Thứ Hai, 21 tháng 4, 2025

VÌ SAO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRỞ THÀNH NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM?

     “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta”; Tư tưởng của Người trở thành “tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”!

Từ thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định, “chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”. Điều đó xuất phát từ những lý do sau:

Một là, Tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng lý luận của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất, nhà tan, Người đã phải trải qua bao nỗi đắng cay, khổ cực của người dân nô lệ. Nhiều phong trào đấu tranh yêu nước chống thực dân Pháp của Nhân dân ta đã nổ ra, nhưng tất cả đều bị đàn áp đẫm máu và lần lượt thất bại. Hồ Chí Minh nhận thấy rằng, sở dĩ các phong trào đấu tranh kháng Pháp thất bại, là do thiếu con đường và phương pháp cách mạng đúng đắn, không phù hợp với thực tiễn lịch sử. Do đó, Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết ở sự lựa chọn hướng đi mới. Người không sang phương Đông “truyền thống”, mà đi sang phương Tây - nơi sinh ra chủ nghĩa thực dân, những kẻ áp bức các dân tộc thuộc địa, đồng thời cũng là nơi phát sinh ra những trào lưu tư tưởng cách mạng, điển hình là tinh thần tiến bộ của Cách mạng Pháp đòi “Tự do, bình đẳng, bác ái” cho con người.

Trải qua quá trình bôn ba tìm đường cứu nước đầy khó khăn, gian khổ, Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin - “Chiếc cẩm nang thần kỳ” chỉ ra con đường cách mạng giải phóng dân tộc và phát triển đất nước, đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Mặc dù coi hệ thống lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin là cái “cẩm nang thần kỳ”, nhưng từ sự quan sát, nghiên cứu thực tiễn hoàn cảnh lịch sử của các nước thuộc địa, Người cho rằng, nhiều vấn đề lý luận của các nhà kinh điển đưa ra chỉ đúng đối với điều kiện Châu Âu, mà Châu Âu không phải là cả thế giới. Cho nên, Người đưa ra quan điểm cần phải nghiên cứu, bổ sung và phát triển lý luận tổng kết thực tiễn, để vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn.

Trên quan điểm đó, Hồ Chí Minh đã có sự nhìn nhận, bổ sung, phát triển lý luận và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó là các vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp; về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa; về mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Đặc biệt là sự bổ sung và phát triển lý luận của Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng một chính đảng mác xít ở Việt Nam - một nước thuộc địa và phong kiến kém phát triển; về phương pháp tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất; về vấn đề xác định thời cơ và chớp thời cơ, phát động khởi nghĩa giành chính quyền...v.v. Đó là những quan điểm lý luận mới mẻ, không dễ được thừa nhận lúc bấy giờ, nhưng những quan điểm của Người đã được vận dụng, kiểm nghiệm bằng thực tiễn cách mạng và được khẳng định là hoàn toàn đúng đắn.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng 8 năm 1945, sự ra đời của nhà nước Việt Nam – Nhà nước Dân chủ Cộng hòa đầu tiên ở Châu Á, là minh chứng sinh động về tính đúng đắn, sáng tạo, khoa học về tư duy cách mạng đổi mới và sáng tạo của Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Tư tưởng cách mạng sáng tạo của Người tiếp tục chỉ đạo, dẫn dắt dân tộc ta giành thắng lợi oanh liệt trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, để non sông thu về một mối, Bắc – Nam sum họp một nhà, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Hai là, Tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng lý luận của công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Theo Người, trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xóa bỏ cái cũ, tức là xóa bỏ chế độ thực dân và phong kiến và mọi tàn tích của nó, để xây dựng chính quyền cách mạng và thành lập nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đây là công việc cực kỳ to lớn, nặng nề, phức tạp và khó khăn. Vì vậy, Người căn dặn đội ngũ cán bộ cách mạng phải linh hoạt, sáng tạo, kiên trì, kiên định và kiên quyết, có kế hoạch tỉ mỉ, chu đáo, có phương châm, phương pháp phù hợp, mới có thể giành thắng lợi.

Quan điểm “cách mạng là đổi mới” của Người còn được thể hiện trong nhiều tác phẩm, bài viết như tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, “Đời sống mới” (1947); “Dân vận” (1949), đặc biệt là trong bản Di chúc (1965-1969). Các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh đã toát lên một hệ thống luận điểm có giá trị nền tảng và định hướng về đổi mới.

Thứ nhất, về bản chất và mục tiêu của đổi mới: Hồ Chí Minh chỉ rõ, bản chất của đổi mới là một cuộc cách mạng toàn diện “phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Mục tiêu “đổi mới” nhằm phục vụ sự phát triển đất nước, phục vụ Nhân dân.

Thứ hai, về triết lý đổi mới: đổi mới phải mang lại “ích nước, lợi dân”. Đó là chân lý phải hướng tới, Người nhấn mạnh: “Chân lý là cái gì có lợi cho tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của tổ quốc, của Nhân dân tức là không phải chân lý”.

Thứ ba, về phương châm đổi mới: “Việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Đổi mới là sự nghiệp lâu dài, phức tạp, gian khổ; phải kiên định, kiên trì, kiên quyết, lựa chọn bước đi thích hợp, không nôn nóng chủ quan mới giành thắng lợi. Phương châm kế hoạch phải chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, thực hiện chắc chắn.

Thứ tư, về nguyên tắc đổi mới: Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới không phải là phủ định sạch trơn, mà là sự kế thừa và phát triển; cái cũ mà xấu thì phải bỏ, cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý, cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm, cái gì mới mà hay thì phải làm.

Thứ năm, về lực lượng tiến hành đổi mới: Là dựa vào dân, sức mạnh của đổi mới là sức mạnh của nhân dân. Phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, theo tinh thần cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.

Thứ sáu, về vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới: Đảng là linh hồn, là người lãnh đạo là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới. Đảng phải kịp thời nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm thế giới vào điều kiện cụ thể Việt Nam cho phù hợp; bổ sung những vấn đề chưa có trong lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền lãnh đạo đất nước, đại diện cho quyền lợi của dân tộc, Đảng phải luôn luôn có ý thức tự chỉnh đốn, tự đổi mới, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, xứng đáng “là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”.

Có thể nói, hệ thống quan điểm lý luận về đổi mới của Hồ Chí Minh được diễn đạt giản dị, dễ hiểu nhưng hàm chứa chiều sâu, tầm cao về trí tuệ thời đại và sự vận dụng linh hoạt lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin; sự kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa tri thức dân tộc và nhân loại vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Ba là, Tư tưởng Hồ Chí Minh - nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Mùa Xuân năm 1975, đất nước Việt Nam đã được thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, việc khắc phục hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh khốc liệt, kéo dài còn chưa hoàn thành, cuộc khủng hoảng nghiêm trọng của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã xảy ra, làm ảnh hưởng lớn, nhiều mặt đối với nước ta. Bên cạnh đó, sự bao vây cấm vận, chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước... làm cho tình hình kinh tế - xã hội nước ta vốn đã kiệt quệ, lại càng thêm khó khăn chồng chất.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, những thử thách nghiệt ngã của lịch sử, Đảng nhận định: “Đối với nước ta, đổi mới càng là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn”.

Báo cáo Chính trị của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI khẳng định: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Với những thành tựu đạt được của đường lối đổi mới, đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), từ tư duy đến hành động, Đảng ta đã quyết định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” trong công cuộc đổi mới. Đó chính là sự quyết định đúng đắn, sáng suốt của Đảng.

Từ khi coi tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng, công tác nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Từ Đại hội X đến Đại hội XII của Đảng đã ban hành các chỉ thị, hướng dẫn về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và coi đó là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Trải qua một chặng đường dài đầy gian nan nhưng cũng rất vẻ vang của sự nghiệp đổi mới, Đảng ta khẳng định: “Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”. Cụ thể: “Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được duy trì ở mức khá cao; tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên. Các lĩnh vực xã hội, môi trường có nhiều tiến bộ. Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, triển khai toàn diện, đồng bộ, hiệu quả…. vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao”.

Trong những nguyên nhân quyết định đến thắng lợi vĩ đại của công cuộc đổi mới đất nước, chính là có đường lối đúng đắn của Đảng, đó là kiên định nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự vận dụng linh hoạt và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam trong điều kiện và hoàn cảnh mới. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành động lực, nguồn sức mạnh to lớn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và mọi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÀI VIẾT CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC LƯƠNG CƯỜNG NHÂN KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC!

     Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ nhưng những bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn!

Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường đã có bài viết chia sẻ về những bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh trong kỷ nguyên mới.

Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết:

THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC - BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VỮNG MẠNH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, là một thắng lợi vĩ đại của lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”[1]. Thắng lợi vĩ đại đó đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả của nhiều nhân tố, đó là: Sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chiến tranh, phương pháp cách mạng đúng đắn; là tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta trong suốt 21 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ, hy sinh; là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự chi viện to lớn của hậu phương miền Bắc và ý chí quật khởi của tiền tuyến lớn miền Nam; là tình đoàn kết chiến đấu, gắn bó keo sơn giữa ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia, cùng với sự giúp đỡ to lớn, quý báu của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Đóng góp vào thắng lợi vĩ đại đó có những chiến công xuất sắc của lực lượng vũ trang nhân dân, sự hy sinh của hàng triệu anh hùng, liệt sỹ. Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12/1976) ghi nhận: “Đại hội tuyên dương cán bộ, chiến sỹ các lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, suốt mấy chục năm ròng đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, từ gậy tầm vông, súng kíp đã lớn lên thành những binh đoàn hùng mạnh, đánh thắng những kẻ thù hung ác, lập được những chiến công oanh liệt từ trận Điện Biên Phủ đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, làm rạng rỡ truyền thống vẻ vang của quân đội ta, cùng với toàn dân viết nên bản anh hùng ca kỳ diệu của chiến tranh cách mạng Việt Nam!”[2].

Để thực hiện thành công những nhiệm vụ chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân phát triển lớn mạnh, làm nòng cốt cùng toàn dân chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ, nhưng những bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, nổi bật:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân.

Đây không chỉ là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà còn là nguyên tắc bất di, bất dịch trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, Nhà nước ta. Ngay trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 mở rộng (tháng 3/1957) đã ra Nghị quyết về vấn đề xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Nghị quyết xác định phương châm “tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hóa và hiện đại hóa”[3] và xác định xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, Nghị quyết chỉ rõ: “yếu tố quyết định là cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ”[4].

Thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự đùm bọc, nuôi dưỡng, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã liên tục phát triển, ngày càng lớn mạnh, có đủ các thành phần, lực lượng Lục quân, Hải quân, Phòng không - Không quân và các quân đoàn chủ lực; cùng các lực lượng khác và toàn dân tạo nên sức mạnh tổng hợp lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Mỹ-Ngụy.

Cùng với lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng Công an nhân dân và Dân quân tự vệ. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng Công an nhân dân thành lực lượng chuyên chính tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, liên hệ mật thiết với quần chúng, một lực lượng chiến đấu vững mạnh, có tính chất vũ trang, có tổ chức chặt chẽ, tinh thông về nghiệp vụ và có trình độ khoa học, kỹ thuật; đặt lực lượng Công an nhân dân dưới sự lãnh đạo “trực tiếp, toàn diện và thống nhất về mọi mặt”[5] của Đảng.

Đối với lực lượng Dân quân tự vệ, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta chủ trương “lấy củng cố làm chủ yếu, đồng thời phát triển từng bước vững chắc ở khắp mọi nơi, trọng tâm là các vùng xung yếu," “các xí nghiệp, công, nông trường mới xây dựng đều phải có tổ chức tự vệ, có cán bộ phụ trách chỉ đạo chặt chẽ”[6]; theo đó, lực lượng Dân quân tự vệ được xây dựng, phát triển vững chắc, rộng khắp, vừa bảo đảm lao động sản xuất, vừa bảo đảm nhiệm vụ trị an, tác chiến khi cần thiết.

Dự báo thời gian tới, tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo. Trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là tiền đề quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, đất nước còn phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới, nhất là những hạn chế, yếu kém, mâu thuẫn, trong xã hội chưa được giải quyết dứt điểm; các thế lực thù địch tăng cường chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Tình hình đó đòi hỏi việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc càng trở nên cấp thiết, có ý nghĩa quyết định quá trình phát triển, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của lực lượng vũ trang nhân dân.

Bối cảnh mới đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị bằng những chủ trương, giải pháp quyết liệt, đồng bộ, không ngừng, không nghỉ, toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Cùng với nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, Đảng, Nhà nước tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, gắn với xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân, gắn với tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới; không để bị bị động, bất ngờ trước mọi tình huống.

Hai là, đặc biệt coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần của lực lượng vũ trang nhân dân.

Quán triệt sâu sắc luận điểm của V.I.Lênin: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”[7] và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”[8], Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng công tác xây dựng và phát huy nhân tố chính trị, tinh thần của lực lượng vũ trang nhân dân và toàn dân, đặc biệt là trong cuộc kháng chống Mỹ, cứu nước, khi mà quân và dân ta phải chiến đấu chống lại kẻ thù hung bạo, có tiềm lực kinh tế và quân sự bậc nhất thế giới.

Đảng ta chỉ rõ: “Về mặt tư tưởng, phải quán triệt hơn nữa quan điểm trường kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh nhất định thắng lợi; phải bồi dưỡng ý chí kiên cường, tinh thần anh dũng chiến đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm giết giặc cứu nước, tiến tới hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; phải đề cao cảnh giác, khéo léo bảo toàn và che giấu lực lượng, chống phiêu lưu mạo hiểm, nóng vội; phải giáo dục ý thức thắng không kiêu, bại không nản”[9].

Để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, ác liệt, Đảng ta chủ trương trước hết phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, tiến hành chỉnh huấn chính trị trong toàn quân, củng cố lập trường giai cấp công nông, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần yêu nước kết hợp chặt chẽ với tinh thần quốc tế chân chính, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng và bồi dưỡng chí khí chiến đấu; khắc phục tư tưởng giảm sút ý chí chiến đấu, công thần, kiêu ngạo, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật. Do xây dựng được nhân tố chính trị, tinh thần vững chắc, lực lượng vũ trang nhân dân đã không sợ gian khổ, hy sinh, không chịu khuất phục trước kẻ thù hung bạo, chiến đấu anh dũng, mưu trí, sáng tạo, lập nên những chiến công hiển hách, cùng toàn dân giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; làm rạng danh đất nước, con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân được tạo nên bởi nhiều nhân tố; trong đó, nhân tố chính trị, tinh thần là cơ bản nhất. Quán triệt quan điểm “Người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tình hình hiện nay tiếp tục xác định xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là vấn đề có tính nguyên tắc, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân. Quán triệt nguyên tắc này, trước hết, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân về chủ trương, đường lối quân sự, quốc phòng, an ninh của Đảng. Trên cơ sở thấu triệt quan điểm “bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên," lực lượng vũ trang nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, thường xuyên nắm chắc tình hình, tham mưu và trực tiếp xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không để bị động bất ngờ, ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, mất an ninh, trật tự, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Trước sự xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới, Quân ủy Trung ương-Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Công an Trung ương - Bộ Công an và cấp ủy, chỉ huy, chính quyền các cấp cần đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân về mọi mặt; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân đủ về số lượng, có tổ chức, cơ cấu, thành phần đồng bộ, cân đối, hợp lý, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Nghị quyết của Bộ Chính trị (họp từ ngày 6 đến ngày 10/12/1962) về tình hình, phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam đã đề ra phương châm xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở miền Nam, trong đó xác định: “Phát triển rộng rãi du kích và dân quân, nâng cao chất lượng của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương”[10]; đồng thời, xác định rõ phương hướng và số lượng cụ thể của mỗi thứ quân cần tập trung xây dựng ở miền Nam.

Trong cuộc kháng chiến này, Đảng, Nhà nước ta xây dựng, phát triển bộ đội chủ lực gồm các binh chủng và quân chủng. Trong đó, xây dựng các quân đoàn chủ lực làm lực lượng nòng cốt trên chiến trường miền Nam. Quân chủng Phòng không-Không quân, Quân chủng Hải quân được xây dựng và phát triển ngày càng lớn mạnh, cùng nhân dân và các lực lượng khác đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Cùng với đó là việc tổ chức, phát triển các mặt trận, các khối chủ lực lớn ở các khu, bộ đội vận tải chiến lược trên đường Trường Sơn, đã làm cho bộ đội chủ lực thực sự là lực lượng chủ yếu để thực hiện chiến lược làm chủ và tiến công tiêu diệt địch trên cả nước, cùng toàn dân chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, bộ đội địa phương được xây dựng và phát triển nhanh chóng trên cả nước, có sự phát triển về chất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên miền Bắc, bộ đội địa phương được xây dựng đáp ứng với nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa với nhiều đơn vị bộ binh, phòng không, công binh, pháo binh được thành lập… Trên chiến trường miền Nam, tất cả các quận, huyện, thị xã, tỉnh, thành phố đều tổ chức bộ đội địa phương để phát triển đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, phát triển ba mũi giáp công (quân sự, chính trị và binh vận) trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị).

Dân quân tự vệ được phát triển rộng khắp theo nguyên tắc có tổ chức đảng lãnh đạo, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, công trường, nông trường, nhà máy, xí nghiệp, với quy mô vừa và nhỏ, phù hợp với các loại hình chiến tranh khác nhau, các tình huống khác nhau.

Việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã bảo đảm sự cân đối giữa các thứ quân, lực lượng, phù hợp với sự phát triển của đấu tranh vũ trang cách mạng, với vị trí chiến lược của từng thứ quân, phù hợp với đường lối chiến tranh nhân dân trong từng thời kỳ, trên từng chiến trường và trên cả nước. Mỗi thứ quân, mỗi lực lượng được huấn luyện, rèn luyện toàn diện, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác, tạo nên sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân, cùng toàn dân làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Ngày nay, trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, lực lượng vũ trang nhân dân cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh, sắp xếp, tổ chức lại, bảo đảm chất lượng, có số lượng, thành phần, tổ chức, cơ cấu phù hợp. Theo đó, lực lượng vũ trang nhân dân cần quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm, hiệu quả chủ trương của Đảng, Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; về xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, nhất là Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo, Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tiếp tục điều chỉnh tổ chức Quân đội nhân dân theo hướng tinh, gọn, mạnh gắn với bố trí lại lực lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân và khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị; điều chỉnh tổ chức bộ máy Công an nhân dân theo hướng bộ tinh, tỉnh toàn diện, xã vững mạnh, bám cơ sở; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng miền, trên biển. Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự, trình độ kỹ, chiến thuật, giáo dục chính trị, rèn luyện toàn diện gắn với bảo đảm tốt hậu cần, kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cho lực lượng vũ trang, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bốn là, bảo đảm tốt vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân; tích cực nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn nghệ thuật quân sự Việt Nam đáp ứng các loại hình chiến tranh và thực tiễn phát triển của đối tượng tác chiến.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với quan điểm “Người trước, súng sau," Đảng, Nhà nước ta luôn xác định vũ khí, trang bị là nhân tố cơ bản, tạo nên sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Trên cơ sở đó, Đảng, Nhà nước ta có nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác cải tiến, bảo đảm vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật cho lực lượng vũ trang theo phương hướng: “kết hợp vũ khí thô sơ, vũ khí thông thường và vũ khí tương đối hiện đại, tiến lên ngày càng hiện đại”[11]. Các biện pháp chính để cải tiến, bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn này là: mua sắm, nhận viện trợ, tự sản xuất trong nước, thu gom của địch; đồng thời, sử dụng thành thạo, sáng tạo các vũ khí, trang bị hiện có với hiệu suất cao. Nhờ đó, lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân đã có một hệ thống vũ khí, trang bị tương đối đồng bộ, tương đối hiện đại, bảo đảm cho chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu được nâng lên, đủ sức đánh bại kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt trội về vũ khí, trang bị.

Song song với bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu, phát triển và vận dụng sáng tạo, linh hoạt, nhuần nhuyễn nghệ thuật quân sự phù hợp trong điều kiện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Quy luật phát triển của cuộc kháng chiến này ở miền Nam là kết hợp đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, kết hợp chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang, tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ. Trong đó, đấu tranh vũ trang giữ vai trò quyết định và chi phối trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến bằng những chiến dịch quân sự quy mô lớn. Các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân đã vận dụng linh hoạt, mềm dẻo và không ngừng sáng tạo nghệ thuật tác chiến trong từng trận đánh, từng chiến dịch, nhất là nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng, nghệ thuật cơ động lực lượng, nghệ thuật tạo lập thế trận, nghệ thuật nghi binh, nghệ thuật chọn hướng, mũi, mục tiêu tiến công và cách đánh… tạo nên ưu thế vượt trội về sức mạnh để giành chiến thắng từng bước, tiến đến thắng lợi cuối cùng.

Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, an ninh thế hệ mới, hiện đại cho lực lượng vũ trang trở thành xu thế của nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện đại hóa lực lượng vũ trang, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta, phù hợp với điều kiện, tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và xu thế phát triển khoa học kỹ thuật quân sự, an ninh trên thế giới.

Để hiện thực hóa chủ trương đó, cùng với xây dựng con người là nhân tố trung tâm, có ý nghĩa quyết định, cần quan tâm bảo đảm tốt vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân, mà giải pháp có tính bền vững lâu dài là phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh. Tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối về phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh với phương châm chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, bảo đảm tốt vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang trong mọi tình huống. Đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm thế giới để phát triển nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới.

Năm là, xây dựng và phát triển mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, cùng toàn dân thực hiện thắng lợi đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân. Dựa chắc vào nhân dân, tuyệt đối trung thành, phục vụ nhân dân và đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân vừa là nguyên tắc căn bản trong nâng cao bản chất cách mạng, tính nhân dân và tính dân tộc của lực lượng vũ trang, vừa là nét đẹp truyền thống quý báu của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra là nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi”[12].

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sự nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che, giúp đỡ của nhân dân, được nhân dân cung cấp nhân lực và vật lực với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” đã giúp lực lượng vũ trang nhân dân nhanh chóng phát triển lớn mạnh. Nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 12/1962) xác định: “Quá trình phát triển của cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là quá trình phát triển của một cuộc chiến tranh du kích, toàn dân, toàn diện và trường kỳ, chống lại một kẻ địch mạnh, tàn bạo và thâm độc”[13]. Vì vậy, xây dựng và phát triển bền vững mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, cùng toàn dân chiến đấu và chiến thắng không chỉ là vấn đề có tính nguyên tắc, mà còn là sách lược chủ yếu để thực hiện thắng lợi đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm 1959-1960, lực lượng vũ trang đã hỗ trợ đắc lực cho nhân dân miền Nam vùng lên, tiến hành phong trào Đồng khởi, làm chủ nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Trong những năm đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), quân và dân miền Nam đẩy mạnh phương châm đấu tranh “hai chân, ba mũi," kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; đồng thời, vận động đồng bào trong các ấp chiến lược đấu tranh, kết hợp với các đòn tiến công quân sự và binh vận, phá vỡ kế hoạch lập ấp chiến lược của Mỹ - ngụy. Khi đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” (1965-1968), quân và dân ta tiếp tục thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, chủ động tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, đồng thời đánh thắng các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là những biểu tượng sinh động nhất của sức mạnh toàn dân kháng chiến với lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ cần không ngừng phát huy truyền thống vẻ vang, đặc biệt là xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân, bảo vệ nhân dân. Phát huy bản chất, truyền thống và thành tựu đã đạt được lực lượng vũ trang nhân dân cần tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác dân vận bằng những việc làm thiết thực nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và cuộc sống bình yên của nhân dân; xung kích đi đầu trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, sẵn sàng có mặt ở những nơi xung yếu, hiểm nguy để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng lực lượng vũ trang và nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh, phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Khẳng định sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng với yêu cầu cao của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Lực lượng vũ trang nhân dân đã làm tròn sứ mệnh cao cả, cùng toàn dân hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có những bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng và phát huy hơn nữa, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới./.
--------------------
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 471.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 37, tr. 474.
[3]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,tập 18, tr. 287.
[4]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 18, tr. 300.
[5]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 22, tr. 257.
[6]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 22, tr. 243.
[7] V.I.Lênin,Toàn tập,tập 41, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005,tr. 147.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4,tr. 89.
[9]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 23, tr. 147.
[10]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 23, tr. 831.
[11]Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 338.
[12] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 4,tr. 448.
[13]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 23, tr. 81.


Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: 🇻🇳NỤ CƯỜI CHIẾN THẮNG 🇻🇳

     Bà Võ Thị Thắng sinh ra tại xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, Long An. Năm 11 tuổi, bà đã tham gia đưa thư liên lạc cho cách mạng. Lớn lên, bà tham gia phong trào đấu tranh xuống đường của thanh niên sinh viên, học sinh Sài Gòn Gia Định; gây dựng cơ sở, xây dựng căn cứ chính trị nội thành, chuẩn bị vào đợt Mậu thân 1968.
Trong một lần ám sát hụt một tên mật thám, bà bị bắt. G.iặc khiếp sợ trước khí chất gan dạ của người con gái tuổi 20 nên tức tối hằn giọng buộc tội bà: "... Võ Thị Thắng, cựu nữ sinh Gia Long, có thể nói là duyên dáng - với gương mặt thùy mị dịu dàng, nhưng không ngờ hành động của cô ta lại hoàn toàn trái ngược với gương mặt đó, nhất là thái độ vô lễ của cô ta khi đứng trước tòa án... Đề nghị chiếu theo luật 10/59 tòa cho xử mức án tối đa...". 

Võ Thị Thắng đã bị buộc các tội "phản nghịch", "phá rối trị an" và "cố sát” nhưng “do thái độ quá ngoan cố” nên bị tòa tuyên án 20 năm khổ sai. Đáp lại lời hả hê tự đắc của thành viên Hội đồng xét xử: "Vậy là cuộc đời cô nữ sinh kể từ đây chôn vùi trong khám tối", bà Thắng đanh thép vặn lại: "Liệu chính quyền các ông có tồn tại đến 20 năm để cầm tù tôi không?".

Và nụ cười rực rỡ, hiên ngang của cô nữ sinh trẻ tuổi đã được một phóng viên người Nhật kịp ghi lại./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 140.000 NHÂN SỰ CẤP HUYỆN VỀ XÃ, CẦN TỔ CHỨC SÁT HẠCH CÔNG KHAI, CÔNG BẰNG!

     Ban Chỉ đạo về sắp xếp đơn vị hành chính quy định chuyển 100% biên chế cấp huyện hiện có về cấp xã.

Ngoài số biên chế cấp huyện, có thể tăng cường cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh về cấp xã. Chỉ riêng cấp huyện, tính trung bình mỗi huyện có khoảng 150 đến 200 cán bộ, công chức, viên chức, cả nước có khoảng 140.000 người. 

Cấp xã có 212.606 cán bộ, công chức, cộng số nhân sự điều chuyển từ huyện về, tổng số biên chế cấp xã khoảng 352.600 người.

Ban Chỉ đạo sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp vừa ban hành Công văn số 03/CV-BCĐ về định hướng một số nhiệm vụ trong sắp xếp đơn vị hành chính. Trong đó có nội dung, dự kiến số lượng biên chế mỗi xã không quá 40 cán bộ, công chức, tập trung cho công chức trực tiếp đảm nhiệm các lĩnh vực công tác xây dựng Đảng, công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, công tác chính quyền.

Dự kiến sẽ sắp xếp giảm 60% - 70% đơn vị hành chính cấp xã, từ 10.035 còn khoảng 3.000 - 4.000 xã, phường. Với số lượng biên chế mỗi xã, phường là 40 cán bộ, công chức, như vậy con số dôi dư là rất lớn. Tuy nhiên, trong tổng số dôi dư trên, có nhiều cán bộ, công chức phải thôi việc do không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Trước mắt, theo quy định của Dự thảo Luật Cán bộ, công chức sửa đổi, có hơn 16.150 cán bộ, công chức cấp xã không đạt yêu cầu của vị trí việc làm. Những người này có thể được hưởng chính sách hỗ trợ thôi việc gần 1 tỉ đồng/người. Ngoài số nhân sự này, còn có nhiều người đến tuổi nghỉ hưu, những người này không còn thời gian công tác nhiều, có thể được cho nghỉ hưu sớm.

Nhưng số dôi dư vẫn còn nhiều, cần có nhiều người chủ động xin thôi việc để tạo điều kiện cho công tác sắp xếp được thuận lợi. Những người gần đến tuổi nghỉ hưu, xin về sớm là phù hợp. Những người không đủ năng lực đáp ứng với yêu cầu công tác, xin thôi việc là tỉnh táo, vì trước sau cũng không cạnh tranh được với người giỏi hơn.

Đối với số cán bộ, công chức còn lại, cần tổ chức sát hạch công khai, công bằng. Tổ chức sát hạch công bằng là tất cả cán bộ, công chức cấp huyện và cấp xã cùng tham gia, không chỉ cán bộ cấp xã. Không nên mặc định công chức huyện là giỏi hơn công chức xã. Từ kết quả sát hạch, người được tuyển chọn tự hào vì mình xứng đáng, còn người ra về cũng tâm phục khẩu phục./.
Môi trường ST.

KỶ 50 NĂM GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC: NGÀY 21/4/1975 - THỊ XÃ XUÂN LỘC VÀ TOÀN TỈNH LONG KHÁNH HOÀN TOÀN GIẢI PHÓNG!

     Ngày 21/4/1975, thị xã Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh hoàn toàn giải phóng. Ban Bí thư gửi điện cho Thường vụ Trung ương Cục bức điện số 178 chỉ đạo về công tác tiếp quản Sài Gòn.

Để chuẩn bị cho công tác tiếp quản Sài Gòn, ngày 21/4/1975, Ban Bí thư gửi Thường vụ Trung ương Cục bức điện số 178, trong đó khẳng định: “Công tác tiếp quản Sài Gòn chẳng những có ý nghĩa quan trọng, biểu thị trình độ chính trị và trình độ tổ chức của chính quyền cách mạng đối với nhân dân thành phố, mà còn đối với cả thế giới nữa”.

Ngày 21/4/1975, thị xã Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh được giải phóng. “Cánh cửa thép” phía đông trên đường tiến vào Sài Gòn bị vỡ, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở chung quanh Sài Gòn. Sau thắng lợi này, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 họp bàn các nhiệm vụ tiếp theo của Quân đoàn do trên giao.

Sư đoàn 325 và các lực lượng của khối đi đầu của Quân đoàn 2 tiến vào Xuân Lộc vào vị trí tập kết ở rừng Ông Quế (phía Nam thị xã 8 km).

Cùng ngày, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 về tới địa điểm tập kết tại Củ Chi, chuẩn bị các công tác để tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

20 giờ ngày 21/4/1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ra lệnh cho các đơn vị vượt sông Sài Gòn.

Cùng ngày, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 3 ra chỉ thị “Về công tác chính trị Chiến dịch Hồ Chí Minh” xác định các nội dung chủ yếu công tác chiến dịch làm cơ sở cho các đơn vị, cơ quan triển khai thực hiện hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu trong trận quyết chiến chiến lược lịch sử này.

Ngày 21/4/1975, Tư lệnh Pháo binh Chiến dịch Hồ Chí Minh báo cáo với Bộ Tư lệnh chiến dịch kế hoạch sử dụng pháo binh. Theo đó, tính đến ngày 20/4/1975, lực lượng pháo binh ta tham gia chiến dịch có 55 tiểu đoàn, 789 khẩu, bố trí thành 30 cụm gồm 3 cụm pháo binh chiến dịch, sáu cụm pháo quân đoàn, 12 cụm pháo sư đoàn, 9 cụm pháo trung đoàn bộ binh. Mỗi binh đoàn thọc sâu có ít nhất 2 đại đội pháo 85 và 122 hoặc 105 ly.

Trong hai ngày 21 và 22/4/1975, Tổng cục Chính trị trình Thường trực Quân ủy Trung ương các báo cáo về tình hình chấp hành kỷ luật ở một số đơn vị trong vùng vừa giải phóng, trong đó nêu rõ: các đơn vị đã nhanh chóng ổn định tình hình địa phương; bộ đội khắc phục nhiều khó khăn chấp hành đúng chính sách vùng mới giải phóng.

Cùng trong ngày 21/4/1975, tại Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu lên Đài truyền hình Sài Gòn chỉ trích Mỹ bỏ rơi đồng minh và tuyên bố từ chức Tổng thống ngụy quyền. Trần Văn Hương lên thay.

Cùng ngày, tướng Mỹ Oen-xơn, tùy viên quân sự của Mỹ tại Sài Gòn dẫn một phái đoàn cố vấn đến thị sát sân bay Bình Thủy, bàn bạc với Nguyễn Khoa Nam - Tư lệnh Quân đoàn 4 và Sư trưởng Sư đoàn 4 không quân ngụy kế hoạch di tản máy bay ở Biên Hòa và Tân Sơn Nhất và tăng thiết bị cho sân bay này để yểm trợ cho Sài Gòn khi sân bay Biên Hòa bị tê liệt./.
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: BỘ VĂN HOÁ 'ĐAU LÒNG' VỀ TRƯỜNG HỢP CỦA QUANG LINH VLOGS!

     Ông Lê Quang Tự Do - Cục trưởng Cục Phát thanh truyền hình và thông tin điện tử nói Bộ VHTTDL cảm thấy rất đau lòng thời gian vừa qua, người nổi tiếng vì thiếu hiểu biết pháp luật mà vi phạm pháp luật.

"Chúng tôi đau lòng trường hợp của Quang Linh Vlogs gần đây vướng vòng lao lý. Em ấy làm được nhiều việc tốt nhưng thiếu hiểu biết pháp luật nên đã phải chịu trách nhiệm hình sự, rất đáng tiếc. Chúng tôi ước ao em ấy hiểu biết pháp luật hơn để tránh được hậu quả đau lòng như thế này", ông Tự Do nói.

Theo ông Tự Do, người nổi tiếng hiểu biết pháp luật chưa cao, lại có tính "nghệ sĩ" nên hay biến tấu nhiều thứ. Thậm chí, khi sản phẩm quảng cáo "tăng chiều cao vượt trội" nhưng nghệ sĩ lại quảng cáo cao thêm 5-10cm, thành ra "nổ" và "lố".

Về quan điểm “xin lỗi là xong”, ông Lê Quang Tự Do khẳng định: “Lời xin lỗi là cần thiết, nhưng không đủ. Phải sửa sai, cải chính và chấp hành nghiêm các hình thức xử phạt. Pháp luật không phân biệt nghệ sĩ hay công dân bình thường”.

Cục trưởng Cục Nghệ thuật Biểu diễn, NSND Xuân Bắc cũng khẳng định: “Ai vi phạm đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Dù là nghệ sĩ hay người bình thường, đều là công dân”./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SỰ HY SINH THẦM LẶNG CỦA CÔNG AN NHÂN DÂN NÓI CHUNG LLVT NÓI RIÊNG!

     Ngày 30.4 hằng năm, trong khi nhân dân cả nước hân hoan chào mừng kỉ niệm chiến thắng lịch sử của dân tộc thì cũng là thời điểm mà bọn khủng bố, phản động, bọn tôn thờ chế độ ngụy quyền đã chết từ gần 50 năm trước....âm mưu khủng bố, tấn công nước ta nhiều nhất.

    Đặc biệt, ngay ngày 27.4.2010, Cục chống khủng bố của Bộ Công an đã kịp thời bắt giữ đối tượng Phạm Thị Phượng khi đã nhận 5000 USD để âm đánh thuốc nổ phố đi bộ Nguyễn Huệ, nhằm vào cả trường học, bệnh viện trung tâm TP. Hồ Chí Minh vào ngày 30.4.2010.

    Ngày 28.4.2012, tiếp tục bắt giữ thêm đối tượng Nguyễn Quốc Quân khi đang nhập cảnh về Việt Nam chuẩn bị thực hiện hành vi khủng bố. Liên tiếp những năm về sau, lực lượng an ninh, tình báo cũng kịp ngăn chặn các đối tượng từ nước ngoài về âm mưu tấn công nước ta vào ngày 30.4

    Tại Huế, cách đây chưa đến 1 tuần, Cơ quan An ninh cũng bắt giữ một đối tượng thuộc tổ chức khủng bố đang chuẩn bị rải truyền đơn. 

    Đó là chưa kể đến các vụ khủng bố đánh bom trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình năm 2018, vụ khủng bố sát hại dân thường, tấn công Trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur (trong đó có khu vực làm việc của Công an xã) thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk năm 2023.

    Có được hòa bình ngày hôm nay là xương máu của biết bao thế hệ đi trước. Ngay những thời điểm này, lực lượng an ninh, tình báo của cả Công an, Quân đội vẫn đang ngày đêm âm thầm chiến đấu, bảo vệ sự bình yên đó. Hơn hết, tất cả hành vi khủng bố, chống phá đều là kẻ thù của dân tộc này.

   Ảnh: Bắt giữ các đối tượng khủng bố tại Đắk Lắk hồi tháng 6.2023.
Yêu nước ST.

NHẬN THỨC ĐÚNG GIÁ TRỊ THIÊNG LIÊNG CỦA CHIẾN THẮNG 30/4/1975 GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC!

     Hiện nay, bên cạnh đại đa số nhận thức đúng thì vẫn có những cán bộ, đảng viên có nhận thức lệch lạc về giá trị, ý nghĩa của Chiến thắng 30/4/1975 - Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Họ đã ăn phải "bả độc" thông tin của các thế lực thù địch, để từ đó có những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", sai lệch trong nhận thức và hành động.

Vừa qua, tôi đã có một cuộc tranh luận khá gay gắt với một người bạn làm quản lý tại một tờ báo điện tử có tiếng, nhiều người đọc. Trong các sản phẩm báo chí của báo điện tử này, khi đưa, nhắc tới ngày 30/4/1975 thì chỉ viết rằng đây là “Ngày thống nhất đất nước”. Tưởng báo có chút nhầm lẫn, tôi đã gọi điện nhắc người bạn của mình làm ở đó rằng phải gọi chính xác về kỷ niệm ngày 30/4/1975 là kỷ niệm “Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Nhưng đáng tiếc, bạn tôi trả lời rằng, họ không nhầm lẫn, mà đây là chủ trương, quan điểm của Ban biên tập tờ báo trên khi định nghĩa ngày 30/4/1975. Ngay cả “Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, tờ báo trên cũng chỉ ghi là “Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thống nhất đất nước”.

Tôi nói rằng: “Các bạn đã vi phạm đạo đức báo chí, vì nhà báo không được quyền thay đổi tên gọi của một sự kiện, một lễ kỷ niệm để từ đó làm thay đổi cách hiểu về bản chất của nó”. Sau đó, tờ báo ấy chỉ chấp nhận sửa lại đúng tên gọi về lễ kỷ niệm quốc gia sắp được tổ chức là “Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Còn trên các bản tin của họ thì vẫn đề ngày 30/4/1975 là Ngày thống nhất đất nước! 

Có thể những người quản lý tại tờ báo điện tử nọ nghĩ rằng họ làm vậy với ý nghĩa "khép lại quá khứ" để hướng tới tương lai, nêu cao tinh thần hòa hợp dân tộc... Tuy nhiên, cách làm ấy của họ chính là làm thay đổi bản chất của sự kiện, chính là một kiểu lật sử, xúc phạm công lao, xương máu của thế hệ đi trước. Bởi vì phần lớn chúng ta đều hiểu rằng, không có “giải phóng miền Nam” thì sao có “thống nhất đất nước” được!

Có những người đặt câu hỏi theo kiểu vặn vẹo rằng: Nói là “giải phóng miền Nam”, vậy thì ai giải phóng ai?

Có thể thấy rõ ràng là: Dân tộc Việt Nam, đồng bào, chiến sĩ cả hai miền Nam-Bắc đã mang sức mình để tự giải phóng mình khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai phản động tại miền Nam Việt Nam.

Tại sao phải “giải phóng miền Nam” thì mới “thống nhất đất nước”? Chúng ta cần phải thấy rằng, “thống nhất đất nước” là một thành tựu vĩ đại, là một đích đến của mấy chục năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tính từ khi đất nước bị chia cắt sau Hiệp định Geneva năm 1954. Thành tựu này chỉ đạt được sau Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975, khi quân và dân hai miền Nam-Bắc đã giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của thực dân kiểu mới là đế quốc Mỹ và tay sai là ngụy quyền. Như thế, “giải phóng miền Nam” là điều kiện tiên quyết để “thống nhất đất nước”. Sau khi miền Nam được giải phóng thì hai miền Bắc-Nam đã tiến hành Hội nghị hiệp thương chính trị để thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước.

Lại có người lý sự rằng, "có nhất thiết phải thống nhất đất nước Việt Nam bằng các hành động quân sự, có nhất thiết phải đổ máu không? Liệu có giải pháp hòa bình để thống nhất đất nước không?".

Có thể thấy, từ các nhà lãnh đạo cho tới mỗi người dân Việt Nam, không ai muốn có chiến tranh, không ai muốn phải đổ máu. Hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc luôn là những điều mỗi người Việt Nam ước mong, ấp ủ. Đấu tranh bằng biện pháp chính trị, bằng biện pháp ngoại giao để thống nhất đất nước luôn được Đảng ta đặc biệt coi trọng.  

Tuy nhiên, thống nhất đất nước tại Việt Nam chỉ có được sau những kết quả về đấu tranh quân sự. Với những chiến thắng dồn dập về quân sự của quân và dân cả nước trước kẻ địch, mà đỉnh cao là Chiến thắng 30/4/1975, chúng ta mới có thể kết thúc chiến tranh. Và cũng chỉ vì thua trên chiến trường, mà quyết định là sau thất bại của trận tập kích đường không 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội tháng 12/1972 thì đế quốc Mỹ mới chịu ký Hiệp định Paris năm 1973 và rút quân chủ lực khỏi miền Nam Việt Nam. Như vậy, thực tế là giải pháp chính trị chỉ đạt được kết quả khi đối phương thất bại trên chiến trường.

Cũng đã có những cơ hội để thống nhất đất nước Việt Nam bằng các giải pháp hòa bình, tổng tuyển cử, nhưng đế quốc Mỹ và tay sai luôn tìm mọi cách phá hoại các giải pháp hòa bình để thống nhất Việt Nam, hòng giữ được sự thống trị của mình tại miền Nam Việt Nam.

Nếu như không có sự can thiệp của đế quốc Mỹ và sự tráo trở của chính quyền Ngô Đình Diệm thì đất nước ta có thể sẽ thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử hòa bình vào năm 1956 như trong nội dung của Hiệp định Geneva. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã phá hoại Hiệp định Geneva, cố tình không tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử trên cả nước để thống nhất đất nước. Bởi lúc đó, Mỹ-Diệm định lượng được rằng, nếu tổng tuyển cử diễn ra thì chiến thắng sẽ dễ dàng về tay Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bởi lúc đó, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa rất lớn, hợp lòng dân, đã lãnh đạo nhân dân đánh thắng thực dân Pháp xâm lược với Chiến thắng Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu". Thậm chí, tình báo Mỹ đã kết luận rằng, nếu có tổng tuyển cử thì kết quả tốt nhất cho Mỹ-Diệm là ít nhất khoảng 80% dân số sẽ bầu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.   

Năm 1973, ngụy quyền cũng không hề muốn ký Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh, nhưng dưới sức ép của Mỹ (do Mỹ không thể kham nổi cuộc chiến nữa) nên buộc phải ký. Trong Hiệp định Paris có các điều khoản về cam kết tôn trọng ngừng bắn, giữ vững hòa bình ở miền Nam Việt Nam, giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực.

Hiệp định Paris cũng quy định vấn đề thống nhất nước Việt Nam bằng phương pháp hòa bình, thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam Việt Nam thỏa thuận. Tuy nhiên, ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ngụy quân đã lập tức vi phạm hiệp định khi thực hiện hàng loạt cuộc hành quân đánh phá, nống lấn vào vùng giải phóng. Thậm chí giới lãnh đạo ngụy quyền còn lên kế hoạch toàn diện, lâu dài giai đoạn 1973-1978 hòng bình định miền Nam Việt Nam, tiếp tục đàn áp, dìm nhân dân miền Nam trong bể máu.

Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố rằng: “Đừng nói giải pháp chính trị, giải pháp chính trị rồi đưa tới cộng sản.... Hễ nó (Quân giải phóng) giỏi, nó thắng mình chịu. Mình thắng, nó phải chịu. Không có cái chánh phủ liên hiệp tiên quyết... Sẽ không có tổng tuyển cử, sẽ không có chính phủ liên hiệp, sẽ không có phân chia vùng kiểm soát, sẽ không có lực lượng thứ ba và không có một Chính phủ Cách mạng lâm thời nào”.

Với tính chất phản động của ngụy quyền, thì vấn đề hòa giải, hòa hợp dân tộc, khả năng tổng tuyển cử để thống nhất đất nước đối với dân tộc Việt Nam trở nên phi thực tế. Nếu như không có sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta, tài thao lược của các tướng lĩnh Quân đội ta, sự anh dũng của quân dân ta để làm nên Chiến thắng 30/4/1975 thì sẽ không thể có đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất và phát triển của ngày hôm nay. Sự đầu hàng của chính quyền Dương Văn Minh là sự đầu hàng vô điều kiện.  

Chiến thắng 30/4/1975 đã được ghi vào lịch sử là chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam để thống nhất đất nước, được thế giới công nhận và khâm phục. Do vậy, thế hệ hôm nay, khi nhắc tới công lao của cha ông cần hết sức trân trọng và biết ơn. Cần phải tìm hiểu lịch sử với thái độ tôn trọng và thận trọng, nhất là đối với các sự kiện lớn, các nhà lãnh đạo đã được ghi danh vào lịch sử, không được tự ý thay đổi các tên gọi của các sự kiện lịch sử. Đặc biệt là cần tìm hiểu lịch sử từ các nguồn chính thức, chính thống, tránh bị tiêm nhiễm, ảnh hưởng từ các nguồn thông tin không rõ ràng, bởi đằng sau các thông tin, đánh giá về các sự kiện lịch sử từ các nguồn không chính thống đều có thể tiềm ẩn những mưu đồ chính trị./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHẢI CÓ CÁI NHÌN ĐÚNG MỰC!

     Khi tin tức Giáo hoàng Francis được xuất hiện trên mạng, mình thấy có một số bình luận không tốt, cợt nhả và thiếu thiện chí về ông. Nhiều trang cộng đồng đã phải đóng bình luận để ngăn chặn điều này. Nhưng nếu tìm hiểu kỹ, thì chúng ta cần dành một sự tôn trọng dành cho Giáo hoàng Francis.

Hồi còn trẻ, Giáo hoàng Francis là một người theo trường phái phản chiến. Người có quan điểm ảnh hưởng mạnh mẽ đến Giáo hoàng Francis chính là Mục sư Martin Luther King Jr. Mục sư Martin Luther King Jr. là người chống việc đưa quân xâm lược Việt Nam, kêu gọi rút quân và phản chiến. Khi gặp hậu duệ của Mục sư Martin Luther King Jr. thì Giáo hoàng Francis cũng bày tỏ quan điểm tôn trọng những di sản mà Mục sư đấu tranh cho hoà bình, phản chiến.

Năm 2022, Giáo hoàng Francis gặp Nhiếp ảnh gia Nick Út - chủ nhân của bức ảnh “Em bé Napalm” và cô Phan Thị Kim Phúc - nhân vật trong bức ảnh. Trong buổi gặp, Giáo hoàng Francis bày tỏ quan điểm phản đối các hành vi chiến tranh, bạo lực nhắm vào dân thường, yêu cầu hoà bình và không áp đặt hành vi xâm lược, kêu gọi hoà bình.

Dưới thời của Giáo hoàng Francis, quan hệ của Việt Nam và Vatican diễn biến rất tích cực tốt đẹp. Thậm chí, Giáo hoàng Francis đã để đặt lịch đến Việt Nam vào cuối năm 2024 nhưng do sức khoẻ của ông đi xuống nên không thể thực hiện được. Cũng trong giai đoạn mà Giáo hoàng Francis tại vị, phía Vatican cũng không đưa ra bất cứ một văn bản cấp cao nào cáo buộc Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo. Khi Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mất, Giáo hoàng Francis cũng đều gửi điện chia buồn.

Vấn đề tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm và khó nói vì đặc thù lịch sử của Việt Nam. Nhưng nếu chỉ xét riêng về Giáo hoàng Francis thì ông là một người có quan hệ tốt và cởi mở với Việt Nam, chúng ta cần tôn trọng, chia buồn sâu sắc.

Ở tư cách Giáo hoàng, vốn rất hạn chế bày tỏ quan điểm ủng hộ phe phái từ sau Chiến tranh Lạnh thì việc cụ xem bức ảnh em bé Napalm gặp gỡ nhiếp ảnh gia Nick Út và bảy tỏ quan điểm phản đối chiến tranh, xâm lược nước lớn là đáng hoan nghênh và rõ ràng điều này có lợi cho tính chính nghĩa của Việt Nam trong kháng chiến. 

Anh chị em đừng có bất mãn và bất kính. Dành lời chia buồn sẽ tốt nhất./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TÙ BINH MỸ TẠI HỎA LÒ ĐƯỢC ĂN NGON VÀ CHĂM SÓC TỐT HƠN CẢ CÁN BỘ CỦA VIỆT NAM!

         Đại tá Trần Trọng Duyệt, cựu Trưởng trại Tù binh phi công Mỹ tại Hỏa Lò, nhớ lại và cho biết:

- Hồi đó, tù binh Phi công Mỹ đã được phía ta chăm sóc với một chế độ ăn uống rất đặc biệt: Buổi sáng, họ thường được ăn bánh mỳ với sữa hoặc đường (những thứ hàng xa xỉ mà thời ấy, những người Việt Nam bình thường chỉ những khi ốm đau mới được biếu và bồi dưỡng). Bữa trưa và chiều, suất ăn của họ là bánh mỳ kẹp trứng rán, hoặc thịt và một bát súp thịt hầm với khoai tây, hoặc rau các loại. Những người nghiện thuốc lá, mỗi ngày còn được phát 3 điếu Tam Đảo bao bạc (thứ thuốc lá không có đầu lọc, nhưng rất quý hiếm, do miền Bắc sản xuất hồi đó).

Những ngày lễ, ngày Tết (của cả Việt Nam và Mỹ), tù binh còn được cho ăn tươi đặc biệt hơn. Ngoài việc gói bánh chưng, cuốn nem rán, bộ phận hậu cần của trại thường mang giấy giới thiệu đi về tận Hà Bắc, hoặc Sơn Tây để mua gà tây về quay, chế biến món cơm rang thập cẩm (cơm có cả thịt, trứng và rau), uống với bia Trúc Bạch - thứ đồ uống mà tù binh Mỹ rất thích - ăn xong thường có hoa quả và bánh kẹo.

Để bạn đọc dễ hình dung và so sánh, chúng tôi xin được nêu ví dụ cụ thể về chế độ và suất ăn như sau: hồi đó bộ đội ta thường có 3 chế độ ăn cơ bản:

- Đại táo: Áp dụng cho tất cả cán bộ chiến sĩ và những người có quân hàm đến Trung uý, được hưởng tiêu chuẩn ăn 0,68 đồng/ngày;

- Trung táo: Áp dụng cho các sĩ quan có cấp hàm từ Thượng uý đến Trung tá, được hưởng tiêu chuẩn ăn 0,9 đồng/ngày;

- Tiểu táo: Áp dụng cho các sĩ quan cao cấp có quân hàm Thượng tá và Đại tá, được hưởng tiêu chuẩn ăn 1,2 đồng/ngày.

Riêng tù binh Phi công Mỹ được hưởng mức ăn “đặc táo” tới 1,6 đồng/ngày. Với những người gầy yếu, hoặc ốm đau sẽ được Ban chỉ huy trại quyết định cho ăn chế độ bồi dưỡng đặc biệt: 3,2 đồng/ngày. Thời gian sau, mức ăn còn được nâng lên tới 7 đồng/ngày. (Đồng tiền ở miền Bắc ngày đó rất có giá trị: Lương tháng của đồng chí Trưởng ty Công an an tỉnh là 115 đồng! Một bát phở ngon có giá 3 hào, một que kem ở bờ hồ Hoàn Kiếm trung tâm Thủ đô Hà Nội chỉ có 5 xu...).

Vì được hưởng tiêu chuẩn cao, nên tù binh Mỹ thường ăn không hết suất, cơm và thức ăn thừa nhiều. Ban chỉ huy trại quyết định sử dụng số thức ăn thừa đó để... nuôi lợn. Thời gian cao điểm, bộ phận hậu cần của trại tù binh Hỏa Lò nuôi tới 40 con lợn béo. Khi lợn to được xuất chuồng, số thịt tăng gia và tiền bán lợn đó lại được sử dụng để bổ sung cho bữa ăn của tù binh...

Tóm lại, đó là một sự cố gắng rất lớn về chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với tù binh Mỹ. Bởi trong thời kỳ chiến tranh, đời sống nhân dân ta còn thiếu thốn trăm bề. Hàng hóa hầu hết đều phải phân phối, được mua bằng tem phiếu ưu tiên. 

Tù binh Mỹ được ăn uống đầy đủ tới mức khiến nhiều cán bộ chiến sĩ ta phải thắc mắc: Tại sao ở nhiều nơi bộ đội và nhân dân ta còn phải ăn độn thêm khoai sắn mới đủ no, mà lại dành khẩu phần ăn tốn kém như vậy cho những kẻ đã từng gây bao tội ác với đồng bao ta? Cấp trên giải thích: Tù binh Mỹ là “vốn quý” và “tài sản” để sau này chúng ta có thể đấu tranh trên mặt trận ngoại giao với địch. Cán bộ chiến sĩ của trại phải xác định rõ: chăm sóc bảo đảm tốt sức khỏe cho tù binh cũng là một nhiệm vụ đặc biệt!

Cựu Trại trưởng tù binh Hỏa Lò Trần Trọng Duyệt đã khẳng định: Có lẽ trên thế giới này không có nước nào đối xử với tù binh Mỹ tốt như ở Việt Nam. Đó là nhờ truyền thống khoan hồng và nhân đạo đã có hàng nghìn năm của dân tộc ta. Các tù binh chẳng những được ăn tốt, mà còn được chăm sóc sức khỏe (cả vật chất và tinh thần) rất chu đáo trong điều kiện thời chiến cho phép.

Ngoài việc được tận tình cứu chữa vết thương do nhảy dù sau khi máy bay bốc cháy, các tù binh đã được những bác sĩ giỏi nhất ở các bệnh viện 108, 103, 354 của quân đội đến khám và chữa bệnh theo định kỳ. Cho nên, sau cú sốc thần kinh ban đầu lúc họ bị bắt, khi đã vào trại Hỏa Lò hầu hết các tù binh Mỹ đều ổn định tinh thần và sức khỏe rất nhanh. Nhiều người đã có ý thức tập luyện để thích nghi với điều kiện sinh hoạt mới, giữ gìn sức khỏe để đợi ngày được trao trả về nước.

Ông Duyệt cho biết: ở Hỏa Lò hồi đó các tù binh Mỹ thường xuyên được tổ chức vui chơi giải trí. Hằng ngày, họ được ra sân phơi nắng, chơi bóng chuyền, bóng rổ, chọc bi-a, đọc sách báo, nghe tin tức - kể cả tin tức của Mỹ và phương Tây - qua đài phát thanh mà trại tiếp âm, hoặc chọn những tù binh có giọng đọc tốt để đọc cho tất cả cùng nghe.

Để các tù binh có phương tiện chơi thể thao thường xuyên, trại phải nhờ đến sự giúp đỡ của đồng chí Tạ Đình Đề, người phụ trách xưởng sản xuất dụng cụ của Tổng cục Thể dục thể thao. Thậm chí để giúp một số tù binh có bệnh về mắt có thể đọc được sách báo, Ban chỉ huy trại đã phải thửa khá nhiều cặp kính thuốc của chị Thuý Hà ở cửa hàng số 48 Hàng Bài. (Hiện bà Hà đang trú tại 51 Trần Nhân Tông, Hà Nội).

Đặc biệt, trong các ngày Lễ, ngày Tết của Mỹ như ngày Độc lập (4 tháng 7), ngày Lễ Tạ ơn, Noel, Tết Dương lịch..., tôn trọng tín ngưỡng của tù binh, trại còn cho mời cả mục sư Bùi Hoàng Thử đến làm lễ theo nghi thức tôn giáo cho số người theo đạo.

Có một chuyện rất thú vị, đó là việc tù binh Mỹ tại Hỏa Lò còn được ta trưng dụng để tham gia... đóng phim. “Diễn viên” đầu tiên trong trại Hỏa Lò được nhận vinh dự này là Trung tá Robinson Risner, một Phi công khét tiếng, “người hùng” của quân đội Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên, với 109 vụ và 3.000 giờ bay thành công (một tài liệu nói rằng ông ta đã bắn rơi tới 8 chiếc máy bay của đối phương). 

Nhưng khi sang chiến trường Việt Nam, mới tới phi vụ thứ 5, Risner đã bị lực lượng phòng không ta bắn cháy, anh ta cố lái máy bay ra biển nhảy dù và được cứu hộ thoát chết. Báo chí Mỹ hồi đó đã tuyên truyền rùm beng cả tháng trời về sự việc này. Nhưng lần thứ hai, ngày 16 tháng 9 năm 1965, Risner lái chiếc “Thần sấm” F-105D đã bị bắn hạ tại Thanh Hóa. Vào Hỏa Lò, tính ngông nghênh của Risner đã bị khuất phục. Anh ta ngoan ngoãn nhận tội và đã khai rất nhiều... Vì họ tên đọc theo tiếng Anh thường dài và khó phát âm, để dễ gọi tên, bộ đội ta đã đặt cho Risner một cái tên Việt Nam gọi ngắn gọn là “Giai”, cũng như tù binh Phi công John McCain được gọi là “Cài”. 

Anh em phục vụ trong trại tù binh Hoả Lò ngày đó ai cũng nhớ “Giai”, vì anh ta ăn rất khoẻ. “Giai” đã làm đơn xin lãnh đạo trại tù binh được ăn… 2 suất ăn bình thường và đã được chấp nhận. 

Khi đoàn làm phim của Cộng hòa Dân chủ Đức sang Việt Nam quay bộ phim tài liệu “Phi công trong bộ quần áo ngủ”, cần một người vào vai nhà báo quốc tế, Giai đã vui vẻ nhận lời và anh ta nhập vai rất đạt. Với khổ người cao to, mặc bộ đồ dạ tím, chẳng ai nghĩ ông nhà báo phương Tây đó lại chính là viên Trung tá tù binh Phi công Mỹ tại Hỏa Lò đóng. 

Được biết, sau ngày được trao trả về nước, Robinson Risner (tức Giai) còn tiếp tục phục vụ trong quân đội Mỹ và được phong hàm sĩ quan cấp Tướng.

Với bộ phim truyện “Cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn” của điện ảnh Việt Nam thì chuyện đóng phim của tù binh Mỹ còn thú vị hơn: Trong phim ta có sử dụng hai sĩ quan Thiếu tá tù binh đóng vai Đại tá và Trung tá cố vấn Mỹ của Chính quyền Sài Gòn (cũ). Phim có nhiều cảnh hai cố vấn Mỹ phải xuất hiện, hoạt động với những không cảnh thời gian và địa điểm khác nhau... và hai tù binh vào vai cũng rất đạt, như diễn viên chuyên nghiệp vậy. 

Nhưng có một sơ suất mà ít ai ngờ... đó là sau khi xem phim, cả hai diễn viên đặc biệt này đều gật gù, rồi một người nói rất hài hước: “Chỉ có điều hơi tiếc là các ông đã cho tôi làm một Đại tá Mỹ... nghèo nhất thế giới! Bởi suốt từ đầu đến cuối phim tôi chỉ có mỗi bộ quần áo mặc trên người, không hề được thay đổi trang phục”!

Theo cuốn sách “Phi công Mỹ ở Việt Nam”.
Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2025

Chuẩn hóa công chức cấp xã

 Cùng với việc sắp xếp bộ máy hành chính, bỏ cấp huyện, giảm cấp xã, công việc của cán bộ, công chức cấp xã sẽ tăng lên, nhiều nhiệm vụ với tính chất phức tạp hơn, địa bàn rộng hơn, dân số đông hơn.

Tự hào làm "sống lại" lịch sử

 Việc các bạn trẻ mặc áo dài, cầm cờ Tổ quốc và chọn dinh Độc Lập, nơi ghi dấu son chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh cách đây 50 năm, làm điểm đến “check-in” trong những ngày tháng Tư lịch sử không chỉ đẹp về mặt hình ảnh mà còn sâu sắc về mặt tinh thần. Lan tỏa một thông điệp ý nghĩa của một thế hệ biết tri ân, biết hướng về cội nguồn bằng cả trái tim và ý thức công dân.

Bình dị và thiêng liêng

 Đối diện tòa nhà Cơ quan đại diện Báo Quân đội nhân dân tại TP Hồ Chí Minh có một quán cà phê nhỏ, nằm sâu trong con hẻm nhỏ.

Khoảng trống văn hóa số

 Trong buổi livestream ngắn ngủi của streamer, YouTuber ViruSs mới đây, có thời điểm đạt tới gần 1,5 triệu tài khoản xem cùng lúc là một hiện tượng đáng suy ngẫm. Nó cho thấy rõ nét xu hướng thị hiếu của người dùng mạng xã hội hiện nay: Thích thú, tò mò và bị cuốn hút mạnh mẽ bởi những drama (các tình huống xung đột, mâu thuẫn).

Cán bộ đoàn nhiệt huyết, sáng tạo

 Nhiệt huyết, năng động, sáng tạo, giàu giải pháp là những nhận xét của lãnh đạo các cấp, cán bộ, đoàn viên, thanh niên địa phương về đồng chí Hà Hồng Sơn, Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh đoàn, Chuyên viên Ban Mặt trận thanh niên Tỉnh đoàn Bắc Kạn.

Lan tỏa tri thức đến người nông dân Việt Nam

 Ngày 20-4, tại Hà Nội, Công ty truyền thông Halotimes tổ chức chiến dịch cộng đồng với tên gọi “Một triệu cuốn sách làm giàu cho nông dân Việt Nam” thông qua Ngày hội tặng sách diễn ra tại Phố sách Hà Nội (Hai Bà trưng, Hà Nội).

Giới trẻ kể chuyện sách theo cách mới

 Trong thời đại chuyển đổi số mạnh mẽ, văn hóa đọc vốn là nét đẹp truyền thống đang từng bước thích nghi và đổi mới để phát triển. Một trong những điểm nhấn nổi bật tại Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 4 năm 2025 tại TP Thủ Đức chính là việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để lan tỏa thói quen đọc sách, nhất là trong giới trẻ.

Chung tay bảo vệ rừng đầu nguồn biên giới

 Quá trình triển khai nhiệm vụ, Bộ đội biên phòng (BĐBP) tỉnh Nghệ An phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng triển khai các biện pháp bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ ở khu vực biên giới. Khi mùa nắng nóng đang đến gần, các đồn Biên phòng và các đơn vị liên quan tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân chủ động phòng, chống cháy rừng.

Cán bộ 6 lần hiến máu tình nguyện

 Nhiều năm qua, phong trào hiến máu tình nguyện ở Sư đoàn 363, Quân chủng Phòng không - Không quân trở thành hoạt động sôi nổi, ý nghĩa đối với cán bộ, chiến sĩ và xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu.

Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo

 Nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng ủy Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1, Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật thực hiện tốt đột phá nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo giỏi về chuyên môn; trách nhiệm, tận tâm, tận tụy trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học... tạo nền tảng vững chắc để thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục-đào tạo (GD-ĐT) của nhà trường.

Chiến sĩ mới trong ngày hội bắn

 Tại trường bắn Sư đoàn 5 (Quân khu 7), giữa tiết trời nắng nóng gay gắt của trung tuần tháng 4, các chiến sĩ mới ra sức thi đua giành nhiều “hoa bắn giỏi” trong đợt kiểm tra phân đoạn bắn đạn thật bài 1 súng tiểu liên AK, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025).

Giúp dân xóa nhà tạm, nhà dột nát

 Hưởng ứng Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong năm 2025”, từ đầu tháng 3 đến nay, các đội sản xuất thuộc Trung đoàn 52, Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337 (Quân khu 4) luôn chủ động khắc phục khó khăn, giúp các hộ dân ở huyện biên giới Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xây, sửa nhà mới, hướng dẫn bà con phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo.

Ngăn chặn tình trạng sản xuất, buôn bán sữa giả

 Thông tin về một đường dây sản xuất, buôn bán, tiêu thụ gần 600 loại sữa bột giả tại Hà Nội và các tỉnh lân cận vừa bị lực lượng chức năng triệt phá khiến dư luận không khỏi bàng hoàng, lo lắng.

Quản lý tư tưởng bộ đội: Khó vẫn có cách!

 Một số ý kiến cho rằng, diễn biến tư tưởng của bộ đội rất nhanh, có trường hợp rất ít biểu hiện, khiến công tác quản lý bộ đội ngày càng khó khăn, tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn và ví những cán bộ làm nhiệm vụ này như “đi trên dây". Chúng tôi đem những suy tư này trao đổi với chỉ huy các cấp - những người có nhiều năm kinh nghiệm trong quản lý, huấn luyện chiến sĩ ở Trung đoàn 95, Sư đoàn 325, Quân đoàn 12...

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG LÀ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH SỨC MẠNH QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG

     Hiện nay tình hình thế giới và khu vực đang có những diễn biến rất phức tạp, vượt qua nhiều dự báo, tiềm ẩn những bất trắc khó lường. Đối với nước ta, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ ở nước ta; tình hình tranh chấp chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông còn phức tạp; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và những biểu hiện xa rời mục tiêu CNXH, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.

Để khắc phục được tình hình trên, điều quan trọng nhất là phải tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về "chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/4/2018 về Chiến lược quốc phòng Việt Nam; Kết luận số 31-KL/TW, ngày 16/4/2018 về Chiến lược quân sự Việt Nam. Việc ban hành nghị quyết, kết luận về Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự nhằm tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán về nguyên tắc Ðảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là bước phát triển mới về tư duy, nhận thức của Ðảng đối với công cuộc bảo vệ đất nước.

Chỉ thị của Đảng đã xác định rõ chủ thể lãnh đạo giáo dục quốc phòng là các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến cơ sở, trách nhiệm quản lý, tổ chức thực hiện là chính quyền các cấp. Vậy nên, trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo các hoạt động bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành và giáo dục quốc phòng toàn dân phải có kế hoạch cụ thể, tổ chức chặt chẽ, coi trọng chất lượng; kịp thời nghiên cứu bổ sung, cập nhật các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, tình hình nhiệm vụ mới của Đảng, của địa phương vào giáo trình giáo dục, tài liệu thông tin tuyên truyền về quốc phòng, an ninh, phù hợp với từng đối tượng, từng cấp học và từng lĩnh vực hoạt động, nhất là các vấn đề: Đổi mới tư duy về mục tiêu, nhiệm vụ, sức mạnh và lực lượng bảo vệ Tổ quốc; trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, điều hành xây dựng khu vực phòng thủ; nhãn quan chính trị trong xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng; tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh; chủ nghĩa yêu nước, lịch sử truyền thống của Đảng, của dân tộc, lòng tự hào, tự tôn dân tộc… Trong đó, cần tập trung lãnh đạo thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về "tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ"; kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa trang bị, vũ khí kỹ thuật, đi đôi với việc không ngừng xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Cùng với việc ra sức phát huy hiệu lực, tranh thủ tối đa và khai thác mọi thuận lợi ở bên ngoài, quán triệt sâu sắc đường lối độc lập tự chủ, phương châm thêm bạn bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, gia tăng hợp tác, hạn chế tối đa xung đột, đối đầu, đồng thời cảnh giác cao với mọi sự lợi dụng chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của ta.

Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội "tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt”. Nghiên cứu bổ sung và thể chế hoá các quan điểm của Đảng, tập trung xây dựng quân đội nhân dân theo hướng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trong đó, lấy xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho quân đội thực sự là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc, thực sự là công cụ bạo lực sắc bén, trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và của nhân dân. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối chính trị - quân sự đúng đắn đã tập hợp được sức mạnh toàn dân, vũ trang toàn dân, phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang làm nòng cốt tới đỉnh cao, hết sức tài tình, sáng tạo, độc đáo đã đánh thắng các thế lực thực dân, đế quốc hùng mạnh nhất của thời đại hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là lựa chọn tất yếu khách quan của lịch sử cách mạng Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam, nhân tố quyết định sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.