Thứ Ba, 22 tháng 4, 2025

Phản bác luận điệu xuyên tạc chiến thắng vĩ đại của Việt Nam - Bài 2: Các cứ liệu lịch sử khẳng định bản chất cuộc kháng chiến

 

Để phản bác và làm thất bại âm mưu, luận điệu nham hiểm của các thế lực phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết cần dựa vào các cứ liệu lịch sử để khẳng định chính đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam kéo dài trong suốt 30 năm (1945-1975) và trải qua nhiều giai đoạn...Giai đoạn 1 (1945-1954)Trong giai đoạn này, Mỹ ủng hộ toàn diện về kinh tế, chính trị và quân sự cho thực dân Pháp để chúng xâm lược nước ta một lần nữa. Với tham vọng tiếp tục duy trì ách thống trị ở Việt Nam và được đế quốc Mỹ “chống lưng”, thực dân Pháp đưa quân trở lại xâm lược đất nước ta một lần nữa với toan tính tiêu diệt chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn non trẻ. Đứng trước tình hình vô cùng nguy cấp đó, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, toàn quân và toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên" vào ngày 7-5-1954.Trên thực tế, chiến thắng của Việt Nam ở Điện Biên Phủ còn làm thất bại chủ trương của Mỹ xâm lược theo phương thức sử dụng quân đội Pháp để tiến hành “cuộc chiến tranh ủy nhiệm” trên đất nước ta. Theo các cứ liệu lịch sử được công bố ở Mỹ và phương Tây, phần lớn vũ khí và bom đạn được thực dân Pháp sử dụng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đều là của Mỹ, kể cả 3 tàu sân bay thuộc Hạm đội 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương. Thậm chí, Mỹ còn có kế hoạch sử dụng bom nguyên tử một khi Pháp đứng trước nguy cơ thất bại ở Điện Biên Phủ. Bị thất bại nhục nhã ở Điện Biên Phủ, ngày 20-7-1954, thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Geneva về chấm dứt chiến tranh, khôi phục hòa bình, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập không chỉ của Việt Nam mà cả của Lào và Campuchia. Theo Hiệp định Geneva, lãnh thổ Việt Nam bị tạm thời phân chia thành hai miền và được phân định bằng vĩ tuyến 17. Các bên tham gia ký kết tại hội nghị nhấn mạnh rằng trong bất cứ trường hợp nào, không thể coi vĩ tuyến 17 là biên giới chính trị hay biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia, rằng sự chia cắt đó chỉ là tạm thời và hai miền sẽ được thống nhất trước tháng 7-1956 thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ.Giai đoạn 2 (1954-1960)Mỹ coi Hiệp định Geneva là “mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản đối với thế giới tự do". Núp dưới chiêu bài “ngăn chặn hiểm họa cộng sản”, ngày 8-9-1954, Mỹ thành lập liên minh quân sự theo Hiệp ước SEATO (Southeast Asia Treaty Organization), bao gồm các nước Hoa Kỳ, Liên hiệp Anh, Australia, New Zealand, Pháp, Philippines, Thái Lan và Pakistan. Với Hiệp ước SEATO, Mỹ toan tính biến miền Nam Việt Nam thành pháo đài chống cộng ở Đông Nam Á. Để thực hiện toan tính chiến lược đó, năm 1954, Mỹ dựng lên chính quyền thực dân mới ở Sài Gòn do Ngô Đình Diệm đứng đầu để tiến hành “cuộc chiến tranh ủy nhiệm”, hoặc “chiến tranh qua tay người khác”-một thủ đoạn quen thuộc của chủ nghĩa thực dân mới. Ngụy quyền Sài Gòn trở thành lực lượng xung kích để Mỹ thực hiện sách lược “tố cộng, diệt cộng”, âm mưu tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta. Trong bối cảnh đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15, khoá II của Đảng thông qua nghị quyết xác định một trong những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ bằng phương thức kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Thực hiện nghị quyết này, LLVT giải phóng miền Nam được thành lập, làm cơ sở cho phong trào đấu tranh chính trị, làm thất bại "cuộc chiến tranh ủy nhiệm" của Mỹ thông qua ngụy quyền Ngô Đình DiệmGiai đoạn 3 (1960-1965)Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt" (1961-1965). Theo chiến lược này, Mỹ đưa cố vấn quân sự và một bộ phận lực lượng chính quy vào trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đồng thời huấn luyện chiến đấu và trang bị vũ khí hiện đại nhất cho ngụy quân Sài Gòn để tiến hành các chiến dịch càn quét và tìm diệt lực lượng cách mạng nhằm “bình định” miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng. Tính đến cuối năm 1962, quân Mỹ ở miền Nam đã lên tới 11.300 tên, được biên chế thành 13 đại đội máy bay trực thăng, 5 đại đội máy bay trinh sát, tấn công và vận tải, 4 phi đội máy bay phản lực chiến đấu với 257 máy bay các loại, 8 đại đội công binh, thông tin và 1 đơn vị tác chiến đặc biệt.