Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

BỒI ĐẮP PHẨM CHẤT CAO QUÝ BỘ ĐỘI CỤ HỒ!

         Hàng trăm tấm gương là những đại diện tiêu biểu cho cán bộ, chiến sĩ, cựu chiến binh luôn hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân được phản ánh thông qua Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" lần thứ 15 (năm 2023-2024) với chủ đề "Dấu ấn bộ đội thời bình". 15 năm qua, hàng nghìn tấm gương bình dị mà cao quý trên nhiều lĩnh vực đã được tôn vinh qua Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý", qua đó góp phần bồi đắp phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, lan tỏa giá trị nhân văn của con người Việt Nam!

Những dấu ấn của bộ đội thời bình
Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" lần thứ 15 (năm 2023-2024) với chủ đề "Dấu ấn bộ đội thời bình" do Báo Quân đội nhân dân (QĐND) chủ trì, phối hợp với Vụ Báo chí-Xuất bản, Ban Tuyên giáo Trung ương; Nhà xuất bản QĐND; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á tổ chức. Đây là một dấu mốc đặc biệt trong hành trình 15 năm do Báo QĐND và các đơn vị phối hợp tổ chức. Bởi nhân vật, đối tượng được phản ánh trong cuộc thi lần này đã và đang là Bộ đội Cụ Hồ.

Như đồng chí Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ, Tổng biên tập Báo QĐND, Trưởng ban tổ chức cuộc thi nhấn mạnh: "Cuộc thi nhằm phát hiện, tôn vinh tấm gương tiêu biểu, là bộ đội, cựu chiến binh, đã và đang công tác có những cống hiến, đóng góp xuất sắc, để lại những dấu ấn trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, công cuộc dựng xây đất nước và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới".

Đây là một trong những hoạt động chính trị quan trọng của Báo QĐND nhằm hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2024), 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2024) và 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2024).

Sau hơn một năm phát động, cuộc thi đã thu hút sự tham gia đông đảo của các nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp và cộng tác viên ở các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội trên khắp mọi miền đất nước. Số lượng tác phẩm dự thi gấp nhiều lần các năm trước. Rất nhiều bài viết được đầu tư công phu, có nhiều vệt bài từ 2 đến 3 kỳ, thể hiện tinh thần lao động dấn thân, sự tìm tòi phát hiện tấm gương tiêu biểu xuất sắc trên mọi mặt công tác của Quân đội ta. Trong đó có tới hàng chục tác phẩm viết về các anh hùng, tướng lĩnh, những người từng kinh qua trận mạc nay tiếp tục cống hiến tài năng, trí tuệ, tâm sức để lại dấu ấn sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng, kiến thiết đất nước.

Nhà báo Hồ Quang Lợi, nguyên Phó chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam, thành viên Hội đồng chung khảo cuộc thi, chia sẻ: "Khi đọc các tác phẩm ở vòng chung khảo lần này, tôi thực sự xúc động và tự hào về những cán bộ, chiến sĩ của Quân đội ta. Những truyền thống của QĐND trong thời kỳ chiến tranh tiếp tục được thể hiện trong thời bình. Có nhiều bài viết tôi đã đọc đi đọc lại khá nhiều lần và nhận thấy tác phẩm năm nay chất lượng tốt. Tinh thần của cuộc thi "dấu ấn bộ đội thời bình" đã được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm dự thi".

Tác giả Trần Hoàng Tiến trong vệt bài "Dấu chân Đại tướng Ba Trà" đã khắc họa chân dung Đại tướng Phạm Văn Trà, một người trưởng thành từ chiến sĩ đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Hơn nửa thế kỷ trong quân ngũ, dấu chân Đại tướng Ba Trà đã in đậm trên những nẻo đường quê hương, từ chiến trường tới nước bạn... Về với đời thường, bước chân không mỏi của ông lại có mặt nơi đảo xa, các địa phương ở Tây Nam Bộ và nhiều tỉnh, thành phố để xây dựng những ngôi chùa “hộ quốc, an dân". Ông muốn thông qua đây góp phần truyền bá tư tưởng yêu nước, văn hóa tốt đẹp, truyền thống hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc cho thế hệ hôm nay, mai sau và tri ân công đức tiền nhân.

“Trước ba quân uy danh dũng tướng/ Giữa lòng dân rạng rỡ anh hùng”. Đó là câu đối do Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu viết tặng Trung tướng Nguyễn Quốc Thước để bày tỏ sự kính trọng, ngưỡng mộ một trong những vị tướng tài đức vẹn toàn, bình dị mà cao quý của Quân đội ta để lại dấu ấn đậm nét cả trong thời chiến đến thời bình hiện nay.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước vốn là nhân vật rất quen thuộc với cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân, nay trở thành nhân vật trong tác phẩm dự thi "Dũng tướng uy danh trận mạc, tài đức vẹn toàn" của tác giả Nguyễn Mạnh Đẩu. Theo tác giả bài viết, ở Trung tướng Nguyễn Quốc Thước luôn tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ vì dân, vì nước và sáng đẹp nghĩa tình đồng đội. Cốt cách con người ông, trí dũng đã hòa quyện với nhân văn...

Bên cạnh các tướng lĩnh, cựu chiến binh tuổi cao vẫn xông pha trên mặt trận mới, nhiều nhân vật trong các tác phẩm dự thi là những cán bộ, chiến sĩ, doanh nhân, vận động viên, nghệ sĩ miệt mài lao động sáng tạo; y sĩ, bác sĩ tận tâm vì người bệnh, góp phần phát triển y học Việt Nam; nhà khoa học, kỹ sư trẻ tài năng tìm tòi, khám phá làm chủ khoa học-công nghệ, khẳng định bản lĩnh quân nhân, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng... Một trong những nhân vật tiêu biểu đó là Thượng úy Nguyễn Tuấn Anh (Trung tâm Dịch vụ an toàn thông tin, Công ty An ninh mạng Viettel, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội). Là một "hacker mũ trắng", anh chính là người tìm ra hơn 500 lỗ hổng bảo mật trên nền tảng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật lớn nhất toàn cầu BugCrowd. 4 năm liên tiếp (2020-2023), Tuấn Anh đều lọt vào bảng xếp hạng các chuyên gia bảo mật hàng đầu thế giới trên nền tảng này cùng nhiều thành tích xuất sắc khác. 

Trong hành trình vẻ vang của 80 năm QĐND, 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, có những người chiến sĩ lặng lẽ góp trí tuệ, công sức, miệt mài để viết ra những trang văn về người lính, trong chiến tranh và hòa bình, trong đạn bom khốc liệt và thời cơ chế thị trường phức tạp. Những người viết ra những trang văn ấy không chỉ giỏi chữ nghĩa, dày vốn sống mà cái chính yếu là phải có trái tim luôn cùng nhịp đập với người chiến sĩ, với nhân dân, với Tổ quốc trong toàn bộ cuộc đời mình.

Nhà văn Chu Lai là một trong số đó. Theo tác giả Phùng Văn Khai trong tác phẩm "Nhà văn Chu Lai tha thiết với đề tài người lính trong văn chương", anh coi nhà văn Chu Lai là một tượng đài văn chương trước tiên và trước hết chính là sự lao động nghệ thuật đến tận cùng của ông. Nhà văn-chiến sĩ này luôn như ngọn đèn hải đăng dẫn đường và đồng hành với thế hệ trẻ trong đời sống và nghiệp bút hôm nay...

Và còn biết bao tấm gương người chiến sĩ làm nhiệm vụ khó khăn, vất vả nơi biên cương, hải đảo của Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Dù trong hoàn cảnh nào, họ cũng luôn nỗ lực, cố gắng, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, để lại dấu ấn, hình ảnh đẹp trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang 80 năm QĐND Việt Nam.

Đúng như lời tâm sự của Đại úy, Thạc sĩ, bác sĩ Lã Văn Tuấn, Bệnh xá trưởng Bệnh xá đảo Trường Sa (huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa), khi đứng giữa biển trời bao la với những cánh chim hải âu tung bay trên ngọn sóng, rằng: “Ra đây rồi chúng tôi thấy trong đầu mình không còn tồn tại suy nghĩ toan tính thiệt hơn, sướng khổ, mà tất cả là vì tình yêu Tổ quốc, vì sức khỏe của bộ đội và nhân dân”.

Tiếp tục tôn vinh giá trị chân - thiện - mỹ
Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" do Báo QĐND chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị đồng hành tổ chức lần đầu tiên vào năm 2008, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc. Từ đó đến nay, cuộc thi được duy trì đều đặn suốt 15 năm qua.

Là người rất tâm huyết và gắn bó với cuộc thi ngay từ khi lên ý tưởng lần đầu đến nay, Trung tướng Lê Phúc Nguyên, nguyên Tổng biên tập Báo QĐND cho biết, Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" được tổ chức nhằm mục đích phát hiện, tuyên truyền, biểu dương, tôn vinh những con người bình dị thường ngày vẫn âm thầm làm việc có ích cho xã hội. Những hành động, việc làm, suy nghĩ của họ có thể bình dị, nhưng ẩn trong sự bình dị đó là những giá trị cao quý về lòng yêu nước, tình thương yêu con người, sự hy sinh quên mình vì cộng đồng, tinh thần trách nhiệm và bổn phận người cán bộ, đảng viên và nghĩa vụ công dân. Sẽ càng cao quý nếu suy nghĩ, việc làm của những con người bình dị đó được chia sẻ với nhiều người, để mọi người cùng cảm nhận, cùng học tập, làm theo, để cái tốt, cái đẹp lan tỏa không ngừng...

Trải qua hành trình ấy, Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" không ngừng được cải tiến, đổi mới, sáng tạo để thu hút sự quan tâm của bạn đọc. Không chỉ nêu việc thiện, tấm lòng nhân ái mà cuộc thi còn tôn vinh cả trí tuệ, tinh thần vượt qua khó khăn, làm kinh tế giỏi vì sự phát triển phồn thịnh của đất nước. Điều đó ngày càng thể hiện được nét đặc sắc của cuộc thi và cũng cho thấy sự kiên trì, bền bỉ của Báo QĐND trong nhiệm vụ tuyên truyền về người tốt, việc tốt, lấy cái tốt đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực, thiết thực cổ vũ việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Qua 15 lần tổ chức, đã có hàng chục nghìn tác phẩm dự thi, trong đó hàng nghìn tác phẩm đã được đăng tải trên các ấn phẩm của Báo QĐND với hàng trăm tác giả đã được Ban tổ chức trao giải và nhiều nhân vật trong các tác phẩm đoạt giải được tôn vinh. Thông qua đó, hàng nghìn tấm gương bình dị trên mọi lĩnh vực của cuộc sống có những suy nghĩ, việc làm thực sự mang lại ý nghĩa cao quý cho cộng đồng như những bông hoa lặng lẽ tỏa hương thơm cho đời xứng đáng được vinh danh.      

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". "Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới".

Tuyên truyền những tấm gương bình dị mà cao quý trong Quân đội và nhân dân chính là sứ mệnh cao cả của Báo QĐND nói riêng và báo chí nói chung. Do vậy, Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" vẫn tiếp tục duy trì trong thời gian tới để cổ vũ, khích lệ, tôn vinh con người, nếp sống văn hóa, lan tỏa giá trị chân-thiện-mỹ, vì một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn./.


Theo QĐND
Yêu nước ST.

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.


Phương hướng này quán triệt quan điểm, nguyên tắc: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, việc quán triệt quan điểm, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta phải luôn giữ thế chủ động trong quan hệ đối ngoại, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu; đồng thời phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước, các tổ chức quốc tế, trên cơ sở luật pháp quốc tế và bình đẳng cùng có lợi.

Phương hướng này quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc” và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Về xây dựng nền dân chủ: Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình cách mạng; nhân dân là người suy đến cùng quyết định đến thành bại của cách mạng. Xây dựng nền dân chủ tiến bộ, tạo điều kiện cho con người phát triển, đồng thời huy động được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không ngừng mở rộng, phát huy dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đưa các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc của dân chủ vào thực tiễn cuộc sống, bảo đảm cho quần chúng nhân dân được tham gia quản lý nhà nước, bàn bạc các chủ trương, quyết sách liên quan đến vận mệnh dân tộc. Xác định những chủ trương, giải pháp phù hợp thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, quy tụ toàn dân tộc tạo động lực và nguồn lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội

 


Phương hướng này quán triệt quan điểm, nguyên tắc: Xây phải đi đôi với chống. Xây dựng đất nước là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt, song chúng ta không lơ là mất cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch, các thế lực ngoại bang đang tìm mọi thủ đoạn phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Những hoạt động gây mất trật tự, an ninh, an toàn trong nước, không chỉ cản trở sự phát triển của xã hội mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực hiện phương hướng này, cho phép đất nước ta luôn tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

 


Phát triển kinh tế gắn với xây dựng, phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, chăm lo, phát triển con người toàn diện là bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Qua đó, sẽ động viên, khơi dậy được tính tích cực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ chế độ xã hội mới. Thực hiện phương hướng này, phải xây dựng nền văn hoá mới, tiên tiến cả về nội dung và hình thức, trong đó phải giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại. Đồng thời quan tâm, chăm lo đến sự phát triển toàn diện cả phẩm chất, năng lực của con người, trên cơ sở đặt con người đúng vị trí trung tâm của sự phát triển; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển đất nước với thực hiện chính sách xã hội đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và sự bình đẳng cho nhân dân.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 


Trong thời kỳ quá độ, do trình độ của lực lượng sản xuất ở mức thấp, còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nên kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu. Phát triển nền kinh tế thị trường để thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế. Phát triển nền kinh tế thị trường phải gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm hạn chế những tiêu cực do mặt trái của nền kinh tế thị trường gây nên. Phương hướng này, đảm bảo cho nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan của thị trường, tham gia mạnh mẽ vào thị trường quốc tế, song phải có sự quản lý của Nhà nước và dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước sử dụng các công cụ tài chính, chính sách, nguồn lực để điều tiết nền kinh tế, ngăn chặn, đẩy lùi những ảnh hưởng, những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường; đồng thời phát huy tối đa những lợi thế, những mặt mạnh của kinh tế thị trường, phát triển mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội.

Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường

 


Vấn đề cơ bản, suy đến cùng để chủ nghĩa xã hội thành công và tạo ra nhiều của cải, đa dạng sản phẩm cho xã hội đó là phải phát triển nhanh lực lượng sản xuất. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tạo bước nhảy cho nước ta phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển như vũ bão, vai trò quan trọng của tài nguyên, môi trường, đòi hỏi phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải gắn với tăng yếu tố tri thức, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trên mọi lĩnh vực xã hội. Phải có chiến lược, giải pháp khoa học để bảo vệ tài nguyên, môi trường và khai thác hợp lý tài nguyên, các yếu tố của môi trường cho sự phát triển kinh tế.

Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào; những tác động tiêu cực của tình hình thế giới khó khăn cho đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Vào những năm cuối thế kỷ XX, mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Chủ nghĩa tư bản có sự điều chỉnh thích nghi. Điều đó làm cho vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam càng trở lên khó khăn. Việt Nam mất đi chỗ dựa vững chắc từ thành trì chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, đây là cơ hội cho các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa xã hội. Trong nội bộ Đảng và nhân dân tamột số người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta. Điều đó, đặt ra những khó khăn, thách thức trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ mục tiêu con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đem lại những thời cơ, vận hội, đồng thời cũng làm xuất hiện cả những thách thức, nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nổi lên đó là khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động tiêu cực đến mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hậu quả của nó tác động đến tất cả các mặt của đời sống: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh.

Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ do mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, can thiệp lật đổ, khủng bố tiếp diễn biến phức tạp; các điểm nóng vẫn tồn tại và mở rộng ở nhiều khu vực trên thế giới. Bên cạnh đó, cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh phi truyền thống, đang tiếp tục diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia. Đó là những vấn đề mang tính toàn cầu không một quốc gia nào có thể tự giải quyết mà cần sự chung tay của cộng đồng quốc tế.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi thủ đoạn phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 


Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam với chiến lược toàn cầu phản cách mạng “diễn biến hòa bình”, là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam. Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị bằng mọi thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích chính trị của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là những tác động tiêu cực đến tâm lý, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

MỌI NGƯỜI LUÔN CẢNH GIÁC ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

     Các thế lực thù địch luôn ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, gây mất ổn định xã hội, để lấy cớ can thiệp. Để thực hiện âm mưu, chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” được chúng triệt để lợi dụng. Các hoạt động mà lực lượng chống đối ở trong nước được thực hiện một cách ráo riết nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất ổn định chính trị - xã hội ở nước tá.

Các phương thức hoạt động chủ yếu được các thế lực thù địch, những phần tử phản động lưu vong, phần tử xấu sử dụng là:
Thứ nhất, tích cực ủng hộ những phần tử bất mãn, cực đoan, quá khích trong một số cộng đồng tôn giáo, tổ chức lôi kéo, kích động quần chúng tín đồ biểu tình, gây rối dẫn tới bạo loạn để lấy cớ can thiệp từ “bên ngoài”.

Thứ hai, kết hợp chặt chẽ vấn đề “tôn giáo” với vấn đề “dân tộc” để kích động tâm lý mặc cảm, tư tưởng ly khai, tư tưởng chống đối trong cộng đồng đồng bào có đạo và đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, tuyên truyền kích động mâu thuẫn, xung đột, nhất là đối lập về hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch, phản động lưu vong sẽ vẫn tiếp tục lợi dụng tôn giáo với nhiều hình thức, thủ đoạn mới để lôi kéo, tập hợp lực lượng, tiếp tục hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng tiếp tục chỉ đạo từ bên ngoài, móc nối với những phần tử chống đối ở trong nước xây dựng cơ sở, tìm cách để các hoạt động chống phá. Do vậy vẫn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định, khó lường trước, nên cần hết sức quan tâm, không thể xem thường. Do vậy, cần phải nêu cao tinh thần cảnh giác và chủ động ngăn chặn, đối phó với các hoạt động chống phá của chúng./.
--------------
P/s: Cảnh báo: VOA, RFA, RFI, Việt Tân, Chân trời mới Media, THÔNG LUẬN MỞ, Dân Tiếng, Đàn chim Việt (Cali) là những trang truyền thông hải ngoại chống phá Nhà nước Việt Nam. Người dân cần hết sức cảnh giác luận điệu xuyên tạc, chống phá của chúng.
Khuyết danh ST.

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp là nước lạc hậu, trải qua hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đất nước gặp muôn vàn khó khăn.

 


Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, trình độ sản xuất thấp, tàn dư của xã hội cũ còn tồn tại nặng nề. “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội[1]. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi, nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp. Lực lượng sản xuất ở trình độ thấp; nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại đan xen. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa còn nhiều bất cập, hạn chế; cơ cấu giai cấp - xã hội đa dạng, phức tạp, tồn tại đa xen nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội; cuộc đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra gay gắt, phức tạp. Văn hoá, tinh thần, tâm lý, tập quán, lối sống cũ còn tồn tại; sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá, lối sống tư sản.

Hai cuộc chiến tranh do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra đối với dân tộc ta để lại hậu quả hết sức nặng nề, nhất là sự tổn thất về sinh mạng con người không gì có thể bù đắp được; sự tàn phá các cơ sở kinh tế, cơ sở hạ tầng; các công trình, các di sản văn hoá; sự tàn phá môi trường sinh thái… Điều đó, làm mất đi nguồn lực vô cùng to lớn để xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ; không những thế, nhiều di chứng, nhiều hậu quả của chiến tranh còn ảnh hưởng đến tận ngày nay không dễ gì khắc phục. Đây là những tác động tiêu cực, những khó khăn rất lớn đối với nước ta để vượt qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.



[1] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2022, tr. 25.

Cơ sở thực tiễn sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

 


Lịch sử nhân loại đã trải qua 4 hình thái kinh tế - xã hội: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa. Từ giữa thế kỷ XIX, lực lượng sản xuất có bước phát triển mạnh mẽ. Đó là sự ra đời của nền công nghiệp hiện đại. Đại công nghiệp là nền sản xuất với kỹ thuật hiện đại dựa trên sự phát triển của khoa học với những phát minh mới nhất thường xuyên cách mạng hóa. Đến nay, lực lượng sản xuất đã đạt tới trình độ sản xuất hiện đại, “kinh tế tri thức” ra đời, khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và có vai trò ngày càng quan trọng trong sản xuất và đời sống con người. Trí tuệ nhân tạo (AI) xuất hiện và đóng vai trò ngày càng lớn, làm biến đổi phương thức hoạt động, thay thế con người ở nhiều lĩnh vực.

Trước sự phát triển như vũ bão của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng trở thành lực cản cho sự phát triển xã hội. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xác lập quan hệ sản mới tiến bộ hơn - đó là quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa đã hình thành, phát triển từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và tồn tại đến ngày nay. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nước xã hội chủ nghĩa đã thu được những thành tựu to lớn không thể phủ nhận được trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học - công nghệ và quân sự. Điều đó không chỉ khẳng định sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử, mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân lao động vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, do sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức trong cải tổ, cải cách và sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ, điều đó làm cho con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của nhân loại trở nên quanh co, phức tạp. Song tuyệt nhiên điều đó không có nghĩa là “sự kết thúc của lịch sử” thế giới. Thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng, tạo nên những chuyển biến tích cực và khẳng định sự tồn tại, phát triển, triển vọng của chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa tư bản đang cố gắng “tự điều chỉnh” và sử dụng triệt để những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, nên đã đạt được những thành tựu nhất định. Những thành tựu đó nói lên rằng chủ nghĩa tư bản hiện tại vẫn còn những tiềm năng phát triển, nhưng đó không phải là chế độ tương lai của nhân loại, bởi chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có và những mâu thuẫn mới đang phát sinh, nó vẫn là chế độ bóc lột, phản dân chủ, vô nhân đạo làm tha hoá con người. Điều đó đã chứng tỏ sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là tất yếu lịch sử, hợp quy luật vận động phát triển của xã hội loài người.

Cơ sở lý luận sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

 


Chủ nghĩa tư bản ra đời mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển xã hội loài người. Nhờ sự ra đời, phát triển của đại công nghiệp cơ khí, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, chủ nghĩa tư bản đã có bước phát triển nhanh chóng: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”[1].

 Khi lực lượng sản xuất càng phát triển và mang tính xã hội hoá cao thì quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất ngày càng trở lên lạc hậu, cản trở, kìm hãm sự phát triển của nó bấy nhiêu. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra, trong xã hội đầy đối kháng giai cấp đó, con người ngày càng chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên bao nhiêu thì tình trạng người áp bức, bóc lột người càng được mở rộng bấy nhiêu. Sự phát triển của kinh tế - kỹ thuật đi liền với sự suy đồi về đạo đức; sự giàu có, thừa thãi của một số ít người đẩy số đông người vào cảnh cùng khổ. Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hoá với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển ngày càng gay gắt. Mâu thuẫn kinh tế cơ bản đó của chủ nghĩa tư bản được thể hiện trên lĩnh vực xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Tính chất, mức độ gay gắt của mâu thuẫn chính trị - xã hội tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ gay gắt của mâu thuẫn kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Chính sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất đòi hỏi khách quan phải xoá bỏ quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, thiết lập quan hệ sản xuất mới dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phù hợp với tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất.

Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp cơ khí, giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản ngày càng quyết liệt hơn. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển nhanh chóng, chuyển từ tự phát sang tự giác nhằm thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, chính chủ nghĩa tư bản đã tạo ra tiền đề kinh tế và xã hội để thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản. Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản”[2].

Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa về chính trị là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Khi những nhân tố khách quan trong sự vận động lịch sử của chủ nghĩa tư bản đã chín muồi và sự nỗ lực chủ quan của giai cấp công nhân và chính Đảng của nó, đồng thời phải có sự hoạt động cách mạng tự giác của quảng đại quần chúng nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để đủ sức tiến hành một cuộc cách mạng xã hội, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền, từng bước cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa chỉ được hình thành thông qua cách mạng vô sản để thực hiện sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn. Vì vậy, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời là một tất yếu lịch sử xã hội loài người. Tuy nhiên, sự ra đời của nó ở mỗi dân tộc không những bị chi phối bởi các quy luật, điều kiện chung ấy mà còn chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử - cụ thể về tự nhiên, kinh tế, chính trị, truyền thống văn hoá, dân tộc, điều kiện quốc tế… Điều đó làm cho sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mang tính phong phú, đa dạng. Mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng trong lịch sử phát triển của mình. Đó là nét đặc thù về thời gian và không gian cụ thể, về mô hình và bước đi để đến được chủ nghĩa cộng sản.

 



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 603.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 605.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, nâng cao trí tuệ từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân.

 


Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, nhằm phát triển về số lượng, bảo đảm về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, để nước ta có một đội ngũ công nhân có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân. Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh, tinh thần đấu tranh xây dựng, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, lương tâm nghề nghiệp... cho công nhân. Đại hội XIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Khái niệm giai cấp công nhân

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học song để làm rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trước hết phải hiểu rõ giai cấp công nhân là gì? C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra: “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”[1].

Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế - xã hội tuỳ thuộc vào chế độ xã hội đương thời.

Trong quá trình nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp lao động làm thuê, giai cấp công nhân, hay các thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại công nhân trong các ngành khác nhau: công nhân nông nghiệp, công nhân công nghiệp, công nhân cơ khí, công nhân khai khoáng… Cho dù các ông sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau song bản chất chỉ là một - đều chỉ giai cấp vô sản hiện đại hay giai cấp công nhân. Trong tác phẩm “Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh”, Ph.Ăngghen đã viết: “tôi thường dùng những từ: người lao động hoặc công nhân (working men) và người vô sản, giai cấp công nhân, giai cấp không có của, giai cấp vô sản như những từ đồng nghĩa”[2].

C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ ra hai tiêu chí để phân biệt giai cấp công nhân với những người lao động khác: Thứ nhất, về nghề nghiệp. Giai cấp công nhân là những lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Đây là tiêu chí cơ bản xác định rõ môi trường lao động và phương thức lao động của họ là các ngành công nghiệp có trình độ kỹ thuật khác nhau. Lực lượng công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp ngày càng phát triển là bộ phận cơ bản, hạt nhân của giai cấp công nhân. Hiện nay, khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng với tính chất xã hội hoá ngày càng cao, cơ cấu của nền sản xuất công nghiệp có sự thay đổi. Bên cạnh các ngành công nghiệp truyền thống, đã xuất hiện ngày càng nhiều các ngành sản xuất và dịch vụ mới. Cùng với công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp với trình độ kỹ thuật cao ở các dây chuyền sản xuất tự động hoá, làm cho giai cấp công nhân cũng có sự phát triển mới về nghề nghiệp. Những sự biến đổi đó không hề làm giảm giai cấp công nhân trong nền kinh tế mà trái lại càng làm cho giai cấp công nhân tăng thêm cả về số lượng và chất lượng. Bởi vậy, những người lao động trong các ngành dịch vụ mà phần lớn là dịch vụ công nghiệp vẫn là công nhân, xét về tiêu chí nghề nghiệp. Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất. Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, khiến cho những người công nhân trở thành giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau”[3].

Với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, hiện nay, giai cấp công nhân ngày càng được trí thức hoá, nâng cao trình độ mọi mặt, đời sống của công nhân ở các nước tư bản phát triển cũng được cải thiện so với trước đây, một bộ phận công nhân đã có chút ít tư liệu sản xuất, hoặc, có bộ phận công nhân có cổ phần trong xí nghiệp… Tuy nhiên, không có nghĩa địa vị của họ trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã thay đổi, họ vẫn là giai cấp lao động làm thuê cho giai cấp tư sản trong hoạt động sản xuất công nghiệp. Trước kia công nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu, thì nay họ bán cả lao động chân tay và lao động trí óc, thậm chí có bộ phận chủ yếu bán sức lao động trí óc như những công nhân lao động sản xuất ở những dây chuyền công nghệ cao, các lĩnh vực sáng chế, ứng dụng sản xuất công nghiệp, vì vậy, họ còn bị bóc lột giá trị thặng dư bằng những hình thức tinh vi hơn.

Khác với giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành giai cấp thống trị, giai cấp cầm quyền và lãnh đạo cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới (mặc dù, ít nhiều họ còn bị bóc lột, song về hình thức và mức độ không giống như công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa), họ đã trở thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của nền sản xuất mới, cùng với nhân dân lao động hợp tác, lao động cho chính mình. Vì vậy, trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân được xác định chủ yếu bằng tiêu chí nghề nghiệp, còn tiêu chí thứ hai - địa vị trong quan hệ sản xuất mới đã có sự thay đổi căn bản, họ đã được giải phóng khỏi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Cho đến nay, những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là cơ sở để luận giải và nhận diện giai cấp công nhân hiện nay.



[1] C.MácPh.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 56.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 328.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 605.

Ý nghĩa nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học về mặt thực tiễn

 


Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học với những minh chứng sinh động bởi các sự kiện cách mạng, những thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở để khẳng định việc sự cần thiết của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hóa, biến chất trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị - xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự đối với chủ nghĩa xã hội… cho mọi cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên, phụ nữ và nhân dân.

Góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở rộng hợp tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, xây dựng “kinh tế tri thức”, xây dựng nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa… đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn đối với nhân dân ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta.

Chủ nghĩa xã hội khoa học góp phần quan trọng trong việc giáo dục niềm tin khoa học cho Nhân dân vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Niềm tin khoa học là sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm, ý chí và quyết tâm trở thành động lực tinh thần hướng con người đến hoạt động thực tiễn một cách chủ động, tự giác, sáng tạo và cách mạng.

Đối với cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi trấn, việc nghiên cứu nắm vững lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học giúp họ thấm nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; nắm được quy luật vận động, phát triển tất yếu của lịch sử, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ đó, tự nguyện, tự giác chấp hành đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, quyết tâm xây dựng quyê hương giàu mạnh. Đồng thời, trên cơ sở giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, Chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi trấn mới có cơ sở để làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự theo quy định của pháp luật; làm tốt công tác tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện; thực hiện chính sách hậu phương quân đội, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng...

Nhiệm vụ nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học luận chứng một cách khoa học tính tất yếu về mặt lịch sử sự thay thế của chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội gắn liền với sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, địa vị, vai trò của quần chúng do giai cấp công nhân lãnh đạo trong cuộc đấu tranh cách mạng thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Chủ nghĩa xã hội khoa học luận giải một cách khoa học về phương hướng và những nguyên tắc của chiến lược, sách lược; về con đường và các hình thức đấu tranh của giai cấp công nhân, về những tiền đề, điều kiện của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; về những quy luật, bước đi, hình thức, phương pháp của việc tổ chức xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa; về mối quan hệ gắn bó với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ và phong trào xã hội chủ nghĩa trong quá trình cách mạng thế giới.

Chủ nghĩa xã hội khoa học tiến hành phê phán, đấu tranh bác bỏ những trào lưu tư tưởng chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và những thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn hiện nay của thời đại, Chủ nghĩa xã hội khoa học hướng vào nghiên cứu những biến đổi về đời sống hiện thực của thời đại, những tác động của nó đến các vấn đề chính trị - xã hội và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế, kịp thời đưa ra những kết luận khoa học, làm cơ sở đề ra chiến lược, sách lược của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế; tiếp tục luận chứng việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; tìm tòi những điều kiện, con đường, biện pháp, nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, làm cho giai cấp công nhân tiếp tục phát triển và giành được thắng lợi mới trong thế kỷ XXI; giáo dục nâng cao giác ngộ cách mạng, lập trường giai cấp công nhân, xây dựng lý tưởng, niềm tin cộng sản cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trên cơ sở đó, tập hợp, lôi kéo họ vào cuộc đấu tranh cách mạng; đồng thời, trở thành vũ khí sắc bén, đấu tranh có hiệu quả với chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các quan điểm sai trái, thù địch, phản động.

Các nhiệm vụ chủ yếu trên đây của Chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cần được nhận thức đầy đủ, thường xuyên coi trọng và vận dụng thích hợp, sáng tạo, không được xem nhẹ trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hiện nay, cần quán triệt sâu sắc chỉ dẫn của Ph.Ăngghen về nhiệm vụ của Chủ nghĩa xã hội khoa học: “Nghiên cứu những điều kiện lịch sử và do đó, nghiên cứu chính ngay bản chất của sự biến đổi ấy, và bằng cách ấy làm cho giai cấp hiện nay đang bị áp bức và có sứ mệnh hoàn thành sự nghiệp ấy hiểu rõ được những điều kiện và bản chất sự nghiệp của chính họ - đó là nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học, sự thể hiện về mặt lý luận của phong trào vô sản”2.



2 C.Mác Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 393.

Chức năng nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chức năng thế giới quan. Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin, cung cấp cho giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ một thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng và nhân sinh quan cộng sản. Đồng thời, trên cơ sở tri thức khoa học toàn diện về tự nhiên, xã hội, tư duy, Chủ nghĩa xã hội khoa học luận giải sâu sắc, toàn diện về quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, thông qua đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, khẳng định sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân phải do chính giai cấp công nhân đảm nhận, thông qua chính đảng mác xít- lênin nít lãnh đạo.

Chức năng giáo dục. Chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị cho giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ hệ thống lý luận cách mạng, khoa học, qua đó giáo dục xây dựng niềm tin, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa trên cơ sở khoa học; củng cố lập trường, bản lĩnh chính trị, hình thành phẩm chất, nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng cộng sản được tiếp nhận chuyển hoá thành nhận thức, tình cảm, thái độ, hành vi của con người không phải bằng sức mạnh quyền uy hay bằng sự mê hoặc mang tính chất tôn giáo, mà bằng chính sức mạnh của trí tuệ và tình cảm của mỗi con người, trên cơ sở nhận thức sâu sắc quy luật của cuộc sống và sự truyền bá, giáo dục những nguyên lý Chủ nghĩa xã hội khoa học của các đảng cộng sản vào quần chúng nhân dân lao động.

Chức năng dự báo khoa học, định hướng chính trị, hướng dẫn thực tiễn. Chủ nghĩa xã hội khoa học đưa ra những dự báo khoa học về phương hướng, mục tiêu, con đường, biện pháp cách mạng để cải tạo xã hội theo quy luật tiến hoá của lịch sử. Từ đó định hướng chính trị tư tưởng và hướng dẫn hoạt động thực tiễn để đạt được những mục tiêu chính trị đã đề ra, cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người, thúc đẩy lịch sử phát triển. Thực tiễn lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã chứng minh: Từ sự giác ngộ lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học, giai cấp công nhân đã thành lập ra chính đảng của mình, đem khoa học thay cho mộng tưởng, làm chuyển hóa phong trào từ đấu tranh tự phát lên đấu tranh tự giác, từ giai cấp bị trị đã bước lên vũ đài lịch sử, vũ đài chính trị và trở thành giai cấp trung tâm của thời đại, giữ vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh để thực hiện sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.