Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Tập
trung hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa”[1]. Đây là quá
trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng để thấy
rõ hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung và đặc trưng cơ bản, những việc
cần thực hiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta.
Dưới sự lãnh đạo cua Đảng,
quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản
lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) thực chất là xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (năm
1986) và ngày càng được hoàn thiện. Thực tế 35 năm đổi mới và phát triển nền
kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng,
kinh tế thị trường là con đường phát triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cả một quá trình vừa đổi mới tư duy lý luận, nhất
là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực
tiễn đầy sống động của Việt Nam.
Theo
quan điểm của Đảng, để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội;
xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;
xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc
gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Qua 35 năm thực hiện công cuộc
đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất
nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện.
Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của
quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi
lên với những triển vọng tốt đẹp.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh
tế chưa tương xứng với tiềm năng. Sức cạnh tranh của nền kinh tế còn chưa cao.
Một số nguy cơ vẫn tồn tại đan xen. Xây dựng XHCN là một quá trình, là mục tiêu
mà chúng ta phải đạt tới. Trong quá trình đó, phải từng bước xác lập, tạo ra những điều kiện, những tiền đề của
CNXH, đồng thời tránh nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.
Phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với quy luật phát
triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường là một phạm
trù kinh tế riêng, có tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật
riêng vốn có của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể thời điểm nào của lịch sử.
Song, trong thực tế không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung chung
cho mọi giai đoạn phát triển, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của
xã hội là những nền kinh tế hàng hóa cụ thể. Điều này phù hợp với nhận định của
C.Mác: "sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa là những hiện tượng thuộc
về nhiều phương thức sản xuất hết sức khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan trọng
của chúng không giống nhau... chúng ta hoàn toàn chưa biết một tí gì về những đặc
điểm riêng của những phương thức sản xuất ấy và chúng ta chưa thể nói gì về những
phương thức ấy, nếu như chúng ta chỉ biết có những phạm trù trừu tượng của lưu
thông hàng hóa, những phạm trù chung cho tất cả các phương thức ấy"[2].
Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát
triển kinh tế thị trường cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và
phát triển kinh tế hàng hóa. Đó là sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt
về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa quy định. Có nghĩa là kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ
nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Do vậy, trong chủ
nghĩa tư bản và trong CNXH đều tồn tại kinh tế thị trường, nhưng có những đặc
trưng khác nhau. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư
bản chủ nghĩa, là nền kinh tế thị trường phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản.
Kinh tế thị trường XHCN dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do Đảng Cộng
sản lãnh đạo, mục đích của nền kinh tế thị
trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa bỏ
chế độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Sự lựa chọn mô hình kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam không phải là sự gán ghép chủ quan giữa
kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách
quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay; là sự tiếp thu có chọn lọc
thành tựu văn minh nhân loại, nhằm phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị
trường trong việc phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật
- công nghệ, nâng cao đời sống nhân dân... Đồng thời, hạn chế những mặt tiêu cực
của kinh tế thị trường gây ra.
Nói kinh tế thị trường định
hướng XHCN có nghĩa là nền kinh tế nước ta không phải là nền kinh tế bao cấp,
quản lý theo kiểu tập trung quan liêu; cũng không phải là kinh tế thị trường tự
do theo kiểu tư bản chủ nghĩa; và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường
XHCN. Bởi vì Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, vừa có, vừa chưa có đầy
đủ các yếu tố của CNXH, còn có sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới.
Cần hiểu rõ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa mang tính chất chung của
nền kinh tế thị trường, vừa có tính chất đặc thù vì nó hoạt động trong khuôn khổ
của những nguyên tắc và bản chất của CNXH.
Đại hội lần thứ XIII của Đảng
đã làm sáng tỏ thêm một bước nội dung cơ bản của định hướng XHCN trong phát triển
kinh tế thị trường ở nước ta. Khẳng định định hướng XHCN là một tất yếu, là sự
lựa chọn phù hợp với nội dung của thời đại - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Định hướng XHCN ở nước ta là nhằm mục tiêu
độc lập dân tộc gắn liền với XHCN thể hiện trong toàn bộ các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Đây không chỉ là một tất yếu về chính trị và nguyện vọng mong muốn của
nhân dân ta, mà còn là một tất yếu kinh tế, văn hóa, xã hội. Bởi vậy, trong thời
gian tới việc đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường ở nước ta cần tập trung thực
hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:
1 - Xây dựng, chỉnh đốn,
nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng.
Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là điều kiện
chính trị tiên quyết bảo đảm có một Nhà nước đủ mạnh, trong sạch để quản lý
toàn bộ quá trình phát triển kinh tế thực hiện theo định hướng XHCN. Vì vậy, cần
tăng cường sự thống nhất trong Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ,
phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, chống lợi dụng dân chủ để mưu cầu lợi
ích riêng, cục bộ. Cần xây dựng Đảng thực sự là đội tiên phong của giai cấp
công nhân và của cả dân tộc. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, quán triệt
sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và
kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
cần tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử
thoái hóa, biến chất. Chú trọng xây dựng và củng cố các tổ chức cơ sở đảng,
nâng cao chất lượng đảng viên. không ngừng đào tạo, rèn luyện và kết nạp được
những quần chúng ưu tú vào hàng ngũ của Đảng.
2- Thực hiện phát triển nền
kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó xây dựng kinh tế
nhà nước vững mạnh đủ sức nắm giữ vai trò chủ đạo, cùng với nó là kinh tế tập
thể trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Đồng thời phát huy
cao nhất sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế khác hoạt động lâu dài
trong khuôn khổ của pháp luật tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN.
3- Nâng cao vai trò và hiệu
lực quản lý của Nhà nước, đây là yếu tố quan trọng bảo đảm định hướng XHCN của nền
kinh tế. Do vậy, Nhà nước cần tập trung làm tốt
chức năng định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc thị trường; tạo môi
trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực xã hội
cho phát triển; hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội, hệ thống an sinh xã hội; bảo đảm tính tích cực và bền vững của các cân
đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của kinh tế thị trường.
4- Tích cực đấu tranh phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân.
Đấu tranh chống quan liêu,
tham nhũng, lãng phí trở thành một nhiệm vụ cấp bách trước mắt của toàn Đảng,
toàn dân ta. Do vậy, vấn đề này cần phải được nhìn nhận thẳng thắn, trực diện
và thực hiện một chiến lược triệt để phòng, chống tham nhũng một cách thật sự
hiệu quả với sự tham gia của toàn Đảng, toàn dân và các thành phần kinh tế. Trước
hết là đổi mới, hoàn thiện thể chế và chính sách, giảm bớt và loại bỏ những kẽ
hở; đồng thời luôn luôn giáo dục con người ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện
kiểm soát, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai đối với những
cán bộ, công chức tham nhũng.
5- Thực hiện sự thống nhất,
gắn bó hữu cơ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển ở tất cả các giai đoạn phát triển của kinh tế thị trường.
Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thực hiện tốt vấn đề phân phối, đặc biệt chú trọng
quản lý thật tốt thu nhập cá nhân từ đó xây dựng cơ chế điều tiết phân phối thu
nhập, hình thành nên chính sách phân phối hợp lý, bảo đảm tăng trưởng kinh tế
và tiến bộ, công bằng xã hội.
6 - Xây dựng nền quốc phòng
toàn dân vững mạnh để giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị - xã hội. Để phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN thì lực lượng quốc phòng phải đủ mạnh, phải là công cụ sắc
bén để đủ sức mạnh chủ động đập tan mọi âm mưu phá hoại, xâm lược, chống phá sự
nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong bất cứ tình huống nào, tạo ra môi trường
kinh tế - chính trị - xã hội ổn định, thuận lợi,...cũng là giữ vững định hướng
XHCN.
Những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân đội ta không ngừng trưởng
thành, lớn mạnh, thực sự là đội quân cách mạng, của dân, do nhân dân và vì nhân
dân; luôn luôn “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh
vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn
thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[3], xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”
mà nhân dân đã trao tặng.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông
tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; tính chất, nhiệm vụ của Quân đội
ta có những bước phát triển mới; kế thừa và phát huy bài học kinh nghiệm
qua quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta,
khẳng định: Trong tình hình hiện nay, xây dựng quân đội ta về chính trị,
trước hết phải không ngừng tăng
cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.Trên
cơ sở đó, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc
phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã ban hành nhiều nghị quyết,
chỉ thị, kế hoạch và hướng dẫn nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối
với quân đội.
Để nâng cao chất lượng xây dựng quân đội về chính trị thì phải
tạo được sự đồng thuận cao cả về nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ,
chiến sĩ trong toàn quân. Để làm được điều đó cần thực hiện tốt một
số nội dung cụ thể mà Đại hội đã xác định sau:
Một là, đổi mới công tác giáo
dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có
bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với
Đảng, Nhà nước và Nhân dân có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và
hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Chủ động đấu tranh phòng, chống
những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai là, đẩy mạnh thực hiện
Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ
Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt cuộc vận động với việc học
tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi
đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm
sáng tạo, phù hợp, hiệu quả Tiếp tục thực hiện phong trào thi đua "Dân vận
khéo", góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhân dân
với Đảng.
Ba là, triển khai thực
hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân dội. Huy động, sử dụng
hiệu quả các nguồn lực xã hội trong các hoạt động “đền ơn, đáp nghĩa”, thực
hiện chính sách đối với người có công với cách mạng tạo sức lan tỏa sâu rộng,
giải quyết chính sách tồn đọng sau chiến tranh, đổi mới công tác bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế cho các đối tượng.
Bốn là, chăm lo xây dựng các
tổ chức thanh niên, phụ nữ, cộng đoàn và Hội đồng quân nhân vững mạnh, hoạt
động dùng chức năng, nhiệm vụ. Chỉ đạo thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở,
tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời các vướng mắc, nảy sinh, không để xảy
ra những vấn đề bức xúc, nổi cộm.
Ngày nay, trước sự vận
động, biến đổi của thực tiễn, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị
đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu,
luận giải thấu đáo, có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, bất luận trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh
về chính trị luôn là một nguyên tắc cơ bản, hàng đầu, cần được quan tâm lãnh đạo,
chỉ đạo chặt chẽ. Đây là cơ sở để Đảng, Nhà nước ta tiếp tục vận dụng vào xây dựng
quân đội vững mạnh về chính trị, gắn bó máu thịt
với nhân dân, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội ta thực
sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân,
sẵn sàng nhận, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét