Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2025

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam có bước phát triển mới so với Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII. Cụ thể, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng: Hải quân, phòng không-không quân, tác chiến điện tử, cảnh sát biển, tình báo, cơ yếu, an ninh, cảnh sát cơ động, kỹ thuật nghiệp vụ, an ninh mạng và đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu đến năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống”[1].

Có thể khẳng định mục tiêu, phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân như trên là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp trong tình hình mới, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng. Cả cơ sở lý luận và thực tiễn đều cho thấy, việc xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là đòi hỏi tất yếu khách quan và hoàn toàn phù hợp. Trước hết, về cơ sở lý luận, theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, quân đội kiểu mới để giành chính quyền và bảo vệ thành quả cách mạng phải được xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: Con người, tổ chức, vũ khí, trang bị, nghệ thuật tác chiến..., trong đó, chính trị-tinh thần là yếu tố có ý nghĩa quyết định.

Truyền thống dân tộc ta, từ xa xưa ông cha ta đã đề ra kế sách “sâu rễ, bền gốc”: “Quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” vì đây chính là trụ cột của “thái bình, thịnh trị, quốc thái, dân an”, là quy luật sinh tồn của dân tộc. Đồng thời, ông cha ta đã đúc kết thành bài học kinh nghiệm “Quân cốt tinh, không cốt đông”.

Tiếp thu tinh hoa truyền thống quân sự Việt Nam, năm 1958, trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ nhân dịp kỷ niệm 14 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "...Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một Quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”.

Trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa truyền thống của dân tộc, đặc biệt là thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, quan điểm của Đảng ta về xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đã được hình thành từ sớm và từng bước bổ sung, hoàn thiện. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, ngày càng hiện đại, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp lý, cân đối, gọn và mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu cao”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được Đại hội VII của Đảng (năm 1991) thông qua, xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại, tinh nhuệ, với cơ cấu tổ chức và quân số hợp lý; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu”. Từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng (năm 1996), mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trở thành chủ trương nhất quán của Đảng ta trong lãnh đạo công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Bước sang thế kỷ 21, sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh hiện đại và phương thức tác chiến mới, càng đòi hỏi các quốc gia trên thế giới phải đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, coi trọng xây dựng quân đội hiện đại. Chính vì vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 hiến định rõ tại Điều 66: “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng”[2]. Đến Đại hội lần thứ XII, Đảng ta xác định: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng LLVT nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng”.

Như vậy, điểm thay đổi trong phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân mà văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định so với Đại hội Đảng lần thứ XII là: Từ chỗ “ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng” phát triển thành “ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng: Hải quân, phòng không-không quân, tác chiến điện tử, cảnh sát biển, tình báo, cơ yếu, an ninh, cảnh sát cơ động, kỹ thuật nghiệp vụ, an ninh mạng và đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu đến năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.

Sở dĩ Đại hội XIII của Đảng xác định rõ phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân như đã nêu trên là xuất phát từ tình hình thực tế trong nước và thế giới với những yêu cầu rất cao đặt ra đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Cụ thể là:

Về dự báo tình hình, so với Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng có những nhận thức mới: Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn... Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới... Trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột... Cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới rất hiện đại, công nghệ cao, các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp, khó lường. Trước tình hình đó, việc đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, hiện đại hóa quân đội là xu thế chung trên thế giới và nước ta không thể đứng ngoài cuộc.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đứng trước những yêu cầu, đòi hỏi mới, ngày càng nặng nề, phức tạp hơn. Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ này, phải làm công tác tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc (nhiệm vụ được Đảng ta xác định là trọng yếu, thường xuyên); chủ động xử lý có hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; vừa ngăn ngừa nguy cơ xung đột, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, vừa giữ vững chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Hơn nữa, việc xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc chính là cơ sở quan trọng để thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” theo kế sách “chủ động giữ nước từ khi nước chưa nguy”, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Sự vững mạnh của quân đội, công an và nền quốc phòng, an ninh là tiền đề để đất nước phát triển ổn định, bền vững, là điều kiện quan trọng mở rộng và thu hút đầu tư, du lịch, thúc đẩy kinh tế phát triển, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Phương hướng, mục tiêu xây dựng quân đội mà Đại hội XIII của Đảng xác định là tất yếu khách quan, rất cần thiết trong tình hình mới. Cùng với đó, điều rất quan trọng nữa là chủ trương này phù hợp với điều kiện của nước ta và hoàn toàn có tính khả thi khi tình hình kinh tế-xã hội đất nước phát triển, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo 35 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực và chắc chắn sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; tiềm lực kinh tế và quốc phòng của nước ta có bước phát triển nhanh, có điều kiện đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng Cách mạng công nghiệp 4.0, đồng thời kết hợp mua sắm phương tiện, trang bị vũ khí hiện đại tăng cường sức mạnh cho quân đội, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn thực hiện chủ trương “ưu tiên hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng” trong những năm qua, chúng ta cũng đạt được những kết quả quan trọng và thu được nhiều kinh nghiệm quý. Đây chính là cơ sở vững chắc để phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Để đạt được mục tiêu “đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn quân và toàn dân ta, được triển khai thực hiện dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Trong quá trình xây dựng quân đội tiến lên hiện đại, chúng ta phải thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng: Quân đội ta tiến lên hiện đại trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống dân tộc, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quán triệt quan điểm hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam phải bắt đầu từ sự tinh nhuệ về chính trị, trước hết là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; thực hiện “người trước, súng sau”. Mục đích xây dựng quân đội vững mạnh là để phòng thủ và sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, hóa giải nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa... Việt Nam luôn nhất quán không tham gia liên minh quân sự nào; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế...

Để góp phần triển khai thực hiện hiệu quả phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định, cán bộ, chiến sĩ toàn quân, trước hết là cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải quán triệt thật sâu sắc và đề cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện ở cơ quan, đơn vị mình theo đúng sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Trước hết, phải tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời duy trì thực hiện nghiêm nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật; tập trung xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Bảo đảm thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải pháp đã xác định trong định phấn đấu từ năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại.  Đặc biệt, các quân chủng, binh chủng, lực lượng được ưu tiên hiện đại phải thực sự nỗ lực phấn đấu rất cao để hiện đại hóa đồng bộ cả về con người, tổ chức lực lượng, vũ khí, trang bị, phương thức và trình độ tác chiến cùng các mặt bảo đảm khác, đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời tạo tiền đề vững chắc để xây dựng quân đội hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.



[1] Đảng Cộng sản VieetjNam, văn kiện Đại hội XIII, Nxb CTQG, tập 1, tr.277

[2] Đảng Cộng sản VieetjNam, văn kiện Đại hội XII, Nxb CTQG tr.149

HIỂU VỀ NỀN DÂN CHỦ TƯ SẢN

 

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung cơ bản trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu cao nhất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là thiết lập một xã hội mới tốt đẹp hơn so với chủ nghĩa tư bản, thiết lập một chế độ dân chủ cho đông đảo nhân dân lao động, một nền dân chủ nhân văn, tiến bộ, vì hạnh phúc con người. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải ny sinh từ hư vô, mà được sinh thành và phát triển lên từ chế độ dân chủ tư sảnXét trên tổng thể lịch sử phát triển dân chủ của xã hội loài người thì chế độ dân chủ tư sản được coi như là một nấc thang, một giai đoạn tất yếuhay nói cách khác, nếu không có chế độ dân chủ tư sản thì không có chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chế độ dân chủ tư sản không chỉ là sản phẩm riêng của giai cấp tư sản, mà là thành quả của cuộc đấu tranh, bền bỉ lâu dài của nhân loại tiến bộ, của nhân dân lao động được kết tinh dưới chủ nghĩa tư bản. Dân chủ tư sản về nội dung, cũng như cơ chế, công nghệ dân chủ mang tính chất giai cấp của giai cấp tư sản, nhưng cũng hàm chứa nhiều yếu tố mang tính nhân loại, tính nhân văn mà chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa có thể kế thừa và phát triển.

          Có thể nói, nền dân chủ tư sản đã có những cống hiến hết sức to lớn đối với lịch sử tiến hóa nhân loại, nhưng nó cũng mắc phải những hạn chế rất lớn. Những hạn chế đó xét đến cùng là do nền dân chủ đó được xây dựng trên nền tảng bất di, bất dịch là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, là nguồn gốc của chế độ người bóc lột người. Giai cấp tư sản thường ca ngợi và tuyên truyền cho nền dân chủ của họ là nền “dân chủ thuần tuý”, dân chủ tư sản không có tính chất chuyên chính, không mang tính chất giai cấp nên nó mở rộng vô bờ bến. Ngày nay, giai cấp tư sản càng có thiện tâm thiện ý “đề cao dân chủ, dân quyền”, tuy nhiên, V.I.Lênin đã chỉ ra một sự thật là: Quyền sở hữu về những tư liệu sản xuất và chính quyền mà nằm trong tay bọn bóc lột, thì không thể nào nói đến tự do chân chính, bình đẳng chân chính cho những người bị bóc lột, nghĩa là cho đại đa số nhân dân được.

          Nền dân chủ tư sản là chế độ bảo vệ quyền lực thống trị của giai cấp tư sản đối với toàn thể nhân dân lao động. Bên cạnh đó nó đề cao quyền tự do cá nhân dẫn tới cá nhân cực đoan thực dụng - dẫn đến lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với lợi ích của xã hội. Điều này đã dẫn đến nhiều khuyết tật không thể tránh khỏi đã nảy sinh trong xã hội tư bản như: Sự phân hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng xã hội, tình trạng thất nghiệp, sự áp bức, bóc lột người lao động, ô nhiễm môi trường... Cho nên, về thực chất có thể thấy dân chủ tư sản vẫn không phải là nhà nước thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân, mà chỉ là nhà nước của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và thực hiện sự thống trị đối với nhân dân lao động. V.I.Lênin cho rằng: Ngay trong giai đoạn phát triển nhất của nền cộng hòa dân chủ tư sản thì chế độ dân chủ ấy vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi.

          Giai cấp tư sản cho rằng nền dân chủ của họ là nền “dân chủ thuần tuý”, dân chủ tư sản không có tính chất chuyên chính, nhà nước tư sản với cơ chế tam quyền phân lập mới có thể đảm bảo được dân chủ. Vì vậy, các thế lực thù địch đã đưa ra quan điểm phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cho rằng đó là bộ máy chuyên chính, với cơ chế quyền lực thống nhất, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì không thể nào đảm bảo dân chủ thực sự được. Đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đòi thực hiện cơ chế tam quyền phân lập trong bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa...

          Về vấn đề này, khi xem xét dân chủ với tư cách là một phạm trù chính trị gắn với một kiểu nhà nước và một giai cấp cầm quyền thì sẽ không có “dân chủ phi giai cấp”, “dân chủ chung chung”. Trong xã hội có giai cấp, việc thực hiện dân chủ cho những tập đoàn người này đã loại trừ hay hạn chế dân chủ của tập đoàn người khác. Mỗi chế độ dân chủ gắn liền với nhà nước đều mang bản chất của giai cấp thống trị. Vì vậy, như đã phân tích ở trên, dân chủ tư sản không phải là nền dân chủ thuần túy, mà đó là nền chuyên chính của giai cấp tư sản đối với đông đảo nhân dân lao động thông qua nhà nước tư bản chủ nghĩa.

ĐẤU TRANH GIAI CẤP KHÔNG PHẢI LÀ ĐỘNG LỰC DUY NHẤT CỦA TIẾN BỘ XÃ HỘI

 

Tiến bộ xã hội theo tiếng Latinh - Progressus nghĩa là vận động tiến về phía trước, là một kiểu, một khuynh hướng phát triển được đặc trưng bởi bước chuyển từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của xã hội. Vậy đâu sẽ là động lực của sự tiến bộ, của sự phát triển xã hội loài người? Có nhiều luận giải khác nhau về vấn đề này, trong đó có những luận điệu đã cho rằng học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin đã quá đề cao vai trò của đấu tranh giai cấp và cho đó là động lực của mọi xã hội và là động lực duy nhất của sự phát triển xã hội. Đó thực chất là những luận điệu xuyên tạc, cố ý làm ẩn đi bản chất đúng đắn, khách quan của học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Mục tiêu thực chất sau những luận điệu trên là làm cho chúng ta có những cách hiểu sai lệch vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp; từ đó coi nhẹ đấu tranh giai cấp; mất dần niềm tin vào hệ tư tưởng của dân tộc; không tin vào đường lối của Đảng, không tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của đất nước. Vì vậy, cần có cách nhìn đúng đắn, cách hiểu sâu sắc vấn đề trên.

          Như chúng ta biết, phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp không phải là công lao của Mác. Trong thư gửi Vây-đơ-mai-ơ ngày 5-3-1852, Mác viết: "...Tôi không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhau. Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự giải phẫu kinh tế của các giai cấp. Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: (1) sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất, (2) đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, (3) bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp" (1).

          Như vậy, C.Mác không coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp, nên chưa có đấu tranh giai cấp, và sau này trong tương lai khi xã hội không còn phân chia giai cấp nữa thì cũng không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như C.Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hội.

          Quan điểm khoa học về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác không phải là áp đặt, bịa đặt mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối kháng giữa các giai cấp: bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và bị áp bức. Do đó đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn.

          Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. Ngoài động lực này, như Mác đã từng chỉ ra, còn một loạt những động lực khác như sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhu cầu, lợi ích, lý tưởng, khoa học - kỹ thuật... Vì vậy không nên cường điệu động lực đấu tranh giai cấp.

          Đại hội XIII của Đảng ta đã hoàn thiện quan điểm về động lực phát triển đất nước trong thời kỳ mới: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

          Như vậy, Ðảng ta không phủ nhận đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, song quan niệm đấu tranh giai cấp cũng như động lực phát triển đất nước phù hợp hơn với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, với nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ đổi mới.

Phân biệt và nhận diện tin giả trên mạng xã hội trong giai đoạn hiện nay.

 

Trên thế giới tin giả đã xuất hiện từ rất lâu, những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là mạng xã hội, tin giả xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn nạn ở nhiều quốc gia, Việt Nam cũng là một trong các nước như vậy.

Để tránh mắc bẫy tin giả, người đọc không nên tin ngay mà cần kiểm tra chéo trên các báo chí chính thống cũng như nguồn tin chia sẻ vì hiện nay có rất nhiều nguồn không rõ căn cứ. Một số kinh nghiệm được nhiều chuyên gia chia sẻ trong việc nhận diện tin giả gồm truy nguồn thông tin, xem tin đó đăng tải ở đâu, tên hiển thị là gì, tên miền là gì, ai là người chia sẻ. Bước tiếp theo, người đọc cần những biện pháp mang tính kỹ thuật hơn như xem thông tin có khách quan, đa chiều không hay chỉ một chiều, viết theo chủ quan của người viết? Các thông tin đưa ra có bằng chứng không, được đơn vị nào có thẩm quyền thẩm định không? để phòng tránh tin giả thì chúng ta nên tập tư duy phản biện và đừng tin vào bất cứ thông tin gì ngay lần đầu đọc nó. Đặc biệt, khi gặp một thông tin trái với dòng chảy thông tin thông thường đang diễn ra thì chúng ta nên bình tĩnh đọc kỹ, suy xét cẩn thận và cuối cùng, khi chia sẻ thông tin gì, hãy nghĩ đến trách nhiệm của bản thân với cộng đồng, nghĩ đến hậu quả nếu đó là tin giả để thận trọng hơn.

Mặc dù pháp luật đã có quy định về hình phạt đối với hành vi phát tán tin giả, phát tán thông tin nhằm mục đích vu khống, bôi nhọ cá nhân, tổ chức và cũng đã có nhiều người bị xử phạt hành chính, thậm chí bị xử lý hình sự về hành vi này nhưng cho tới nay, câu chuyện tin giả vẫn là một vấn nạn. Điều này cho thấy, không chỉ các cơ quan bảo vệ pháp luật cần có giải pháp hiệu quả hơn với những người cố tình đưa thông tin giả, thông tin độc hại tới cộng đồng mà chính người dùng mạng xã hội nói riêng và người dân nói chung cần có sự tỉnh táo khi tiếp nhận tin từ những nguồn tin không chính thống. 

Để có thể tạo được khả năng miễn dịch đủ mạnh, đủ lớn trong cộng đồng, mỗi người dân tham gia mạng xã hội cần có ý thức trách nhiệm với chính bản thân, với cộng đồng xã hội, phải có sự hiểu biết về pháp luật, xây dựng được ý thức cảnh giác với tin giả, luôn tỉnh táo, thận trọng trong việc đăng và tiếp nhận thông tin, bình luận, luôn coi trọng nguyên tắc và chuẩn mực văn hoá, đạo đức, pháp luật khi tham gia và tiếp nhận thông tin trên không gian mạng. Cần rèn cho mình kỹ năng nhận biết tin giả như kiểm tra xuất xứ thông tin, kiểm tra tựa bài có khớp với nội dung, kiểm tra thời gian thông tin, xem xét nguồn tin trong bài, xem xét độ phủ sóng và xem xét chủ quan bản thân, tự rèn thói quen đọc tin chính thống, kiểm chứng thông tin trước khi ấn like, share hoặc bình luận. 

Nên tìm đọc các chỉ dẫn của các chuyên gia nghiên cứu về tin giả đăng tải trên các tạp chí khoa học, các trang web của các cơ quan đào tạo, nghiên cứu báo chí truyền thông có uy tín để tự mình nhận diện tin thật – tin giả, tránh việc vì thiếu những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà vô tình hoặc bị lợi dụng trở thành người đưa tin giả.

GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Tập trung hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[1].  Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng để thấy rõ hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung và đặc trưng cơ bản, những việc cần thực hiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta.

Dưới sự lãnh đạo cua Đảng, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (năm 1986) và ngày càng được hoàn thiện. Thực tế 35 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường là con đường phát triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cả một quá trình vừa đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của Việt Nam.

Theo quan điểm của Đảng, để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng. Sức cạnh tranh của nền kinh tế còn chưa cao. Một số nguy cơ vẫn tồn tại đan xen. Xây dựng XHCN là một quá trình, là mục tiêu mà chúng ta phải đạt tới. Trong quá trình đó, phải từng bước xác lập, tạo ra những điều kiện, những tiền đề của CNXH, đồng thời tránh nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường là một phạm trù kinh tế riêng, có tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật riêng vốn có của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể thời điểm nào của lịch sử. Song, trong thực tế không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung chung cho mọi giai đoạn phát triển, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội là những nền kinh tế hàng hóa cụ thể. Điều này phù hợp với nhận định của C.Mác: "sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa là những hiện tượng thuộc về nhiều phương thức sản xuất hết sức khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan trọng của chúng không giống nhau... chúng ta hoàn toàn chưa biết một tí gì về những đặc điểm riêng của những phương thức sản xuất ấy và chúng ta chưa thể nói gì về những phương thức ấy, nếu như chúng ta chỉ biết có những phạm trù trừu tượng của lưu thông hàng hóa, những phạm trù chung cho tất cả các phương thức ấy"[2]. Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa. Đó là sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa quy định. Có nghĩa là kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Do vậy, trong chủ nghĩa tư bản và trong CNXH đều tồn tại kinh tế thị trường, nhưng có những đặc trưng khác nhau. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, là nền kinh tế thị trường phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản. Kinh tế thị trường XHCN dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của nền kinh tế thị trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa bỏ chế độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.

Sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay; là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu văn minh nhân loại, nhằm phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong việc phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật - công nghệ, nâng cao đời sống nhân dân... Đồng thời, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường gây ra.

Nói kinh tế thị trường định hướng XHCN có nghĩa là nền kinh tế nước ta không phải là nền kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liêu; cũng không phải là kinh tế thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa; và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường XHCN. Bởi vì Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, vừa có, vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của CNXH, còn có sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Cần hiểu rõ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa mang tính chất chung của nền kinh tế thị trường, vừa có tính chất đặc thù vì nó hoạt động trong khuôn khổ của những nguyên tắc và bản chất của CNXH.

Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã làm sáng tỏ thêm một bước nội dung cơ bản của định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta. Khẳng định định hướng XHCN là một tất yếu, là sự lựa chọn phù hợp với nội dung của thời đại - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Định hướng XHCN ở nước ta là nhằm mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với XHCN thể hiện trong toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây không chỉ là một tất yếu về chính trị và nguyện vọng mong muốn của nhân dân ta, mà còn là một tất yếu kinh tế, văn hóa, xã hội. Bởi vậy, trong thời gian tới việc đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường ở nước ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

1 - Xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng.

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là điều kiện chính trị tiên quyết bảo đảm có một Nhà nước đủ mạnh, trong sạch để quản lý toàn bộ quá trình phát triển kinh tế thực hiện theo định hướng XHCN. Vì vậy, cần tăng cường sự thống nhất trong Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, chống lợi dụng dân chủ để mưu cầu lợi ích riêng, cục bộ. Cần xây dựng Đảng thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cần tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa, biến chất. Chú trọng xây dựng và củng cố các tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên. không ngừng đào tạo, rèn luyện và kết nạp được những quần chúng ưu tú vào hàng ngũ của Đảng.

2- Thực hiện phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó xây dựng kinh tế nhà nước vững mạnh đủ sức nắm giữ vai trò chủ đạo, cùng với nó là kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Đồng thời phát huy cao nhất sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế khác hoạt động lâu dài trong khuôn khổ của pháp luật tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

3- Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, đây là yếu tố quan trọng bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế. Do vậy, Nhà nước cần tập trung làm tốt  chức năng định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc thị trường; tạo môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển; hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống an sinh xã hội; bảo đảm tính tích cực và bền vững của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của kinh tế thị trường.

4- Tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân.

Đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trở thành một nhiệm vụ cấp bách trước mắt của toàn Đảng, toàn dân ta. Do vậy, vấn đề này cần phải được nhìn nhận thẳng thắn, trực diện và thực hiện một chiến lược triệt để phòng, chống tham nhũng một cách thật sự hiệu quả với sự tham gia của toàn Đảng, toàn dân và các thành phần kinh tế. Trước hết là đổi mới, hoàn thiện thể chế và chính sách, giảm bớt và loại bỏ những kẽ hở; đồng thời luôn luôn giáo dục con người ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện kiểm soát, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai đối với những cán bộ, công chức tham nhũng.

5- Thực hiện sự thống nhất, gắn bó hữu cơ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển ở tất cả các giai đoạn phát triển của kinh tế thị trường. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thực hiện tốt vấn đề phân phối, đặc biệt chú trọng quản lý thật tốt thu nhập cá nhân từ đó xây dựng cơ chế điều tiết phân phối thu nhập, hình thành nên chính sách phân phối hợp lý, bảo đảm tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội.

6 - Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh để giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị - xã hội. Để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN thì lực lượng quốc phòng phải đủ mạnh, phải là công cụ sắc bén để đủ sức mạnh chủ động đập tan mọi âm mưu phá hoại, xâm lược, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong bất cứ tình huống nào, tạo ra môi trường kinh tế - chính trị - xã hội ổn định, thuận lợi,...cũng là giữ vững định hướng XHCN.

Những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân đội ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, thực sự là đội quân cách mạng, của dân, do nhân dân và vì nhân dân;  luôn luôn “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[3], xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân đã trao tặng.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; tính chất, nhiệm vụ của Quân đội ta có những bước phát triển mới; kế thừa và phát huy bài học kinh nghiệm qua quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta, khẳng định: Trong tình hình hiện nay, xây dựng quân đội ta về chính trị, trước hết phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch và hướng dẫn nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Để nâng cao chất lượng xây dựng quân đội về chính trị thì phải tạo được sự đồng thuận cao cả về nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Để làm được điều đó cần thực hiện tốt một số nội dung cụ thể mà Đại hội đã xác định sau:

Một là, đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hai là, đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt cuộc vận động với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả Tiếp tục thực hiện phong trào thi đua "Dân vận khéo", góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhân dân với Đảng.

Ba là, triển khai thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân dội. Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội trong các hoạt động “đền ơn, đáp nghĩa”, thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng tạo sức lan tỏa sâu rộng, giải quyết chính sách tồn đọng sau chiến tranh, đổi mới công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho các đối tượng.

Bốn là, chăm lo xây dựng các tổ chức thanh niên, phụ nữ, cộng đoàn và Hội đồng quân nhân vững mạnh, hoạt động dùng chức năng, nhiệm vụ. Chỉ đạo thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời các vướng mắc, nảy sinh, không để xảy ra những vấn đề bức xúc, nổi cộm.

Ngày nay, trước sự vận động, biến đổi của thực tiễn, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, luận giải thấu đáo, có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, bất luận trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị luôn là một nguyên tắc cơ bản, hàng đầu, cần được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Đây là cơ sở để Đảng, Nhà nước ta tiếp tục vận dụng vào xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội ta thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.



[1] Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện ĐHĐ toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, H.2021, tập 1, tr.222

[2] C.Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1993, t 23, tr 175

 

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2000, t. 11, tr.,350.

Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ XI.

 

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Là lực lượng vũ trang cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Khi thành lập chỉ có 34 chiến sĩ với vũ khí thô sơ, theo thời gian Quân đội ta ngày càng lớn mạnh, trưởng thành; cùng nhân dân ta đánh thắng hai đế quốc to, lập nên những chiến công “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; thực hiện thắng lợi cuộc chiến tranh nhân dân chống quân xâm lược phía Bắc bảo vệ tổ quốc; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc tế cao cả; cùng Đảng, Nhà nước và nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới, kiến thiết, xây dựng đất nước giành được nhiều kết quả to lớn; bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...

Hiện nay, trước diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình khu vực và thế giới. Mặc dù hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chung, nhưng cũng đang gặp không ít trở ngại; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt; các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng hơn. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới; các thế lực thù địch, phản động với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm hiểm tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ và Quân đội ta, công khai, trực diện hơn...

Trong bối cảnh đó Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI với chủ đề: “Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ XI xác định: “Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân”.

Đây là nội dung có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là căn cốt trong chủ trương, đường lối xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam xuyên suốt qua các thời kỳ. Giải pháp này được xác định trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta.

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: Con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật quân sự… trong đó yếu tố chính trị - tinh thần có ý nghĩa quyết định. Khi bàn về vấn đề này, V.I. Lênin khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”[1]. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Người khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”[2]. Trong  xây dựng Quân đội nhân dân, với tư tưởng “Người trước, súng sau”; nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị; trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Người chỉ rõ: Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự.”[3]. Tư tưởng đó được thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh hoàn toàn đúng đắn, đồng thời thống nhất với quan điểm của Đảng, trở thành đường lối, nguyên tắc chỉ đạo, phương châm hành động trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta: Xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở.

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị thực chất là xây dựng và giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, bảo đảm cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; là đội quân cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, mang bản chất giai cấp công nhân.

Những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân đội ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, thực sự là đội quân cách mạng, của dân, do nhân dân và vì nhân dân;  luôn luôn “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[4], xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân đã trao tặng.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; tính chất, nhiệm vụ của Quân đội ta có những bước phát triển mới; kế thừa và phát huy bài học kinh nghiệm qua quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta, khẳng định: Trong tình hình hiện nay, xây dựng quân đội ta về chính trị, trước hết phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch và hướng dẫn nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Để nâng cao chất lượng xây dựng quân đội về chính trị thì phải tạo được sự đồng thuận cao cả về nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Để làm được điều đó cần thực hiện tốt một số nội dung cụ thể mà Đại hội đã xác định sau:

Một là, đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hai là, đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt cuộc vận động với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả Tiếp tục thực hiện phong trào thi đua "Dân vận khéo", góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhân dân với Đảng.

Ba là, triển khai thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân dội. Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội trong các hoạt động “đền ơn, đáp nghĩa”, thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng tạo sức lan tỏa sâu rộng, giải quyết chính sách tồn đọng sau chiến tranh, đổi mới công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho các đối tượng.

Bốn là, chăm lo xây dựng các tổ chức thanh niên, phụ nữ, cộng đoàn và Hội đồng quân nhân vững mạnh, hoạt động dùng chức năng, nhiệm vụ. Chỉ đạo thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời các vướng mắc, nảy sinh, không để xảy ra những vấn đề bức xúc, nổi cộm.

Ngày nay, trước sự vận động, biến đổi của thực tiễn, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, luận giải thấu đáo, có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, bất luận trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị luôn là một nguyên tắc cơ bản, hàng đầu, cần được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Đây là cơ sở để Đảng, Nhà nước ta tiếp tục vận dụng vào xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội ta thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.



[1] V.I. Lê-nin, Toàn tập, , Nxb. Tiến Bộ, M. 1977, t. 41, tr. 147.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tậpNxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2011, t. 7, tr. 217.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tậpNxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2011, t. 3, tr. 539.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2000, t. 11, tr.,350.

Nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

 

Từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, hệ thống chủ nghĩa xã hội tan rã, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong khi chúng đang đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ thì cũng xuất hiện những khó khăn, thách thức. Những khó khăn, thách thức đó, một mặt do những vấn đề mới, những mâu thuẫn mới nảy sinh khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu; mặt khác, do những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm chưa được khắc phục kịp thời, đồng thời tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Tình hình khách quan đó đã tác động đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, bản lĩnh chính trị không vững vàng, dao động về tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin; tình trạng nhạt đảng, xa rời chính trị, phai nhạt lý tưởng đã và đang diễn ra. Một số cán bộ, đảng viên, thậm chí cả cán bộ cao cấp mất lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giảm sút ý chí chiến đấu, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, không phân biệt đúng - sai ở tầm quan điểm về những vấn đề lớn như đánh giá về bản chất của thời đại, về chủ nghĩa tư bản, về chủ nghĩa xã hội, chủ  nghĩa Mác - Lênin, về nguyên nhân sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, về thời kỳ quá độ và định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về vai trò của kinh tế tư nhân, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... bên cạnh đó, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch như: Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, XX - thời đại của nền văn minh cơ khí, còn bây giờ, thế kỷ XXI - thời đại của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn thích hợp nữa; rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của Việt Nam mà du nhập từ phương tây nên không phù hợp với điều kiện Việt Nam... đã tác động đến tư tưởng, nhận thức của một số người.

Những luận điệu đó xét cho cùng là để hậu thuẫn, biện hộ cho những kẻ cơ hội chính trị. Bởi, đứng trên quan điểm khách quan mà xem xét, có thể khẳng định: Một số luận điểm cụ thể của C. Mác và Ph. Ăngghen, V.I. Lênin ra đời cách đây rất lâu, không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay, đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua hoặc bị  nhận thức sai lầm nên cần nhận thức lại cho đúng, song những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh thần khoa học, cách mạng và biện chứng của nó vẫn giữ nguyên giá trị. Họ không thấy được rằng, hoàn cảnh lịch sử cụ thể luôn thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài người mà chủ nghĩa Mác - Lênin nêu lên là không thay đổi, vẫn luôn có giá trị bền vững, lâu dài. Họ cũng không thấy hoặc cố tình không thấy rằng trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn có sự phát triển về tư duy lý luận, luôn khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời loại bỏ những nhận thức không đúng, ấu trĩ, giáo điều, chủ quan, nóng vội hoặc duy ý chí về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội, phân biệt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin với những luận điểm cụ thể của các ông gắn liền với những hoàn cảnh cụ thể lúc đó mà sau này đã bị lịch sử vượt qua. Họ cũng không thấy rằng, thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới ở Việt Nam trên một loạt vấn đề. Chẳng hạn như: vấn đề mục tiêu và đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy dân chủ; xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; về phát triển con người, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế... Không có sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin thì không có những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đã đạt được qua hơn 36 năm đổi mới.

Trong số những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ có các thế lực thù địch, cơ hội chính trị mà có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động về ý thức hệ, về niềm tin, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Có người đòi sửa đổi Cương lĩnh của Đảng theo hướng đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng (chỉ giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh), chỉ giữ lại mục tiêu độc lập dân tộc, bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Những ý kiến phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin đã hiểu không đúng bản chất, nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin, quy chụp và áp đặt chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ thiên về đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, bạo lực trấn áp. Để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, họ đem đối lập một cách giả tạo chủ nghĩa Mác - Lênin với dân tộc (họ nói: “cứ nhắm mắt theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì phản bội dân tộc”, hoặc cứ “theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì không bảo vệ được chủ quyền quốc gia”); họ còn đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với sự phát triển của đất nước (họ nói “Đảng coi trọng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không coi trọng sự phát triển”).

Những quan niệm này hoàn toàn không hiểu hoặc cố tình phủ nhận rằng, trước đây chỉ khi tìm đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng giai cấp lao động và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, nhờ đó mới có thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: chủ nghĩa Mác - Lênin là cái “cẩm nang thần kỳ”, “mặt trời chói lọi” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường phát triển đất nước. Vì vậy, nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những nội dung quan trọng để có cơ sở lý luận khoa học đấu tranh chống lại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Lý luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) luôn cần được bổ sung để hoàn thiện, và luôn phải tiếp tục bổ sung, bởi lý luận soi sáng thực tiễn nhưng mọi lý luận đều phải xuất phát từ thực tiễn, nếu không sẽ trở thành giáo điều, lạc hậu.

Sau sự kiện phá dỡ Bức tường Berlin với tính chất của một biểu tượng, rồi sự sụp đổ của Liên Xô - nhiều người đã cho rằng đó là sự sụp đổ của lý tưởng XHCN - thế giới dường như lại hướng tới những giá trị của chủ nghĩa tư bản (CNTB) mà có vẻ không có sự thay thế khả dĩ nào khác. Chúng ta chưa đi đến cuối lịch sử loài người, nhưng CNTB dường như đã trở thành điều cuối cùng ở lại. CNXH và những người cánh tả dường như vẫn đang bị sốc, ám ảnh nên chưa sẵn sàng giương cao trở lại ngọn cờ của mình. Kinh tế thị trường với các thành phần kinh tế TBCN hiện diện ở nhiều nước XHCN khiến nhiều người cảm thấy CNTB đã giành chiến thắng.

Tuy nhiên, cái gọi là toàn cầu hoá của CNTB đã không mang lại sự hoàn thiện cho một mô hình xã hội mơ ước. Nếu coi hiện thực trên thế giới ngày nay là thành công thì chúng ta đã rất sai, với kết quả thật thảm hại: với tất cả sự giàu có tích lũy, thì nạn đói vẫn tiếp tục là yếu tố tử vong chính trong dân số hành tinh này. Để 15% nhân loại được sống một cách thoải mái theo ý thích của họ, 85% còn lại phải chịu đựng những khó khăn cùng cực: nghèo đói, bệnh tật, thiếu hiểu biết, thiếu các dịch vụ tối thiểu, chiến tranh và bạo lực với các biểu hiện khác nhau ở mọi nơi (phân biệt chủng tộc, gia trưởng, định kiến). Vậy đâu là thành công của hệ thống TBCN?

Ngược dòng lịch sử, thì những bê bối của Vatican với Toà án dị giáo và “7 núi tội của Kito với nhân loại” đã không khiến các Kitô hữu từ bỏ các giáo lý trong tôn giáo của họ. So sánh dù khập khiễng, nhưng như vậy thì sự thất bại của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô cũng không thể gây ra sự từ bỏ lý tưởng XHCN khỏi chân trời lịch sử của loài người. Cho rằng chủ nghĩa xã hội thất bại là một quan niệm rất sai lầm, trong mọi trường hợp, bởi đó là thất bại của một mô hình chứ không phải của bản thân CNXH, nó đã không tiến triển được như kỳ vọng, nhưng rõ ràng ở tất cả những nơi CNXH từng tồn tại, nó đã giải quyết được nhiều vấn đề hơn là những kết quả mà hệ thống TBCN đạt được. Trong XHCN không có ai chết vì đói, không có người mù chữ, không ai không có nhà ở và không được tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Hơn nữa, các nước XHCN không bao giờ là người phát động các cuộc chiến tranh, đảo chính hay can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Tuy hiện tại CNXH chưa có nhiều thành tựu ở mức độ lý tưởng, nhưng giá trị tư tưởng mà CNXH mang lại vẫn là nền tảng cho hoà bình của nhân loại, trong khi đó mọi diễn văn hùng biện về chiến thắng của CNTB vẫn tự mâu thuẫn với chính nó, bởi ngoài chủ nghĩa tiêu dùng tham lam, các nhóm người quay cuồng trong cuộc sống văn hoá nghèo nàn và rẻ mạt với những giá trị cá nhân chủ nghĩa được đề cao thì nó chẳng có gì khác cả!

Bởi vậy, ngay trong thời điểm cam go của cuộc chiến ai thắng ai này, hãy tiếp tục là một người XHCN, tiếp tục nắm lấy hệ tư tưởng XHCH, để hy vọng và đấu tranh cho một thế giới có nhiều công lý hơn, không phải là những đức tin mơ hồ, niềm tin giáo điều, mù quáng, không có kết quả. Tôn giáo có thể tập hợp được một số người bởi những ảo ảnh thuần túy trong niềm tin chủ quan, mê hoặc, phi logic chỉ vì những cảm nhận cá nhân, như các nhà thần học từ thời trung cổ đã nói, rằng “đức tin không cần phải được chứng minh”!!! Là một người XHCN, thì cùng với phân tích khoa học, bạn cũng sẽ tự hình thành một niềm tin cho bản thân.

Tuy nhiên, để có được một niềm tin vững chắc vào lý tưởng XHCN thì chúng ta cần những điều lớn hơn như vậy rất nhiều, trở thành một người XHCN là một quyết định quan trọng, một quyết định mà ngay cả cuộc sống của bản thân cũng có thể phải hy sinh, nhưng chính điều đó sẽ nuôi dưỡng cho chúng ta một nhân cách cao cả, một nền tảng đạo đức vững chắc, và tư duy khoa học sâu sắc.

Ai tạo ra của cải cho xã hội? Đó chính là giai cấp công nhân và những người vô sản, không thể nghi ngờ điều đó. Nhưng đại đa số của cải lại bị chiếm đoạt bởi tầng lớp sở hữu tư liệu sản xuất (các chủ ngân hàng tư nhân, các nhà tài phiệt công nghiệp, các địa chủ), đó cũng là một sự thật không thể bác bỏ, điều đó không phải là lý thuyết hay chỉ là vấn đề thuộc về niềm tin. Bởi vậy, lựa chọn con đường CNXH là để giải quyết các vấn đề với một chiều sâu khoa học (chủ nghĩa duy vật lịch sử) trong khi vẫn tự bổ sung thêm khả năng nhạy cảm xã hội, quan tâm và tôn trọng phẩm giá con người, niềm tin vững chắc vào công lý, trong đó điều quan trọng nhất đối với một con người đúng nghĩa là “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, ước mơ của cách mạng Pháp mà ngay từ tác phẩm “Ba người lính ngự lâm” đã đề cập đến một cách rất đẹp đẽ.

Tiếp tục lựa chọn con đường CNXH không chỉ là trách nhiệm hay chỉ vì tình cảm tốt đẹp đơn thuần, mà phải trở thành một tình yêu vô điều kiện, trong khi tình yêu đơn thuần dành cho tình yêu không thể tồn tại một cách vô điều kiện. Bởi tình yêu đối với CNXH là cả một nền văn hoá, chúng ta phải tạo ra một nền văn hóa dựa trên các giá trị của nó, đó mới chính là CNXH, để có được CNXH!

Ngay cả khi chúng ta không thể yêu tất cả những người khác một cách vô điều kiện, thì chúng ta vẫn có thể dành cho CNXH tình yêu vô điều kiện và tôn trọng điều đó. Bởi bất công, dưới bất kỳ hình thức nào của nó (bóc lột kinh tế, phụ thuộc giới tính, phân biệt sắc tộc) đều là những biểu hiện thiếu tôn trọng mà CNXH luôn đấu tranh để loại bỏ.

Những người lựa chọn CNTB để chống lại CNXH, là những người mong muốn một xã hội bất công dựa trên sự bóc lột mà họ là những người có quyền bóc lột, áp bức các tầng lớp khác. Lịch sử đã cho thấy mong muốn đó chỉ có thể đưa nhân loại đến những cuộc tàn sát đồng loại. Ham muốn quyền lực, tìm kiếm quyền lực tối cao - cám dỗ đó là yếu tố tự phát của bản năng tự nhiên, là phần con trong mỗi con người chúng ta, bản năng đó chưa bao giờ cung cấp cho con người một lối thoát hay sự giải phóng thật sự. Ham muốn đó chỉ có thể dẫn chúng ta đến chỗ quay cuồng với giá trị của những chiếc siêu xe, những smartphone thời thượng, những chai rượu đắt tiền hoặc trở thành những “ngôi sao, thần tượng” nhạt nhẽo, tầm thường.

Chỉ có những hành động mang tính cách mạng của CNXH nhằm cải tạo phần bản năng đó, thay đổi thế giới đó, thực trạng đó, ý thức đó mới có thể thực sự giải phóng con người. Nghĩa là, nếu bạn muốn trở thành một con người XHCN, nhiều khi bạn sẽ phải đi ngược lại dòng chảy thông thường theo bản năng vốn có của xã hội loài người chúng ta.

Chủ nghĩa tư bản, hình thái xã hội chỉ dựa trên lợi ích cá nhân, quên đi mọi sự tôn trọng của con người dành cho con người và thế giới tự nhiên. Với động cơ cuối cùng của cuộc sống chỉ là "lợi nhuận", đem đến một cuộc sống nghèo nàn về giá trị đích thực của con người, nên CNTB chính là một quả bom hẹn giờ có thể dẫn tới sự tự huỷ diệt của loài người. Nhân danh những giá trị của nó, CNTB sẵn sàng hy sinh tất cả chỉ để tìm kiếm lợi nhuận, từ việc gây ra các thảm họa môi trường đến việc diệt chủng, thậm chí tự huỷ diệt chính nó. Mâu thuẫn tự thân được tạo ra trong CNTB quá sâu đến mức nó không thể quay trở lại và không thể tự điều chỉnh, tự quản lý được. tất cả góp phần tạo ra một quả bom hẹn giờ sẽ phát nổ ở đâu đó. Thậm chí tệ hơn, nhân danh việc bảo vệ lợi ích của một số ít người, những cuộc chiến tranh chết chóc tạo ra nguy cơ rất cao đối với cả hành tinh chúng ta. Nếu tất cả năng lượng hạt nhân chứa trong các vũ khí nguyên tử có sẵn hiện nay được kích hoạt, sẽ có một vụ nổ hoành tráng có thể phá huỷ cả Hệ mặt trời..

Những vũ khí hoành tráng đó không hề giúp ngăn chặn được việc sau mỗi 7 giây lại có 1 người chết vì đói trên thế giới này, nghèo đói và chiến tranh là nguyên nhân chính gây ra cái chết của loài người chúng ta. Buồn vì điều đó chăng? Đừng, vì chúng ta không xứng đáng được buồn khi chưa hiểu rằng nghèo khó và chiến tranh đều không do ai khác ngoài CNTB gây ra. CNXH đã không bao giờ bắt đầu một cuộc chiến diệt chủng vì lợi nhuận cho một nhóm người, còn CNTB đã gây ra cái chết của bao nhiêu con người?

Chúng ta có thể nhìn thấy trong nhiều trường hợp, các mô hình thí điểm XHCN vẫn còn rất nhiều lỗi lầm: tả khuynh và hữu khuynh, sự lạm dụng quyền lực, thiếu cởi mở, gia đình trị, điều hành kém hiệu quả, quan liêu, sùng bái cá nhân, cùng vô số những lúng túng trong sự tìm tòi một con đường phù hợp. Cánh tả thế giới hiện nay bàn luận khá nhiều về điều này trong tự phê bình với những bài học kinh nghiệm này. Cánh hữu thì dựa vào đó để thổi phồng, cho rằng CNXH đã hoàn toàn thất bại. Nhưng sự thật về bóc lột, bất công, cướp đoạt, chủ nghĩa tiêu dùng tham lam vô độ của CNTB vẫn hiển hiện thì sao?

Mặt khác, sự lạm dụng quyền lực không phải là một “phát minh” của CNXH, mà nó là bản năng thú tính còn sót lại của con người, ở bất kỳ chế độ xã hội nào. Trong chế độ XHCN thì đó là biểu hiện suy thoái, tiến hoá ngược của những ai thiếu rèn luyện, bị cám dỗ bởi quyền lực, bị tư sản hoá mà xa rời giai cấp mình đại diện, chứ nó không phải là bản chất của CNXH mà nhân loại hướng đến. Bởi vậy, CNXH và CNCS vẫn là lối thoát duy nhất, là hy vọng cuối cùng cho loài người ở cuối con đường, khi nó tự khắc phục được những điểm yếu và lỗi lầm của nó. Trong khi đó, “lối thoát” của CNTB có gì khác hơn là những cuộc chiến tranh? Cho đến nay, ngành công nghiệp có lợi nhuận cao nhất của CNTB vẫn là sản xuất vũ khí, ngành công nghiệp chết chóc. Đó có phải là thành công?

Các mô hình xã hội dựa trên sự bóc lột của giai cấp tư hữu không thể đem đến sự giải phóng con người, và do đó chắc chắn không thể đem lại sự công bằng giữa những con người với nhau. Với chân trời XHCN, chúng ta hiểu biết về chính những điều chưa hoàn hảo của CNXH và những sai lầm mà con người mắc phải, để chúng ta đối mặt với những điều đó, ít nhất cũng là với hy vọng đem lại chân lý, vượt qua sự nghèo nàn rẻ rúng của chủ nghĩa cá nhân.

Cuộc sống của chúng ta sẽ là rất không xứng đáng nếu nó chỉ được đo bằng số tiền chúng ta có trong ngân hàng, bằng chiếc xe chúng ta sử dụng hoặc bằng quần áo chúng ta mặc. Bởi ngay cả khi không có lý do để hy vọng, chúng ta vẫn luôn có lý do cho phẩm giá của mình, và giá trị cao nhất của CNXH, chính là phẩm giá con người.

Nhưng, điều gì đã xảy ra trong xã hội loài người chúng ta sau nhiều thế kỷ tiến hoá khỏi sự u mê lạc hậu? CNTB được hình thành từ trong đêm dài trung cổ tối tăm, đem lại những tiến bộ nhất định, và CNXH được xây dựng lên trong lòng CNTB để mở ra một bình minh mới, rực rỡ hơn. Vậy nhưng bây giờ nó đang khủng hoảng, có một sự thụt lùi đáng lo ngại trong việc thực hiện lý tưởng đấu tranh vì tự do cho con người, để rồi CNTB hiện đại với những điều chỉnh nhất định bằng cách vận dụng chính các giá trị của CNXH lại có thể hả hê trước sự thoái trào của CNXH.

Cuộc chiến đấu cho một thế giới tiến bộ hơn, công bằng hơn trong hơn hai trăm năm qua, từ giữa thế kỷ thứ mười tám với các cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đến nay, dường như đã bị dập tắt. Các phong trào tranh đấu vì hoà bình, vì quyền của người lao động đã trở nên rời rạc, yếu ớt, thậm chí lặng lẽ biến mất trong cuộc sống của quần chúng nhân dân. Tư tưởng XHCN về cách mạng cải biến thế giới được hưởng ứng mạnh mẽ cách đây nửa thế kỷ, truyền cảm hứng cho các cuộc đấu tranh anh hùng ở tất cả các nơi trên thế giới, hiện đang có một sự thoái trào đáng xấu hổ. Nó không bị dập tắt, nhưng chìm khuất trong những mơ hồ giữa phồn hoa giả tạo với sự đói nghèo thực tế.

Có phải chúng ta đang rút lui, đầu hàng? Chắc chắn là không, bởi những điều đã thúc giục, khuyến khích chúng ta: bất công xã hội, mâu thuẫn giai cấp, cùng với tất cả những điều tà ác khác trong đời sống xã hội vẫn đang hiển hiện, chưa được khắc phục và không hề biến mất. Nghĩa là, loài người chưa dập tắt được nguyên nhân của những bạo ngược bất công, nên hậu quả của nó vẫn đang tồn tại. Nói cách khác là: khi sự bóc lột, bất công vẫn còn, thì động lực và mục tiêu đấu tranh vẫn còn. Chỉ có điều rằng, động lực đó đã không còn được khai thác, khi những tiếng thét phẫn nộ của nhân loại bị áp bức bị chìm lấp, bưng bít sau bức màn hào nhoáng giả tạo và sự thao túng của truyền thông do các thế lực tư bản nắm giữ. Nó không biến mất, nhưng nó tắc nghẹn và gần như không được lắng nghe.

Chuyện gì đang xảy ra vậy? Hệ thống tư bản, với nhiều thế kỷ kinh nghiệm (từ thế kỷ 13, với những tích luỹ sơ khai ở Bắc Âu, cho đến sự bành trướng tài chính và đế quốc toàn cầu hiện nay), đã tích lũy để chiếm hữu hầu hết tài sản của thế giới, với quyền lực gần như tuyệt đối và độc tài nắm giữ kiến thức của nhân loại. Để tự bảo tồn, không sa vào cơn giãy chết, CNTB đã phát triển các công nghệ kiểm soát xã hội một cách tinh vi nhất, vượt lên mọi hình thức thống trị về tư tưởng - văn hoá từng được biết đến trong lịch sử loài người. Các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có sức mạnh thâm nhập và thao túng lớn đến mức nó không cho phép có thuốc giải độc. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản đang đầu độc ngay chính bản thân nó bằng những kỹ thuật bẩn thỉu và kinh tởm nhất.

Trong thế giới của tư bản không có chỗ cho đạo đức, cho những day dứt dằn vặt mang tính nhân văn, cho sự thật. Như bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc xã Joseph Goebbels đã thẳng thừng tuyên bố: “Một lời nói dối lặp đi lặp lại hàng ngàn lần sẽ biến thành sự thật", và giới tinh hoa tư sản ngày nay đã biến phương châm này trở thành cốt lõi của sự thao túng đa số quần chúng nhân dân. Trong xã hội tư bản, chỉ có lợi nhuận là được coi trọng, nó biến thành một bộ luật bất thành văn, lạnh lùng và không bao giờ khoan nhượng. Để thực hiện điều đó, nó lừa dối trong mọi thông tin: hoạt động tẩy não được biến thành “đời sống tâm linh, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận”, vũ khí giết người được mô tả là “bom thông minh, đạn biết tránh người tốt”, thủ thuật cướp đoạt được gọi là “chiến lược kinh doanh” một cách tinh vi, những tên sát nhân và lạm dụng tình dục được biến thành “thần tượng của giới trẻ”, vv và vv... Mọi điều đều được diễn tả một cách thăng hoa, miễn là có thể biến nhân loại trở thành một “bầy người” có thể dẫn dắt dễ dàng.

Trong khi đó, CNXH với các nguyên tắc nền tảng của mình, không cho phép xã hội đi theo cách đó, mà nó lấy nhân phẩm làm quy tắc trung tâm. Còn với CNTB, điều duy nhất được coi là giá trị chỉ là sự tích lũy tư bản, kể cả việc gây chiến tranh, gian lận tài chính, buôn bán ma tuý và buôn bán người mà có thể đem lại lợi nhuận thì đều được hoan nghênh. CNXH không thể chấp nhận những điều này, nhưng trong cuộc đấu tranh giữa các hệ tư tưởng, CNXH đến nay vẫn chưa giành được chiến thắng, điều này đặt ra một vấn đề đạo đức rất lớn: làm thế nào để CNXH có thể phù hợp để tiếp quản và quản lý sự hoành tráng mà CNTB đã tạo ra? Khi mà những lời nói dối đã trở thành “chân lý”, bởi nhân loại hầu như đã bị trói buộc và tẩy não toàn bộ suốt một quá trình rất dài?

Thế giới ngày nay đã bị ngành công nghiệp văn hóa tư tưởng khổng lồ do tư bản nắm giữ thao túng từng ngày, từng phút, từng giây. Thông điệp ý thức hệ tư sản tràn ngập tất cả mọi thứ: phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, không gian Internet, cuộc sống hàng ngày với sự quản lý của thiểu số cánh hữu mang tư tưởng tân tự do, phát xít mới, tôn giáo bảo thủ và cả các tà phái, ..., tất cả những thứ đó được tập hợp thành cơ chế kiểm soát, thao túng xã hội một cách rất hiệu quả!

Thực tế này - có thể bị cho là bi quan, nhưng nó là sự thật - chính là điều mấu chốt đặt ra cho những người XHCN, cần phải quyết liệt hơn nữa, nỗ lực hơn nữa để cải tổ chính mình, tiếp tục giác ngộ chính mình, để có thể trả lời câu hỏi đơn giản mà Lenin đã đặt ra từ năm 1902: “Chúng ta phải làm gì?”. Điều đó có nghĩa là: làm thế nào để CNXH có thể tiếp tục tiến lên, trước những tiến bộ của CNTB, khi mà họ biết vận dụng chính những lý luận, phương pháp của CNXH để làm mới mình, tránh khỏi nguy cơ tự diệt vong. Vậy những người XHCN phải làm sao để giành chiến thắng?

Câu trả lời ở đây là rất khó, chắc chắn những người ở tầng lớp chúng ta không ai có thể trả lời ngay lúc này, cũng không có hướng dẫn cụ thể nào có thể khẳng định là sẽ đem đến hợp lý và thành công. Nhưng chúng ta có niềm tin, và có tình yêu vô điều kiện dành cho CNXH. Với điều đó, chúng ta có thể xây dựng các phương án khác nhau cho mình. Với những người làm công tác tư tưởng văn hoá thì rõ ràng là các phương pháp cũ sẽ phải được đánh giá lại, xem xét lại và liên tục đổi mới, không phải là chỉ làm cho “có phong cách mới” mà phải nghiên cứu sâu về thực tiễn xã hội mà chúng ta đang sống. Từ những điều cụ thể như tại sao giới trẻ lại lệch chuẩn, tại sao quần chúng không đọc sách và nghiên cứu mà chỉ chăm chú theo dõi MXH? Đến những việc vĩ mô như: Tại sao các nhân vật dân tuý lại được quần chúng lắng nghe và tung hô? Tại sao các ứng cử viên cực hữu trên thế giới lại giành chiến thắng trong bầu cử dù họ mang tư tưởng tân phát xít, siêu bảo thủ, phân biệt chủng tộc? Tại sao tổ chức công đoàn lao động mất vai trò của mình? Tại sao thuật ngữ "đấu tranh giai cấp" không còn được quan tâm và nhiều người tránh né?

Rõ ràng là, cuộc đấu tranh vẫn đang ở phía trước, và các phương pháp đấu tranh của những người XHCN phải được điều chỉnh, suy nghĩ lại để đổi mới thật sự, đổi mới hay là chết! Đơn giản như việc nếu chúng ta phê phán tuổi trẻ rằng “Thanh niên ngày nay không còn mấy ai nghĩ đến việc lên rừng để chịu đựng kham khổ mà cống hiến, lên núi để thấy mình cao hơn” thì họ sẽ hỏi lại rằng “Có còn khu rừng nào? Núi nào đáng để leo lên?”. Vâng, nếu chúng ta không giữ rừng cho họ, không là núi cao cho họ ngưỡng mộ và hướng tới thì họ sẽ chẳng biết làm gì và sẽ tiêu thụ nốt tất cả những gì còn lại của chúng ta mà chẳng làm nên gì cả! 

Việc xem xét lại để đổi mới phương pháp hoạt động chính trị và công tác tư tưởng văn hoá hiện nay của CNXH là hết sức cấp bách. Toàn cầu hoá, hiện đại hoá, lấy kinh tế là trung tâm không thể mang ý nghĩa là việc chúng ta từ bỏ lý tưởng của mình, theo bất cứ cách nào!

Với các bạn trẻ, xin nói rằng: nếu các bạn đọc hết bài viết này, các bạn đã có thể là cảm tình viên của CNXH, nếu hiểu được sâu sắc thì các bạn đã xứng đáng là Đảng viên, và nếu trả lời được các câu hỏi trong bài thì các bạn đã là NHỮNG CON NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA!