Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

Chức năng nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chức năng thế giới quan. Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin, cung cấp cho giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ một thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng và nhân sinh quan cộng sản. Đồng thời, trên cơ sở tri thức khoa học toàn diện về tự nhiên, xã hội, tư duy, Chủ nghĩa xã hội khoa học luận giải sâu sắc, toàn diện về quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, thông qua đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, khẳng định sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân phải do chính giai cấp công nhân đảm nhận, thông qua chính đảng mác xít- lênin nít lãnh đạo.

Chức năng giáo dục. Chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị cho giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ hệ thống lý luận cách mạng, khoa học, qua đó giáo dục xây dựng niềm tin, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa trên cơ sở khoa học; củng cố lập trường, bản lĩnh chính trị, hình thành phẩm chất, nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng cộng sản được tiếp nhận chuyển hoá thành nhận thức, tình cảm, thái độ, hành vi của con người không phải bằng sức mạnh quyền uy hay bằng sự mê hoặc mang tính chất tôn giáo, mà bằng chính sức mạnh của trí tuệ và tình cảm của mỗi con người, trên cơ sở nhận thức sâu sắc quy luật của cuộc sống và sự truyền bá, giáo dục những nguyên lý Chủ nghĩa xã hội khoa học của các đảng cộng sản vào quần chúng nhân dân lao động.

Chức năng dự báo khoa học, định hướng chính trị, hướng dẫn thực tiễn. Chủ nghĩa xã hội khoa học đưa ra những dự báo khoa học về phương hướng, mục tiêu, con đường, biện pháp cách mạng để cải tạo xã hội theo quy luật tiến hoá của lịch sử. Từ đó định hướng chính trị tư tưởng và hướng dẫn hoạt động thực tiễn để đạt được những mục tiêu chính trị đã đề ra, cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người, thúc đẩy lịch sử phát triển. Thực tiễn lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã chứng minh: Từ sự giác ngộ lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học, giai cấp công nhân đã thành lập ra chính đảng của mình, đem khoa học thay cho mộng tưởng, làm chuyển hóa phong trào từ đấu tranh tự phát lên đấu tranh tự giác, từ giai cấp bị trị đã bước lên vũ đài lịch sử, vũ đài chính trị và trở thành giai cấp trung tâm của thời đại, giữ vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh để thực hiện sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.

ĐỔI MỚI VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ TRONG CÔNG TÁC LÝ LUẬN

 


 Cần thiết phải đổi mới chính sách đầu tư, phân bổ nguồn lực tài chính, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và điều kiện làm việc cho công tác nghiên cứu lý luận. Về quản lý tài chính đối với hoạt động nghiên cứu lý luận cần chuyển sang chế độ đặt hàng, quyết toán đầu tư theo kết quả nghiên cứu, kiên quyết cắt bỏ những khâu thủ tục hành chính, giấy tờ phức tạp và không có ý nghĩa thực tế. Các kết quả nghiên cứu phải có địa chỉ sử dụng hoặc gắn liền với yêu cầu hoạch định chính sách. Cần có sự chỉ đạo, đánh giá chung, thống nhất trong cả hệ thống để tránh sự chồng chéo, trùng lặp đề tài, gây lãng phí nguồn lực đầu tư.

 Bên cạnh đó, để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu lý luận cần có chính sách, chế độ đầu tư, đảm bảo các điều kiện hạ tầng kỹ thuật như thông tin, tư liệu, thư viện, không gian làm việc cho các cơ quan lý luận, các nhà khoa học, nhất là các chuyên gia đầu ngành.

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC CƠ QUAN NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG, SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CHUYÊN GIA LÝ LUẬN

 


 Đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng; đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là những chuyên gia đầu ngành là đòi hỏi tất yếu. Trên thực tế, mô hình tổ chức các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng đã được hình thành trong quá trình đổi mới, đến nay chưa có thay đổi, cơ chế vận hành của hệ thống có nhưng chuyển biến nhất định nhưng nhiều vấn đề chưa rõ ràng, nhất là cơ chế vận hành, sự phân định trách nhiệm, các điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, quan hệ giữa các cơ quan nghiên cứu trong cả nước. Hoạt động nghiên cứu, phát triển lý luận còn tách rời với hoạt động tham mưu về chính sách. Vì thế, việc đổi mới mô hình tổ chức, cơ chế vận hành của các cơ quan nghiên cứu, phát triển lý luận là cấp bách.

 Việc xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ, chuyên gia lý luận, từ công tác đào tạo ban đầu, đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, đến chế độ sử dụng, đãi ngộ với cán bộ nghiên cứu lý luận nhất là cán bộ khoa học đầu ngành cần được đổi mới đồng bộ. Cần có chính sách thu hút nhân tài vào các ngành đào tạo, nghiên cứu lý luận chính trị thông qua chính sách đãi ngộ thích đáng và nhiều biện pháp ưu đãi khác. Đối với các chuyên gia đầu ngành, cần có chính sách sử dụng thống nhất, chế độ đãi ngộ thích hợp, khuyến khịch đối với các thành tựu nghiên cứu. Cần có chính sách sử dụng, khai thác hợp lý đối với những cán bộ, chuyên gia lý luận đã quá tuổi lao động nhưng còn có sức khỏe và năng lực làm việc tốt.

Phòng ngừa vấn nạn “nghiện chơi game và các trang mạng xã hội” cho quân nhân

Nghiện game và các trang mạng xã hội là một vấn đề ngày càng trở nên phổ biến trong xã hội hiện đại. Bởi sự hấp dẫn của nó khi cho người tham gia thỏa mãn được thú vui khi được nhập vai, tính mạo hiểm, ganh đua, chiến thắng, phần thưởng...  

Tuy nhiên, khi “nghiện” có thể dẫn đến suy kiệt sức khỏe, lâu ngày sẽ quen lối sống khép kín, trở nên rụt rè, thiếu tự tin và các kĩ năng ứng xử tối thiểu.

Hiện nay, nghiện game, nghiện mạng xã hội không chỉ là hiện tượng ở một số quốc gia phát triển mà đã lan rộng đến nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới và đã trở thành căn bệnh thời đại, trong đó, giới trẻ chiếm số lượng rất lớn. Nguy hiểm hơn, đã có các vụ án liên quan đến những đối tượng “nghiện game và các trang mạng xã hội” với độ tuổi tương đối trẻ trong thời gian qua đang tạo lên những lo lắng trong dư luận xã hội.

Từ diễn biến các vụ án cho thấy, những “ý tưởng” trong game và các trang mạng xã hội đã vô tình trở thành “gợi ý” cho các đối tượng thực hiện các vụ bắt cóc, giết người dã man, gây ảnh hưởng tới an ninh trật tự xã hội. Hơn nữa, Không ít người trẻ tuổi xuất phát từ việc “nghiện game và các trang mạng xã hội” đã rơi vào trạng thái không phân định được thế giới ảo và thật, mất kiểm soát hành vi, cảm xúc ở cuộc sống thật, nên dễ dẫn đến các hành vi sai trái, bạo lực. Ngoài ra, một số người sẽ tìm cách bất hợp pháp, vi phạm pháp luật như: trộm cắp, cướp giật tài sản, tước đoạt tính mạng của người khác… chỉ để có tiền chơi game.

Thiết nghĩ, đã đến lúc coi “nghiện game và các trang mạng xã hội” là một vấn đề đáng báo động. Là một tổ chức trong các cơ quan, đơn vị trong quân đội cần phải có những biện pháp sớm nắm bắt, phát hiện ngăn ngừa vấn nạn nghiện chơi game và các trang mạng xã hội cho quân nhân tránh vi phạm pháp luật

Trước hết, cần phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kỷ luật, đạo đức lối sống trong đơn vị, nhất là kỹ năng sống, tác hại nghiện chơi game, mạng xã hội. Sâu sát, nắm chắc tình hình tư tưởng của quân nhân trong đơn vị. Duy trì chặt chẽ nền nếp, chế độ; tổ chức hiệu quả hoạt động văn hóa tinh thần trong ngày nghỉ, giờ nghỉ như: tham quan, vận động, thể thao... Từ đó, tạo cho quân nhân những sân chơi bổ ích; hạn chế việc tìm đến các trò chơi, trang mạng xã hội gây hại. Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn, Hội trong đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống, có những diễn đàn, hoạt động lành mạnh, giúp quân nhân tránh xa vấn nạn nghiện chơi game và các trang mạng xã hội.

Thông thường, để nhận biết các quân nhân “nghiện game và các trang mạng xã hội” thường có các dấu hiệu như chơi game và mạng xã hội lớn hơn 1 năm và ảnh hưởng đến các chức năng xã hội nghề nghiệp. Thường coi trọng việc chơi game và lên mạng lớn hơn tất cả các công việc khác. Hay thức khuya, nói dối, bỏ bê công việc để chơi game và lên mạng xã hội. Khi được giao nhiệm vụ hay quên, chất lượng hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ thấp, chậm tiến độ, không quan tâm, thờ ơ với những hoạt động đơn vị... Hoặc là quân nhân thường xuyên có suy nghĩ mơ hồ, sống ảo, có biểu hiện giảm cân hoặc suy nhược cơ thể, có xu hướng hành xử, phát ngôn theo các mối quan hệ trong trò chơi online và trên mạng xã hội và có dư luận trong tập thể quân nhân.

Do đó, một biện pháp quan trọng là các cơ quan, đơn vị cần tăng cường các biện pháp nắm, quản lý của cán bộ các cấp, tính chủ động của mỗi tổ chức đối với quản lý quân nhân ở mọi lúc, mọi nới, nhất là những thời điểm nhạy cảm nhằm sớm nắm bắt, phát hiện những dấu hiệu “nghiện game và các trang mạng xã hội” của quân nhân để có biện pháp can thiệp kịp thời. Chú trọng, xây dựng bầu không khí dân chủ, đoàn kết, kỷ luật trong đơn vị; tạo điều kiện thuận lợi cho quân nhân trong học tập, rèn luyện và công tác.

Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị quân đội cần phải luôn quan tâm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, tổ chức tốt các hoạt động giờ nghỉ, ngày nghỉ, thực hiện tốt các chính sách quân đội, hậu phương quân đội. Thường xuyên phối hợp chính quyền các địa phương và các ngành chức năng nắm tình hình trên địa bàn đứng chân, làm tốt công tác tuyên truyền. Đồng thời, cần tăng cường sự kết nối với gia đình, các đoàn thể chính trị xã hội để ngăn chặn tệ nạn “nghiện game và các trang mạng xã hội”, góp phần ngăn chặn hành vi phạm tội và các vụ việc thương tâm do các đối tượng “nghiện game và các trang mạng xã hội” gây ra./.

Sưu tầm

ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN, TỔNG KẾT THỰC TIỄN

 


 Về nội dung: Tiếp tục đào sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định được những giá trị đúng đắn, những vấn đề phương pháp luận cốt lõi, những vấn đề lịch sử đã vượt qua. Mở rộng việc nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu lý luận của nhân loại, những bài học thành công, thất bại của phong trào công nhân, cộng sản, của chủ nghĩa xã hội hiện thực và những thành tựu lý luận khác của nhân loại, theo phương châm tận dụng tốt nhất những giá trị tích cực của nhân loại phụ vụ cho lợi ích dân tộc, cho mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ hơn và truyền bá sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân những giá trị sáng tạo to lớn của Người về vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu gắn với tổng kết thực tế, đặc biệt là các mô hình hay, những kinh nghiệm tốt trong việc giải quyết các mối quan hệ lớn, cập nhật và làm rõ những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, phát hiện và phản biện kịp thời những chính sách không còn phù hợp. Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tế, tiếp tục làm sáng tỏ hơn mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, luận giải và làm rõ những vấn đề thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước đang đặt ra, xây dựng cơ sở khoa học và thực tế phục vụ tốt cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

 Để thực hiện, cần thực sự đổi mới tư duy lý luận, đổi mới phương pháp nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, vận dụng những phương pháp, cách tiếp cận hiện đại. Đặc biệt, các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở phải đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm. Những phương pháp, phong cách đó là cần thiết đối với hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng nói chung, đồng thời cũng là điều kiện cần thiết cho việc đổi mới nội dung, phương pháp nghiên cứu, phát triển lý luận nói riêng.

Đấu tranh phản bác luận điệu “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là đi vào vết xe đổ của Liên Xô” của các thế lực thù địch

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục sử dụng các thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt để thực hiện mục tiêu xuyên suốt không bao giờ thay đổi là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng thường xuyên tung lên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là các trang mạng xã hội những luận điệu xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ lịch sử, phủ nhận con đường phát triển của đất nước. Trong đó, luận điệu: “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là đi vào “vết xe đổ của Liên Xô” là một trong những điển hình của những thủ đoạn thâm độc đó.

Thực chất luận điệu trên của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nước ta, hướng lái con đường cách mạng sang chủ nghĩa tư bản. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm, tác động không nhỏ đến việc định hướng, củng cố niềm tin của Nhân dân với con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã chọn từ năm 1930. Do đó, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại luận điệu xuyên tạc đó của các thế lực thù địch, góp phần củng cố, kiên định niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là vấn đề luôn có tính cấp thiết hiện nay.

Trước hết, chúng ta cần nhận thức rõ rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở ở Liên Xô vào năm 1991 là một thực tế lịch sử không phủ nhận, do những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, trong đó nguyên nhân “cốt tử” đó là do trong thời điểm đó, Đảng Cộng sản Liên Xô và một số cá nhân trong ban lãnh đạo của đảng đã xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; sai lầm trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội hoặc cứng nhắc, máy móc, giáo điều trong vận dụng, thậm chí sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị (cải tổ chính trị trước cải tổ kinh tế...); sai lầm về công tác tư tưởng và công tác tổ chức, thậm chí có sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ lãnh đạo cao cấp (nhất là người đứng đầu, như Goócbachốp...). Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, tìm mọi cách tác động vào công cuộc cải tổ của Liên Xô, lợi dụng những sai lầm từ bên trong đảng, nhà nước, đội ngũ cán bộ để thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô... Sự đổ vỡ ấy là tổn thất vô cùng to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của chủ nghĩa xã hội hiện thực, và vô hình chung đã tạo thành “vết xe đổ” trên con đường hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Nhưng xét một cách khách quan về thực tiễn, chính “vết xe đổ” ấy là bài học kinh nghiệm vô cùng “đắt giá” cho những người mác xít chân chính, các đảng cộng sản nhìn nhận, đánh giá, đúc rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, cải cách ở đất nước mình, dân tộc mình. Trên thực tế, vấn đề có tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đó là: Nếu các đảng cộng sản không kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, không giữ vững nguyên tắc định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng vô sản; không vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong quá trình đổi mới, cải cách; việc định ra đường lối, chiến lược, sách lược không đúng đắn, phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa của dân tộc... thì sớm hay muộn sẽ “đi vào vết xe đổ” ấy của Liên Xô. Ngược lại, nếu các Đảng Cộng sản thật sự nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, luôn trung thành và kiên định, vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, giữ vững nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, luôn sáng tạo, linh hoạt trong quá trình đổi mới, cải cách, định ra đường lối, chiến lược, sách lược đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và điều kiện của từng nước, luôn cảnh giác, đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch... thì nhất định công cuộc đổi mới, cải cách sẽ thành công, và cố nhiên sẽ không thể và không bao giờ đi vào “vết xe đổ của Liên Xô”. Điều đó được minh chứng bằng sự đổi mới, cải cách thành công của các nước xã hội chủ nghĩa: Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Lào...

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng: Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội sẽ không thể và không bao giờ đi vào “vết xe đổ của Liên Xô” như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang rêu rao, xuyên tạc, phủ nhận. Bởi vì, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã được Đảng, Bác Hồ, Nhân dân ta đã lựa chọn từ năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây là sự lựa chọn của lịch sử, của lương tri và phẩm giá của con người Việt Nam, là sự lựa chọn duy nhất đúng và được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn, hợp với quy luật phát triển của lịch sử loài người và điều kiện lịch sử của Việt Nam đầu thế thế kỷ XX. Chính lựa chọn con đường đúng đắn đó đã trở thành mục tiêu, động lực cho cách mạng Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên độc lập, tự do, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ hai đầu biên giới phía Tây Nam và phía Bắc... đã chứng minh sự lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn đúng, đưa Việt Nam bước phát triển trong Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, do Đảng ta đã tuyệt đối trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện của Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định với đường lối đổi mới, nhất là kiên định với những nguyên tắc xây dựng Đảng Cộng sản, cùng với việc khơi dậy và phát huy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, kết hợp chặt chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại... cách mạng Việt Nam đã đổi mới thành công, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là những điều kiện, tiền đề quan trọng để nước ta vượt qua Kỷ nguyên đổi mới, phát triển, bước vào Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Thành tựu to lớn ấy càng minh chứng: Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội hoàn toàn đúng đắn, phù hợp không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô”, mà là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, đáp ứng ước nguyện của toàn thể dân tộc và là con đường duy nhất đúng trong thời đại ngày nay - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, mở đầu bằng cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

Như vậy, luận điệu “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là đi vào vết xe đổ của Liên Xô” là hoàn toàn sai trái, thù địch, nhằm xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do đó, hơn lúc nào hết chúng ta phải luôn luôn cảnh giác, nêu cao tinh thần đấu tranh cách mạng, luôn tin tưởng, kiên định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân đã chọn, phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

Sưu tầm

ĐỔI MỚI NHẬN THỨC CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN, NHẤT LÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHIẾN LƯỢC VỀ CÔNG TÁC LÝ LUẬN

 


 Việc đổi mới nhận thức về công tác lý luận đặt ra trước hết đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược, những người đứng đầu các cơ quan đảng, nhà nướctrong việc hiểu đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng và tính chất của công tác lý luận trong xây dựng, phát triển đất nước. Đây là điều kiện quyết định không chỉ để có một môi trường tích cực cho việc phát triển lý luận, mà quan trọng hơn là nhằm hai mục đích lớn hơn. Thứ nhất, từ nhận thức đúng đắn về lý luận, đội ngũ cán bộ chiến lược của Đảng sẽ ý thức đầy đủ hơn trong việc học tập, nghiên cứu, nâng cao sự hiểu biết có hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng những thành tựu lý luận Mác xít hiện đại. Đến lượt nó, đó chính là cơ sở để củng cố niềm tin, lý tưởng và ý thức chính trị cho cán bộ. Thứ hai, giúp đội ngũ cán bộ chiến lược quan tâm đúng mức đến công tác tổ chức nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tế, tiếp nhận và vận dụng những thành tưu lý luận mới vào thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHO CÔNG TÁC LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG

 


 Nghiên cứu lý luận là một khoa học đặc thù. Đặc biệt, hoạt động nghiên cứu khoa học về lý luận lại diễn ra trong điều kiện các tiến trình xã hội liên tục vận động, vì thế, việc đưa ra đánh giá về tính chất của thực tiễn xã hội là vô cùng khó khăn. Khi nói về tính chất, đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong bức thư gửi cho K.Smith, Ph.Ăngghen đã cho rằng, “đó là vấn đề khó khăn nhất trong tất cả các vấn đề, vì các điều kiện biến đổi không ngừng”. Mặt khác, việc minh chứng cho sự đúng đắn của các kết quả nghiên cứu lý luận phần lớn phải đòi hỏi có thời gian, thậm chí thời gian khá lâu. Vì thế, hoạt động nghiên cứu lý luận cũng đòi hỏi phải được ứng xử khoa học, phù hợp với tính chất của nó. Nói cách khác, môi trường chính trị - xã hội là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển lý luận. Tuy nhiên, nhận thức về lý luận của nhiều cán bộ, cấp ủy chưa ngang tầm với yêu cầu. Thiếu các cơ chế đánh giá thực sự khoa học, khách quan, các quy định pháp lý bảo đảm về mặt khoa học cho các kết quả nghiên cứu, cũng như bảo vệ những người nghiên cứu lý luận. Một số kết quả nghiên cứu khoa học, ý kiến phản biện còn bị đánh giá quá khắt khe, nhiều khi có những quy kết có tính chính trị bất lợi cho các tác giả. Đặc biệt là chưa có cơ chế để kịp thời đánh giá, kết luận và đưa các kết quả nghiên cứu lý luận vào đường lối, chính sách. 

Từ thực tế và các vấn đề đặt ra cần có giải pháp cơ bản khả thi nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lý luận, đáp ứng yêu cầu phục vụ cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới.

 

 

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG, SỬ DỤNG, ĐÃI NGỘ CÁN BỘ NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN

 


 Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, thực tế đời sống xã hội đã có nhiều thay đổi to lớn, kéo theo những thay đổi về vị trí lao động, việc làm. Từ vị trí trong top đầu của ưu tiên lựa chọn công việc, ngày nay, công tác nghiên cứu, giảng dạy về lý luận hầu như đã xuống vị trí rất thấp, thay vào đó là các ưu tiên cho ngành nghề, công việc liên quan đến kinh doanh, kinh tế. Tình trạng chung hiện nay cho thấy, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về lý luận của Việt Nam thiếu cả về số lượng và chất lượng, nhất là sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ đầu đàn, chuyên gia trình độ cao. Cùng với sự thiếu hụt về số lượng, tư tưởng của cán bộ lý luận cũng có vấn đề. Một bộ phận cán bộ nghiên cứu giảng dạy lý luận chính trị nhưng không tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, còn nghi ngờ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

 Đào tạo ban đầu ở trình độ đại học về các môn chính trị cũng có vấn đề, do các chuyên ngành lý luận chính trị không còn sức hấp dẫn đối với thanh niên. Chương trình giảng dạy về chủ nghĩa Mác - Lênin ở các trường đại học, cao đẳng đã bị thu hẹp lại. Việc tuyển sinh đi đào tạo ở nước ngoài về lĩnh vực lý luận chính trị chưa chặt chẽ, chưa thống nhất trong cả hệ thống, phụ thuộc nhiều vào học bổng của nước ngoài. Việc tuyển dụng sinh viên các chuyên ngành lý luận chính trị ra trường vào các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy cũng còn nhiều vướng mắc, hạn chế.

 Việc sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận cũng gặp những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Việc sử dụng cán bộ nghiên cứu lý luận khi đã hết tuổi lao động theo luật lao động không rõ ràng, không thống nhất về điều kiện, chế độ. Các điều kiện làm việc của cán bộ lý luận còn nhiều hạn chế, nhất là cơ sở hạ tầng thông tin khoa học, chế độ nhuận bút...

 

NGHIÊN CỨU, TIẾP NHẬN CÓ CHỌN LỌC THÀNH TỰU LÝ LUẬN HIỆN NAY

 


Có một thời kỳ dài, do mặc cảm về ý thức hệ và yêu cầu khắc nghiệt của chiến tranh, hầu như chúng ta đóng cửa với những phát triển lý luận chính trị của thế giới nếu không phải là chủ nghĩa Mác - Lênin. Việc nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi những quan điểm chính thống của các nhà nghiên cứu Xô Viết. Trong thời kỳ đổi mới, với tinh thần mở cửa hội nhập quốc tế, chúng ta đã có nhiều đổi mới về nhận thức trong vấn đề nghiên cứu, chắt lọc những thành tựu nghiên cứu, tổng kết lý luận của nhân loại, nhất là những vấn đề về kinh tế. Đây là xu hướng khách quan, khoa học, theo đúng phương pháp luận mác xít.

 Trong điều kiện ngày nay, khi mà cuộc các mạng khoa học - công nghệ và tiến trình toàn cầu hóa diễn ra vô cùng nhanh chóng, tác động hằng ngày, hằng giờ đến mọi quốc gia, dân tộc, vấn đề nghiên cứu, tiếp nhận có chọn lọc các thành tựu lý luận, các học thuyết khoa học, các bài học kinh nghiệm về phát triển của nhân loại càng cần thiết hơn bao giờ hết. Đó là phương pháp thông minh để phát triển, hay như cách nói khác, “đứng trên vai” của người khác để thực hiện thành công mục tiêu cộng sản chân chính. Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề nghiên cứu, tiếp thu chọn lọc tinh hoa về lý luận của nhân loại hầu như còn chậm, chưa cập nhật kịp thời nhiều thành tựu nghiên cứu, bài học phát triển của thế giới, chưa theo kịp tiến trình hội nhập quốc tế về kinh tế, chính trị và nhiều lĩnh vực khác của chính chúng ta.

VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG

 


Khung khổ lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện một Đảng cầm quyền; về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; về nền kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế chia sẻ, xã hội số, chính phủ số; về mô hình tổng quát phát triển đất nước: bền vững, sáng tạo, bao trùm; về cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội; về giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển kinh tế; về xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội; đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị; vấn đề xây dựng, phát triển con người Việt Nam phát triển toàn diện; về kết hợp giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; về quan hệ giữa độc lập dân tộc với hội nhập quốc tế... Trong điều kiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta có đặc thù riêng, không giống với các nước khác, chúng ta phải vừa đẩy mạnh công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vừa phải tổng kết thực tiễn đúc rút thành lý luận phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của nước ta. Điều này đặt ra nhiều vấn đề mới và khó cho công tác tư tưởng, lý luận. Một mặt, công tác tư tưởng phải làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấm nhuần, tin tưởng vào chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng để thống nhất, đoàn kết, cùng chung sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; mặt khác, công tác lý luận của Đảng phải nhanh chóng, kịp thời tổng kết thực tiễn trong từng giai đoạn cách mạng để bổ sung, phát triển lý luận, ngày càng hoàn thiện lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, đủ sức thuyết phục toàn Đảng, toàn dân tạo ra sự thống nhất, đồng thuận cao...

Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Chúng ta đều thống nhất với nhau rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho chúng ta thế giới quan khoa học, phương pháp luận khoa học soi đường, chỉ lối cho sự nghiệp cách mạng nước ta. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển không ngừng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng đến nay cần làm rõ thêm: những luận điểm, quan điểm, nguyên lý nào của chủ nghĩa Mác - Lênin có giá trị vĩnh viễn, trường tồn; những luận điểm, quan điểm, nguyên lý nào của chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua; những luận điểm, quan điểm, nguyên lý nào cần bổ sung, phát triển. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì tư tưởng nào là vận dụng, tư tưởng nào là bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin để phù hợp thực tiễn cách mạng Việt Nam. Công tác lý luận phải làm như thế nào để chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo, thống soái trong đời sống tinh thần xã hội. Đảng ta xác định công tác lý luận là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, phát triển và củng cố niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Để có niềm tin khoa học thì phải vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của Việt Nam nhằm hình thành cơ sở lý luận cho đường lối cách mạng của Đảng; phổ biến, truyền bá chủ trương, quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân thấm nhuần, hiểu đúng, tin tưởng và cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân biến thành hành động cách mạng cụ thể, thiết thực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác lý luận trên cơ sở khoa học phải góp phần ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; góp phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn tinh vi chống phá cách mạng nước ta của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch... Đây là những công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi công tác lý luận của Đảng phải đổi mới hơn nữa và phải có cách thức, phương thức thiết thực, phù hợp với tình hình mới hiện nay.

Tình hình quốc tế diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm cho thế giới thay đổi một cách căn bản trên tất cả các phương diện vừa mang lại những thời cơ, cơ hội mới, vừa tạo ra những thách thức, nguy cơ mới, yêu cầu mới. Tình hình trong nước, sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nước ta có thế và lực mới trên trường quốc tế; đồng thời còn nhiều hạn chế, khó khăn, thách thức mới, tác động trực tiếp đến công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Các nguy cơ đã được dự báo, thì có nguy cơ không những chưa được đẩy lùi, mà còn phức tạp hơn. Nền kinh tế nước ta đã và sẽ còn nguy cơ tụt hậu so với nhiều nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, nếu chúng ta không biết tận dụng cơ hội để vươn lên. Tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được chặn đứng, một bộ phận đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi “diễn biến hòa bình”... Nhiều vấn đề phức tạp mới nảy sinh trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế như: nguy cơ lệ thuộc về kinh tế, phân hóa giàu - nghèo ngày càng doãng ra, ô nhiễm môi trường sinh thái ngày càng nghiêm trọng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sự xâm lăng văn hóa...

Công tác lý luận phải gắn bó chặt chẽ với công tác tổ chức và cán bộ. Thời gian qua công tác tổ chức và cán bộ bên cạnh những mặt thành tựu, còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém đã làm ảnh hưởng không nhỏ và đặt ra nhiều vấn đề mới tới công tác tư tưởng, lý luận. Nhiều cấp ủy, tổ chức Đảng, nhiều cán bộ, đảng viên còn xem nhẹ công tác lý luận. Nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra, lý luận chưa có lời giải đáp thỏa đáng... Cuộc sống đang đặt ra nhiều vấn đề mới, khó khăn phức tạp cho công tác lý luận phải giải quyết. Nếu không giải quyết thỏa đáng, kịp thời thì ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân...

Trên thế giới hiện nay xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng, tiếp thu những giá trị tiến bộ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội và các tư tưởng thù địch. Nghiên cứu về bản chất, đặc điểm mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại... để tiếp tục khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và những vấn đề nước ta cần học tập, tiếp thu vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa...

Các thế lực cơ hội, thù địch chống phá quyết liệt trên mặt trận tư tưởng, lý luận với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, trong khi đó chúng ta đấu tranh, phản bác còn bị động, chưa thực sự quyết liệt. Sự đấu tranh, phản bác của ta trên một số vấn đề chưa đủ cơ sở khoa học, cơ sở lý luận và thực tiễn để làm cho đối phương phải “tâm phục, khẩu phục”, do vậy, chưa thể làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch... Nhiều cấp ủy, tổ chức Đảng còn xem nhẹ công tác lý luận, việc bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng chưa được làm tốt; nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng chưa đi vào cuộc sống; công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt được như mong muốn, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý, kể cả cấp cao chưa nêu gương, năng lực hạn chế, nhiều người tham nhũng, tiêu cực, nói không đi đôi với làm, làm không như nói; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn biến phức tạp... tất cả những điều trên đây dẫn đến sự suy giảm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

COI TRỌNG SƠ KẾT, TỔNG KẾT CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

 


Sơ kết, tổng kết công tác nghiên cứu lý luận chính trị cần được coi trọng và tiến hành một cách thiết thực, hiệu quả. Bài học ngày hôm qua, nếu được sơ kết, tổng kết đúng đắn chính là phương hướng và con đường hành động hiệu quả của ngày hôm nay trên hành trình đi tới ngày mai. Đó là con đường để tiếp cận chân lý trong nghiên cứu khoa học chính trị, để tránh sự tụt hậu và khủng hoảng của lý luận chính trị. Đó cũng là một trong những biện pháp quan trọng để xây dựng nền lý luận chính trị của chúng ta. Do đó, ở đây không dung thứ thói thiển cận, cục bộ, thực dụng và cơ hội về khoa học và chính trị. Nói một cách hình ảnh, chính những thói xấu đó sẽ chôn sống một cách “ngọt ngào” và không thương tiếc nền lý luận chính trị mácxít chân chính.


 

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

 


Xây dựng một cơ chế nghiên cứu lý luận chính trị một cách cơ bản, thực sự dân chủ và minh bạch. Đây là công việc rất cần kíp. Cơ chế hoạt động khoa học phù hợp và hữu hiệu là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng để xây dựng một nền lý luận chính trị tiên phong.

Trước hết, mở rộng không ngừng dân chủ và minh bạch hóa cao độ trong nghiên cứu vừa là yêu cầu, vừa là động lực phát triển của công tác nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu lý luận chính trị nói riêng. Thứ hai, tôn trọng ý kiến cá nhân, không độc quyền chân lý, không trù úm quy kết, không a dua, biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác và ý kiến của cơ sở, chống thói cơ hội, thực dụng chính trị... là những yêu cầu tối thiểu của mỗi người, nhất là những nhà lãnh đạo khoa học, nhà chính trị trong nghiên cứu khoa học. Đó cũng là phương châm hành động của mỗi tổ chức nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu lý luận chính trị nói riêng.

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VỮNG MẠNH

 


Xây dựng đội ngũ những người nghiên cứu lý luận chính trị vững mạnh, kiên định lập trường chính trị gắn chặt với việc kiến tạo một đội ngũ những nhà khoa học chuyên ngành và liên ngành nhằm xây dựng một đội ngũ những nhà lý luận xuất sắc, trong đó những nhà lý luận chính trị đóng vai trò nòng cốt.

Thời đại mới và yêu cầu phát triển mới của đất nước đặt ra điều này. Đó chính là trọng trách của công tác lý luận. Không có cái gì phát triển một cách tự thân cả. Lý luận chính trị xã hội chủ nghĩa và việc xây dựng đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu lý luận chính trị cũng vậy. Do đó, việc xây dựng một đội ngũ những nhà lý luận chính trị xuất sắc của Đảng ta trên nền móng sức mạnh tổng hợp gồm những nhà lý luận về khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, y học, khoa học pháp lý, khoa học nhân văn, v.v.. là nhu cầu phát triển tất yếu, một bảo đảm cơ bản có tính quyết định sự phát triển mạnh mẽ, bền vững của công tác nghiên cứu lý luận chính trị và tính thiết thực, khả thi của lý luận chính trị.

Vấn đề đặt ra một cách cấp bách là, tiếp tục xây dựng cơ chế nhằm thu hút, tập hợp đông đảo và đầy đủ những nhà khoa học hàng đầu của đất nước đang công tác, học tập và làm việc ở trong và ngoài nước. Đó cũng là biện pháp để nâng tầm trí tuệ của Đảng lên ngang với sự phát triển của đất nước hiện nay; của mỗi cán bộ nghiên cứu khoa học, trong đó có các nhà khoa học lý luận chính trị. 

BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


Bảo vệ và phát triển không ngừng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là yêu cầu số một thuộc về chính bản thân Đảng. Không làm được điều này, Đảng không còn là đảng mácxít chân chính nữa; và do vậy, công tác lý luận chính trị không còn là công tác lý luận chính trị xã hội chủ nghĩa nữa.

Có nghĩa, việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong công tác lý luận chính trị cũng bao hàm cả việc làm giàu hơn và phong phú hơn nữa kho tàng chủ nghĩa Mác - Lênin bằng cách thâu thái trên tinh thần cầu thị khoa học tất cả tinh hoa thành tựu lý luận chính trị-xã hội trên thế giới, mà chính C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh là những mẫu mực trên phương diện này. Đó là con đường phát triển đầy hứa hẹn của công tác lý luận chính trị và là sự tự hoàn thiện của chính bản thân nền lý luận chính trị của chúng ta. Đấu tranh, phản bác có sức thuyết phục, tâm phục khẩu phục trên cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn vững chắc những luận điệu xuyên tạc, phản động của những kẻ cơ hội, phản động nhằm bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng...    

ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC, TUYÊN TRUYỀN HIỆN NAY

 


Đổi mới nội dung, phương thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng, của xã hội và để mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân nâng cao hiểu biết, nâng cao trình độ lý luận chính trị đủ sức phân biệt đúng - sai, phân biệt phải - trái, nâng cao sức đề kháng trước mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch; trước mọi thông tin giả, thông tin xấu, độc trên mạng xã hội; trước mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế...

Cần cung cấp thông tin kịp thời, định hướng nhanh nhạy để báo chí chính thống làm chủ trận địa thông tin: thông tin nhanh, chính xác, đầy đủ, kịp thời mọi vấn đề của đời sống xã hội. Xây dựng một đội ngũ chuyên gia giỏi để cung cấp trên mạng xã hội những thông tin chính thống, nhanh, đủ sức lấn át thông tin giả, thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Quản lý, xử lý nghiêm minh những trang mạng xã hội, blog, facebook cá nhân cố tình tung tin giả, thông tin xấu, độc...

CÔNG TÁC LÝ LUẬN PHẢI BÁM SÁT VÀ DỰA TRÊN CƠ SỞ TỔNG KẾT THỰC TIỄN

 


Công tác lý luận phải bám sát và dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi mới đất nước, đúc rút thành lý luận phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại… góp phần giải quyết nhanh, kịp thời những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề bức xúc trong đời sống kinh tế - xã hội tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận cao trong xã hội. Tăng cường tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, không ngừng lý luận hóa thực tiễn gắn với thực tiễn hóa lý luận. Không làm như vậy không thể có bất cứ sự phát triển nào của công tác lý luận chính trị cũng như không thể nói tới bất cứ một sức sống nào của bản thân lý luận chính trị của chúng ta. Nói cách khác, nếu làm khác đi là vô hình trung làm “đông cứng”, làm “khô héo” lý luận chính trị cũng như tự “đóng cửa” hoặc chặt cụt con đường phát triển tự nhiên của chính công tác lý luận chính trị của chúng ta...

Trong tiến trình tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, cần đặc biệt kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận cơ bản với nghiên cứu lý luận ứng dụng và nghiên cứu lý luận triển khai; lấy hiệu quả thực tiễn để kiểm chứng các chế định - “con đẻ” trực tiếp của công tác nghiên cứu lý luận triển khai, hiện thân của công tác nghiên cứu lý luận ứng dụng và mục tiêu của công tác nghiên cứu lý luận cơ bản. Đến lượt chúng, các mặt nghiên cứu lý luận này phải lấy tính hiệu quả thực tiễn làm thước đo giá trị đích thực, làm mục đích hướng tới của mình và từ đó, tự hoàn thiện mình không ngừng. Đó là biện chứng phát triển của công tác lý luận chính trị, sức sống của lý luận chính trị của chúng ta nói riêng.

CÔNG TÁC LÝ LUẬN CUNG CẤP LUẬN CỨ KHOA HỌC CHO HOẠCH ĐỊNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI

 


Công tác lý luận phải cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định và tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.

Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng phải trên cơ sở vừa vận dụng đúng quy luật khách quan vừa phù hợp với thực tiễn sinh động của đất nước, khu vực và thế giới trong từng giai đoạn lịch sử - cụ thể; ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện và có điều kiện, nguồn lực bảo đảm để nghị quyết đi ngay vào cuộc sống...

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TINH HOA TRONG CÔNG TÁC LÝ LUẬN

 


Cần xây dựng một đội ngũ tinh hoa, có năng lực tốt, tiến hành tổng kết thực tiễn, kết hợp với nghiên cứu lý luận sâu sắc, làm rõ mô hình chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta, nhân dân ta đang xây dựng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta một cách có cơ sở khoa học, cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn vững chắc, đủ sức thuyết phục.

Nghĩa là tạo ra khung khổ lý luận thực sự khoa học và cách mạng trên những vấn đề cơ bản nhất. Chỉ rõ quan điểm, luận điểm nào của chủ nghĩa Mác - Lênin có giá trị trường tồn, quan điểm, luận điểm nào đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua; quan điểm, luận điểm nào cần bổ sung, phát triển. Tổng kết tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta như thế nào...

Nhận diện con bài dân chủ, nhân quyền giả hiệu của các thế lực thù địch

 

Lời Bác dạy

Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”.

Lời căn dặn trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, ngày 03 tháng 12 năm 1945, đăng trên Báo Cứu quốc, số 108, ra ngày 04 tháng 12 năm 1945.

Đây là thời điểm nước ta vừa mới giành được nền độc lập, phải thực hiện nhiều nhiệm vụ cấp bách như: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm, mở rộng quan hệ với các nước tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam... Lời căn dặn của Bác có ý nghĩa sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần đối với đồng bào các các dân tộc hãy xóa bỏ mọi bất hòa, thành kiến, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để bảo vệ nền độc lập đã giành được.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang quyết liệt thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động ý thức về tộc người và lợi dụng sự chênh lệnh về trình độ phát triển giữa các dân tộc để tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, là nền tảng lý luận cho chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; định hướng, dẫn dắt cho hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong tình hình mới. Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.  Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Hơn 70 năm qua, bằng những việc làm thiết thực như tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, phòng chống thiên tai, bão lũ, hỏa hoạn, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bài trừ hủ tục mê tín, dị đoan, tệ nạn xã hội… Quân đội ta đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Trong giai đoạn mới, phát huy bản chất và truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội nguyện kề vai sát cánh với đồng bào các dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng miền núi, vùng các dân tộc ngày càng vững mạnh, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với đồng bào các dân tộc và nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Sưu tầm

Sự kiện tập kết ra Bắc 1954 – một chủ trương chiến lược và ý nghĩa xuyên thời đại

 Cả nước đang trong những ngày kỷ niệm 70 năm sự kiện tập kết ra Bắc (1954-2024) diễn ra từ ngày 10 đến ngày 26-11-2024. Nhìn lại 70 năm diễn ra sự kiện lịch sử, một lần nữa minh chứng cho thấy sự sáng suốt và đúng đắn của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Chủ trương và chính sách sáng suốt này đã góp phần tạo nền tảng vững chắc cho cách mạng thành công, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975 và làm tiền đề quan trọng cho lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn xây dựng, bảo vệ và phát triển nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong thời kỳ mới.   

Bối cảnh

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 buộc Pháp phải ký hiệp định Giơ-ne-ve (21-7-1954) về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trong điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-ve đã quy định lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quận sự tạm thời để lực lượng hai bên tập kết, quân đội Nhân dân Việt Nam tập kết ra Bắc, quân đội liên hiệp Pháp ở phía Nam. Giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không có giá trị ranh giới hay lãnh thổ. Vì vậy, sau Hiệp định Giơ-ne-ve, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền (từ vĩ tuyến 17 - sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị), hai năm sau Hiệp định sẽ tiến hành tổ chức tổng tuyển cử. Tuy nhiên, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy dã tâm của kẻ thù là phá hoại hiệp định Giơ-ne-ve, đồng thời muốn xâm chiếm và chia rẽ đất nước.

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh bố trí một số cán bộ, đảng viên ở lại miền Nam để lãnh đạo cuộc chiến đấu, đồng thời thực hiện việc chuyển quân, tập kết ra Bắc. Vì vậy, đã tổ chức đưa hàng vạn con em, chiến sĩ, đồng bào, cán bộ ở miền Nam ra Bắc học tập, nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ vừa phục vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam và tái thiết đất nước sau chiến tranh.

Hoạt động chuyển quân ở miền Nam

 Thực hiện điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-ve, Việt Nam thực hiện đợt chuyển quân tập kết ra Bắc từ ngày 6-10-1954 đến ngày 10-2-1955 tại ba địa điểm: (1) Khu tập kết 80 ngày ở Hàm Tân (Bình Thuận), Xuyên Mộc (Bà Rịa Vũng Tàu); (2) Khu tập kết 100 ngày ở Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười (tỉnh Long Châu Sa) nay là tỉnh Đồng Tháp; (3) Khu tập kết 200 ngày ở Cà Mau.

Chỉ trong vòng một tháng, lực lượng tập kết đã hành quân an toàn về các khu vực tập kết theo quy định, trong sự tiễn đưa lưu luyến của nhân dân địa phương. Từ ngày 26-8-1954, các con tàu vận tải bắt đầu đưa những đoàn cán bộ chiến sĩ tập kết của Nam Bộ ra miền Bắc. Ngày 25-9-1954, đoàn chuyển quân đầu tiên ở khu vực Hàm Tân - Xuyên Mộc cập bến Sầm Sơn.

Ngày 29-10-1954, chuyến tàu cuối cùng rời bến Bắc Cao Lãnh chở đoàn quân tập kết ra Bắc. Điểm xuất phát tại thị trấn Cao Lãnh, tỉnh Long Châu Sa (nay thuộc khu phố 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) được chọn làm điểm tập kết chuyển quân ra miền Bắc trong 100 ngày. Với tinh thần “Đi vinh quang, ở anh dũng”, tỉnh Long Châu Sa đã đón tiếp và đưa tiễn 13.508 cán bộ, chiến sỹ và con em miền Nam và quân tình nguyện xuống tàu tập kết ra Bắc, trong đó tỉnh Long Châu Sa có 2.563 người. Tại Cao Lãnh là nơi chuyên chở bộ đội, cán bộ, con em gia đình cách mạng từ bến Bắc Cao Lãnh ra Vũng Tàu, rồi từ Vũng Tàu chạy ba ngày đêm ra đến nơi đổ quân là Sầm Sơn (Thanh Hóa). Tháng 9-2017, tỉnh Đồng Tháp đầu tư xây dựng Di tích Địa điểm tập kết ra Bắc năm 1954 bên bờ sông Tiền, bên bến phà Cao Lãnh với khuôn viên 12.000m2, với các hạng mục: tượng đài, phù điêu, sân lễ đài, sân đường, hoa viên cây xanh…, đến năm 2019 đưa vào sử dụng. Ngày 29-10-2024, khu di tích được công nhận là di tích cấp quốc gia.

Điểm tập kết tại Cà Mau với thời gian từ ngày 21-7-1954 đến 10-2-1955 (200 ngày); trung tâm của khu vực tập kết là kênh Xáng Chắc Băng (nối ngã ba sông Trẹm, thị trấn Thới Bình đến ngã ba sông Cái Lớn, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang). Đây là điểm tập kết lực lượng vũ trang của các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Châu Hà và tình nguyện viên Việt Nam ở Căm-pu-chia. Trong 200 ngày đó, Đảng tổ chức, xây dựng vùng tập kết với nhiều hoạt động như cấp ruộng đất, hướng dẫn thay đổi tập quán canh tác, kỹ thuật sản xuất, ăn uống, đi lại….

Điểm tiếp nhận Tập kết ở miền Bắc

Với tinh thần “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” cho thấy sự nhất quán của Đảng và Bác Hồ về tính thống nhất, không thể chia rẽ, tách rời Nam bộ khỏi Việt Nam; về thắng lợi tất yếu của sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trên tinh thần “tất cả vì miền Nam ruột thịt”,  “Nam Bắc là một nhà, là anh em ruột thịt, quyết không thể chia cắt được”, đồng bào miền Bắc đã chuẩn bị chu đáo và chào đón những người con miền Nam tập kết ra Bắc.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thanh Hóa là địa phương được giao nhiệm vụ đón tiếp đồng bào, cán bộ, chiến sĩ, học sinh, sinh viên từ miền Nam. Ngày 25-9-1954, chiếc tàu đầu tiên từ miền Nam đến cửa lạch Hới, xã Quảng Tiến (Sầm Sơn). Đợt chuyển quân này, Thanh Hóa tổ chức đón đoàn 7 đợt với 45 chuyến tàu, gồm: 1.869 thương, bệnh binh; 47.346 cán bộ; 5.922 học sinh, sinh viên và 1.443 gia đình cán bộ miền Nam. Để đón tiếp đoàn, tỉnh Thanh Hóa điều động hàng trăm cán bộ giúp việc như xây nhà, dựng lán, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, nơi ăn, chốn ở…Tại thời điểm đó, còn xây dựng bệnh viện bằng tranh, tre, nứa, lá với quy mô 800 giường bệnh do Bộ Y tế quản lý, thành lập tại Sầm Sơn một trạm cấp cứu, hai trạm khám sức khỏe ở xã Hoằng Lộc, Hoằng Quang (huyện Hoằng Hóa). Bệnh xá ở Thiệu Đô (Thiệu Hóa) khám chữa bệnh cho các đồng chí, đồng bào miền Nam bị thực dân Pháp cầm tù, tra tấn ở nhà lao Chí Hòa, và khám chữa bệnh cho các cháu thiếu nhi từ Nam ra Bắc học tập. Ngoài ra, nhân dân Thanh Hóa ủng hộ chăn màn, quần áo, lương thực, thực phẩm như: gà, vịt, cà chua, cá, mộc nhĩ, gạo…. Sau khi tập kết tại Thanh Hóa, đoàn cán bộ, chiến sĩ, học sinh, sinh viên được phân công tới các tỉnh khác như: Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Phòng để lao động, học tập và công tác.

Ý nghĩa lịch sử có tính thời đại của sự kiện

Ý nghĩa việc quyết định đưa cán bộ, chiến sĩ, đồng bào và học sinh miền Nam ra Bắc tập kết thời bấy giờ, được minh chứng bằng thực tiễn 70 năm qua, đây là một quyết định lịch sử mang tầm chiến lược thể hiện sự sáng suốt, tài tình, tầm nhìn xa, trông rộng và thể hiện chủ trương xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, cách mạng liên tục và không ngừng sáng tạo. Đây là quyết định mang tính chiến lược, không chỉ về việc tập kết quân đội mà còn về cách thức quản lý, sử dụng và bồi dưỡng lực lượng. Không đơn thuần là cuộc di chuyển để bảo đảm tuân thủ Hiệp định Giơ-ne-ve mà còn là kế hoạch dài hạn trong việc đào tạo một thế hệ cán bộ cho cách mạng. Những người ra Bắc đã tiếp tục học tập, rèn luyện để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước sau này.

Cuộc chuyển quân lịch sử minh chứng rằng, sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc, nhân dân hai miền Nam Bắc luôn đoàn kết một lòng để vượt qua khó khăn, gian khổ trong xây dựng và chiến đấu ở mọi thời kỳ cách mạng của dân tộc, viết nên những trang sử hào hùng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Việc quyết định tập kết ra Bắc đã tạo nền tảng vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này, khẳng định tầm quan trọng của sự thống nhất trong tư duy lãnh đạo và chiến lược hành động của Đảng.

Bên cạnh đó, sau khi hoàn thành sứ mệnh “kép” chuẩn bị xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, phục vụ đắc lực cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30-4-1975, những cán bộ, đảng viên và người con miền Nam tập kết ra Bắc đã thực hiện “một cuộc cách mạng đặc biệt” và là một bài học lịch sử vô giá cho thấy sự sáng suốt và tầm nhìn chiến lược, xuyên thời đại của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thời điểm lịch sử. Từ tiền đề quan trọng này, giúp công cuộc thống nhất đất nước trên các bình diện kinh tế, xã hội và ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong gần 50 năm qua một cách hiệu quả, mang lại thành công và trở thành một hình mẫu quan trọng trong con đường cách mạng độc lập dân tộc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đối với thế giới.

Dưới góc độ phát triển, một trong những trụ cột quan trọng thấy được trong sự phát triển của bất cứ địa phương, vùng miền, quốc gia, đó là các vấn đề về thể chế, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, các nguồn lực khác,… thì việc thực hiện chủ trương tập kết ra bắc của Đảng và Bác Hồ đã giúp triển khai được khâu “then chốt của mọi then chốt”, đó là chuẩn bị “nguồn nhân lực” - tức lực lượng cốt lõi của cách mạng, đó là các cán bộ, đảng viên, những người có chuyên môn, hiểu biết hệ thống và nắm vững thể chế Việt Nam đang xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, do đó, sẽ thuận lợi cho việc kết nối và hoàn thiện, triển khai hiệu quả ở miền Nam sau khi thống nhất. Việc chuẩn bị lực lượng tập kết ra Bắc này đã góp phần “hóa giải” được các “điểm nghẽn” về thực thi thể chế quốc gia chung ở miền Nam trong giai đoạn đầu thống nhất và xuyên suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phát triển toàn diện, với thế và lực mới của Việt Nam ngày càng được thể hiện rõ như ngày hôm nay.

Nhiều hoạt động kỷ niệm

Để khắc ghi và tiếp nối truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời khẳng định sự sáng suốt và tầm nhìn chiến lược của Đảng và Bác Hồ trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử dân tộc để đưa cách mạng giành thắng lợi và độc lập, tự do, hạnh phúc như ngày hôm nay, Đảng và Nhà nước cũng như chính quyền các địa phương đã thực hiện nhiều hoạt động có vai trò ý nghĩa to lớn, giúp giáo dục, rèn luyện những giá trị truyền thống tốt đẹp của Đảng, dân tộc cho các thế hệ trẻ.

Ngày 2-1-2024, tỉnh Cà Mau khởi công xây dựng cụm công trình Tượng đài chuyến tàu tập kết ra Bắc năm 1954, công trình có qui mô hơn 10 ha, nằm ở bờ nam cửa sông Ông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Sông Ông Đốc là cửa biển lớn nhất và sầm uất nhất tỉnh Cà Mau và được chọn làm bến tập kết 200 ngày đêm để đưa bộ đội và đồng bào miền Nam ra bắc. Đây cũng là một trong ba điểm tập kết lớn của các tỉnh Nam Bộ để các chuyến tàu tập kết chuyên chở hàng trăm nghìn cán bộ, bộ đội, nhân dân, thiếu nhi của miền Nam ra miền Bắc. Hướng đến kỷ niệm 70 năm sự kiện tập kết ra Bắc (1954-2024) diễn ra từ ngày 10 đến ngày 26-11-2024, UBND tỉnh Cà Mau tổ chức nhiều sự kiện như: “Hẹn ngày thống nhất tại khu vực Tượng đài chuyến tàu tập kết ra Bắc - thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau”; “Tái hiện 200 ngày sự kiện tập kết ra Bắc tại xã Trí Lực, Trí Phải huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau”; lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích Quốc gia địa điểm tập kết ra Bắc cuối năm 1954 đầu năm 1955; cùng với các hoạt động Hội chợ thương mại; trưng bày triển triển lãm hình ảnh, hiện vật, tài liệu, sách báo…

Hiện nay, tại điểm tập kết lạch Hới, Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đầu tư, xây dựng Khu lưu niệm đồng bào, cán bộ, chiến sỹ, học sinh, sinh viên miền Nam tập kết ra Bắc với cụm công trình biểu tượng “Con tàu kí ức” vào năm 2022 và khánh thành vào tháng 10-2024, hướng đến kỉ niệm 70 năm Sầm Sơn đón chuyến tàu đầu tiên tại cảng Hới. Khu lưu niệm rộng 40.000 m2 với khu A là trung tâm với tượng đài hình con tàu và bức phù điêu hình cánh cung, nhà trưng bày hiện vật, hình ảnh con tàu lớn chở đoàn từ miền Nam ra Bắc…Trong đó con tàu được xây dựng với 3.200 m2, cao 12 m; Khu B là nơi tái hiện hình ảnh lán trại, nơi ăn ở của đồng bào, chiến sĩ, học sinh, sinh viên miền Nam. Tại TP. Sầm Sơn, tối 27-10, tỉnh Thanh Hóa tổ chức Lễ kỷ niệm và khánh thành Khu lưu niệm “70 năm đón tiếp đồng bào, cán bộ, chiến sĩ, học sinh miền Nam tập kết ra Bắc”, với chủ đề: “Quê Thanh, nghĩa Bắc - tình Nam”. Chương trình được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam vô cùng xúc động và tự hào. 

Ngoài các địa phương được tập trung chủ yếu liên quan trực tiếp đến sự kiện kỷ niệm 70 năm sự kiện tập kết ra Bắc của cán bộ, chiến sĩ và những người con miền Nam, thì các ban, bộ, ngành và nhiều địa phương cũng đã tổ chức các sự kiện nhằm giáo dục truyền thống cách mạng và làm rõ ý nghĩa của sự kiện trong bối cảnh mới hiện nay.