Trên Internet, xuất
hiện luồng quan điểm xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam coi KTTN là một động
lực quan trọng của nền kinh tế là “thừa nhận bóc lột, thừa nhận quan hệ sản
xuất TBCN”, là Đảng đang “từ bỏ mục tiêu CNXH để đi theo quỹ đạo TBCN”. Các đối
tượng cổ xuý rằng, những ai đang tin tưởng đi theo CNXH thì đây là chỉ dấu để
“thay đổi cách nghĩ”, “Đảng thừa nhận sai lầm, thất bại về con đường đi lên
CNXH”. Từ đó, các đối tượng ra sức tung hô, ca tụng thành tựu hào nhoáng của
CNTB, đồng thời miệt thị những nước đi theo CNXH, phỉ báng nền kinh tế Nhà
nước, kinh tế tập thể, ra sức ca tụng KTTN.
Tổ chức khủng bố Việt
Tân tiếp tục ca tụng cái gọi là “văn kiện 50: Việt Nam nửa thế kỷ tụt hậu và
lối thoát cho tương lai”, cho rằng Đảng phải giảm vai trò của nhà nước trong
kinh tế, phải “bỏ đuôi theo định hướng XHCN” để cạnh tranh lành mạnh, nền KTTN
mới có sáng tạo, giới trí thức mới sẵn sàng đóng góp cho những công trình
nghiên cứu công nghệ cao. Từ việc tung hô kinh tế tư bản tư nhân, chúng bôi lem
đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam, vu cáo nửa thế kỷ tụt hậu do sai lầm của
Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó đòi Đảng “phải thừa nhận đã bất lực trong việc
đưa đất nước đi lên thoát cảnh nghèo đói, lạc hậu”.
Với luận điệu sai
trái đó, các đối tượng quy kết rằng, muốn chuyển đổi xã hội, Đảng Cộng sản Việt
Nam không có lựa chọn nào khác là dân chủ hoá đất nước, xoá bỏ chủ nghĩa Mác –
Lênin, thay đổi thể chế!
Những luận điệu sai
trái nói trên vốn quá cũ kỹ, nay chỉ là chiêu trò làm nóng vấn đề, thổi phồng
sự việc khi Đảng ta đưa ra các chủ trương, đường lối xác định vai trò quan
trọng của KTTN trong giai đoạn phát triển mới. Ở đây cần thấy rằng, việc thừa
nhận và tạo điều kiện cho KTTN phát triển là yêu cầu khách quan. Dựa trên lý
luận kinh tế của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam,
chúng ta có đủ cơ sở khoa học để khẳng định rằng, chủ trương phát triển KTTN
không phải là từ bỏ mục tiêu CNXH mà ngược lại là sử dụng chính KTTN để tạo
động lực phát triển, rút ngắn chặng đường ở thời kỳ quá độ (TKQĐ) đi lên CNXH.
Chủ nghĩa Mác-Lênin
đã chỉ rõ, trong TKQĐ cần thiết phải sử dụng các thành phần kinh tế phi XHCN
cho mục đích xây dựng CNXH. Về xây dựng quan hệ sản xuất trong TKQĐ lên CNXH, Lênin
chỉ ra một số hình thức CNTB nhà nước như tô nhượng, đại lý, cho thuê xí
nghiệp, khu mỏ... Cả về lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga Xô viết,
Lênin cũng đã chỉ dẫn rằng, trong TKQĐ cần phải sử dụng cả thành phần kinh tế
phi XHCN như tư bản nhà nước, tư bản tư nhân cho mục tiêu phát triển lực lượng
sản xuất, coi đó là biện pháp tối ưu để khơi dậy động lực, giải phóng sức sản
xuất, tăng năng suất lao động… Nhờ đó, Liên Xô thời kỳ đó giải quyết được khó
khăn kinh tế sau chiến tranh, đồng thời từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho
CNXH.
Ở nước ta, nền kinh
tế thị trường được xác định là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, cùng phát
triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Cần thấy rằng, Việt Nam thừa
nhận KTTN, coi đây là động lực phát triển song không đồng nghĩa với xác lập địa
vị thống trị của quan hệ sản xuất TBCN. Thừa nhận KTTN không có nghĩa là chúng
ta thừa nhận bóc lột và tạo điều kiện cho quan hệ bóc lột được hiện diện trong
các quan hệ kinh tế ở nước ta. Mục tiêu nhất quán của cách mạng nước ta là xóa
bỏ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”.
Và để KTTN phát triển
lành mạnh, là động lực của nền kinh tế nhưng không gây ra các hệ luỵ tiêu cực
như bất công, bóc lột, chèn ép sức lao động… đòi hỏi phải được quản lý theo
định hướng XHCN, đó là điểm khác biệt với việc để KTTN phát triển một cách tự
nhiên, không kiểm soát. KTTN được tự do cạnh tranh bình đẳng trong khuôn khổ
thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do vậy, quan hệ sản xuất hình thành
trong thành phần KTTN phải chịu sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều tiết
của Nhà nước nhằm giữ vững định hướng XHCN.
Đồng thời cần thấy
rằng, việc coi KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế không đồng nghĩa
từ bỏ hay coi nhẹ vai trò của kinh tế Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng định
hướng rõ sự phát triển của từng thành phần kinh tế ở nước ta, trong đó chỉ rõ:
“Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không
ngừng được củng cố, phát triển; KTTN là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển”.
Vai trò của từng
thành phần kinh tế được xác lập theo đúng tính chất, vị trí. Thành phần kinh tế
nhà nước nắm giữ nguồn lực vật chất quan trọng, then chốt được khẳng định là
công cụ, lực lượng vật chất để nhà nước ổn định vĩ mô, điều tiết, dẫn dắt thúc
đẩy phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường.
KTTN được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật
không cấm, trong đó có khuyến khích sự hợp tác liên kết với doanh nghiệp nhà
nước, hợp tác xã, kinh tế hộ gia đình, ngoài ra còn khuyến khích phát triển các
công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của người lao động.
Như vậy, cần hiểu
đúng về vai trò, vị trí của KTTN và mối quan hệ của KTTN trong các thành phần
kinh tế ở nước ta. KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế song phải
đảm bảo tính định hướng XHCN. Do đó, thành phần KTTN cũng không thuần túy như
trong chế độ TBCN mà có sự đan xen, giao thoa, liên kết, hợp tác với các thành
phần kinh tế XHCN, đảm bảo cùng tương hỗ nhau để phát triển, vì mục đích xây
dựng nền kinh tế Việt Nam vững mạnh. Đó là những cơ sở về lý luận và thực tiễn
bác bỏ các luận điệu sai trái của các thế lực xấu khi Đảng ta xác định vai trò
quan trọng của KTTN trong giai đoạn phát triển mới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét