Thứ Hai, 14 tháng 4, 2025

Từ quá khứ đến hiện tại: Khởi đầu một kỷ nguyên mới

 Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những thách thức mới của thế kỷ 21, việc nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng của Đảng không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn giá trị của sự lãnh đạo mà còn tạo động lực để xây dựng một tương lai tươi sáng. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là lúc toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân cần chung tay, tận dụng bài học từ quá khứ để định hướng một kỷ nguyên phát triển bền vững và thịnh vượng cho đất nước và hiện tại Việt Nam đang đứng trước thời điểm lịch sử mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong suốt gần 95 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò là ngọn cờ lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc vượt qua muôn vàn thử thách để đạt được những thắng lợi vĩ đại. Từ khi ra đời (3-2-1930), Đảng đã đoàn kết toàn dân tộc, lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945) và đưa đất nước đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ để giành độc lập, thống nhất. Trong thời bình, Đảng tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo, khởi xướng công cuộc Đổi Mới (1986), đưa Việt Nam từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu trở thành một nền kinh tế năng động, có vị thế trên trường quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những thách thức mới của thế kỷ 21, việc nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng của Đảng không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn giá trị của sự lãnh đạo mà còn tạo động lực để xây dựng một tương lai tươi sáng. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là lúc toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân cần chung tay, tận dụng bài học từ quá khứ để định hướng một kỷ nguyên phát triển bền vững và thịnh vượng cho đất nước và hiện tại Việt Nam đang đứng trước thời điểm lịch sử mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

1. Quá khứ vẻ vang: Hành trình xây dựng và lãnh đạo dân tộc

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930)

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập ngày 3 tháng 2 năm 1930 trong bối cảnh đất nước chìm trong khủng hoảng và mất chủ quyền dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Sự ra đời của Đảng là kết quả tất yếu của sự giao thoa giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam. Sự xuất hiện của Đảng đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở ra con đường giải phóng dân tộc khỏi áp bức và bóc lột. Vai trò của Hồ Chí Minh là yếu tố quyết định trong việc xây dựng nền tảng tư tưởng, tổ chức và mục tiêu cách mạng của Đảng.

Hồ Chí Minh đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, qua đó đề ra con đường cách mạng vô sản phù hợp với tình hình đất nước. Với cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, Đảng xác định nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ đế quốc và phong kiến, đưa dân tộc tới độc lập, tự do.

Những cột mốc lịch sử quan trọng

Một là, lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám 1945 và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chỉ trong 15 năm từ ngày thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Việt Nam đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám 1945, đánh đổ ách thống trị thực dân, phong kiến, giành lại nền độc lập dân tộc. Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945 có sức mạnh xoay chuyển thời cuộc. Đây là một quyết định mang ý nghĩa lịch sử. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện “long trời lở đất”, một dân tộc “rũ bùn đứng dậy” đập tan xiềng xích nô lệ, giành độc lập dân tộc, đưa đất nước bước vào một kỷ nguyên mới. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, đánh dấu bước chuyển mình của Việt Nam từ một nước thuộc địa sang một quốc gia độc lập.

Hai là, vai trò trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, thống nhất đất nước (1954 -1975). Sau khi giành độc lập, Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với những thách thức lớn trong công cuộc bảo vệ thành quả cách mạng. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Hiệp định Giơ-ne-ve được ký kết, chấm dứt sự hiện diện của thực dân Pháp tại Việt Nam, đánh dấu thắng lợi đầu tiên của một dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống lại cường quốc thực dân làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, tạo cơ sở căn bản và quyết định, chấm dứt thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung.

Tuy nhiên, đất nước bị chia cắt, miền Nam Việt Nam rơi vào sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Trong suốt 21 năm tiếp theo (1954-1975), Đảng đã lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân năm 1975. Thắng lợi này không chỉ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước mà còn khẳng định ý chí và sức mạnh quật cường của dân tộc Việt Nam trước những kẻ thù hùng mạnh nhất. Trong bài “Chuyển đổi số - Động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới” - Tổng Bí thư Tô Lâm viết là “Giai đoạn 1954 - 1975” và không đặt tiêu đề, đó là đặt trong tổng thể thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ; còn đặt trong tổng thể tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam thì từ năm 1954 đến năm 1975 là thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà hoặc là thời kỳ tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược.

Ba là, thời kỳ khắc phục hậu quả chiến tranh và bước đầu hội nhập (1975-1986). Sau năm 1975, đất nước đối mặt với những khó khăn chồng chất. Hậu quả chiến tranh để lại nặng nề trên mọi phương diện: kinh tế kiệt quệ, xã hội bất ổn, và cơ sở hạ tầng bị phá hủy nghiêm trọng. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vượt qua những khó khăn này bằng tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực tự cường.

Năm 1986, tại Đại hội VI, Đảng khởi xướng công cuộc Đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước ngoặt quan trọng, mở ra kỷ nguyên mới cho sự phát triển của đất nước, đồng thời thể hiện tầm nhìn và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế.

Từ hành trình xây dựng và lãnh đạo dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đúc kết nhiều bài học quý báu:

Lòng kiên định với mục tiêu và lý tưởng cách mạng. Sự kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là kim chỉ nam giúp Đảng dẫn dắt đất nước vượt qua mọi thử thách.

Tinh thần đoàn kết toàn dân. Đoàn kết là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Đảng luôn biết phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh của nhân dân với sự lãnh đạo sáng suốt để đạt được thắng lợi.

Tinh thần đổi mới và sáng tạo. Đảng không ngừng đổi mới tư duy, từ phương thức lãnh đạo đến chính sách phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và hội nhập với thế giới. Công cuộc Đổi mới năm 1986 là minh chứng rõ nét cho tinh thần này.

Phát huy giá trị truyền thống kết hợp với hiện đại hóa. Việc gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, đã giúp đất nước vừa giữ được bản sắc dân tộc, vừa vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.

Hành trình xây dựng và lãnh đạo dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam là một câu chuyện về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần đổi mới không ngừng. Với những bài học quý báu từ quá khứ, Đảng đã và đang tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Từ những nền tảng cách mạng vững chắc, Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng vươn mình trở thành một quốc gia hùng cường, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Hiện tại: Đổi mới và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng

Công cuộc Đổi mới (1986) và những thành tựu nổi bật

Một là, chuyển đổi kinh tế từ kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử với việc khởi xướng công cuộc Đổi mới. Đây là quyết định chiến lược nhằm thoát khỏi những khó khăn, khủng hoảng kinh tế kéo dài trong giai đoạn trước, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quá trình đổi mới được thực hiện đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, từ cải cách thể chế kinh tế, mở cửa thị trường đến đổi mới tư duy lãnh đạo. Chính sách "mở cửa" và khuyến khích đầu tư nước ngoài đã đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư quốc tế. Đến nay, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã có sự chuyển dịch tích cực, với tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng gia tăng. Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, GDP Việt Nam đạt khoảng 8 tỷ USD, xếp thứ 9/10 trong khối ASEAN. Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2023 ước đạt 10.221,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 430 tỷ USD. GDP bình quân đầu người năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284 USD, tăng 160 USD so với năm 2022. 

Hai là, thành tựu về tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân

Những thay đổi trong chính sách kinh tế đã mang lại thành tựu nổi bật. Từ một quốc gia nghèo nàn, thiếu lương thực vào những năm 1980, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh. Quy mô nền kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Việt Nam trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài; có quan hệ ngoại giao với 193 nước là thành viên Liên hiệp quốc; xây dựng các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực..

Xóa đói, giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt, quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng đất nước. Quan điểm, chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo đã được thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng qua nhiều thời kỳ, ngày càng sâu rộng, toàn diện hơn. Trong giai đoạn 2016-2022, thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo theo các quan điểm, chủ trương của Đảng như: Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020 và chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, giai đoạn 2021-2025. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu và thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (6 chiều về việc làm; y tế, giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin). Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong công tác xóa đói giảm nghèo.

Bên cạnh đó, đời sống xã hội được nâng cao rõ rệt. Hệ thống y tế và giáo dục được đầu tư mạnh mẽ, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình cao. Mạng lưới an sinh xã hội được mở rộng, đặc biệt chú trọng đến các nhóm yếu thế và vùng sâu, vùng xa, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trên hành trình phát triển.

Ba là, tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã xác định rõ vai trò của hội nhập quốc tế như một chiến lược quan trọng để phát triển kinh tế và nâng cao vị thế đất nước. Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 1995, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và tham gia các hiệp định thương mại tự do quan trọng như CPTPP, EVFTA và RCEP.

Việc tham gia các tổ chức quốc tế không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận các thị trường lớn mà còn thúc đẩy cải cách trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, các hoạt động này góp phần khẳng định vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Bốn là, đẩy mạnh ngoại giao đa phương và nâng cao vị thế quốc gia

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã xây dựng một nền ngoại giao năng động, linh hoạt, với phương châm "làm bạn với tất cả các nước". Đất nước đã đảm nhiệm thành công vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc hai lần (2008-2009 và 2020-2021), góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề quốc tế như hòa bình, an ninh và phát triển bền vững.

Các hoạt động ngoại giao đa phương như tổ chức APEC 2017, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều tại Hà Nội năm 2019 đã nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những thách thức hiện nay

Một là, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng và bảo vệ chủ quyền quốc gia

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những vấn đề nổi bật là cải cách hành chính, giảm bớt các thủ tục rườm rà và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Phòng chống tham nhũng cũng là nhiệm vụ hàng đầu nhằm xây dựng bộ máy lãnh đạo trong sạch, minh bạch, củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng.

Bên cạnh đó, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, đặc biệt là tại Biển Đông, đặt ra yêu cầu cao về chiến lược và sự thống nhất trong hành động giữa các lực lượng.

Hai là, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững

Biến đổi khí hậu là thách thức lớn đối với Việt Nam, một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ nước biển dâng và thiên tai. Đảng đã đề ra chiến lược phát triển bền vững, chú trọng giảm phát thải khí nhà kính, phát triển năng lượng tái tạo và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Đồng thời, sự phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân. Đây là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo sự phát triển hài hòa, bền vững trong tương lai.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới và phát triển. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, Việt Nam đã vươn lên trở thành một quốc gia năng động, đầy triển vọng, với vị thế ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo trong kỷ nguyên mới, Đảng cần đối mặt và vượt qua các thách thức hiện nay, từ cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng đến ứng phó với biến đổi khí hậu. Với lòng tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam hoàn toàn có thể hiện thực hóa khát vọng trở thành một quốc gia phát triển, giàu mạnh và bền vững trong tương lai.

3. Khởi đầu một kỷ nguyên mới: Tầm nhìn và định hướng của Đảng

Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện, sáng tạo và đổi mới của Đảng. Với tầm nhìn dài hạn đến năm 2030 và 2045, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đặt mục tiêu phát triển kinh tế mà còn khẳng định vai trò dẫn dắt trong xây dựng một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập toàn cầu và bảo tồn những giá trị truyền thống. Để tạo nền tảng cho “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, nhằm hiện thực hóa mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra: “Đến năm 2025: Là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao", trước mắt phải “dồn lực” để hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu Nghị quyết XIII của Đảng.

Một là, định hướng phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn 2045

Mục tiêu lớn nhất mà Đảng đặt ra là Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.

Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Đến năm 2045, trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Chuyển đổi số được xem là đòn bẩy quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hiện đại hóa. Theo kế hoạch, đến năm 2030, kinh tế số sẽ đóng góp 30% GDP, với trọng tâm là xây dựng hạ tầng số, cải thiện năng lực cạnh tranh và tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, hiệu quả. Các ngành công nghiệp chủ chốt như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo và dịch vụ tài chính kỹ thuật số đang được định hình như những mũi nhọn để Việt Nam không chỉ bắt kịp mà còn vươn lên trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Hai là, củng cố và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rõ rằng để đạt được những mục tiêu lớn, việc củng cố và đổi mới sự lãnh đạo là yếu tố then chốt. Trước hết, Đảng cần xây dựng và duy trì một tổ chức vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Những giá trị cốt lõi như kiên định với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh thần đoàn kết toàn dân phải tiếp tục được bảo vệ và phát huy. Đồng thời, Đảng cần đổi mới tư duy lãnh đạo, tránh rập khuôn và cứng nhắc, nhằm thích nghi với những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh toàn cầu.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo trẻ, có năng lực và tầm nhìn, là nhiệm vụ cấp bách. Các chính sách đào tạo thế hệ lãnh đạo trẻ cần tập trung vào việc nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo và khả năng ứng dụng công nghệ mới. Đảng cũng khuyến khích sự tham gia tích cực của giới trẻ trong các hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội, xem đây là lực lượng kế thừa quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.

Tập trung tinh gọn bộ máy, tổ chức các cơ quan của Đảng, thực sự là hạt nhân trí tuệ, bộ “tổng tham mưu”, đội tiên phong lãnh đạo cơ quan nhà nước. Bảo đảm nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng không trùng với nhiệm vụ quản lý; phân biệt và quy định rõ nhiệm vụ cụ thể của các cấp lãnh đạo trong các loại hình tổ chức đảng, tránh tình trạng bao biện làm thay, hoặc tồn tại song trùng, hình thức.

Đồng thời, đổi mới mạnh mẽ việc ban hành và quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng; xây dựng các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên thật sự là các “tế bào” của Đảng. Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các hoạt động của Đảng. Ban hành Quy định phân cấp thẩm quyền kiểm tra, giám sát gắn với phát hiện, xử lý nghiêm mọi hành vi lợi dụng kiểm tra, giám sát để tham nhũng, tiêu cực. Công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục là ưu tiên hàng đầu trong việc củng cố niềm tin của Nhân dân. Một Đảng trong sạch, minh bạch và kiên quyết xử lý các hành vi sai trái sẽ tạo nên sức mạnh nội lực để lãnh đạo đất nước tiến xa hơn.

Ba là, sự gắn kết giữa truyền thống và hiện đại

Kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu không chỉ đổi mới mà còn bảo tồn những giá trị truyền thống quý báu. Đảng luôn nhấn mạnh rằng quá trình hiện đại hóa không thể tách rời khỏi việc kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc. Những giá trị văn hóa truyền thống, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.

Tuy nhiên, sự gắn kết này không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn mà còn phải được thực hiện một cách sáng tạo. Đảng khuyến khích việc tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của thế giới, từ đó làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc và tăng cường khả năng hội nhập quốc tế. Các lĩnh vực như nghệ thuật, giáo dục, và khoa học công nghệ đều cần có sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại để không chỉ đáp ứng yêu cầu trong nước mà còn tạo dấu ấn trên trường quốc tế.

Kỷ nguyên mới mở ra những cơ hội lớn nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với sự lãnh đạo của Đảng. Tầm nhìn đến năm 2030 và 2045 là kim chỉ nam, thể hiện khát vọng và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân trong việc đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc. Với các định hướng rõ ràng, chiến lược phát triển toàn diện và sự đổi mới không ngừng, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục là hạt nhân chính trị, lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thách thức, viết tiếp những trang sử vẻ vang trong hành trình hội nhập và phát triển.

Trong hành trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là nhân tố quyết định giúp đất nước vượt qua thử thách và đạt được những thành tựu to lớn. Từ khi ra đời vào năm 1930, Đảng đã lãnh đạo dân tộc qua nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng, đặc biệt là trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, góp phần giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, Đảng tiếp tục lãnh đạo công cuộc xây dựng đất nước trong bối cảnh chiến tranh tàn phá nặng nề. Với sự lãnh đạo sáng suốt, Đảng đã đưa đất nước từng bước vượt qua khó khăn, khôi phục nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Kể từ Đại hội VI năm 1986, khi Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ một nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Những chính sách kinh tế đúng đắn, sự quyết đoán trong xử lý các vấn đề quan trọng như phòng chống tham nhũng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Đảng không chỉ duy trì vai trò lãnh đạo đất nước mà còn đổi mới cách thức lãnh đạo, đảm bảo sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước.

Những thành tựu đã đạt được không thể thiếu sự đóng góp của từng cán bộ, đảng viên và người dân. Để đưa đất nước tiến lên trong kỷ nguyên mới, mỗi người dân, mỗi đảng viên cần phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng đã chỉ ra những mục tiêu lớn và hướng đi rõ ràng cho sự phát triển, nhưng để thực hiện thành công những mục tiêu đó, sự tham gia tích cực của toàn xã hội là điều không thể thiếu. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là tấm gương mẫu mực trong công việc và cuộc sống, gương mẫu trong việc chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước, đồng thời phải luôn nỗ lực hết mình trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách của đất nước.

Mỗi người dân, với trách nhiệm công dân, cũng cần nỗ lực đóng góp vào sự phát triển chung, từ việc tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước, đến việc bảo vệ môi trường, cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao văn hóa cộng đồng. Chỉ khi toàn thể xã hội đồng lòng, cùng chung sức thực hiện mục tiêu chung, chúng ta mới có thể xây dựng được một kỷ nguyên mới, đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, mạnh mẽ và vững vàng trong mọi thách thức.

Đấu tranh, loại bỏ kiểu người khôn lỏi, cơ hội chính trị

 Trong bài viết “Tổ chức tốt Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ một trong những vấn đề mang tính “cốt tử”, hệ trọng, đó là công tác nhân sự. Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị bước vào cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy mạnh mẽ và toàn diện, việc lựa chọn nhân sự vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp càng đặt ra những yêu cầu bức thiết...

Từ hành vi khôn lỏi đến kiểu người cơ hội

Tôi đặt cuốc xe taxi công nghệ từ bến xe Nước Ngầm đến tòa soạn Báo Quân đội nhân dân ở phố Phan Đình Phùng (Hà Nội) với giá 180.000 đồng. Vừa bước lên xe đã nghe lời đề nghị của tài xế: “Bác hủy chuyến giúp em với”! Thấy tôi ngạc nhiên, anh ta tiếp: “Em chở bác đến nơi và thu đúng giá, chỉ là khi bác hủy chuyến thì em không bị hãng trừ phần trăm. Bác giúp em kiếm thêm mớ rau, con cá”. Thế là tôi hủy chuyến ngay lập tức. Về tòa soạn, kể chuyện này cho một anh bạn đồng nghiệp trẻ tuổi, có ý khoe rằng, hôm nay mình đã làm được một việc tốt, giúp đỡ người lao động trong hoàn cảnh khó khăn. Tưởng nhận được lời tán thán, nào ngờ lại bị anh bạn trẻ phê bình: “Bác đã vô tình tiếp tay cho việc làm sai trái của một kiểu người khôn lỏi. Hãng xe tạo việc làm cho tài xế thì phúc lợi cùng hưởng, khó khăn cùng chia. Kiểu tư duy và lối làm ăn chụp giật, khôn lỏi, vi phạm đạo đức kinh doanh sớm muộn cũng bị phát giác, tẩy chay. Ở chiều ngược lại, nếu ai đó hủy chuyến liên tục, sẽ bị hệ thống chấm điểm khách hàng thấp, lần sau sẽ rất khó đặt qua app”.

Tôi ngớ người trước lập luận của anh bạn trẻ. Quả thật, nhiều khi trong cuộc sống, chỉ vì suy nghĩ đơn giản, bàng quan, mà ta đã vô tình tiếp tay cho cái xấu. Nhìn rộng ra, đời sống xã hội không thiếu những hành vi khôn lỏi. Đó là biểu hiện của tư duy, văn hóa tiểu nông đã có từ hàng trăm năm của một bộ phận người Việt. Dù sự việc có thể rất nhỏ, chẳng chết ai nhưng điều đáng nói đó là biểu hiện của một lối sống. Nó thể hiện tính nghiệp dư, ích kỷ, “bóc ngắn cắn dài”, chỉ lo vun vén cho lợi ích cá nhân, vi phạm nguyên tắc làm việc. Nhiều chuyện nhỏ tích lại sẽ thành chuyện lớn. Người có hành vi khôn lỏi kiểu ấy, nếu không được giáo dục, uốn nắn, lâu ngày sẽ thành bản chất. Trong một tổ chức, cộng đồng, nếu có những cá nhân khôn lỏi sẽ ảnh hưởng xấu đến tinh thần đoàn kết, môi trường văn hóa...

Trong môi trường sản xuất, kinh doanh, tư duy và lối làm ăn khôn lỏi chính là tác nhân gây ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu, sớm muộn cũng bị tẩy chay, doanh nghiệp khó mà phát triển bền vững. Có những doanh nghiệp vì doanh thu, lợi nhuận đã nghĩ ra đủ loại chiêu trò “móc túi” khách hàng. Họ đưa ra những chương trình khuyến mãi, ra sức mời mọc, dụ dỗ khách hàng tham gia. Khi đưa khách hàng “vào tròng” rồi thì tìm mọi cách ép khách hàng phải thực hiện theo yêu cầu của doanh nghiệp.

Quy luật nhận thức của con người đi từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn. Khôn lỏi, khôn vặt là biểu hiện của hành vi. Nó như một loại virus độc hại. Nếu không có cách triệt tiêu, để nó tự do phát triển thì hành vi khôn lỏi sẽ sản sinh ra kiểu người cơ hội, thực dụng, tráo trở, dối trá, lừa thầy phản bạn. Trong hệ thống chính trị, hành vi khôn lỏi nếu không sớm được nhận diện, đấu tranh phê bình, dần dần sẽ hình thành nên kiểu cán bộ “lươn chạch”, cơ hội chính trị, “thông minh có hạn, thủ đoạn có thừa”, cục bộ, bè phái, tha hóa đạo đức, tha hóa quyền lực, nguy hại khôn lường. Những biểu hiện suy thoái này là một bước ngắn dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.

Trong bài viết như đã dẫn ở trên, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “... Cán bộ thiếu năng lực, thiếu gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta...”.

Đấu tranh quyết liệt, ngăn chặn từ sớm, từ xa

Hệ thống chính trị cả nước ta đang bước vào đợt sắp xếp, tinh gọn bộ máy một cách toàn diện, mạnh mẽ chưa từng có. Mục tiêu phải đạt được đó là tạo ra một bộ máy công quyền hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Sau khi sắp xếp, tinh gọn, hệ thống chính trị các cấp phải giữ được người có đức, có tài, có nhiệt huyết cống hiến trong bộ máy. Quá trình sắp xếp, sàng lọc, việc giải bài toán “ai đi, ai ở” sẽ gặp rất nhiều thách thức, khó khăn. Nếu không tỉnh táo nhận diện, thiếu kiên quyết đấu tranh, có biểu hiện dĩ hòa vi quý, cục bộ, bè phái... trong công tác nhân sự thì rất dễ nảy sinh những hành động khôn lỏi, tạo kẽ hở cho chủ nghĩa cá nhân xâm nhập, phát triển, chi phối, lũng đoạn. Người có đức, có tài thì bị ra rìa, kẻ “lươn chạch”, cơ hội chính trị thì bám trụ, phát triển.

Yêu cầu của Đảng về công tác nhân sự trong tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 là tuyệt đối không lựa chọn cán bộ không được quần chúng nhân dân tín nhiệm, cũng không giới thiệu những cán bộ lãnh đạo dĩ hòa vi quý, “tròn vo” để lấy phiếu bầu... kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen...

Kết luận 21, Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII cũng đã nhấn mạnh yêu cầu: Không để lọt người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp...

Dù người khôn lỏi, cơ hội chính trị có nhiều phương thức, mánh khóe để đạt được mục tiêu cá nhân nhưng trong một tập thể, không khó để nhận diện. Vấn đề đặt ra là thái độ của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, nhất là cấp ủy, người đứng đầu đối với hành vi ấy như thế nào? Thực tế cho thấy, kẻ khôn lỏi, cơ hội chính trị chỉ có “đất sống” khi có người “nâng đỡ không trong sáng”; cấp ủy, người đứng đầu thiếu công tâm, khách quan, có biểu hiện cục bộ, bè phái; cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng dĩ hòa vi quý, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. Ngược lại, nếu tổ chức đảng đề cao tính chiến đấu, tinh thần phê bình, tự phê bình; nhất quán nguyên tắc tập trung dân chủ; cấp ủy, người đứng đầu biết lắng nghe, làm việc công tâm, khách quan thì kẻ khôn lỏi, cơ hội chính trị chắc chắn sẽ bị tẩy chay, loại bỏ khỏi bộ máy. Theo tư duy biện chứng mà suy, nếu cấp ủy, người đứng đầu có những biểu hiện ấy thì đó cũng chính là cơ hội chính trị. Trong một tổ chức mà có nhiều người khôn lỏi, cơ hội chính trị thì đó là mầm mống đại họa.

Vũ khí để nhận diện, đấu tranh, loại bỏ những thành phần khôn lỏi, cơ hội chính trị ra khỏi bộ máy đã được Đảng ta chỉ rõ, đó là: Đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm cụ thể; gắn đánh giá cá nhân với tập thể...

Như vậy, trong quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đặc biệt là trong đại hội đảng bộ các cấp, công tác nhân sự phải được tiến hành một cách thận trọng, tỉ mỉ, khách quan, toàn diện. Việc đánh giá cán bộ để giới thiệu nhân sự bầu vào cấp ủy phải là công việc của cả quá trình, xuyên suốt, liên tục, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Cần tránh lối làm việc áp đặt chủ quan, định kiến, cảm tính cá nhân, tạo môi trường cho những thành phần cơ hội chính trị ẩn trú, thăng tiến...

Công tác cán bộ là một trong những vấn đề “cốt tử” của Đảng. Để Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự là đạo đức, là văn minh; cầm lái đưa dân tộc thực hiện cuộc vươn mình tiến đến hùng cường, phồn vinh, nhất định phải thu hẹp, tiến tới triệt tiêu tư duy tiểu nông, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Công cuộc chuyển đổi số tạo ra “thế giới phẳng” về thông tin chính là lợi thế lớn để lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy “xây” để “chống”. Dư luận xã hội, sức mạnh của tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, đấu tranh phê bình, tự phê bình... trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị các cấp cần được khai thác, phát huy một cách tối đa theo hướng tích cực để góp phần đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa những hành vi khôn lỏi, kiểu người cơ hội chính trị.

An nguy quốc gia là vấn đề căn cơ, hệ trọng

 Ngay sau khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành kết luận chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính theo hướng không tổ chức đơn vị cấp huyện và giao Quân ủy Trung ương nghiên cứu, xây dựng kế hoạch thực hiện chủ trương này trong Quân đội, Bộ Quốc phòng đã khẩn trương tiến hành các bước hoàn thiện. Thế nhưng, xung quanh vấn đề rất quan trọng này, vẫn có những nhận thức chưa đúng của một số người. Trong khi đó, có những cá nhân thiếu hiểu biết và không có tính xây dựng, có những bài viết bịa đặt, châm chọc, bóp méo việc này trên mạng xã hội.

Ngày 28-2-2025, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư ký ban hành Kết luận số 127-KL/TW về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Về nhiệm vụ “Xây dựng đề án về tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội”, kết luận nêu rõ: “Giao Quân ủy Trung ương căn cứ Kết luận số 126-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng kế hoạch tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội phù hợp (trong đó có tổ chức của cơ quan quân sự cấp huyện), chủ động đề xuất thời gian báo cáo Bộ Chính trị theo tiến độ của kết luận này”.

Thực hiện nội dung này, ngay trong chiều 28-2, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chủ trì Hội nghị giao nhiệm vụ cho cơ quan, đơn vị nghiên cứu, đề xuất tổ chức quân sự địa phương (QSĐP). Với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, khoa học, thận trọng, chắc chắn, ngày 20 và 22-3, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức các hội nghị lấy ý kiến vào dự thảo Đề án “Tiếp tục sắp xếp tổ chức QSĐP tinh-gọn-mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” để bổ sung, hoàn thiện, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước ngày 27-3-2025 theo tiến độ chung của cả nước, thời gian rút ngắn một quý so với yêu cầu tại Kết luận số 126-KL/TW ngày 14-2-2025 về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025.

Thế nhưng, mạng xã hội thời gian qua vẫn có những cá nhân có những nhận thức chưa đúng, thiếu hiểu biết, đưa ra những ý kiến không phù hợp. Thậm chí, một số bài viết xuyên tạc, bịa đặt, châm chọc, bóp méo việc làm này với nội dung thể hiện sự phiến diện cùng những mưu đồ, mục đích xấu khác khi cho rằng “Bộ Quốc phòng mất thời gian vào việc tổ chức lấy ý kiến sắp xếp tổ chức QSĐP”. Hùa theo đó là nhiều bình luận với nội dung theo kiểu “ăn theo nói leo”.

Theo Điều 35 Luật Quốc phòng năm 2018, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thứ nhất, tham mưu, giúp việc Hội đồng Quốc phòng và An ninh. Thứ hai, chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về biên giới quốc gia; duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu, hải đảo, vùng biển và vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Thứ ba, chủ trì, phối hợp với bộ, ngành Trung ương, chính quyền địa phương lập, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án về quốc phòng, trình cấp có thẩm quyền quyết định. Thứ tư, xây dựng, quản lý, chỉ huy Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Thứ năm, chỉ đạo, hướng dẫn bộ, ngành Trung ương và địa phương thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ và công tác quốc phòng.

Chiếu theo quy định này có thể thấy, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức QSĐP không đơn thuần là tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng; thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng ở cấp mình mà nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên là củng cố, tăng cường tiềm lực, sức mạnh nền quốc phòng toàn dân. Cụ thể là: Tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương cùng cấp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng khu vực phòng thủ địa phương vững chắc, góp phần tạo thế phòng thủ liên hoàn, vững chắc; xây dựng, củng cố hệ thống công trình quốc phòng, căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, khu vực phòng thủ; tổ chức huấn luyện, luyện tập thành thục các phương án chiến đấu, sẵn sàng lực lượng, phương tiện tham gia xử trí có hiệu quả các tình huống...

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ này, nhiều năm qua, tổ chức QSĐP các cấp đã bám sát những chủ trương, yêu cầu nhiệm vụ của trên để tham mưu với cấp ủy, chính quyền cùng cấp củng cố, xây dựng thế trận quốc phòng theo phương châm “làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh”; tổ chức huấn luyện, diễn tập thuần thục phương án tác chiến theo tình huống ở từng cấp; chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt lực lượng, hệ thống công trình phòng thủ, tác chiến, sở chỉ huy các cấp... khi có tình huống xảy ra.

Vì thế, khi tiến hành thay đổi về tổ chức bộ máy chính trị, các phương án này cũng sẽ phải thay đổi theo cho phù hợp để bảo đảm công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành, tổ chức thực hiện được thông suốt, nhuần nhuyễn; không làm gián đoạn, xáo trộn hay suy giảm, ảnh hưởng tới thế trận, sức mạnh quốc phòng và khả năng huy động các nguồn lực, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội. Chỉ cần một quyết sách sơ hở, thiếu chặt chẽ cũng có thể tác động, ảnh hưởng trực tiếp, thậm chí là trả giá đắt bằng sự an nguy của quốc gia.

Do đó, sắp xếp lại tổ chức QSĐP một cách thận trọng, khoa học, logic, chặt chẽ; tiếp thu, chắt lọc những kinh nghiệm chiến đấu, xây dựng lực lượng cho phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, hiện đại, chủ động hội nhập quốc tế; phù hợp với thực tiễn và điều kiện, tình hình đất nước cũng như điều kiện về con người, vũ khí, khí tài, trang bị hiện có là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết. Đây là việc khó, đồng thời cũng là nhiệm vụ trọng đại nhằm thực hiện thắng lợi hai mục tiêu: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phát biểu tại Hội nghị lấy ý kiến về tổ chức QSĐP khi không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện ngày 20-3, Đại tướng Phan Văn Giang cũng nhấn mạnh: Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước giai đoạn lịch sử mới. Bộ Chính trị, Ban Bí thư chủ trương báo cáo Trung ương quyết định điều chỉnh tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và địa giới hành chính trong cả nước. Đây là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước để đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Theo đó, thế bố trí quốc phòng, tổ chức Quân đội, trọng tâm là tổ chức QSĐP cần được nghiên cứu, điều chỉnh hợp lý, để đáp ứng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước.

Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Hoàng Kiền, nguyên Tư lệnh Binh chủng Công binh khẳng định: “Đây là những vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp nên rất cần tổ chức nghiên cứu, đánh giá kỹ về mọi mặt để vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay; vừa bám sát các chủ trương chỉ đạo chiến lược của Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; kế thừa tinh hoa nghệ thuật quân sự, truyền thống lịch sử xây dựng lực lượng quân sự, đánh giặc, giữ nước của cha ông; thực tiễn các cuộc chiến tranh, xung đột trên thế giới, trong khu vực, nhất là những phát triển mới về hình thái, phương thức chiến tranh thời gian gần đây. Từ đó, đưa vào giảng dạy, huấn luyện, diễn tập thành hệ thống theo mô hình tổ chức chính quyền mới khi bỏ cấp huyện, sáp nhập xã, tỉnh”.

Trước những quan điểm xuyên tạc, nhận thức chưa đúng, Tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) thẳng thắn: “Các phần tử xấu luôn chầu chực tìm cớ, chờ cơ hội để đưa ra những luận điệu xuyên tạc, chống phá nhằm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Vì vậy, người dân cần thận trọng khi tiếp cận những thông tin trên mạng xã hội. Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực đặc biệt, trọng yếu, liên quan tới an nguy quốc gia và không được phép sơ hở, lơi lỏng bất kỳ giây phút nào; không có chỗ cho sự chủ quan hay những tính toán sai lầm, thiếu cẩn trọng. Do đó, mọi tình huống dù là nhỏ nhất cùng phương án xử trí đều phải được bàn thảo, đánh giá nghiêm túc, khoa học, thận trọng, chắc chắn”.

Lo cho an nguy của đất nước cũng chính là chăm lo, bảo vệ bình yên, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà. Nơi đó không có chỗ cho sự xuyên tạc, châm chọc, xúc xỉa đầy ác ý.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học – ý nghĩa đối với việc xây dựng xã hội học tập để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học là những luận điểm cơ bản phản ánh nội dung, cách thức, phương pháp, con đường tự học một cách đúng đắn, phù hợp, hiệu quả. Bài viết làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò, nội dung, phương pháp và đối tượng tự học; từ đó, vận dụng vào xây dựng xã hội học tập, tạo ra nguồn lực phong phú, đa dạng, chất lượng cao, thực hiện thắng lợi các yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

1. Đặt vấn đề

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực, sáng ngời về tinh thần, ý chí, nghị lực về con đường tự học. Người giải thích tinh thần tự học theo hướng “Tự động là không phải tựa vào ai, là tự mình biết biến báo xoay xở, tự mình biết thực hành công tác theo nhiều hình thức mới mẻ, phong phú”. Nhờ vậy, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người đã trở thành thành biểu tượng sáng ngời về sự tận trung với Đảng, tận hiếu với dân để các thế hệ noi gương học tập và làm theo. Kế thừa và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học, Đảng đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, xây dựng xã hội học tập suốt đời để đào luyện nhân tài, bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng cách mạng cho các thế hệ thanh niên trở thành những công dân có ích cho xã hội.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh tự học có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là với cán bộ, đảng viên. Tự học không chỉ giúp con người tiến bộ, trưởng thành mà còn góp phần nâng tầm hiểu biết các lĩnh vực, hoạt động xã hội để không bị lạc hậu so với thời cuộc. Kiến thức của nhân loại là mênh mông, vô tận, không tự học không thể nắm bắt được cái mới, không thể làm được cách mạng. Tự học là con đường duy nhất để mỗi người nâng cao trình độ, hiểu biết của bản thân, ngoài thời gian học tập trên lớp thì việc tự học của mỗi người phải làm chủ đạo, lấy tự học làm cốt, làm phương châm hành động; có như vậy, mới đáp ứng được những đòi hỏi đặt ra ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực tuyệt vời về con đường tự học, tự nghiên cứu ở mọi lúc, mọi nơi, mọi điều kiện, hoàn cảnh. Người chỉ rõ: “Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”. Trong quá trình tự học, Người luôn nhắc nhở mọi người phải có ý thức, động cơ đúng đắn, tự học nhằm phục vụ cho chính bản thân, không phải cho Đảng, cho Nhân dân; những người tích cực, chủ động nêu cao tinh thần tự học đều tiến bộ, trưởng thành, có đóng góp nhất định vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, được Nhân dân kính trọng, quý mến và đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

Người yêu cầu: “tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập”. Cũng thông qua việc tự học mà rèn luyện đức tính, phẩm chất quan trọng của cán bộ, đảng viên, đó là kiên trì, bình tĩnh trong xử lý, giải quyết công việc, không nóng vội, chủ quan, đốt cháy giai đoạn; tạo lập cho mỗi cán bộ, đảng viên suy xét, đánh giá, nghiền ngẫm các vấn đề, lĩnh vực xã hội khác nhau một cách đúng đắn, khách quan, toàn diện. Vì vậy, tự học của cán bộ, đảng viên đạt được hai mục đích về phẩm chất và năng lực, “vừa hồng”, “vừa chuyên” để lãnh đạo, đoàn kết, tập hợp quần chúng Nhân dân hăng hái tham gia vào các phong trào cách mạng, đưa sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc đến thắng lợi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh cách thức, biện pháp tự học hiệu quả nhất là: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”. Tự học là yếu tố cốt lõi của hoạt động học, là bộ khung, là nội lực quyết định chất lượng học tập. Bên cạnh đó cũng cần các yếu tố ngoại lực khác giúp vào, các yếu tố đó là thảo luận và chỉ đạo, trao đổi, đối thoại, hội thảo, xêmina… Đây là phương pháp huy động trí tuệ tập thể để bổ sung, giúp thêm vào hoạt động tự học của mỗi cá nhân. Chỉ đạo là phát huy vai trò quản lý của các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong học tập nhằm tạo điều kiện và kích thích đối tượng tự quản, tự học. Việc tự học được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi, bằng mọi phương tiện, mọi hình thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, tự học là một dòng chảy liên tục, phát triển không ngừng, người học không được để cho nó gián đoạn, không ngắt quãng, dù công việc cuộc sống có bộn bề đến đâu. Trả lời cho câu hỏi: Học ở đâu? Người nói: “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học Nhân dân…”, tức là ở bất kỳ nơi đâu mọi người cũng có thể tự học.

Để việc tự học đạt được kết quả như mong muốn thì cần quán triệt, thực hiện tốt phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa học và hành được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”… Chính vì vậy, trong học tập nói chung cũng như trong tự học nói riêng, Người yêu cầu phải thực hiện chặt chẽ việc “học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn”. Học lý thuyết, học lý luận phải nhằm phục vụ cho thực tiễn cách mạng chứ không phải theo kiểu học “dăm câu ba điều”, “tầm chương trích cú” cốt để lòe thiên hạ, để tỏ vẻ ta đây có kiến thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ việc tự học muốn có hiệu quả thì mỗi người cần có kế hoạch tự học hợp lý, kiên trì, bền bỉ, sáng tạo. Tự học là quá trình lâu dài, tự học suốt đời, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ, nỗ lực của người học. Để tự học thành công phải có kế hoạch, đồng thời phải kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng. Người chỉ rõ: “Sắp xếp thời gian và bài học… phải cho khéo, phải có mạch lạc với nhau mà không xung đột với nhau”. Chính vì vậy, “học phải có quyết tâm, phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được”.

Về đối tượng của tự học, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả mọi người, không phân biệt già trẻ, trai gái, nghề nghiệp đều cần tự học. Bởi lẽ, tri thức nhân loại là vô tận và không ngừng phát triển, còn hiểu biết của mỗi người thì hữu hạn, nếu mỗi người không tự học, không tự trau dồi kiến thức thì sớm muộn cũng bị lạc hậu và thoái bộ. Người nói: “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”. Đối tượng của tự học là tất cả mọi người, không loại trừ một đối tượng nào. Đây không chỉ là yêu cầu mà còn là nhiệm vụ của mọi người. Bởi vì, thế giới luôn luôn vận động và phát triển đi lên, kho tàng tri thức của nhân loại cũng ngày càng phong phú, con người luôn sáng tạo ra những tri thức mới nhằm phục vụ cho cuộc sống,… Tất cả tiến bộ rất nhanh, những ai không muốn mình bị đào thải, bị đẩy ra khỏi guồng quay ấy thì phải học hỏi không ngừng. Người nhấn mạnh: “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”.

3Ý nghĩa đối với việc xây dựng xã hội học tập để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới

Đại hội lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời”. Quan điểm về xây dựng xã hội học tập được Đảng ta đề cập trong Văn kiện Đại hội XIII là sự kế thừa, tiếp nối dòng chảy lịch sử, của truyền thống hiếu học, được vận dụng nhuần nhuyễn vào thực tiễn giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao. Một xã hội phát triển, bảo đảm quyền lợi cho con người đầy đủ ở các mặt, đặc biệt luôn đánh thức, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, đồng nghĩa với giáo dục và đào tạo có bước phát triển nhảy vọt về chất, tạo ra được một xã hội học tập rộng rãi, phổ biến. Xã hội học tập đó không chỉ có trang bị về kiến thức đơn thuần mà còn là hệ thống vốn sống, kinh nghiệm, tình yêu thương, sự chia sẻ những việc làm tốt để lan toả đến mọi người xung quanh, thêm nhiều người tốt, việc tốt hơn nữa. Xã hội học tập chính là sự tự ý thức của mọi người trong nhận thấy trách nhiệm của mình đối với việc học tập.

Việc xây dựng xã hội học tập không phải chỉ có riêng ngành giáo dục và đào tạo mà được mở rộng ở tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội. Người dân có quyền bày tỏ những quan điểm, thái độ của mình về cách thức, phương pháp giáo dục sao cho hiệu quả. Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá: “Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, thành nhu cầu, thành nếp văn hoá và đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học… môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với cuộc vận động xoá đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hoá, gia đình văn hoá”.

Bên cạnh kết quả đạt được, việc xây dựng xã hội học tập ở nước ta còn một số hạn chế, học tập chưa trở thành nhu cầu, động cơ thúc bách mọi người dân; việc học tập suốt đời còn mang tính hình thức, chạy theo thành tích, chưa chú trọng về chất lượng; chưa có sự tham gia tích cực, chủ động của đông đảo Nhân dân vào việc góp ý xây dựng chương trình, nội dung học tập phù hợp, hiệu quả. Đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa chú trọng tới chất lượng; việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt được kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thật sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn, ngại khó, ngại khổ, không đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học.

4. Một số biện pháp xây dựng xã hội học tập tiến bộ

Một là, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho người dân thấy được sự cần thiết phải xây dựng xã hội học tập gắn với học tập suốt đời.

Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chỉ thành công khi mỗi công dân ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với việc tự học tập suốt đời. Theo đó, mỗi người dân Việt Nam dù ở cương vị, chức trách nào đều phải nhận thấy rằng, việc xây dựng xã hội học tập gắn với học tập suốt đời là để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không phải cho một tổ chức, cá nhân nào.

Cấp uỷ, chính quyền các cấp, đội ngũ các nhà giáo, nhà quản lý phải thấu triệt trước tiên những quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo; thông qua phương tiện thông tin truyền thông đẩy mạnh đến với người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, xa xôi, hẻo lánh, hải đảo cần phải được đẩy mạnh. Chủ động phối hợp với cơ quan, chức năng, lực lượng có liên quan tiến hành tuyên truyền, giáo dục, không được tiến hành theo mùa vụ, giai đoạn hoặc làm cho có, không thực chất. Xây dựng nội dung, chương trình tuyên truyền, giáo dục phù hợp, linh hoạt, sáng tạo ở từng địa bàn, khu vực. Đặc biệt, cần xác định khâu trọng tâm, trọng điểm trong tuyên truyền, giáo dục tránh lan man, hình thức, không hiệu quả, không đem lại những chuyển biến trong xã hội.

Hai là, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị – xã hội đối với việc xây dựng xã hội học tập.

Mỗi cấp uỷ, tổ chức chính trị – xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của việc học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó, xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng. Việc xây dựng xã hội học tập phải có kế hoạch, lộ trình, sự vào cuộc tích cực, chủ động của cả hệ thống chính trị – xã hội.

Đầu tư cho giáo dục và đào tạo một cách thích đáng, xây dựng triết lý giáo dục cho các đối tượng đào tạo phù hợp, bảo đảm tính kế thừa và phát triển, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách cho người học. Tăng cường đầu tư, kêu gọi đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục ở tất cả các cấp bậc theo tinh thần xã hội hóa và hợp tác quốc tế. Đồng thời, Nhà nước cần xây dựng hệ thống các chỉ số quản lý và phối hợp trong các hoạt động giáo dục từ trung ương tới địa phương, kết hợp với hoạt động giám sát của người dân và phụ huynh, phát triển công tác truyền thông về giáo dục, phản ánh khách quan, đúng mức những tiêu cực, ghi nhận những chuyển biến tích cực, củng cố niềm tin của xã hội, tạo động lực cho đổi mới giáo dục.

Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung về pháp luật và chính sách tương ứng, ban hành một số quy định trong Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và các Luật có liên quan định hướng cho hoạt động giáo dục công lập, ngoài công lập, coi cơ sở giáo dục là một đơn vị kinh tế đặc biệt có đóng góp cho ngân sách. Đặc biệt, với các cơ sở có vốn đầu tư và hợp tác với nước ngoài, Nhà nước cần tăng cường quản lý về nội dung và điều kiện pháp lý để bảo đảm quyền lợi của người học.

Ba làxây dựng bộ chỉ số đánh giá kết quả thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời như một công cụ quản lý và đánh giá sự tiến bộ của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân.

Phát triển mạnh mẽ mạng lưới giáo dục thường xuyên và các thiết chế giáo dục ngoài nhà trường phù hợp với thực tế địa phương và đất nước. Nâng cao năng lực hoạt động của các trung tâm giáo dục nghề nghiệp theo hướng thực hiện nhiều nhiệm vụ, như: giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng ngắn hạn và tư vấn, phát triển mạnh mô hình học tập cộng đồng kết hợp với nhà văn hóa, thư viện, bưu điện văn hóa xã; đổi mới nội dung, chương trình giáo dục thường xuyên theo hướng đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo đáp ứng nhu cầu của người học. Liên kết hợp tác giữa các trường đại học với hệ thống các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục cộng đồng, liên kết hợp tác quốc tế, xây dựng kho học liệu số, học liệu mở, phát triển các hệ thống học trực tuyến, tạo điều kiện thuận lợi cho người học có thể học tập mọi lúc, mọi nơi, học tập suốt đời. Có các giải pháp cụ thể nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, ý nghĩa của học tập suốt đời và sự đóng góp của học tập suốt đời đối với nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của nguồn nhân lực quốc gia.

5. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học là những chỉ dẫn quý báu để Đảng, Nhà nước ta hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng xã hội học tập; phát huy tính năng động, sáng tạo của mỗi người dân vào sự nghiệp đổi mới đất nước, tạo thế và lực vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Trong quá trình đó, Nhà nước đóng vai trò trung tâm, xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý, tạo môi trường giáo dục và đào tạo minh bạch bình đẳng, huy động các nguồn lực xã hội để thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Công dân vừa là chủ thể học tập, vừa là chủ thể sáng tạo cung cấp tri thức, sáng kiến, kinh nghiệm, xây dựng và cung cấp học liệu phục vụ xã hội học tập; ý thức tự giác tự học quyết định kết quả học tập của cá nhân. Công dân có ý thức tự học tốt, luôn có khát khao học tập suốt đời là cơ sở để thúc đẩy xây dựng xã hội học tập.

Triển khai cụ thể, hiện thực hóa nghị quyết

 Ngay sau buổi sinh hoạt Đảng ủy Quân sự (ĐUQS) TP Phú Mỹ (Bà Rịa - Vũng Tàu), các đồng chí đảng ủy viên, cán bộ chủ trì nhanh chóng quán triệt nội dung, nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch triển khai nghị quyết sát thực tiễn công tác của đơn vị và chức trách, nhiệm vụ được phân công, bảo đảm nghị quyết không dừng lại trên giấy.

Đây là một trong những nội dung đổi mới sinh hoạt Đảng ở ĐUQS TP Phú Mỹ. Đồng chí Huỳnh Sơn Tuấn, Bí thư Thành ủy, Bí thư ĐUQS thành phố chia sẻ: “Sinh hoạt Đảng cần được tổ chức bài bản, khách quan, tự phê bình và phê bình thẳng thắn. Quan trọng nhất là sau khi chi bộ, đảng ủy thống nhất ra nghị quyết lãnh đạo thì những chỉ tiêu, biện pháp đó phải được triển khai thực hiện nghiêm túc để khắc phục khâu yếu, mặt yếu, tạo động lực thúc đẩy đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ”.

Nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt, ĐUQS TP Phú Mỹ đã tập trung đổi mới phương thức từ cấp chi bộ đến Đảng ủy. Mỗi buổi sinh hoạt không chỉ đơn thuần là đánh giá kết quả công tác mà còn đi sâu phân tích tình hình, nhất là tình hình liên quan đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương để đề ra giải pháp phù hợp. Các cuộc họp không dàn trải mà tập trung vào những nội dung trọng tâm như: Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) và công tác dân vận... Các chi bộ thay đổi cách triển khai nghị quyết theo hướng gắn với nhiệm vụ thực tiễn, sát với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị.

Trước khi sinh hoạt, các đảng viên phải dự kiến nội dung tu dưỡng, rèn luyện bản thân hằng tháng, hằng quý; tự đánh giá những điểm còn hạn chế của mình và biện pháp khắc phục... Trong mỗi buổi sinh hoạt, thay vì chỉ nghe báo cáo, các đảng viên phải chủ động đề xuất biện pháp lãnh đạo thực hiện công tác chuyên môn, huấn luyện, SSCĐ và xây dựng mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong đơn vị.

Thiếu tá Trần Anh Tuấn, Chính trị viên Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết được duy trì thường xuyên, nghiêm túc. Thiếu tá Nguyễn Hữu Toàn, Phó tham mưu trưởng Ban CHQS TP Phú Mỹ cho rằng: “Kiểm tra, giám sát chặt chẽ giúp đánh giá thực chất kết quả triển khai nghị quyết, ngăn ngừa khuyết điểm, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy và từng cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghị quyết và nhiệm vụ được phân công để nghị quyết không nằm trên giấy”.

Nhờ đổi mới sinh hoạt Đảng, hiện thực hóa nghị quyết nên chất lượng công tác quân sự, quốc phòng của TP Phú Mỹ tiến bộ vững chắc. Các chỉ tiêu huấn luyện, SSCĐ, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đều đạt và vượt yêu cầu đề ra. Công tác phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể trong giáo dục quốc phòng-an ninh và công tác dân vận được thực hiện hiệu quả, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa LLVT và nhân dân, góp phần tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới.an CHQS TP Phú Mỹ chia sẻ: “Nghị quyết phải sát thực tế, có tính khả thi, tránh chạy theo phong trào. Chính vì vậy, ĐUQS thành phố chủ trương đổi mới cách thức ra nghị quyết, khắc phục những hạn chế trong triển khai thực hiện. Các nghị quyết của Đảng ủy không còn mang tính chung chung mà được hiện thực hóa bằng chương trình, kế hoạch rõ ràng, phân công trách nhiệm cụ thể. Cán bộ, đảng viên được giao nhiệm vụ phải thường xuyên báo cáo tiến độ, đánh giá những khó khăn, vướng mắc để có hướng điều chỉnh kịp thời”.

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết được duy trì thường xuyên, nghiêm túc. Thiếu tá Nguyễn Hữu Toàn, Phó tham mưu trưởng Ban CHQS TP Phú Mỹ cho rằng: “Kiểm tra, giám sát chặt chẽ giúp đánh giá thực chất kết quả triển khai nghị quyết, ngăn ngừa khuyết điểm, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy và từng cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghị quyết và nhiệm vụ được phân công để nghị quyết không nằm trên giấy”.

Nhờ đổi mới sinh hoạt Đảng, hiện thực hóa nghị quyết nên chất lượng công tác quân sự, quốc phòng của TP Phú Mỹ tiến bộ vững chắc. Các chỉ tiêu huấn luyện, SSCĐ, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đều đạt và vượt yêu cầu đề ra. Công tác phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể trong giáo dục quốc phòng-an ninh và công tác dân vận được thực hiện hiệu quả, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa LLVT và nhân dân, góp phần tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới.