy ý kiến phê bình, góp ý của nhân dân; và phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp thu, sửa chữa những khuyết điểm đã được nhân dân chỉ ra. Đối với những ý kiến chưa đúng, thì phải giải thích cho nhân dân hiểu. Coi trọng việc xây dựng cơ chế khuyến khích, động viên nhân dân thực hiện vai trò giám sát một cách tự nguyện, tự giác tại cơ quan công tác và địa bàn nơi cư trú. Thông qua đó, làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành việc làm tự giác, hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng, nhằm góp phần thiết thực vào xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Bốn là, thúc đẩy xây dựng văn hóa “Liêm”, “Chính” trong hoạt động công vụ.

Hiện nay, tình trạng cán bộ, đảng viên không “Liêm”, “Chính”, biểu hiện như: Tham nhũng, giấu giếm khuyết điểm, khoe khoang thành tích; lo lót, chạy chọt, mua bán bằng cấp, chức quyền; nói nhiều, làm ít; nói hay, làm dở; nói một đằng, làm một nẻo; “yêu nên tốt, ghét nên xấu”(18);... Việc xây dựng văn hóa “Liêm”, “Chính” giúp con người gột rửa chủ nghĩa cá nhân, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch. Do đó, cần kiên trì xây dựng văn hóa “Liêm”, “Chính” ở mọi lúc, mọi nơi, nổi bật là đề cao cơ chế kiểm soát, giáo dục và thực thi pháp luật từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Cần tăng cường kiểm soát những người có chức, có quyền, vì khi có quyền, dễ tận dụng cơ hội để đục khoét, để chiếm đoạt tài sản nhà nước, vi phạm “Liêm”, “Chính”.

Văn hóa “Liêm”, “Chính” là đặc trưng quan trọng của văn hóa cầm quyền, lãnh đạo của Đảng nhằm xây dựng nền chính trị thanh khiết theo quan điểm Hồ Chí Minh. Nó được biểu hiện trong hành vi ứng xử với người, với tổ chức và với công việc mà một cá nhân hoặc một nhóm người phải tuân thủ trong thực thi công vụ. Văn hóa “Liêm”, “Chính” được xây dựng dựa trên các nguyên tắc đạo đức, truyền thống văn hóa và quan điểm, định hướng chính trị của Đảng, Nhà nước, nhằm giúp mỗi người hoạt động trong hệ thống chính trị nhận thức rõ bổn phận, trách nhiệm và góp phần nâng cao chất lượng thực thi công vụ. Để cán bộ có chức, có quyền triệt để thực hiện “Liêm”, “Chính”, thực hành văn hóa “Liêm”, “Chính” thì cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; kịp thời nghiêm trị những kẻ gian dối; xây dựng phong trào sống và làm việc theo pháp luật, tuyệt đối tuân thủ pháp luật trong cán bộ, công chức, làm gương cho nhân dân noi theo.

5. Kết luận

Xây dựng và rèn luyện phẩm chất “Liêm”, “Chính” của cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN, nhất là trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, là một trong những yếu tố nền tảng nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, thật sự là một Đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh. Thực hành “Liêm”, “Chính” không chỉ là yêu cầu cần thiết trong tu dưỡng đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn là biện pháp quan trọng, không thể thiếu để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam

 

Đặc điểm cơ bản của những hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá Đảng và hệ thống chính trị nước ta 

Thứ nhất, về mục đích: Vấn đề dân tộc luôn là một “mắt xích” mà các thế lực thù địch thường xuyên nhắm tới và tìm mọi cách triệt để lợi dụng để chống phá ta. Việt Nam là đất nước đa dân tộc, đa văn hóa với 54 dân tộc anh em; các dân tộc đều bình đẳng với nhau, không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp; quyền lợi chính đáng của các dân tộc được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Thế nhưng, các đối tượng phản động, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách khoét sâu đặc điểm đa dân tộc của nước ta, làm sai lệch thông tin, bịa đặt, vu cáo rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số; từ đó dụ dỗ, xúi giục, kích động đồng bào “ly khai”, gây bạo động, làm mất trật tự an ninh tại một số địa phương. Mục đích cuối cùng trong âm mưu, hành động của chúng là làm mất ổn định đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, xói mòn bản sắc văn hóa, băng hoại giá trị đạo đức cộng đồng các dân tộc Việt Nam; tìm cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bôi nhọ hình ảnh Việt Nam trước cộng đồng quốc tế, tạo cớ cho các thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước; phá hoại mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam với các quốc gia; hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị nước ta; từ đó, tìm cách lật đổ chế độ XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và đang nỗ lực xây dựng.

Thứ hai, về tính chất và thời điểm: Trong những năm qua, âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch vô cùng đa dạng và ngày càng tinh vi, nguy hiểm, vừa công khai, vừa bí mật; diễn ra cả ở trong nước và nước ngoài, trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thủ đoạn, hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch hiện nay được thực hiện bằng nhiều biện pháp xảo trá, thâm độc, nhưng được che đậy, bao bọc một cách tinh vi, hòng làm cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tin và làm theo.

Các phần tử phản động, thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau để chống phá ta. Một mặt, chúng âm thầm gây dựng lực lượng, bí mật tập huấn, đào tạo các kỹ năng tổ chức, tuyên truyền, dụ dỗ, xúi giục, kích động bạo lực. Mặt khác, chúng chờ đợi thời cơ, lựa chọn thời điểm có những “điểm nóng” về an ninh, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, vào trước các kỳ Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, hoặc mỗi khi có chủ trương điều chỉnh, thay đổi chính sách phát triển kinh tế - xã hội; kể cả khi chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị đe dọa, là chúng đăng tải, phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt... gây hoang mang trong nhân dân; tiến hành hoạt động khủng bố có tổ chức, được trang bị vũ khí; hành vi rất manh động, liều lĩnh tấn công cán bộ chính quyền địa phương, phá hoại trụ sở làm việc.

Nói cách khác, chúng triệt để kết hợp các thủ đoạn về an ninh truyền thống và phi truyền thống để chống phá ta, gây mất trật tự trị an ở nhiều khu vực, đặc biệt là những địa bàn trọng yếu về an ninh, quốc phòng như các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Tây Nam Bộ.

Thứ ba, về nguyên cớ và chiêu bài: Các thế lực thù địch thường đánh tráo khái niệm, quan điểm về cái gọi là “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do” (nhất là tự do tôn giáo, tín ngưỡng), đánh tráo khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” với nội hàm là một quốc gia (nation-state) thành quyền của dân tộc với nội hàm là một tộc người (ethnic groups); hoặc đòi áp dụng các khái niệm từ phương Tây vốn không phù hợp với lịch sử các dân tộc ở nước ta như “dân tộc bản địa”; từ đó, tuyên truyền tư tưởng ly khai, tự trị trong vùng dân tộc thiểu số...

Tại các khu vực tập trung đông đồng bào dân tộc Mông, dân tộc Thái ở Tây Bắc; vùng dân tộc Giarai, Êđê ở Tây Nguyên; vùng dân tộc Chăm ở duyên hải Nam Trung Bộ; vùng dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ, chúng lợi dụng quan hệ đồng tộc xuyên biên giới, lôi kéo, xúi giục đồng bào vượt biên trái phép, thực hiện các hoạt động gây rối, phá hoại, chống phá chính quyền, tuyên truyền, kích động thành lập “nhà nước ly khai, tự trị”, chống phá cách mạng Việt Nam gây mất ổn định chính trị - xã hội.

Một chiêu bài khác của các thế lực thù địch là lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại, hoặc những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, khai thác những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước tại các địa phương để kích động, hướng lái đồng bào không tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chúng thúc đẩy nhiều chiến dịch tuyên truyền phản động, thổi phồng các vụ việc phức tạp, tiêu cực liên quan trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, quy chụp mọi hạn chế là do sai lầm, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị; từ đó, móc nối, lôi kéo, xúi giục hoạt động chống phá, gây mất ổn định chính trị - xã hội tại một số địa phương, nhất là vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn.

Đồng thời, chúng dùng tiền, lợi ích kinh tế để mua chuộc đồng bào, hứa hẹn viển vông về “một tương lai tốt đẹp”, lôi kéo đồng bào tham gia các tổ chức phản động, kết hợp với tăng cường phát triển lực lượng chống đối trong các dân tộc thiểu số nhằm âm mưu tiến hành các cuộc bạo động chống phá chính quyền, giết hại cán bộ và người dân vô tội, gây mất trật tự xã hội, làm hoang mang lòng dân và trực tiếp đe dọa an ninh chính trị của đất nước.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn lợi dụng những khác biệt về văn hóa, đời sống tâm lý, tín ngưỡng, tôn giáo, thói quen, tập quán sản xuất,... giữa các dân tộc thiểu số để gây chia rẽ, kích động hằn thù, xung đột trong cộng đồng các dân tộc nước ta... Chiêu bài chúng sử dụng nhiều nhất trong các hoạt động chống phá an ninh trên lĩnh vực dân tộc ở nước ta là kết hợp lợi dụng vấn đề dân tộc với lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Lợi dụng tình trạng một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn, thiếu thốn về kinh tế, trình độ dân trí còn hạn chế, phong tục tập quán lạc hậu, các thế lực thù địch đã lập ra nhiều tổ chức núp bóng tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào; dùng thần quyền, giáo lý chi phối họ tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước; thực hiện âm mưu “tôn giáo hóa vùng dân tộc thiểu số”.

Các thế lực thù địch tuyên truyền, lôi kéo lực lượng để lập ra cái gọi là “tôn giáo riêng” cho một số đồng bào dân tộc thiểu số như: “Tin lành Đêga”, “Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (UMCC); “Tin lành riêng của người Mông”, “Phật giáo riêng của người Khmer”... Từ đó, lợi dụng tôn giáo như một công cụ tinh thần để khống chế đồng bào, xây dựng tổ chức phản động và lực lượng đối lập, gây mâu thuẫn, xung đột giữa các dân tộc nhằm ly khai, lập khu tự trị, lập “tôn giáo riêng”, “nhà nước riêng” ở một số vùng trọng điểm chiến lược. Đồng thời, chúng móc nối với các phần tử cực đoan ở một số quốc gia, tổ chức các cuộc điều trần, họp báo, ra tuyên bố, xuyên tạc, bóp méo tình hình tôn giáo, nhân quyền ở các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, gây sức ép, làm giảm uy tín quốc tế, cản trở quá trình hội nhập quốc tế của nước ta.

Bên cạnh đó, các phần tử phản động tìm cách câu kết, móc nối, “lợi dụng” các tổ chức phản động người Việt lưu vong để kêu gọi ủng hộ, cung cấp tiền bạc, vũ khí, tài liệu cho các hoạt động chống phá Đảng và hệ thống chính trị nước ta. Đồng thời, ra sức lợi dụng không gian mạng xã hội tiến hành đào tạo trực tuyến, chỉ đạo số cầm đầu trong nước hoạt động chống phá bằng nhiều hình thức, củng cố, phát triển lực lượng, xúi giục đồng bào trốn ra nước ngoài; thu thập, cắt ghép, xuyên tạc, bịa đặt thông tin, tài liệu về dân chủ, nhân quyền, nhất là thông tin về quyền của các dân tộc thiểu số, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng gửi ra nước ngoài để vu cáo Việt Nam phân biệt đối xử, đàn áp người dân tộc thiểu số trên các diễn đàn quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ của các thế lực thù địch quốc tế để chống phá nước ta.

Thứ tư, về phạm vi thực hiện: Các thế lực thù địch ngày càng mở rộng mạng lưới và địa bàn hoạt động, không chỉ trên lãnh thổ Việt Nam mà còn ở cả nước ngoài.

Ở trong nước, các thế lực thù địch triệt để tận dụng, khai thác mọi “kẽ hở” nhằm tạo ra những mâu thuẫn trong cộng đồng dân tộc để thực hiện chống phá cách mạng Việt Nam về vấn đề dân tộc trên chính địa bàn đồng bào đang sinh sống, coi đó là điểm xuất phát trong thực hiện âm mưu lâu dài của chúng.

Khu vực đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta thường là vùng giàu tài nguyên, vùng đầu nguồn của các con sông lớn, vùng đệm các rừng đặc dụng các khu sinh thái, vùng đặc trưng văn hóa, vùng biên cương - là những vùng kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Đây đều là những địa bàn trọng yếu, nhạy cảm, có sự đa dạng về thành phần tộc người và tôn giáo, từ miền núi phía Bắc (đặc biệt là khu vực Tây Bắc) đến miền Tây Thanh Hóa - Nghệ An, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.

Ở nước ngoài, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức phản động như “Hội người Mông quốc tế”, “Liên hiệp người Mông tự trị”, “Văn phòng Chămpa quốc tế”, “Hội người Khmer - Krum”... Theo thống kê, cộng đồng người Mông ở Mỹ đã hình thành hơn 160 tổ chức, hội nhóm ở 25 bang. Điển hình là các tổ chức “Phát triển quốc gia Mông” (H’Mong National Development - Inc-HND); “Mặt trận giải phóng thống nhất người Mông” (H’Mong United Liberation Front)... Các tổ chức này đều tập hợp các phe phái, hội nhóm người Mông, kêu gọi thành lập “nhà nước Mông”, thông qua Hội người Mông quốc tế, xác định cương lĩnh xây dựng “nhà nước” của dân tộc Mông(1)... Các tổ chức này vừa tập hợp, phát triển lực lượng là người các dân tộc thiểu số đang sinh sống ở ngoài nước, vừa hỗ trợ móc nối phát triển lực lượng ở trong nước; đồng thời tìm cách gây áp lực chống phá cách mạng Việt Nam dưới nhiều hình thức.

Thứ năm, về tổ chức và lực lượng: Các thế lực thù địch ráo riết xây dựng các tổ chức phản động ở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam. Tổ chức của chúng thường được xây dựng từ lực lượng Việt kiều phản động, cực đoan; hoặc liên kết chặt chẽ với các tổ chức phản động của nước ngoài. Đó là các tổ chức như: “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc (do các thế lực thù địch trong và ngoài nước thành lập, kích động đồng bào Mông ở các tỉnh khu vực Tây Bắc di cư tự do vào các tỉnh Tây Nguyên và di cư sang Lào thành lập nhà nước riêng), “Mặt trận giải phóng Khmer - Krum” ở Tây Nam Bộ, “Mặt trận Chămpa” ở miền Trung...

Một trong những tổ chức chống phá ta quyết liệt là FULRO (viết tắt của “Mặt trận thống nhất đấu tranh của các chủng tộc bị áp bức”), chúng đã dùng nhiều thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gieo rắc tư tưởng ly khai, âm mưu thành lập “Nhà nước Đêga tự trị”, tạo cớ để nước ngoài can thiệp chống phá Việt Nam... Mặc dù FULRO đã bị xóa sổ, nhưng tàn dư của nó vẫn chưa chấm dứt và luôn tìm cách tạo ra những “điểm nóng” trong “vấn đề Tây Nguyên”; chúng không ngừng cấu kết với các phần tử cực đoan, tổ chức phản động trong và ngoài nước tuyên truyền, kích động gây hận thù dân tộc, sẵn sàng nổi dậy gây bạo loạn, tập kích vũ trang khi có thời cơ.

Trong những năm gần đây, xuất hiện nhóm “Người Thượng vì công lý - MSFJ” giả danh “thúc đẩy hòa bình và bảo vệ quyền con người của những người bị áp bức tại Tây Nguyên”, thực chất đây là nhóm đối tượng lợi dụng tình cảm đồng bào huyết thống để xúi giục, kích động người dân tộc thiểu số chống phá chính quyền, chà đạp lên sự bình yên, ổn định của quốc gia - dân tộc để nhận về những đồng USD “tài trợ” cùng những lời hứa mờ mịt về cái gọi là “tương lai hạnh phúc” ở trời Tây(2). Hầu hết các tổ chức phản động lợi dụng vấn đề dân tộc đều được thế lực nước ngoài hậu thuẫn trên mọi phương diện.

Các âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch hiện nay vô cùng phức tạp, không chỉ là vấn đề nội bộ đất nước mà liên quan với yếu tố nước ngoài. Vì vậy, để đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn đó, bên cạnh việc tăng cường biện pháp về kinh tế, xã hội, văn hóa - tư tưởng, pháp lý, quốc phòng, an ninh, cần kết hợp với biện pháp ngoại giao để tạo ra một hệ thống giải pháp toàn diện, căn cốt trong xử lý, giải quyết vấn đề dân tộc nhằm bảo đảm sự ổn định chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

St

 

Không thể xuyên tạc, phủ nhận chính sách an sinh xã hội của Việt Nam

 

Những năm qua, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Trong đó, chính sách an sinh xã hội luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm đặc biệt; trực tiếp góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đó là những minh chứng sinh động, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phản động.

Trong các giai đoạn phát triển của đất nước kể từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến nay, an sinh xã hội luôn là một trong những chủ trương, chính sách quan trọng của Ðảng và Nhà nước Việt Nam. Bảo đảm an sinh xã hội được xác định vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nền tảng cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao vị thế đất nước; là cơ sở để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội nước ta.

Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận thành quả mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được. Họ triệt để lợi dụng những khó khăn về đời sống của một bộ phận nhân dân, các vấn đề xã hội bức xúc; kết quả của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ,… để thực hiện các thủ đoạn chống phá. Thứ nhất, trực tiếp công kích, xuyên tạc hệ thống chính sách an sinh xã hội của Đảng, Nhà nước ta trong gần 80 năm qua, nhất là trong thời gian gần đây. Thứ hai, cố tình bôi đen, phủ nhận những kết quả thực tế trong bảo đảm an sinh xã hội mà chúng ta đã đạt được cùng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cả hai phương diện này được các thế lực thù địch, phản động kết hợp chặt chẽ với nhau và luôn gắn với các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, coi đó là “điểm tựa” và “chất liệu” để chống phá. Họ thường rêu rao các luận điệu, như: chính sách an sinh xã hội của Việt Nam “thiếu tiến bộ, thiếu công bằng xã hội”; “Nhà nước rũ bỏ trách nhiệm lo an sinh cho dân”, rằng “chế độ an sinh xã hội ở Việt Nam có chiều hướng thụt lùi”, chính quyền “bỏ mặc dân nghèo tự lo”, “tự bơi”, v.v. Qua đó, hình thành mũi nhọn trực tiếp tiến công, hướng đến mục tiêu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước; bôi đen, phủ định bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nhưng sự thật luôn rõ ràng! Những luận điệu xuyên tạc không thể phủ nhận được thực tế rằng: việc bảo đảm an sinh xã hội luôn là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam; là chính sách cơ bản để xóa đói, giảm nghèo, giảm nhẹ tác động bất lợi, rủi ro, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm đời sống của nhân dân, tạo đồng thuận xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh. Mục đích mà Đảng và Nhân dân ta phấn đấu là làm cho mọi người đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Mục đích đó vừa đặt ra yêu cầu, vừa quy định phương hướng, mục tiêu chính sách an sinh xã hội mà Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhìn lại lịch sử, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành côngtrong bối cảnh chính quyền non trẻ phải đương đầu với “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải xây dựng chính quyền mới, củng cố và sử dụng chính quyền ấy để kiến tạo, xây dựng chế độ xã hội mới, không ngừng nâng cao, mở rộng quyền làm chủ của nhân dân, trong đó có đảm bảo an sinh xã hội, đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc thực sự cho nhân dân. Trước thực tế có tới 95% dân số không biết đọc, biết viết, khoảng 10% dân số bị chết đói, việc đảm bảo an sinh xã hội, chăm lo cuộc sống cho nhân dân là vấn đề vô cùng hệ trọng và là nhiệm vụ bức thiết được Đảng, Chính phủ thực hiện ráo riết. Chỉ trong thời gian ngắn, khoảng hơn một năm sau Cách mạng Tháng Tám thành công, “giặc đói”, “giặc dốt” cơ bản đã bị đẩy lùi, nền tài chính quốc gia được gây dựng lại; nền văn hóa, nếp sống mới bước đầu được xây dựng; y tế, vệ sinh phòng bệnh được quan tâm, v.v. Đó là những vấn đề rất cơ bản thể hiện sinh động thành tựu an sinh xã hội mà Đảng, Nhà nước đã sớm thực hiện trong chăm lo đời sống nhân dân; phản ánh sâu sắc bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ xã hội nước ta, dù mới chỉ bắt đầu xây dựng.

Trên phương diện chính sách. Đảng, Nhà nước ta luôn chủ trương xây dựng và không ngừng hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, hướng đến mục tiêu bao phủ toàn dân và toàn diện, theo phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) đã ghi nhận những điều khoản quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành hệ thống chính sách an sinh xã hội: “Quyền lợi các giới cần lao, trí thức và chân tay được bảo đảm” (Điều 13); “Những người công dân già cả hoặc tàn tật, không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” (Điều 14). Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội” (Điều 34). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là: “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”1. Thực hiện mục tiêu đó, Đảng ta xác định: hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đa dạng, linh hoạt “có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong cuộc sống”2. Đồng thời, đề ra các giải pháp chủ yếu: hoàn thiện hệ thống bảo hiểm, trợ giúp, cứu trợ xã hội; triển khai các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt khó khăn; huy động mọi nguồn lực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người có công với cách mạng. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”3.

Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình, đề án, kế hoạch,… mang tính toàn diện và bao trùm đến mọi tầng lớp xã hội, trên tất cả các “trụ cột” của chính sách và tổ chức thực hiện trên thực tế. Cụ thể là: (1). Hệ thống bảo hiểm xã hội đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; (2). Hệ thống hỗ trợ giải quyết việc làm góp phần tạo việc làm đa dạng, đáp ứng phần lớn nhu cầu lực lượng lao động, đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (3). Hệ thống trợ giúp xã hội, thông qua trợ cấp trực tiếp bằng tiền, hiện vật kinh phí từ ngân sách nhà nước, giúp người dân khắc phục rủi ro, biến cố; (4). Hệ thống chính sách ưu đãi người có công, các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi; (5). Hệ thống bảo đảm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, nhà ở, thông tin,...) ngày càng cải thiện về chất lượng và quy mô, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu đại bộ phận người dân, đặc biệt là nhóm dân cư vùng sâu, vùng xa, địa bàn đặc biệt khó khăn, v.v.

Với chính sách ngày càng hoàn thiện, đồng bộ và đi vào cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng trên các lĩnh vựcVề giảm nghèo, Đảng, Nhà nước ta thực hiện linh hoạt các giải pháp hỗ trợ người dân thoát nghèo, đạt thành tựu nổi bật. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều mới giảm từ 9,88% năm 2015 còn 2,75% năm 2020, về đích trước 10 năm so với Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và là một trong 30 nước áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, được quốc tế ghi nhận. Về bảo trợ xã hội, cả nước hiện có 425 cơ sở trợ giúp xã hội (trong đó: 191 công lập và 234 ngoài công lập) nuôi dưỡng, chăm sóc hơn 41 nghìn người. Đến cuối năm 2023, đã có 100% đối tượng được hưởng trợ cấp hằng tháng, 100% số người bị thiệt hại do thiên tai, thiếu đói được trợ giúp kịp thời, không để ai bị đói, hơn 90% số người khuyết tật khó khăn được trợ giúp, chăm sóc, phục hồi chức năng, hơn 90% số người cao tuổi khó khăn được trợ giúp, phụng dưỡng, chăm sóc. Đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế - hai trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội quốc gia, có diện bao phủ ngày càng mở rộng. Theo thống kê, đến hết tháng 6/2024, cả nước có khoảng 18,305 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, đạt 39,05% lực lượng lao động trong độ tuổi, tăng 1,164 triệu người so với cùng kỳ năm 2023 (tăng gần 02 lần so với năm 2010). Đặc biệt, số người tham gia bảo hiểm y tế liên tục tăng qua các năm (2021: 91,01%; 2022: 92,04%; 2023: 93,35%), tiệm cận mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân. Trong đó, hầu hết các nhóm người có thu nhập thấp, người nghèo, người yếu thế trong xã hội đều đã được tham gia bảo hiểm y tế từ nguồn hỗ trợ của ngân sách nhà nước, địa phương hoặc huy động từ các nguồn lực khác. Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa ngày càng được thực hiện tốt hơn. Hiện nay, đường truyền dẫn cáp quang, dịch vụ thông tin di động đã đến 100% xã trong toàn quốc. Mạng điện thoại di động đã phủ sóng cả nước, riêng tỷ lệ phủ sóng điện thoại di động băng rộng 4G của Việt Nam đã lên đến 99,8% xét trên dân số. Hệ thống cơ sở giáo dục phát triển nhanh, phổ cập giáo dục từ cấp mầm non đến trung học cơ sở hoàn thành trước thời hạn; trẻ em đi học đúng tuổi cấp tiểu học đạt 99% từ năm 2015, cấp trung học cơ sở đạt trên 95% từ năm 2020, tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết chữ đạt 97,85%. Những kết quả từ chính sách an sinh xã hội đã góp phần khiến chỉ số hạnh phúc của Việt Nam liên tục tăng qua các năm. Ngày 20/3/2024, Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố Báo cáo hạnh phúc thế giới thường niên lần thứ 10; trong đó, Việt Nam tăng 11 bậc, từ vị trí 65 (năm 2023) lên vị trí 54/143 quốc gia khảo sát.

Với những số liệu “biết nói” trên, hướng đến mục tiêu: “Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững,… gắn với bảo đảm quyền con người, quyền công dân”4, Việt Nam đã có hệ thống an sinh xã hội phát triển thành mạng lưới bao trùm, toàn diện, vì con người, diện bao phủ không ngừng được mở rộng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tất cả các đối tượng. Đây chính là minh chứng khẳng định thành tựu bảo đảm an sinh xã hội ở Việt Nam là rất đáng tự hào, người dân được thụ hưởng thực sự, thực tế và ngày càng được cải thiện, nâng cao. Thực tế đó là không thể phủ nhận dưới mọi hình thức./.

St