Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

 


Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự cùng tồn tại, đan xen lẫn nhau những nhân tố của xã hội mới và những “dấu vết” của xã hội cũ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: “Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh; hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại, nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu”[1]. Đôi khi “cái cũ” còn lấn át cả “cái mới”, nên sự phát triển của chủ nghĩa xã hội phải trải qua những bước trung gian, quá độ, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Tính chất quá độ đó thể hiện cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị - xã hội, tư tưởng - văn hoá. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức…”[2]

Trên lĩnh vực kinh tế: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại đan xen nhiều thành phần kinh tế, những bộ phận kinh tế của cả chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, vận động trong sự tác động hỗ trợ, hp tác và đấu tranh với nhau để dần dần chuyển hoá thành các thành phần kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Theo V.I.Lênin, trong thời kỳ quá độ ở nước Nga đã tồn tại 5 thành phần kinh tế: kinh tế gia trưởng, kinh tế hàng hoá nhỏ, kinh tế tư bản, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực chính trị - xã hội: tương ứng với các thành phần kinh tế là sự tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội trong thời kỳ quá độ. Và do đó, lợi ích cơ bản của họ có sự khác biệt nhau, thậm chí đối lập nhau. Sự quá độ chính trị diễn ra quá trình thay thế nền dân chủ tư sản bằng nền dân chủ vô sản. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được thiết lập, không ngừng củng cố hoàn thiện để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân lao động và tổ chức xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình vừa liên minh, hiệp tác, vừa đấu tranh chuyển hóa lẫn nhau giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản, giữa con đường phát triển lên chủ nghĩa xã hội hay lên chủ nghĩa tư bản diễn ra trong điều kiện mới với nội dung mới và hình thức mới. Tăng cường sự lãnh đạo của đảng cộng sản, vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động để khắc phục dần sự đối lập giữa các giai tầng xã hội, sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, từng bước thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội.

Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn tồn tại đan xen nhiều loại hình tư tưởng, văn hóa tinh thần khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Nền văn hoá mới đang hình thành phát triển trên cơ sở hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, bên cạnh đó có sự tồn tại, ảnh hưởng của hệ tư tưởng cũ và tâm lý, thói quen, tập quán, hủ tục lạc hậu của chế độ cũ còn rơi rớt lại. Quá trình đó diễn ra đồng thời với sự tồn tại dai dẳng và níu kéo tinh vi của “cái cũ” làm cho tính chất quá độ trên lĩnh vực này càng phức tạp, khó khăn, lâu dài hơn, đòi hỏi phải tiến hành cải biến cách mạng hết sức kiên trì, linh hoạt và toàn diện.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 310.

[2] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2022, tr. 15.

Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

 


Hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp lên cao qua hai giai đoạn, giai đoạn thấp và giai đoạn cao. Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. C.Mác khẳng định: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”[1]. Khẳng định quan điểm của C.Mác, V.I.Lênin cho rằng: “Về lý luận không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định”[2]. “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”[3]

Xã hội trong thời kỳ quá độ là một xã hội vừa thoát thai từ chủ nghĩa tư bản, còn mang nặng những “dấu vết” của xã hội cũ mà nó vừa lọt lòng. Những “dấu vết” đó chỉ mất đi thông qua hoạt động tự giác của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện cải tạo cái cũ trên toàn bộ lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước xây dựng cái mới của chủ nghĩa xã hội. Để đảm bảo những tiền đề vật chất, văn hoá và tinh thần cần thiết cho chủ nghĩa xã hội phát triển trên cơ sở của chính nó, thì sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành chủ thể cầm quyền, phải trải qua một quá trình “cải biến cách mạng” sâu sắc toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là quá trình tổ chức, xây dựng và đấu tranh để từng bước cải tạo các quan hệ kinh tế - xã hội cũ, phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới tương ứng, hình thành và phát triển một cơ cấu xã hội tiến bộ, đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh nhằm giải phóng triệt để con người. V.I.Lênin đã khẳng định: “Mục đích đó, người ta không thể đạt ngay tức khắc được; muốn thế cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, vì cải tổ sản xuất là một việc khó khăn, vì cần phải có thời gian mới thực hiện được những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, và vì phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài mới có thể thắng được sức mạnh to lớn của thói quen quản lý theo kiểu tiểu tư sản và tư sản”[4].

Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước đã chứng minh tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ khó khăn và phức tạp, lâu dài, không thể nôn nóng đốt cháy giai đoạn.

Trong điều kiện lịch sử mới được hình thành sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, V.I.Lênin đã khẳng định: Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xôviết và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa[5]. Xuất phát từ quan điểm đó, về hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã nêu ra hai hình thức quá độ: quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp. Theo V.I.Lênin, chỉ ở các nước tư bản phát triển cao, giai cấp công nhân đã trưởng thành mới có đủ những tiền đề kinh tế, xã hội cho sự quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Trái lại, các nước lạc hậu, các nước tiền tư bản chỉ có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bằng quá độ gián tiếp. Đối với những nước thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải trải qua nhiều bước trung gian, quá độ mới có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội “chúng ta phải hiểu những đường lối, thể thức, thủ đoạn và phương sách trung gian cần thiết để chuyển từ những quan hệ tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội”[6].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 47.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 309.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2001, tr. 85.

[4] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2006, tr. 464.

[5] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2006, tr. 295.

[6] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 43, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 274.

Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

 


C.Mác đã chỉ ra rằng, từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội cộng sản chủ nghĩa là cả một thời kỳ lịch sử lâu dài từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền đến khi giai cấp công nhân xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản.

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội phát triển trên cơ sở của chính nó.

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền nhà nước, tiến hành xây dựng xã hội mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa và chỉ kết thúc khi xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp.

Cơ sở phân kỳ hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa

 


Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” viết năm 1875, lần đầu tiên C.Mác trình bày rõ sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp (hay còn gọi là giai đoạn đầu) và giai đoạn cao, sau này gọi là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản (hay xã hội xã hội chủ nghĩa xà xã hội cộng sản chủ nghĩa). Và giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ quá độ chính trị từ xã hội nọ sang xã hội kia. Đó là một xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do vậy, còn mang nhiều dấu vết của xã hội tư bản. C.Mác khẳng định: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”[1].

Trung thành, bảo vệ và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về các giai đoạn của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, V.I.Lênin trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, đã viết:

“I. Những cơn đau đẻ kéo dài.

II. Giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

III. Giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa”[2].

Theo V.I.Lênin, sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội công sản chủ nghĩa gồm một thời kỳ (thời kỳ quá độ) và hai giai đoạn (chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chỉ rõ thời kỳ quá độ nằm trong giai đoạn đầu và bao gồm nhiều bước quá độ nhỏ.

Tựu trung lại, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa hình thành và phát triển qua một thời kỳ (thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội) và hai giai đoạn (giai đoạn thấp hay giai đoạn đầu - chủ nghĩa xã hội hay xã hội xã hội chủ nghĩa, giai đoạn cao - chủ nghĩa cộng sản hay xã hội công sản chủ nghĩa).

Thực tiễn các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đều phải trải qua thời kỳ quá độ - chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản. Trong đó thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ khó khăn, phức tạp, lâu dài, không thể nôn nóng đốt cháy giai đoạn. Hiện nay, các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba… đều đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 47.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 223.

Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

 


Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã xây dựng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Học thuyết vạch rõ những quy luật cơ bản của vận động xã hội, chỉ ra phương pháp khoa học để giải thích lịch sử nhân loại. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin vừa làm rõ những yếu tố cấu thành hình thái kinh tế - xã hội vừa xem xét xã hội trong sự vận động biến đổi và phát triển không ngừng.

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa đã chỉ ra tính tất yếu sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là quá trình lịch sử tự nhiên. Sự thay thế này được thực hiện thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa xuất phát từ hai tiền đề vật chất quan trọng nhất là sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự trưởng thành của giai cấp công nhân. Học thuyết kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp những tiêu chuẩn thực sự duy vật, khoa học cho sự phân kỳ lịch sử, trong đó có sự phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là nền tảng cho các phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử và chính trị thế giới.

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là một khái niệm chỉ xã hội ở giai đoạn phát triển cao trong lịch sử xã hội loài người, trong đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, kiến trúc thượng tầng được xây dựng thể hiện ý chí, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC!

Ngày 02 tháng 12
“Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng”.

Cách đây 104 năm, ngày 02-12-1920, báo cáo theo dõi của mật thám Pháp cho biết Nguyễn Ái Quốc vừa nhận được số “La Revue Communiste” (Tạp chí Cộng sản).

Ngày 02-12-1940, “Cứu Vong Nhật báo” đăng bài “Nhân dân Việt Nam và báo chí Trung Quốc” của Nguyễn Ái Quốc, trong đó tác giả vạch rõ: “Phong trào giải phóng của Việt Nam là đội quân đồng minh trong công cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc. Về tinh thần cũng như về vật chất chúng ta đều cần phải cổ vũ và giúp đỡ. Quốc phụ (chỉ Tôn Trung Sơn) từng dạy chúng ta: Giúp đỡ các dân tộc nhỏ yếu, cùng nhau phấn đấu giành lấy tự do, độc lập. Cơ hội thực hiện lời di huấn đó đã đến”.

Ngày 02-12-1942, từ nhà ngục Thiên Giang (Quảng Tây), Hồ Chí Minh bị giải đi Liễu Châu rồi tới Lai Tân trên một toa xe lửa chở than. Tình cảnh gian khó này được tả lại trong bài thơ “Tháp hỏa xa vãng Lai Tân” (Đáp xe lửa đi Lai Tân) được Đỗ Văn Hỷ và Huệ Chi dịch: “Cuốc bộ mấy mươi ngày vất vả/Hôm nay được bước lên xe hỏa/Dù rằng chỉ ngồi trên đống than/Sang gấp mấy lần khi cuốc bộ”.

Tháng 12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu mới thành lập với những lời động viên và căn dặn: “Bộ Tổng Tham mưu là cơ quan cơ mật giúp Trung ương và Chính phủ xây dựng và điều chỉnh bộ đội, bày mưu tính kế để đánh thắng kẻ thù. Muốn thắng địch phải biết địch biết ta, nắm chắc ý định cấp trên, có kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể... Vừa kháng chiến lại vừa phải kiến quốc, nhiệm vụ chính của quân đội là chống giặc ngoại xâm, song không được coi nhẹ các việc khác như: công tác vận động quần chúng, tổ chức quần chúng tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”.

Ngày 02-12-1948, Bác viết thư gửi Bộ trưởng Canh nông Cù Huy Cận, góp ý kiến rất cụ thể và chi tiết về bản “Nội quy kiểu mẫu của Quỹ nghĩa thương” (một hình thức tương trợ lương thực ở nông thôn) và căn dặn: “Nói tóm lại, phải làm nội quy giản đơn, thì dân mới dễ hiểu, dễ làm hơn”.

Ngày 02-12-1961, Bác dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6 thảo luận một số vấn đề của Đại hội XXII Đảng Cộng sản Liên Xô và bàn việc đưa Đảng bộ miền Nam ra công khai. Trong bối cảnh phức tạp của tình hình cách mạng, Bác căn dặn: “Trong lời nói cũng như bài viết, trước hết là của các đồng chí Trung ương phải hết sức cẩn thận. Lúc này, một cái gì không thận trọng sẽ bị hiểu lầm ngay”.

Ngày 02-12-1965, phát biểu tại Đại hội những phụ nữ xuất sắc trong phong trào “Ba đảm đang” của thủ đô, Bác biểu dương: “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, thanh niên Việt Nam là thanh niên anh hùng, phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng. Hai nghìn năm trước đây, ta có các nữ anh hùng Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong kháng chiến chống giặc Pháp trước kia và trong kháng chiến chống giặc Mỹ ngày nay, ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ. Trên thế giới chưa có nơi nào phụ nữ là Phó Tổng tư lệnh như ở miền Nam nước ta... Khó khăn đến mấy chúng ta cũng vượt qua được và nhất định chúng ta đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược”./.
Môi trường ST.

Trên lĩnh vực chính trị của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Tiến hành cách mạng về chính trị nhằm lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản để giành quyền lãnh đạo xã hội về giai cấp công nhân, giải phóng nhân dân lao động khỏi địa vị nô lệ và trở thành người làm chủ xã hội mới. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo, là cơ sở và tiền đề để thực hiện các nội dung về kinh tế, văn hoá và tư tưởng. Do vậy, để xoá bỏ xã hội tư bản chủ nghĩa và xây dựng xã hội mới, thì giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc cách mạng về chính trị là màn giáo đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Để tiến hành nội dung cách mạng về chính trị giành thắng lợi, giai cấp công nhân ở mỗi nước phải tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân lao động dùng bạo lực cách mạng để đập tan nhà nước tư sản, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản. Sau khi giành được chính quyền nhà nước, giai cấp công nhân thực hiện bước tiếp theo là không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt cho nhân dân lao động, bảo đảm cho họ thực hiện quyền làm chủ xã hội, thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Nhà nước chuyên chính vô sản phải thường xuyên được củng cố vững chắc, không chia sẻ quyền lực chính trị của giai cấp công nhân cho bất kỳ một lực lượng nào, từng bước xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Tính chất của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Tính chất của một cuộc cách mạng là yếu tố cơ bản để phân biệt các cuộc cách mạng khác nhau trong lịch sử. Cơ sở để xác định tính chất của một cuộc cách mạng là dựa vào bản chất của giai cấp lãnh đạo cách mạng và mục tiêu, nhiệm vụ mà cuộc cách mạng đó hướng tới, giải quyết. Cách mạng xã hội chủ nghĩa mang tính chất toàn diện, triệt để, gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài; mang tính nhân dân; tính quốc tế sâu sắc.

Tính chất toàn diện, triệt để, gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh khách quan tính chất cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa thực chất là hệ quả tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản, đây là cuộc đấu tranh cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người, diễn ra trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm xoá bỏ triệt để mọi nguồn gốc của áp bức, bóc lột và bất công, xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa không còn áp bức, bóc lột. Đây là công việc vô cùng khó khăn gian khổ, phức tạp và lâu dài vì những nhân tố mới của xã hội - xã hội chủ nghĩa không có sẵn trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. Mặt khác giai cấp tư sản là một lực lượng quốc tế, nó có thể bị lật đổ địa vị thống trị xã hội ở một quốc gia, những mối liên hệ quốc tế và những tiềm lực kinh tế, quân sự, chính trị, còn tồn tại lâu dài. Thực tế đã chứng minh, giai cấp công nhân ở một số nước thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản giành được chính quyền nhà nước, đã có một quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng do sai lầm chủ quan kết hợp với sự chống phá của các lực lượng phản cách mạng đã quay lại phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa đế quốc, cùng các thế lực thù địch luôn sử dụng mọi âm mưu, thủ đoạn để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa để lấy lại và mở rộng phạm vi của chủ nghĩa tư bản.

Tính chất nhân dân của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa được biểu hiện đây là cuộc cách mạng do nhân dân lao động tiến hành thông qua vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, đem lại lợi ích chính đáng và đáp ứng nguyện vọng giải phóng họ khỏi mọi áp bức, bóc lột của chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa. Còn các cuộc cách mạng xã hội khác đã diễn ra trong lịch sử chỉ là những cuộc cách mạng đem lại lợi ích cho một bộ phận thiểu số - giai cấp thống trị, khi thắng lợi quay lưng lại với nhân dân lao động, không đem lại lợi ích chính đáng cho họ. Vì vậy, trong tất cả các cuộc cách mạng xã hội đã diễn ra, thì chỉ có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng mang tính nhân dân sâu sắc.

Tính chất quốc tế của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa được thể hiện đây là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo khi giành được thắng lợi sẽ ảnh hưởng to lớn đến xu hướng vận động, phát triển của nhân loại tiến bộ. Nó sẽ thu hẹp phạm vi tồn tại thực tế của chủ nghĩa tư bản thế giới, từng bước hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân là xoá bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản văn minh trên toàn thế giới. Đồng thời, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước muốn giành được thắng lợi phải có sự giúp đỡ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới cả về vật chất và tinh thần.

Thực tiễn cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nói riêng, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước nói chung là những bằng chứng sinh động phản ánh sâu sắc tính chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa


Bất kỳ một cuộc cách mạng nào nổ ra đều có mục tiêu riêng của nó, do bản chất của giai cấp lãnh đạo cách mạng quy định. Trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản, để lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập quyền thống trị về tay giai cấp mình, giai cấp tư sản đã giương cao ngọn cờ khẩu hiệu vì “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” để thu hút đông đảo công nhân và lao động tham gia. Nhưng sau khi đạt được mục đích, giai cấp tư sản không những không thực hiện lời hứa ban đầu mà còn quay lại đàn quần chúng lao động. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn là người bị áp bức, bóc lột, không được hưởng quyền tự do dân chủ thực sự. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là con đường cách mạng và khoa học để thực hiện sứ mệnh lịch sử vẻ vang của giai cấp công nhân. Do vậy, mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa hướng tới là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại và giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội mới không còn sự phân chia giai cấp. Để hoàn thành sự nghiệp cách mạng cao cả đó, giai cấp công nhân phải thực hiện thắng lợi mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài.

Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động, để từng bước cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn với giai đoạn thứ nhất trong tiến trình cách mạng của giai cấp công nhân - giai đoạn xây dựng thành giai cấp thống trị xã hội. Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa là quan trọng hàng đầu, bởi lẽ, vấn đề giành chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. chính quyền nhà nước là công cụ thống trị xã hội, nhờ đó mà giai cấp thống trị duy trì và bảo vệ chế độ xã hội. Do đó, giai cấp công nhân muốn thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang của mình phải lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền nhà nước là điều kiện để thực hiện mục tiêu tiếp theo.

Mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản văn minh trên phạm vi từng nước và toàn thế giới. Đây là mục tiêu gắn với giai đoạn thứ hai trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, do giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động sử dụng nhà nước chuyên chính vô sản tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới không còn áp bức, bóc lột và con người có điều kiện phát triển toàn diện. Mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa phản ánh tập trung, sâu sắc tính chất cách mạng triệt để và tính nhân văn, nhân đạo mà các cuộc cách mạng xã hội trước không thể thực hiện được. Mục tiêu này đồng thời còn chỉ ra tính chất khó khăn, phức tạp, gay go và quyết liệt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giai cấp công nhân phải biết tập hợp và phát huy vai trò lao động sáng tạo của quảng đại quần chúng nhân dân. Đội tiền phong của giai cấp công nhân phải nắm vững, vận dụng có hiệu quả những quy luật kinh tế, xã hội và đưa ra đường lối chiến lược, sách lược phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi giai đoạn cách mạng.

Thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước đã chứng minh tính ưu việt, những khả năng thực tế trong thực hiện mục tiêu cao cả mà giai cấp công nhân đã xác định. Tuy nhiên, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình rất phức tạp gắn với cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại hiện đại, khắc phục những ảnh hưởng của phong tục lạc hậu còn tồn tại trong quần chúng nhân dân lao động. Trong giai đoạn hiện nay, hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội là là nhu cầu và khát vọng của toàn nhân loại đang hướng đến. Thực hiện những mục tiêu đó của thời đại cũng chính là quá trình từng bước hiện thực hóa mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. 

Tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, mọi cuộc cách mạng xã hội diễn ra trong lịch sử đều bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất. Theo quy luật chung, khi lực lượng sản xuất không ngừng phát triển mâu thuẫn với quan hệ sản xuất đã lỗi thời sẽ đặt ra nhu cầu khách quan phải thay thế quan hệ sản xuất kìm hãm nó bằng một quan hệ sản xuất mới, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có,… Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội…”[1]. Việc đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn này thông qua cách mạng xã hội là động lực trực tiếp thúc đẩy xã hội vận động và phát triển. Đây chính là quy luật khách quan của sự thay thế lẫn nhau giữa các chế độ xã hội trong lịch sử.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng không nằm ngoài quy luật chung đó, nó là kết quả tất yếu của sự vận động, phát triển những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, trong đó chủ yếu là mâu thuẫn về kinh tế - xã hội.

Trên lĩnh vực kinh tế, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển có tính chất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. C.Mác khẳng định, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn tới “tư liệu sản xuất và sản xuất, về thực chất, đã biến thành có tính chất xã hội; nhưng chúng vẫn phải lệ thuộc vào một hình thức chiếm hữu lấy sản xuất riêng rẽ của người sản xuất cá thể làm tiền đề… Cái mâu thuẫn ấy, cái mâu thuẫn đã mang lại tính chất tư bản chủ nghĩa cho phương thức sản xuất mới, đã chứa đựng sẵn những mầm mống của mọi xung đột hiện nay”[2]. Đây là mâu thuẫn khách quan hình thành ngay từ khi ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó tích tụ trở thành mâu thuẫn cơ bản, biểu hiện ngày càng gay gắt và tạo ra tiền đề phủ định chế độ tư bản chủ nghĩa: “sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa. Cái vỏ đó vỡ tung ra. Giờ tận số của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm. Những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt”[3]. Sự phù hợp thực sự với tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất chỉ có thể là sự thay thế quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực xã hội, đó là mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Sau khi trở thành giai cấp thống trị, nắm trong tay quyền lực kinh tế, chính trị, giai cấp tư sản ngày càng xóa bỏ tình trạng phân tán của tư liệu sản xuất, tài sản và dân cư để bảo vệ lợi ích giai cấp mình. Sự áp bức và bóc lột của giai cấp tư sản, sự cạnh tranh tự do mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra đã đẩy ngày càng nhiều người, kể cả những người thuộc tầng lớp dưới của giai cấp trung đẳng xưa kia vào tầng lớp vô sản. Do đó, mâu thuẫn giữa hai giai cấp vô sản và tư sản ngày càng tăng lên. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “xã hội ngày càng chia thành hai phe lớn thù địch với nhau, hai giai cấp lớn hoàn toàn đối lập nhau: “giai cấp tư sản và giai cấp vô sản”[4]. Sự đối lập về lợi ích cơ bản giữa hai cấp này không thể dung hòa và giải quyết triệt để trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản, mà chỉ có thể giải quyết bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, do giai cấp vô sản, người đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại giữ vai trò lịch sử.

Trong giai đoạn hiện nay của thời đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, các nước tư bản chủ nghĩa có ưu thế đầu tư công nghệ sản xuất mới và hình thành những công ty xuyên quốc gia thì lực lượng sản xuất càng phát triển, xã hội hoá cao, làm cho mâu thuẫn với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất càng sâu sắc. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã tự “điều chỉnh”, “thích nghi” bằng cách cải tiến một số khâu trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong cơ chế vận hành và quản lý xã hội tư bản chủ nghĩa. Điển hình là sự điều tiết vĩ mô để khắc phục tình trạng vô chính phủ; hoàn thiện chế độ phúc lợi; điều hòa mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa giai cấp và xã hội. Tuy nhiên, tất cả những điều chỉnh mới đó của chủ nghĩa tư bản không hề đụng chạm đến chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Sự đối lập giữa tư bản và lao động làm thuê; quy luật tích lũy tư bản của sự phân hóa hai cực giàu - nghèo; mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chưa có sự thay đổi căn bản về chất. Bản chất bóc lột, bành trướng, cướp bóc tài nguyên, thương mại không bình đẳng, áp bức các quốc gia nhỏ trên phạm vi toàn thế giới; khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng... do đó trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản không thể giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của bản thân nó, đó là tiền đề khách quan quy định tính tất yếu sẽ nổ ra cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại hiện nay.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995; tr. 14 - 15.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 311.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 1059.

[4] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 597.

Khái niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Trong lịch sử loài người đã diễn ra những cuộc cách mạng xã hội khác nhau. Đó là phương thức căn bản để thay thế chế độ xã hội này bằng chế độ xã hội khác tiến bộ hơn, phù hợp với trình độ và nhu cầu phát triển của lịch sử. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và con người khỏi sự áp bức, bóc lột và bất công, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng xã hội chủ nghĩa thường được hiểu theo hai góc độ:

Theo nghĩa hẹp: Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng chính trị do giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình, lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động đấu tranh lật đổ nhà nước tư sản, giành chính quyền và thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản. Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn với giai đoạn đấu tranh giành chính quyền của giai cấp công nhân nhằm lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản và kết thúc khi giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động giành được chính quyền, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản - nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để, lâu dài do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của mình nhằm lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, từng bước cải tạo xã hội tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, theo nghĩa rộng cách mạng xã hội chủ nghĩa bao gồm cả việc giành chính quyền về tay giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả quá trình giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân lao động tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quá trình này kết thúc khi xã hội cộng sản chủ nghĩa tạo lập được vững chắc, vận động và phát triển trên cơ sở của chính nó. Đây là một quá trình đấu tranh lâu dài của mỗi quốc gia dân tộc và của cả loài người.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là con đường cách mạng, khoa học để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu cách mạng xã hội chủ nghĩa theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Phản bác luận điệu cho rằng học thuyết Mác đã lỗi thời: Bài 1: Những luận điệu cũ rích của các thế lực thù địch

Thời gian qua, khi Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tiếp tục trung thành, kiên định, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới thì các thế lực thù địch lại cho rằng đó là sự trung thành “mù quáng”, bởi vì học thuyết của Mác đã “lỗi thời và lạc hậu”.

Đây là luận điệu tuy không mới nhưng nguy hiểm, vì nó tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, do đó cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ đồng thời phải kiên trì bảo vệ tính cách mạng, khoa học của học thuyết Mác.

Nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chống phá cách mạng Việt Nam, thời gian qua, các thế lực thù địch và bọn phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước vẫn ra sức tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đáng chú ý, trên không gian mạng xuất hiện rất nhiều bài viết, với những luận điệu cho rằng Đảng ta trung thành “mù quáng” với học thuyết Mác. Chúng hô hào học thuyết Mác “đã lỗi thời”, đến hồi “cáo chung” và đó chỉ là một học thuyết sai lầm, chẳng có giá trị gì cho nên đã bị nhân loại “lãng quên”...

Việc các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc, phủ nhận, phỉ báng học thuyết Mác thật ra không có gì mới. Bởi vì, ngay từ khi ra đời vào thế kỷ XIX, học thuyết Mác đã bị giai cấp tư sản xem là “bóng ma ám ảnh châu Âu” và bị chúng chống đối kịch liệt. Nguyên nhân là bởi học thuyết Mác không những đã lột trần bản chất bóc lột xấu xa, tàn bạo của CNTB mà còn dẫn dắt, soi đường cho giai cấp vô sản đoàn kết lại và vùng lên đấu tranh giành quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, bình đẳng, tôn trọng phẩm giá con người.

Tháng 2/1848, Tuyên ngôn Đảng Cộng sản ra đời, học thuyết Mác không còn là “bóng ma” nữa mà từ đây đã trở thành lý luận soi đường cho phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Công xã Pari năm 1871, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới nổ ra và thành công (dù chỉ tồn tại trong 72 ngày), đã cho thấy, khi có học thuyết cách mạng thâm nhập, dẫn dắt, giai cấp công nhân và lao động quốc tế đã bước lên vũ đài chính trị, khẳng định sứ mệnh lịch sử của mình. Đặc biệt, chính “bóng ma” ấy đã được Lê nin bổ sung, phát triển, tuyên truyền, thâm nhập vào phong trào công nhân Nga, để làm nên cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, mở ra thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. “Bóng ma” ấy cũng là cảm hứng, là động lực cho phong trào cách mạng thế giới phát triển để rồi hình thành nên một hệ thống các nước XHCN, có tác dụng cổ vũ, giúp đỡ các quốc gia, dân tộc thuộc địa, bị áp bức đứng lên đấu tranh giành lại độc lập, và qua đó tiếp tục khẳng định sức sống trường tồn, giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác.

Sau khi hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ (1991), các thế lực chống cộng trên thế giới đã hô hào về sự “cáo chung” của chủ nghĩa Mác. Người ta gán cho Mác rất nhiều sai lầm. Các nhà tư tưởng, chính trị tư sản rêu rao về sự diệt vong của CNCS. Đáng buồn là ngay trong hàng ngũ những người cộng sản, có người từng giữ trọng trách lớn, từng là “môn đồ trung thành” của chủ nghĩa Mác cũng vội vàng “đổi màu”, hùa theo luận điệu cho rằng học thuyết Mác đã “lỗi thời”. Điều này đã được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Từ sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên CNXH lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước XHCN Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lê nin và con đường XHCN”.

Một trong những nguy cơ rất lớn hiện nay là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Một số người ngại nói về chủ nghĩa Mác và CNXH. Cá biệt có người cho rằng “lý luận nào cũng được, miễn là dân giàu, nước mạnh”, “nhiều nước tư bản không theo chủ nghĩa Mác nhưng vẫn giàu mạnh”. Rồi họ đưa ra dẫn chứng “nhiều chủ doanh nghiệp tư sản như Bill Gate, Elon Musk, Mark Zuckerberg có bóc lột đâu, ngược lại còn đóng góp rất nhiều cho các quỹ từ thiện, nhân đạo”, “các nước tư bản đã điều chỉnh, hình thành phúc lợi xã hội tiến bộ hơn, cho nên đã thay đổi về chất”. Về vấn đề này, trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặt ra và trả lời cặn kẽ, thuyết phục cho câu hỏi: “Thực tế có phải hiện nay CNTB, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?”.

Để chống phá, xuyên tạc học thuyết Mác, nhiều người dẫn ra những sai lầm, khuyết điểm mà Liên Xô và Đông Âu vấp phải trong quá trình xây dựng CNXH. Đúng là hiện nay phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phải gánh chịu tổn thất và trải qua giai đoạn đầy khó khăn, thử thách bởi sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu. Song rõ ràng đây chỉ là sự sụp đổ của một mô hình trong thực tế, một mô hình có nhiều khiếm khuyết khi vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lê nin, chứ không phải sự sụp đổ của một hệ tư tưởng, một hệ thống lý luận khoa học.

Trong thời đại mới của văn minh nhân loại, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang làm thay đổi phương thức sản xuất, lao động, sinh hoạt, đời sống của người dân. Có những quan điểm cho rằng kinh tế tri thức, thời đại công nghệ thông tin không dung nạp CNXH, hoặc cho là đội ngũ trí thức ngày càng đóng vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại cho nên giai cấp công nhân không còn sứ mệnh lịch sử nữa. Rồi họ cũng cho rằng việc CNXH thoái trào chứng tỏ học thuyết Mác là sai lầm... Trước những luận điệu sai trái đó, chúng ta cần nhận thức rõ rằng, giai cấp công nhân hiện đại vẫn đang phát triển ngày càng đông đảo và không bao giờ mất đi sứ mệnh lịch sử của mình. Khoa học công nghệ càng phát triển thì giai cấp công nhân càng giữ vai trò đại diện cho phương thức sản xuất hiện đại, tiên tiến. Bởi suy cho cùng, máy móc dù hiện đại đến đâu cũng do con người làm ra, do con người điều khiển, vận hành, mà trực tiếp chính là những người công nhân.

Sưu tầm

Xử lý nghiêm hành vi lợi dụng đơn thư nặc danh để tố cáo sai sự thật

Tình trạng lợi dụng dân chủ, nhân quyền để viết, gửi đơn thư nặc danh, mạo danh, tố cáo sai sự thật đã và đang gây ra nhiều hệ lụy. Mục đích của việc làm này không phải nhằm góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước, tổ chức tốt đẹp hơn mà để bôi nhọ, hạ thấp uy tín lãnh đạo, gây mất đoàn kết nội bộ, gây rối tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Hệ lụy của đơn thư nặc danh, mạo danh, tố cáo sai sự thật rất nặng nề, làm xáo trộn tư tưởng, gây dư luận xấu trong xã hội, tiến tới bôi nhọ, phá hoại Đảng, chống đối chính quyền...

Thực chất của đơn thư nặc danh khi tố cáo

Điều 22 Luật Tố cáo quy định: Việc tố cáo sẽ được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Tại khoản 1, Điều 23 Luật Tố cáo cũng nêu rõ nguyên tắc tố cáo bằng đơn thư như sau: Trường hợp tố cáo mà được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo sẽ phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ tên, địa chỉ của người tố cáo, cách thức để liên hệ với người tố cáo; hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; người bị tố cáo và các thông tin khác có liên quan. Trường hợp có nhiều người cùng thực hiện tố cáo về cùng một nội dung thì trong đơn tố cáo còn phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, cách thức liên hệ với từng người tố cáo; họ tên của người đại diện cho những người tố cáo.

Khái niệm đơn thư nặc danh là để dùng chung cho các loại đơn thư không xác định được người tố cáo. Mục đích thường là để tố cáo một hành vi vi phạm pháp luật hoặc một vấn đề nào đó mà người gửi muốn “đưa ra ánh sáng”, nhưng lại không muốn công khai danh tính của mình. Đơn thư nặc danh, mạo danh gồm: Đơn thư không có tên người tố cáo hoặc có tên nhưng đó là tên giả, không có thật, chỉ mang tên người khác và mạo danh; hoặc đơn thư có tên nhưng không có địa chỉ cụ thể hoặc địa chỉ không rõ ràng, chính xác.

Nguyên nhân chủ yếu của người viết đơn thư nặc danh: Người tố cáo lo sợ việc mình tố cáo có thể bị trả thù, trù dập nên mặc dù rất muốn thông tin cho cơ quan có thẩm quyền về hành vi mà họ cho là vi phạm pháp luật để cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn và xử lý nhưng họ buộc phải giấu tên. Người gửi đơn thư nặc danh, tố cáo có thể muốn bảo vệ người khác mà không muốn người đó bị liên lụy. Nhưng đặc biệt nguy hiểm là trường hợp người tố cáo với dụng ý không tốt, muốn đưa tin thất thiệt hay thậm chí bịa ra những bằng chứng giả mạo để vu cáo, vu khống người khác, có thể do thù hận cá nhân mà triệt hạ người khác, cũng có thể vì mục đích tư lợi-những hành vi này được xác định là tố cáo sai sự thật.

Đối với đảng viên, được quy định rõ trong Điều 6 Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm: “Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt; cùng người khác viết, ký tên trong đơn tố cáo; viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên”.

Những hậu quả khôn lường

Thực tế cho thấy, tình trạng lợi dụng đơn thư nặc danh, mạo danh, tố cáo sai sự thật khá phổ biến, nhằm vu khống, hãm hại người khác và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả của đơn thư nặc danh, mạo danh, tố cáo sai sự thật làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân; gây mất đoàn kết nội bộ, mất ổn định trong các tổ chức, cơ quan; gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong giải quyết công việc. Ngoài ra, tình trạng này còn gây phức tạp trong xã hội và ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Nghiêm trọng hơn, khi đơn thư nặc danh, mạo danh, tố cáo sai sự thật nhằm vào cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị làm hạ thấp uy tín, mất niềm tin.

Các hình thức khiếu nại, tố cáo không chỉ đơn thuần là gửi đơn thư nặc danh mà còn lợi dụng nhiều chiêu trò kết hợp như cắt ghép hình ảnh, dàn dựng video clip, ghi âm giọng nói giả... Nếu không kiên quyết, kịp thời, xử lý nghiêm minh tình trạng đơn thư nặc danh, mạo danh, tố cáo sai sự thật thì tình hình chính trị, tư tưởng, mất đoàn kết nội bộ sẽ ngày càng nghiêm trọng, kéo dài, gây nên những hậu quả khó lường. Rõ ràng, viết đơn thư nặc danh, mạo danh, tố cáo sai sự thật, hạ uy tín lãnh đạo, tổ chức là hành vi gây rối, nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước và nhân dân, phá hoại tổ chức, cần kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh, thích đáng.

Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng đơn thư nặc danh, tố cáo sai sự thật

Hệ thống pháp luật của Việt Nam có chế tài xử lý hành vi vu khống, đơn thư mạo danh, nặc danh, tố cáo sai sự thật đã đủ sức răn đe đối với các công dân có hành vi này. Tuy nhiên, một số cơ quan, địa phương, đơn vị trong thời gian qua còn lúng túng, chậm xử lý đơn thư nặc danh, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức và cá nhân. Vì vậy, để kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng đơn thư nặc danh, mạo danh, tố cáo sai sự thật hiện nay cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nghiêm minh.

Các cơ quan, tổ chức cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức đầy đủ, sâu sắc cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về Luật Tố cáo; Luật Khiếu nại; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan; đặc biệt là quy định về tố cáo trong Đảng, Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Bằng nhiều kênh, hình thức thông tin khác nhau để tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về quyền khiếu nại, tố cáo, trình tự thực hiện quyền này trên cơ sở thượng tôn pháp luật. Từ đó thúc đẩy cán bộ, đảng viên và nhân dân tự giác tham gia phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, viết đơn thư nặc danh, mạo danh.

Song song với đó, cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên có biểu hiện hách dịch, cửa quyền, tham nhũng; chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật, kích động, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài trợ, kích động hoạt động khiếu nại, tố cáo sai sự thật, vượt cấp.

Kịp thời giải quyết các mâu thuẫn, xung đột, khiếu kiện phức tạp về an ninh trật tự ngay tại cơ sở, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Cấp ủy các cấp cần tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên; phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức, các lực lượng trong tham gia ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng viết đơn thư nặc danh, mạo danh, khiếu nại, tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Không ngừng chăm lo, xây dựng, củng cố khối đoàn kết toàn dân; phát huy vai trò của các đoàn thể, chính quyền trong gắn bó với quần chúng nhân dân, đi sâu, đi sát với nhân dân, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; giải quyết hiệu quả những khó khăn, vướng mắc của người dân.

Đối với cá nhân, cán bộ, đảng viên, cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về tác hại của hành vi gửi đơn thư nặc danh, tố cáo sai sự thật, vu khống; không tùy tiện tin vào những thông tin từ đơn thư nặc danh, tố cáo sai sự thật. Tìm hiểu kỹ thông tin trước khi đưa ra nhận xét, đánh giá.

Nếu bị vu khống, cần tích cực thu thập bằng chứng để bảo vệ quyền lợi của bản thân; báo cáo sự việc ra cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để xử lý, giải quyết. Tuyệt đối chấp hành và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu, đi đầu trong đấu tranh, phê phán những hành vi lợi dụng đơn thư nặc danh để tố cáo sai sự thật; bảo vệ danh dự, uy tín của cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Sưu tầm