Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024
BỒI ĐẮP PHẨM CHẤT CAO QUÝ BỘ ĐỘI CỤ HỒ!
Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Phương hướng này quán triệt
quan điểm, nguyên tắc: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa
phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay,
quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, việc quán triệt
quan điểm, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng, góp phần tạo sức mạnh
tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta phải
luôn giữ thế chủ động trong quan hệ đối ngoại, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu; đồng thời phải chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế; tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước, các tổ
chức quốc tế, trên cơ sở luật pháp quốc tế và bình đẳng cùng có lợi.
Phương hướng này quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc” và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Về xây dựng nền dân chủ: Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình cách mạng; nhân dân là người suy đến cùng quyết định đến thành bại của cách mạng. Xây dựng nền dân chủ tiến bộ, tạo điều kiện cho con người phát triển, đồng thời huy động được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không ngừng mở rộng, phát huy dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đưa các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc của dân chủ vào thực tiễn cuộc sống, bảo đảm cho quần chúng nhân dân được tham gia quản lý nhà nước, bàn bạc các chủ trương, quyết sách liên quan đến vận mệnh dân tộc. Xác định những chủ trương, giải pháp phù hợp thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, quy tụ toàn dân tộc tạo động lực và nguồn lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
Phương hướng này quán triệt quan điểm, nguyên tắc: Xây phải đi đôi với
chống. Xây dựng đất nước là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt, song chúng ta
không lơ là mất cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch, các thế lực
ngoại bang đang tìm mọi thủ đoạn phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
của nhân dân ta. Những hoạt động gây mất trật tự, an ninh, an toàn trong nước,
không chỉ cản trở sự phát triển của xã hội mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc
sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực hiện phương hướng này, cho phép đất
nước ta luôn tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; nâng cao cảnh giác, chủ
động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù
địch; ngăn chặn, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó
với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo vệ vững chắc
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Phát triển kinh tế gắn với xây dựng, phát triển
văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân, chăm lo, phát triển con người toàn diện là bản chất tốt
đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Qua đó, sẽ động viên, khơi dậy được
tính tích cực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ
chế độ xã hội mới. Thực hiện phương hướng này, phải xây dựng nền văn hoá mới,
tiên tiến cả về nội dung và hình thức, trong đó phải giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hoá tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại. Đồng
thời quan tâm, chăm lo đến sự phát triển toàn diện cả phẩm chất, năng lực của
con người, trên cơ sở đặt con người đúng vị trí trung tâm của sự phát triển;
giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển đất nước với thực hiện chính
sách xã hội đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và sự bình đẳng cho nhân dân.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong thời kỳ quá độ, do trình độ của lực lượng sản
xuất ở mức thấp, còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nên kinh tế thị trường còn tồn
tại là tất yếu. Phát triển nền kinh tế thị trường để thúc đẩy nhanh sự phát
triển kinh tế. Phát triển nền kinh tế thị trường phải gắn với định hướng xã
hội chủ nghĩa nhằm hạn chế những tiêu cực do mặt trái của nền kinh tế thị trường gây
nên. Phương hướng này, đảm bảo cho
nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan của thị trường, tham gia mạnh mẽ vào
thị trường quốc tế, song phải có sự quản lý của Nhà nước và dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Nhà nước sử dụng các công cụ tài chính, chính sách, nguồn lực để điều
tiết nền kinh tế, ngăn chặn, đẩy lùi những ảnh hưởng, những tác động tiêu cực
từ mặt trái của kinh tế thị trường; đồng thời phát huy tối đa những lợi thế,
những mặt mạnh của kinh tế thị trường, phát triển mạnh sản xuất kinh doanh,
nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội.
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường
Vấn đề cơ bản, suy đến cùng để chủ nghĩa xã hội
thành công và tạo ra nhiều của cải, đa dạng sản phẩm cho xã hội đó là phải phát
triển nhanh lực lượng sản xuất. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
tạo bước nhảy cho nước ta phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Trong điều
kiện khoa học kỹ thuật, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát
triển như vũ bão, vai trò quan trọng của tài nguyên, môi trường, đòi hỏi phải
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri
thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước phải gắn với tăng yếu tố tri thức, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trên
mọi lĩnh vực xã hội. Phải có chiến lược, giải pháp khoa học để bảo vệ tài
nguyên, môi trường và khai thác hợp lý tài nguyên, các yếu tố của môi trường
cho sự phát triển kinh tế.
Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào; những tác động tiêu cực của tình hình thế giới khó khăn cho đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Vào những năm cuối thế kỷ XX, mô hình chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Chủ nghĩa tư bản có sự điều chỉnh thích nghi. Điều đó làm cho vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam càng trở lên khó khăn. Việt Nam mất đi chỗ dựa vững chắc từ thành trì chủ
nghĩa xã hội. Đồng thời, đây là cơ hội cho các
thế lực chống cộng, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa xã hội.
Trong nội bộ Đảng và nhân dân ta có một số người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của
chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa ở Đông
Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác
-
Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta. Điều đó, đặt ra những khó khăn, thách thức trong cuộc
đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ mục tiêu con đường độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng đem lại những thời cơ, vận hội, đồng thời cũng làm xuất hiện cả những
thách thức, nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nổi lên đó là khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu tác động tiêu
cực đến mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hậu quả của nó tác động đến tất cả các mặt của đời
sống: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh.
Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ do mâu thuẫn sắc
tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, can thiệp lật đổ, khủng bố tiếp
diễn biến phức
tạp; các điểm nóng vẫn tồn tại và mở rộng ở nhiều khu vực trên thế giới. Bên
cạnh đó, cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách
thức an ninh phi truyền thống, đang tiếp tục diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm
trọng đến sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia. Đó là những vấn đề mang tính toàn cầu không
một quốc gia nào có thể tự giải quyết mà cần sự chung tay của cộng đồng quốc
tế.
Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi thủ đoạn phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống
phá cách mạng Việt Nam với chiến lược toàn cầu phản cách mạng “diễn biến hòa
bình”, là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam. Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực
thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị bằng mọi
thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích chính trị của các thế lực thù địch, phản
động, cơ hội chính trị là nhằm phủ nhận vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá
độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,
từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là những tác động tiêu cực đến tâm lý, tình cảm,
niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào con đường cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
MỌI NGƯỜI LUÔN CẢNH GIÁC ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM!
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp là nước lạc hậu, trải qua hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đất nước gặp muôn vàn khó khăn.
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong
kiến, trình độ sản xuất thấp, tàn dư của xã hội cũ còn tồn tại nặng nề. “Càng đi vào
chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã
hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự
biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”[1]. Cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi, nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp. Lực lượng sản xuất ở trình độ
thấp; nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại đan xen. Hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa còn nhiều bất cập, hạn chế; cơ cấu giai cấp -
xã hội đa dạng, phức tạp, tồn tại đa xen nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội; cuộc
đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra gay gắt, phức tạp. Văn hoá, tinh thần, tâm lý,
tập quán, lối sống cũ còn tồn tại; sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá, lối sống tư
sản.
Hai cuộc chiến tranh do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra đối với dân
tộc ta để lại hậu quả hết sức nặng nề, nhất là sự tổn thất về sinh mạng con
người không gì có thể bù đắp được; sự tàn phá các cơ sở kinh tế, cơ sở hạ tầng;
các công trình, các di sản văn hoá; sự tàn phá môi trường sinh thái… Điều đó, làm mất đi nguồn lực vô cùng to lớn để xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ; không những thế, nhiều di chứng, nhiều hậu quả
của chiến tranh còn ảnh hưởng đến tận ngày nay không dễ gì khắc phục. Đây là
những tác động tiêu cực, những khó khăn rất lớn đối với nước ta để vượt qua
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội.
[1] Nguyễn Phú Trọng, Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2022, tr. 25.
Cơ sở thực tiễn sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
Lịch sử nhân loại đã trải qua 4 hình thái
kinh tế - xã hội: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản
chủ nghĩa. Từ giữa thế kỷ XIX, lực lượng sản xuất có bước phát triển mạnh mẽ.
Đó là sự ra đời của nền công nghiệp hiện đại. Đại công nghiệp là nền sản xuất với
kỹ thuật hiện đại dựa trên sự phát triển của khoa học với những phát minh mới
nhất thường xuyên cách mạng hóa. Đến nay, lực lượng sản xuất đã đạt tới trình độ
sản xuất hiện đại, “kinh tế tri thức” ra đời, khoa học ngày càng trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp và có vai trò ngày càng quan trọng trong sản xuất và đời
sống con người. Trí tuệ nhân tạo (AI) xuất hiện và đóng vai trò ngày càng lớn,
làm biến đổi phương thức hoạt động, thay thế con người ở nhiều lĩnh vực.
Trước sự phát triển như vũ bão của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
ngày càng trở thành lực cản cho sự phát triển xã hội. Mâu thuẫn giữa lực lượng
sản xuất xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi
phải xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xác lập quan hệ sản mới tiến bộ
hơn - đó là quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa.
Hình thái kinh tế
- xã hội cộng sản chủ nghĩa đã hình thành, phát triển từ sau Cách mạng Tháng
Mười Nga năm 1917 và tồn tại đến ngày nay. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội, các nước xã hội chủ nghĩa đã thu được những thành tựu to lớn không thể
phủ nhận được trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,
khoa học - công nghệ và quân sự. Điều đó không chỉ khẳng định sự ra đời và phát
triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử,
mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân lao động vì mục tiêu hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, do sai lầm nghiêm
trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức trong cải tổ, cải cách và sự
chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, chủ nghĩa
xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ, điều đó làm cho con đường tiến lên
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của nhân loại trở nên quanh co, phức
tạp. Song tuyệt nhiên điều đó không có nghĩa là “sự kết thúc của lịch sử” thế
giới. Thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Trung Quốc, Việt Nam, Cu
Ba đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng, tạo nên những chuyển biến
tích cực và khẳng định sự tồn tại, phát triển, triển vọng của chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa tư bản đang cố gắng “tự điều chỉnh” và sử dụng triệt để những
thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, nên đã đạt được những thành tựu
nhất định. Những thành tựu đó nói lên rằng chủ nghĩa tư bản hiện tại vẫn còn
những tiềm năng phát triển, nhưng đó không phải là chế độ tương lai của nhân
loại, bởi chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có và
những mâu thuẫn mới đang phát sinh, nó vẫn là chế độ bóc lột, phản dân chủ, vô
nhân đạo làm tha hoá con người. Điều đó đã chứng tỏ sự ra đời và phát triển của
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là tất yếu lịch sử, hợp quy luật
vận động phát triển của xã hội loài người.
Cơ sở lý luận sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
Chủ nghĩa tư bản ra đời mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển
xã hội loài người. Nhờ sự ra đời, phát triển của đại công nghiệp cơ khí, sự
phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, chủ nghĩa tư bản đã có bước phát
triển nhanh chóng: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy
một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng
sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”[1].
Khi lực lượng
sản xuất càng phát triển và mang tính xã hội hoá cao thì quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư
liệu sản xuất ngày càng trở lên lạc hậu, cản trở, kìm hãm sự phát triển của nó
bấy nhiêu. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra, trong xã hội đầy đối kháng giai cấp
đó, con người ngày càng chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên bao nhiêu thì
tình trạng người áp bức, bóc lột người càng được mở rộng bấy nhiêu. Sự phát
triển của kinh tế - kỹ thuật đi liền với sự suy đồi về đạo đức; sự giàu có,
thừa thãi của một số ít người đẩy số đông người vào cảnh cùng khổ. Điều đó làm
cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hoá với quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa phát triển ngày càng gay gắt. Mâu thuẫn kinh tế cơ bản đó
của chủ nghĩa tư bản được thể hiện trên lĩnh vực xã hội là mâu thuẫn giữa giai
cấp công nhân với giai cấp tư sản. Tính chất, mức độ gay gắt của mâu thuẫn
chính trị - xã hội tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ gay gắt của mâu thuẫn kinh
tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Chính sự phát triển nhanh chóng của lực lượng
sản xuất đòi hỏi khách quan phải xoá bỏ quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, thiết lập quan hệ sản xuất
mới dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phù hợp với tính chất xã hội
hoá của lực lượng sản xuất.
Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp cơ khí, giai cấp công nhân
phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp
công nhân và giai cấp tư sản ngày càng quyết liệt hơn. Phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân phát triển nhanh chóng, chuyển từ tự phát sang tự giác nhằm
thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, chính chủ nghĩa
tư bản đã tạo ra tiền đề kinh tế và xã hội để thay thế hình thái kinh tế - xã
hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ
rõ: “Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì
ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản. Nhưng giai cấp tư sản
không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng
vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản”[2].
Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa về chính
trị là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng
sản chủ nghĩa. Khi những nhân tố khách quan trong sự vận động lịch sử của chủ
nghĩa tư bản đã chín muồi và sự nỗ lực chủ quan của giai cấp công nhân và chính
Đảng của nó, đồng thời phải có sự hoạt động cách mạng tự giác của quảng đại
quần chúng nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để đủ sức
tiến hành một cuộc cách mạng xã hội, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản,
giành lấy chính quyền, từng bước cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Hình
thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa chỉ được hình thành thông qua cách
mạng vô sản để thực hiện sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản
chủ nghĩa sang hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn. Vì vậy, hình thái kinh
tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời là một tất yếu lịch sử xã hội loài người.
Tuy nhiên, sự ra đời của nó ở mỗi dân tộc không những bị chi phối bởi các quy
luật, điều kiện chung ấy mà còn chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử -
cụ thể về tự nhiên, kinh tế, chính trị, truyền thống văn hoá, dân tộc, điều
kiện quốc tế… Điều đó làm cho sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế -
xã hội cộng sản chủ nghĩa mang tính phong phú, đa dạng. Mỗi dân tộc đều có nét
độc đáo riêng trong lịch sử phát triển của mình. Đó là nét đặc thù về thời gian
và không gian cụ thể, về mô hình và bước đi để đến được chủ nghĩa cộng sản.
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 603.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 605.
Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, nâng cao trí tuệ từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân.
Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn,
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, nhằm phát triển về số lượng, bảo
đảm về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, để nước ta có một đội ngũ công nhân có
trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, có khả năng
tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, chất
lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quan tâm
bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho
giai cấp công nhân. Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai
cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha
với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, ý
chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển
kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh,
tinh thần đấu tranh xây dựng, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, lương
tâm nghề nghiệp... cho công nhân. Đại hội XIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục
chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân”[1].
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.
Khái niệm giai cấp công nhân
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm
trù trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học song để làm rõ sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân, trước hết phải hiểu rõ giai cấp công nhân là gì? C.Mác
và Ph.Ăngghen đã chỉ ra: “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực ra
là gì, và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm
gì về mặt lịch sử”[1].
Giai cấp
công nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành
công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế - xã hội
tuỳ thuộc vào chế độ xã hội đương thời.
Trong quá trình nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác
nhau để chỉ giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp
lao động làm thuê, giai cấp công nhân, hay các thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để
chỉ các loại công nhân trong các ngành khác nhau: công nhân nông nghiệp, công
nhân công nghiệp, công nhân cơ khí, công nhân khai khoáng… Cho dù các ông sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau song bản
chất chỉ là một - đều chỉ giai cấp vô sản hiện đại hay giai cấp công nhân. Trong
tác phẩm “Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh”, Ph.Ăngghen đã viết: “tôi thường
dùng những từ: người lao động hoặc công nhân (working men) và người vô sản, giai
cấp công nhân, giai cấp không có của, giai cấp vô sản như những từ đồng nghĩa”[2].
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ ra hai tiêu chí để phân biệt giai cấp
công nhân với những người lao động khác: Thứ nhất, về nghề nghiệp. Giai cấp công nhân là
những lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính
chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Đây là tiêu chí cơ bản
xác định rõ môi trường lao động và phương thức lao động của họ
là các ngành công nghiệp có trình độ kỹ thuật khác nhau. Lực lượng
công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp ngày càng phát triển là bộ phận
cơ bản, hạt nhân của giai cấp công nhân. Hiện
nay, khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, làm cho lực lượng sản
xuất phát triển nhanh chóng với tính chất xã hội hoá ngày càng cao, cơ cấu của
nền sản xuất công nghiệp có sự thay đổi. Bên cạnh các ngành công
nghiệp truyền thống, đã xuất hiện ngày càng nhiều các ngành sản xuất và
dịch vụ mới. Cùng với công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện
công nhân của nền công nghiệp với trình độ kỹ thuật cao ở các dây chuyền sản
xuất tự động hoá, làm cho giai cấp công nhân cũng có sự phát triển mới về nghề
nghiệp. Những sự biến đổi đó không hề làm giảm giai cấp công nhân trong nền
kinh tế mà trái lại càng làm cho giai cấp công nhân tăng thêm cả về số lượng và
chất lượng. Bởi
vậy, những người lao động trong các ngành dịch vụ
mà phần lớn là dịch vụ công nghiệp vẫn là công nhân, xét về
tiêu chí nghề nghiệp. Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất. Trong quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người lao động không có tư liệu sản
xuất, phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột
giá trị thặng dư, khiến cho những người công nhân trở thành giai cấp đối kháng
trực tiếp với giai cấp tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Giai cấp tư sản, tức
là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện
đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm
được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc
phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác;
vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau”[3].
Với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, hiện nay, giai cấp công nhân ngày càng được trí thức
hoá, nâng cao trình độ mọi mặt, đời sống của công nhân ở các
nước tư bản phát triển cũng được cải thiện so với
trước đây, một bộ phận công nhân đã có chút ít tư liệu sản
xuất, hoặc, có bộ phận công nhân có cổ phần trong xí nghiệp… Tuy nhiên, không có nghĩa địa vị của họ trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã thay đổi, mà họ vẫn
là giai cấp lao động làm thuê cho giai cấp tư sản trong hoạt động sản xuất công
nghiệp. Trước kia công nhân bán sức lao động chân tay là
chủ yếu, thì nay họ bán cả lao động chân tay và lao động trí óc, thậm chí có bộ
phận chủ yếu bán sức lao động trí óc như những công nhân lao động
sản xuất ở những dây chuyền công nghệ cao, các lĩnh vực sáng chế, ứng dụng
sản xuất công nghiệp,
vì vậy, họ còn bị bóc lột giá trị thặng
dư bằng những hình thức tinh vi hơn.
Khác với giai cấp công nhân ở các nước tư bản
chủ nghĩa, giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành giai cấp
thống trị, giai cấp cầm quyền và lãnh đạo cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã
hội mới (mặc dù, ít nhiều
họ còn bị bóc lột, song về hình thức và mức độ không giống như công nhân trong
xã hội tư bản chủ nghĩa), họ đã trở
thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của nền sản xuất mới,
cùng với nhân dân lao động hợp tác, lao động cho chính mình. Vì vậy, trong chủ
nghĩa xã hội, giai cấp công nhân được xác định chủ yếu bằng tiêu chí nghề
nghiệp, còn tiêu chí thứ hai - địa vị trong quan hệ
sản xuất mới đã có sự thay đổi căn bản, họ đã được giải phóng khỏi quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa.
Cho đến nay, những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hai
tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là
cơ sở để luận giải và nhận diện giai cấp công nhân hiện nay.
Ý nghĩa nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học về mặt thực tiễn
Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học với những minh chứng sinh động bởi các sự kiện
cách mạng, những thành
tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong
đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định,
tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa
mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.
Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở để khẳng định việc sự cần
thiết của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống
mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hóa, biến chất
trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị
- xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự
đối với chủ nghĩa xã hội… cho mọi cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên,
phụ nữ và nhân
dân.
Góp phần đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở rộng hợp
tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, xây dựng “kinh tế tri thức”, xây dựng
nền kinh tế
thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa… đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn
đối với nhân dân ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang cả thế hệ
trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, cộng sản
chủ nghĩa trên đất nước ta.
Chủ nghĩa xã hội
khoa học góp phần quan trọng trong việc giáo dục niềm tin khoa
học cho Nhân dân vào
mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội. Niềm tin khoa học là sự thống nhất giữa
nhận thức, tình cảm, ý chí và quyết tâm trở thành động lực tinh thần hướng con
người đến hoạt động thực tiễn một cách chủ động, tự giác, sáng tạo và cách
mạng.
Đối với cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi
trấn, việc nghiên cứu nắm vững lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học giúp họ thấm
nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; nắm được quy luật vận động, phát
triển tất yếu của lịch sử, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quản
lý của nhà nước, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ đó, tự
nguyện, tự giác chấp hành đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định
của địa phương, quyết tâm xây dựng quyê hương giàu mạnh. Đồng thời, trên cơ sở
giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, Chủ nghĩa xã hội khoa học
nói riêng, cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi trấn mới có cơ sở để làm
tốt nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn lãnh đạo, chỉ đạo,
quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự theo quy định của
pháp luật; làm tốt công tác tuyên truyền
đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện
giáo dục quốc phòng và an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện;
thực hiện chính sách hậu phương quân đội, chính sách ưu đãi người có công với
cách mạng...
Nhiệm vụ nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học
Chủ nghĩa xã hội khoa học luận chứng một
cách khoa học tính tất yếu về mặt lịch sử sự thay thế của chủ nghĩa tư bản bằng
chủ nghĩa xã hội gắn liền với sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân,
địa vị, vai trò của quần chúng do giai cấp công nhân lãnh đạo trong cuộc đấu
tranh cách mạng thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Chủ nghĩa xã hội khoa học luận giải một cách
khoa học về phương hướng và những nguyên tắc của chiến lược, sách lược; về con
đường và các hình thức đấu tranh của giai cấp công nhân, về những tiền đề, điều
kiện của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; về
những quy luật, bước đi, hình thức, phương pháp của việc tổ chức xã hội theo
hướng xã hội chủ nghĩa; về mối quan hệ gắn bó với phong trào giải phóng dân
tộc, phong trào dân chủ và phong trào xã hội chủ nghĩa trong quá trình cách
mạng thế giới.
Chủ nghĩa xã hội khoa học tiến hành phê phán, đấu
tranh bác bỏ những trào lưu tư tưởng chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội, bảo vệ
sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và những thành quả của cách mạng xã hội
chủ nghĩa.
Trong
giai đoạn hiện nay của thời đại, Chủ nghĩa xã hội khoa học hướng vào nghiên cứu những biến đổi về đời sống hiện
thực của thời đại, những tác động của nó đến các vấn đề chính trị - xã hội và
cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế, kịp thời đưa ra những kết luận khoa
học, làm cơ sở đề ra chiến lược, sách lược của các đảng cộng sản và công nhân
quốc tế; tiếp tục luận chứng
việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; tìm tòi những điều kiện,
con đường, biện pháp, nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cuộc đấu tranh của giai cấp
công nhân, làm cho giai cấp công nhân tiếp tục phát triển và giành được thắng
lợi mới trong thế kỷ XXI; giáo dục nâng cao giác ngộ cách mạng, lập
trường giai cấp công nhân, xây dựng lý tưởng, niềm tin cộng sản cho giai cấp
công nhân và nhân dân lao động. Trên cơ sở đó, tập hợp, lôi kéo họ vào cuộc đấu
tranh cách mạng; đồng thời, trở thành vũ khí sắc
bén, đấu tranh có hiệu quả với chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại
và các quan điểm sai trái, thù địch, phản động.
Các
nhiệm vụ chủ yếu trên đây của Chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, cần được nhận thức đầy đủ, thường xuyên coi trọng và vận
dụng thích hợp, sáng tạo, không được xem nhẹ trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hiện
nay, cần quán triệt sâu sắc chỉ dẫn của Ph.Ăngghen về nhiệm vụ của Chủ nghĩa xã
hội khoa học: “Nghiên cứu những điều kiện lịch sử và do đó, nghiên cứu chính
ngay bản chất của sự biến đổi ấy, và bằng cách ấy làm cho giai cấp hiện nay
đang bị áp bức và có sứ mệnh hoàn thành sự nghiệp ấy hiểu rõ được những điều
kiện và bản chất sự nghiệp của chính họ - đó là nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội
khoa học, sự thể hiện về mặt lý luận của phong trào vô sản”2.
Chức năng nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học
Chức năng thế
giới quan. Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin, cung cấp cho giai cấp công
nhân và nhân loại tiến bộ một thế giới quan khoa học, phương pháp
luận biện chứng và nhân sinh quan cộng sản. Đồng thời, trên cơ sở
tri thức khoa học toàn diện về tự nhiên, xã hội, tư duy, Chủ nghĩa xã hội khoa
học luận giải sâu
sắc, toàn diện về
quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã
hội cộng sản chủ nghĩa, thông qua đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội và vai
trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, khẳng định sự nghiệp giải phóng giai cấp
công nhân phải do chính giai cấp công nhân đảm nhận, thông qua chính đảng mác xít- lênin nít lãnh đạo.
Chức năng giáo
dục. Chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị cho giai cấp công nhân và nhân loại
tiến bộ hệ thống lý luận cách mạng, khoa học, qua đó giáo dục xây dựng niềm
tin, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa trên cơ sở khoa học; củng cố lập trường, bản
lĩnh chính trị, hình thành phẩm chất, nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.
Lý tưởng cộng sản được tiếp nhận chuyển hoá thành nhận thức, tình cảm, thái độ,
hành vi của con người không phải bằng sức mạnh quyền uy hay bằng sự mê hoặc
mang tính chất tôn giáo, mà bằng chính sức mạnh của trí tuệ và tình cảm của mỗi
con người, trên cơ sở nhận thức sâu sắc quy luật của cuộc sống và sự truyền bá,
giáo dục những nguyên lý Chủ nghĩa xã hội khoa học của các đảng cộng sản vào
quần chúng nhân dân lao động.
Chức năng dự
báo khoa học, định hướng chính trị, hướng dẫn thực tiễn. Chủ nghĩa xã
hội khoa học đưa ra những dự báo khoa học về phương hướng, mục tiêu, con đường,
biện pháp cách mạng để cải tạo xã hội theo quy luật tiến hoá của lịch sử. Từ đó
định hướng chính trị tư tưởng và hướng dẫn hoạt động thực tiễn để đạt được
những mục tiêu chính trị đã đề ra, cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân
con người, thúc đẩy lịch sử phát triển. Thực tiễn lịch sử phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế đã chứng minh: Từ sự giác ngộ lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học, giai
cấp công nhân đã thành lập ra chính đảng của mình, đem khoa học thay cho mộng
tưởng, làm chuyển hóa phong trào từ đấu tranh tự phát lên đấu tranh tự giác, từ
giai cấp bị trị đã bước lên vũ đài lịch sử, vũ đài chính trị và trở thành giai
cấp trung tâm của thời đại, giữ vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh để thực hiện sự
quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm
vi toàn thế giới.