Được sự viện trợ của Mỹ, số quân ngụy tăng nhanh, từ 16 vạn quân chính quy năm 1960 lên hơn 36 vạn trong năm 1962. Ngoài ra, lực lượng bảo an của ngụy quyền Sài Gòn tăng từ 70.000 tên năm 1960 lên 174.500 tên năm 1962. Riêng lực lượng dân vệ của quân ngụy được biên chế thành 128 đại đội, hơn 1.000 trung đội, 2.000 tiểu đội là lực lượng chiếm đóng, kìm kẹp nhân dân ở các ấp, xã. Mỹ coi dồn dân để lập cái gọi là “ấp chiến lược” là nội dung cơ bản của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", là biện pháp chủ yếu để tiến hành các cuộc hành quân càn quét, đánh phá, triệt hạ làng mạc, chiếm đóng và đưa nhân dân miền Nam Việt Nam vào ách kìm kẹp của chúng. Tính đến cuối năm 1962, Mỹ-ngụy đã dồn được 10 triệu dân ở nông thôn miền Nam vào 1.700 ấp chiến lược. Đặc biệt, trên phần lớn lãnh thổ miền Nam, quân đội Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh hóa học lâu dài nhất, ác liệt nhất để huỷ hoại môi trường sinh thái. Theo số liệu thống kê của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, ở nước ta có 4,8 triệu người bị nhiễm chất độc hóa học.  Để làm thất bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, tháng 1-1961, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) ra Chỉ thị thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam-một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp chiến đấu trên chiến trường miền Nam. Nhận được sự chi viện đắc lực, kịp thời của hậu phương miền Bắc, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam nhanh chóng trưởng thành, lớn mạnh, lập nên những chiến công xuất sắc, đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ.Giai đoạn 4 (1965-1975)Bị thất bại trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt", Mỹ quyết định phát động "chiến tranh cục bộ", mở rộng phạm vi chiến tranh trên cả hai chiến trường miền Nam và miền Bắc Việt Nam (1965-1973). Trên chiến trường miền Nam, Mỹ ồ ạt đổ quân vào với quân số hơn nửa triệu tên được trang bị vũ khí hiện đại nhất để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta, tạo điều kiện cho quân ngụy chiếm đóng, bình định và kìm kẹp hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam trong vòng 25-30 tháng (từ giữa năm 1965 đến 1967). Trên chiến trường miền Bắc, đế quốc Mỹ sử dụng lực lượng lớn không quân và hải quân lớn nhất của chúng kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai để tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại với toan tính sẽ "đưa Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá" hòng ngăn chặn sự chi viện của ta cho Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.Với tinh thần cảnh giác cao độ và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu cao, quân và dân miền Bắc đã đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bắn rơi 3.243 máy bay, bắt sống 363 phi công; bắn cháy, bắn chìm 143 tàu chiến; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho miền Nam và giúp đỡ cách mạng Lào, Campuchia. Đầu năm 1968, nhận thấy so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho ta, Bộ Chính trị Đảng ta thông qua quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân, giáng đòn quyết định để đánh sập ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Bị thất bại trong chiến lược "chiến tranh cục bộ", Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson buộc phải đưa ra tuyên bố chấm dứt việc đưa quân Mỹ vào miền Nam, chuyển giao vai trò chiến đấu chủ lực và trực tiếp cho quân đội ngụy Sài Gòn, đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận đàm phán với Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Paris. Tuy nhiên, lên cầm quyền vào năm 1969, Tổng thống Mỹ Nixon chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".Cuộc đàm phán ở Paris giữa 4 bên là Mỹ, Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa là cuộc đấu trí quyết liệt trên bàn đàm phán kéo dài từ năm 1968 đến 1973. Sau 5 năm đàm phán cam go, cuối cùng Mỹ chấp nhận những nội dung cơ bản của Hiệp định Paris. Tuy nhiên, do bản chất xâm lược, Mỹ muốn lật ngược tình thế bằng cách tiến hành chiến dịch tập kích mạnh mẽ nhất bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 vào Thủ đô Hà Nội, TP Hải Phòng cũng như nhiều thành phố khác trên miền Bắc Việt Nam vào cuối năm 1972. Trong đó, Mỹ sử dụng 663 lần chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật, ném hơn 100 nghìn tấn bom, đạn xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc.Bị thất bại nặng nề và không đạt được mục đích của chiến dịch tập kích chiến lược này, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris. Theo hiệp định này, Mỹ chấp nhận nhiều cam kết và những cam kết này là điều kiện thuận lợi để chúng ta đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và thực hiện thành công chủ trương chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.Như vậy, toàn bộ lịch sử cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chứng tỏ Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam kéo dài 30 năm và hoàn toàn bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc lịch sử cho rằng “Mỹ không hề xâm lược Việt Nam”, rằng “miền Bắc xâm lược miền Nam”. Việc Mỹ thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam là do chúng ta sẵn sàng gác lại quá khứ để hai nước hợp tác cùng có lợi, vì hòa bình trong khu vực và trên thế giới trong bối cảnh cục diện chính trị thế giới đã thay đổi căn bản. Điều này hoàn toàn bác bỏ luận điệu cho rằng Mỹ tiến hành chiến tranh chỉ là nhằm “giúp Việt Nam tiếp cận nền văn minh của phương Tây”.

Cùng nhau ôn lại một thời hoa lửa

 Sau 50 năm gặp lại, những con người đi qua cuộc trường chinh nay mái đầu pha sương, gương mặt hằn in nếp gấp thời gian. Họ là những chàng trai, cô gái của thế kỷ 20, được sống và chiến đấu giữa những ngày cả nước ra trận. Những đôi chân trần, chí thép đã lập nên những chiến công oai hùng ngỡ như huyền thoại. Sau chiến tranh, những con người là chứng nhân lịch sử sống giản dị và khiêm nhường, để rồi khi gặp lại tay bắt mặt mừng, ánh mắt reo vui, kể chuyện năm xưa, thêm tự hào về truyền thống, trân quý nghĩa tình đồng đội.

Hoa lửa năm xưa, nghĩa tình còn mãi
Các cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong, dân quân tự vệ dâng hương tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ trên đường Bắc Sơn (Hà Nội). 

Bước sang tuổi 77, Thượng tá, Anh hùng LLVT nhân dân Trần Văn Xuân vẫn còn mạnh khỏe, giọng nói hào sảng. Trên ngực áo người anh hùng lấp lánh huân, huy chương. Ông phấn khởi kể lại một thời thanh niên sôi nổi. Năm 1972, người thanh niên Trần Văn Xuân là sinh viên Trường Đại học Thủy lợi xếp bút nghiên lên đường chiến đấu, được biên chế vào Tiểu đoàn 172, Trung đoàn 64, Sư đoàn 361 (Quân chủng Phòng không-Không quân). Tình hình trên các chiến trường rất ác liệt, máy bay địch bắn phá, ném bom vào đội hình chiến đấu của các đơn vị bộ binh, gây nhiều tổn thất. Lúc này, Liên Xô viện trợ tên lửa vác vai 9K32 Strela-2, khi về Việt Nam gọi là A72. Áp dụng vào thực tế chiến đấu, xạ thủ Trần Văn Xuân nghiên cứu máy ngắm của súng 12,7mm rồi chế tạo ra khung điểm đón cho A72. Với khí tài tự chế cùng cách đánh sáng tạo, mưu trí, dũng cảm, xạ thủ Trần Văn Xuân xuất sắc lập công, bắn rơi 8 máy bay, khiến kẻ thù khiếp sợ.

Giữa những ngày cả nước ra trận, các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ vượt lên mọi gian khổ, hy sinh, dám đánh, quyết đánh và đánh thắng bằng mưu trí, lòng dũng cảm. Trong chiến tranh ác liệt, có biết bao cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh hoặc để lại một phần máu thịt trên khắp các chiến trường. Trở về cuộc sống thường nhật, những người lính năm xưa lại đứng trong hàng ngũ hơn 3 triệu CCB cùng nhau xây dựng nên truyền thống quý báu của CCB Việt Nam: “Trung thành, đoàn kết, gương mẫu, đổi mới”

Bằng chứng khoa học và thực tiễn phủ nhận luận điệu xuyên tạc về thời đại ngày nay

 

Xác định đúng tính chất thời đại là nhiệm vụ hệ trọng nhằm giúp các quốc gia, dân tộc lựa chọn được hướng đi thuận chiều lịch sử. V.I.Lenin từng khẳng định: Khi và chỉ khi hiểu đúng về thời đại, chúng ta mới có thể định ra đúng đắn sách lược của chúng ta. “Thời đại ngày nay”, “thời đại hiện nay”, “thời đại mới”, “thời đại chúng ta” là những khái niệm đồng nghĩa, có phạm vi thời gian từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đến nay.

Với dã tâm ngăn chặn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) hiện tồn, các thế lực thù địch đã đưa ra các luận điệu xuyên tạc về thời đại ngày nay. Vạch trần các luận điệu sai trái đó là một nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Quan niệm Mác xít và Đảng Cộng sản Việt Nam về thời đại ngày nay

“Thời đại” là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử với các nấc thang phát triển khác nhau của xã hội loài người. Với phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, K.Marx và F.Engels coi hình thái kinh tế xã hội là cơ sở khách quan để phân chia thời đại. Theo quan niệm của hai ông, lịch sử xã hội loài người cho đến thế kỷ 19 là sự thay thế của các hình thái từ thấp đến cao: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa. Sự chuyển biến từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác tiến bộ hơn, không diễn ra một cách tự phát mà phải thông qua hoạt động của giai cấp đứng ở vị trí trung tâm và đóng vai trò là động lực chi phối sự vận động của thời đại đó.Vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Marx vào nước Nga, V.I.Lenin và Đảng Bolshevik Nga đã lãnh đạo giai cấp vô sản và nhân dân lao động Nga làm nên “mười ngày rung chuyển thế giới”. Cách mạng Tháng Mười năm 1917 không chỉ mở ra trang sử mới cho nước Nga mà còn mở ra thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Sau Cách mạng Tháng Mười, CNXH từ lý thuyết đã trở thành thực tiễn. Chỉ trong thời gian ngắn, Liên Xô trở thành đối thủ không thể tiêu diệt của các nước tư bản. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống các nước XHCN ra đời với ảnh hưởng ngày càng gia tăng. Điều này làm cho quy mô và ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản (CNTB) bị thu hẹp. Từ thực tế đó, Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế (tháng 11-1960) đưa ra khái niệm “thời đại chúng ta” như sau: “Thời đại chúng ta mà nội dung chủ yếu là sự quá độ từ CNTB lên CNXH mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại, là thời đại cách mạng XHCN và cách mạng giải phóng dân tộc”.Kế thừa và phát triển những quan điểm của Chủ nghĩa Marx-Lenin về thời đại, trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”.Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về thời đại ngày nay của các thế lực thù địchSự sụp đổ của chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đã đẩy phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lâm vào thoái trào. Lợi dụng vấn đề đó, các thế lực thù địch đưa ra các luận điệu sai trái về thời đại ngày nay, tập trung vào một số luận điệu sau đây:Thứ nhất, họ cho rằng, thời đại quá độ lên CNXH kết thúc khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.Đây là sự cố tình bóp méo sự thật hòng lung lạc niềm tin của nhân loại vào CNXH. Các đối tượng chống phá thừa hiểu rằng, sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, đi lên CNXH đã trở thành một sự lựa chọn của nhiều nước trên thế giới. Sức mạnh của Liên Xô và hệ thống các nước XHCN đã làm tổn hại lợi ích chính trị của giai cấp tư sản; CNTB không thể “làm mưa làm gió” như trước. Vì vậy, “nhổ cái gai Liên Xô”, làm cho Liên Xô và hệ thống XHCN sụp đổ là dã tâm thường trực của các thế lực đế quốc. Khi chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, kẻ thù của CNXH hí hửng rêu rao “thời đại ngày nay không còn là thời kỳ quá độ lên CNXH”. Với luận điệu này, họ đã mắc vào sai lầm mà V.I.Lenin từng cảnh báo, là lấy một sự kiện trong giai đoạn lịch sử cụ thể làm đặc trưng cho cả một thời đại. Luận điệu đó cũng thể hiện cách nhìn thiển cận, thiếu tri thức lịch sử bởi sự thay thế thời đại này bằng thời đại khác luôn là quá trình rất lâu dài, không loại trừ các “khúc quanh” và bước thụt lùi nhất định. Chẳng hạn, sự thay thế thời đại phong kiến bằng thời đại tư bản chủ nghĩa từng diễn ra trong mấy trăm năm; cách mạng tư sản Pháp phải làm nhiều lần mới thành công.Mặt khác, các thế lực thù địch cũng cố tình “lờ” đi một thực tế: CNXH hiện thực vẫn đứng vững với khoảng 1/5 dân số thế giới; các nước đi theo chế độ XHCN như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba... đã đạt được những thành tựu to lớn trong tiến trình cải cách, đổi mới; ở châu Mỹ Latin đã xuất hiện khuynh hướng XHCN thế kỷ 21. Rõ ràng, sự sụp đổ của chế độ xã hội ở Liên Xô và Đông Âu không làm thay đổi tính chất thời đại. Càng ra sức phủ nhận tính chất quá độ từ CNTB lên CNXH của thời đại ngày nay, các thế lực thù địch càng hiện “nguyên hình” cố tình ngăn trở bước tiến văn minh của lịch sử.Thứ hai, phủ nhận ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười. Sau đổ vỡ của Liên Xô, những kẻ chống cộng vội vã “hô hoán” rằng: Cách mạng Tháng Mười đã mất hết giá trị.Sự thật là những ai hiểu biết lịch sử đều phải thừa nhận cuộc cách mạng này đã mở ra một xu thế phát triển mới cho nhân loại, mở ra phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nhờ đó, chủ nghĩa thực dân-“vết nhơ” trong tiến trình phát triển của nhân loại đã được loại bỏ. Nhà nước Liên Xô-sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười đã đưa những người lao khổ lên vị trí chủ nhân của xã hội, đã cứu nhân loại khỏi thảm họa diệt vong của chủ nghĩa phát xít. Sau Cách mạng Tháng Mười, ba dòng thác cách mạng cùng tấn công CNTB, buộc CNTB phải điều chỉnh chính sách để cạnh tranh. Do đó, không chỉ nhân dân các nước XHCN mà cả nhân loại nói chung, đều được hưởng thành quả của Cách mạng Tháng Mười.Thứ ba, phủ định sức sống, giá trị của Chủ nghĩa Marx-Lenin trong thời đại ngày nay.Giáo sư người Anh Terry Eagleton trong cuốn sách “Tại sao Marx đúng” đánh giá: “Chủ nghĩa Marx là sự phê phán CNTB. Đó là sự phê phán sâu sắc, toàn diện và khắt khe nhất từ trước đến nay”. Vì lý do đó mà ngay từ khi ra đời, Chủ nghĩa Marx luôn bị các thế lực chống cộng công kích, vu cáo, xuyên tạc. Khi CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đổ vỡ, các thế lực chống cộng hả hê quy chụp: Sự đổ vỡ này bắt nguồn từ sai lầm của bản thân học thuyết Marx-Lenin, nay mô hình Xô viết sụp đổ thì học thuyết Marx-Lenin cũng sụp đổ theo. Ở đây đã có sự “đánh đồng” khái niệm “CNXH Xô viết”-một mô hình CNXH hiện thực còn nhiều khiếm khuyết và không được sửa chữa kịp thời với khái niệm "CNXH" nói chung.Ngoài ra, các thế lực chống cộng còn “lập luận” rằng, “hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được nữa so với thời của Karl Marx và do đó, những tư tưởng của Karl Marx không còn phù hợp nữa”. Họ cố tình không nhận thấy những biến đổi đó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật, nguyên lý chung nhất mà Chủ nghĩa Marx-Lenin đã khám phá. Họ cũng “quên” rằng, Karl Marx, Lenin với tinh thần khiêm tốn, khoa học, đã luôn nhấn mạnh, học thuyết của mình là “học thuyết mở”; nó đòi hỏi ở hậu thế một tinh thần luôn đổi mới, sáng tạo.Thứ tư, khuếch trương "thời đại ngày nay là thời đại của CNTB-tương lai vĩnh hằng của nhân loại".Luận điệu về tương lai vĩnh hằng của CNTB chứa đựng thực tại đầy mâu thuẫn, không thể hóa giải của chính CNTB. Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đã dẫn đến mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân với giai cấp tư sản; sự bất bình đẳng về thu nhập kéo theo sự bất bình đẳng về mọi mặt trong xã hội tư bản. Các mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển trong cuộc cạnh tranh “sống còn” vì vị thế quốc gia và lợi ích của tập đoàn tư bản đã biến thành các cuộc chiến tranh thương mại khốc liệt. Đó còn là mâu thuẫn giữa các nước tư bản và các nước đang phát triển khi các nước phát triển giữ vai trò “nhà cái”, đặt ra các “luật chơi” có lợi cho mình trong tiến trình toàn cầu hóa, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo với các nước đang phát triển. Sự phát triển theo hướng lấy lợi nhuận tối đa làm mục đích của CNTB còn gây tác hại khủng khiếp cho môi trường toàn cầu. Một xã hội với những bất ổn trầm trọng như thế, tất yếu phải được thay thế bằng một xã hội tốt đẹp hơn; do đó, CNTB không thể là tương lai vĩnh hằng của loài người.Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh tư tưởng, bảo vệ chân giá trị của Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, những người cộng sản và nhân dân Việt Nam phải giữ cho mình “trí sáng, tâm trong” trong “cuộc chiến” không khói súng này. Điều quan trọng hơn, chúng ta phải đồng tâm nỗ lực xây dựng thành công CNXH vì thực tiễn là thước đo chân lý, thắng lợi trên thực tiễn sẽ phủ định mọi điều đơm đặt, xuyên tạc của các thế lực thù địch về thời đại ngày nay.

Phạt nặng có xứng đáng không?

 

Cuối chiều, ông Nam và mấy người bạn cùng xóm đang ngồi uống trà ở bàn đá ngoài sân thì con trai ông thất thểu đi bộ về.- Thế xe máy của con đâu mà lại đi bộ?- Con chào bố và các chú! Con vừa bị thu giữ xe rồi. Đang vội về thì điện thoại đổ chuông, con mở ra đọc tin nhắn nên không biết đèn tín hiệu giao thông đã chuyển từ xanh sang đỏ. Con bị phạt 5 “củ” và trừ điểm bằng lái xe. Lúc đó, con còn không cài dây mũ bảo hiểm nữa. Thế là mất toi nửa tháng lương. Công an phạt dã man quá!Nghe cháu Tiến kể, cả 3 người bạn của ông Nam đều bảo rằng mức phạt vi phạm giao thông theo Nghị định số 168/2024/NĐ-CP là quá nặng. Đặc biệt, ông Hoàng làm nghề kinh doanh nông sản còn “phán”:- Việc tăng mức phạt chẳng khác gì làm lợi cho lực lượng chức năng. Trên trang Facebook của Việt Tân có rất nhiều ý kiến như thế.Thấy mọi người nhìn nhận vấn đề chưa đúng, thậm chí còn bị “sập bẫy” âm mưu chống phá của bọn phản động, ông Nam liền nghiêm giọng:- Tôi đề nghị tất cả nghe tôi nói. Đầu tiên, bố hỏi Tiến: Bố đã nhắc con bao nhiêu lần về việc tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm luật để không gây tai nạn cho mình và mọi người, nhất là đã uống rượu, bia thì không lái xe, đi xe máy phải đội mũ bảo hiểm cẩn thận và tuyệt đối không sử dụng điện thoại?- Dạ... bố nhắc nhiều lần quá, con... không nhớ hết ạ!- Đấy, hầu như lần nào con dắt xe ra là bố cũng đi theo để nhắc và đóng cổng giúp con. Thế mà con vẫn không thực hiện đúng luật giao thông, vậy thì việc bị phạt nặng có xứng đáng không? Nếu con không vi phạm thì sợ gì phạt nặng? Con phải thấy, mức phạt vi phạm giao thông để hạn chế gây ra tai nạn, hạn chế làm chết người hoặc thương tật, đau khổ suốt đời, thì đó là biện pháp cần thiết để ngăn chặn cái dã man chứ?Tiến đỏ mặt ấp úng:

- Vâng... con hiểu rồi.Ông Nam hỏi tiếp:- Nếu nhà mình có người thân bị tai nạn giao thông do những người không chấp hành nghiêm luật gây ra thì chúng ta có thông cảm, bỏ qua được không, hay chúng ta bất bình, bức xúc?Chờ một lúc không thấy ai trả lời, ông Nam hạ giọng:- Thực tế những năm qua, chúng ta đã thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm luật giao thông, nhưng rất nhiều người vẫn không tự giác chấp hành, dẫn đến tình trạng vi phạm và tai nạn giao thông vô cùng nhức nhối, gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản. Không có gì quý bằng sức khỏe và tính mạng con người, nhưng mỗi năm có hàng vạn người thiệt mạng và bị thương vì tai nạn giao thông. Đau xót lắm! Thế nhưng, từ khi tăng mức phạt thì vi phạm giao thông và tai nạn giao thông đã giảm mạnh. Cục Cảnh sát giao thông vừa thống kê: Từ đầu năm 2025 đến ngày 14-3, so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm giao thông bị xử phạt giảm gần 300.000 vụ (giảm 38,8%), đồng thời, tai nạn giao thông cũng giảm sâu. Cụ thể là cả nước xảy ra 3.535 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 1.933 người, bị thương 2.436 người; so với cùng kỳ năm 2024 giảm 1.635 vụ, giảm 290 người chết, giảm 1.621 người bị thương. Điều đó cho thấy sự đúng đắn của Nghị định 168. Ngay chúng ta cũng thấy rõ hiện nay, hiếm ai uống rượu, bia rồi lái xe và hầu như không còn tình trạng đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng. "Thuốc đắng dã tật" phải không nào?Nghe ông Nam phân tích và dẫn chứng thuyết phục, cả 3 người bạn của ông và con trai ông đều thực sự tâm phục, khẩu phục. 

Luyện giỏi, rèn nghiêm hướng tới chào mừng ngày chiến thắng

 Gặp Binh nhì Hoàng Trường An (chiến sĩ Đại đội 6, Tiểu đoàn 2) đang miệt mài trên thao trường, chúng tôi cảm nhận rõ sự trưởng thành và ý chí quyết tâm trong ánh mắt An. Binh nhì Hoàng Trường An chia sẻ: “Những ngày đầu quân ngũ, tôi không khỏi bỡ ngỡ, thậm chí gặp nhiều khó khăn trước môi trường kỷ luật thép và nền nếp sinh hoạt theo chế độ. Nhờ sự hướng dẫn tận tình của các anh chỉ huy và sự động viên ấm áp từ đồng đội, tôi đã cố gắng phấn đấu, từng bước làm quen và dần tự tin”.

Luyện giỏi, rèn nghiêm thiết thực mừng đại lễ

Chiến sĩ Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 406 tích cực luyện tập, sẵn sàng cho kiểm tra “3 tiếng nổ”. 

Có được sự trưởng thành của những chiến sĩ trẻ như Hoàng Trường An không thể không kể đến vai trò của những người cán bộ tận tâm. Thượng úy Bằng Văn Tĩnh, Trung đội trưởng Trung đội 4, Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, đã có kinh nghiệm quản lý, huấn luyện chiến sĩ mới (CSM), chia sẻ: “Huấn luyện CSM là một quá trình đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ và trách nhiệm cao. Các đồng chí CSM như những trang giấy trắng, mang trong mình nhiệt huyết tuổi trẻ nhưng cũng không tránh khỏi bỡ ngỡ khi vừa bước vào môi trường quân ngũ. Nhiệm vụ của chúng tôi là đặt những nét vẽ đầu tiên, định hình nên hình ảnh người quân nhân luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, dù trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào”.

Được biết, để những “nét vẽ” ấy được chuẩn xác và hiệu quả, Thượng úy Bằng Văn Tĩnh luôn quán triệt phương pháp “cầm tay chỉ việc”, “học đi đôi với hành”. Anh luôn chú trọng làm mẫu động tác một cách chuẩn mực, giải thích cặn kẽ lý thuyết, phân tích động tác, rồi chia nhỏ thành các nhóm để hướng dẫn, uốn nắn từng chiến sĩ. Không chỉ vậy, việc tạo môi trường thi đua lành mạnh, khích lệ tinh thần học hỏi và ý thức kỷ luật cũng được anh đặc biệt coi trọng.

“Đơn vị chúng tôi luôn quan tâm xây dựng môi trường thi đua lành mạnh bằng cách công khai kết quả huấn luyện, rèn luyện, thực hiện các chế độ; đánh giá khách quan, kịp thời biểu dương những cá nhân, tập thể có thành tích tốt. Hình thức khen thưởng có thể là lời biểu dương, động viên trước toàn đơn vị, hoặc những phần thưởng nhỏ mang tính khích lệ tinh thần. Đồng thời, chúng tôi cũng phân công những đồng chí có kết quả huấn luyện tốt trực tiếp kèm cặp, giúp đỡ những đồng chí còn gặp khó khăn. Chính sự sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau ấy đã tạo nên sức mạnh đoàn kết, giúp CSM cùng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ”, Thượng úy Bằng Văn Tĩnh nêu kinh nghiệm

Đối phương nói về Chiến thắng Điện Biên Phủ

 

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, có rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả trong nước và quốc tế tìm hiểu về thắng lợi của Việt Nam và thất bại của Pháp trong đó có những nhìn nhận, đánh giá của chính đối phương..

Trước khi Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra, tự tin vào sức mạnh của mình, Chính phủ Pháp cho rằng, Việt Minh không có khả năng tiến công tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm như Điện Biên Phủ. Phó chủ tịch Ủy ban phụ trách các vấn đề Đông Dương hỏi tướng Henri Navarre, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, rằng: "Với sự tăng viện mà ông đòi hỏi, có thể giúp ông đánh bại kẻ thù vào thời điểm tháng 1-1954 không?". Navarre khẳng định chắc chắn: “Tôi đang nghĩ như vậy vì kẻ thù đang khốn đốn, hậu phương của họ bị nghiền nát và chúng đã yếu đi”(1). Cùng chung nhận định trên là các nhà chiến lược quân sự của Bộ Quốc phòng Pháp cũng khẳng định: Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam không thể tiến công tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nếu Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam chủ trương tiến công tập đoàn này theo nghệ thuật tiến công thông thường, nghệ thuật tiến công mà các học viện quân sự nổi tiếng ở châu Âu và Bắc Mỹ đã nghiên cứu, giảng dạy từ lâu rồi.

Với sự tập trung binh lực mạnh mẽ, bộ chỉ huy quân Pháp tin rằng, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có thể vô hiệu hóa, tiến tới tiêu diệt các binh đoàn chủ lực trang bị còn hạn chế của Việt Nam. Ngày 2-1-1954, tướng Cogny, Tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương, khi trả lời phỏng vấn hãng tin AP (Mỹ), khẳng định: "Bộ chỉ huy Pháp tin chắc sẽ đánh cho Việt Minh đại bại ở Điện Biên Phủ. Chúng ta chờ đợi những cuộc chiến đấu ác liệt và kéo dài. Nhưng chúng ta sẽ thắng”(2). Trong lần tới kiểm tra tập đoàn cứ điểm, tướng Navarre tỏ ra thận trọng hơn, muốn tăng cường cho Điện Biên Phủ thêm 3 tiểu đoàn cơ động, vì cơ quan tình báo Pháp báo cáo là cuộc tiến công của ta có thể xảy ra vào ngày 13 hoặc 15-3. De Castries, chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã dứt khoát từ chối và ngạo mạn nói  rằng: “Thật vô ích! Sẽ gay go nhưng chúng tôi giữ được”(3).Sau nhiều tháng đánh giá tình hình, Navarre càng tin tưởng chủ lực Việt Minh không thể đánh được Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Không những thế, ông ta còn nhận định, đến cuối tháng 2-1954, cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân của Việt Minh đã vượt qua đỉnh cao nhất, đang bắt đầu đi xuống và trước sau gì cũng phải rút khỏi Điện Biên Phủ. Vì đó là nơi Việt Minh không thể đánh chiếm được; nếu chủ lực Việt Minh liều lĩnh mở cuộc tiến công thì đây sẽ “là trận tiêu diệt lớn khối chủ lực của Việt Minh”, là thời cơ hiếm hoi mà quân Pháp phải tận dụng. Tuy nhiên, họ không hề biết rằng sau đợt 1 của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và khi Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hình thành, vấn đề đặt ra với Bộ Tổng Tư lệnh và riêng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp không phải là tiến công hay không tiến công mà là đánh như thế nào để tiêu diệt được một tập đoàn cứ điểm mạnh? Và nếu không đánh bại được hình thức phòng ngự chiến lược mới này của quân Pháp, tức là không mở được cục diện thuận lợi cho cuộc kháng chiến phát triển. Đó chính là quyết tâm không lay chuyển và cũng là niềm tin của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông rời căn cứ Việt Bắc hành quân ra tiền tuyến.

Thế rồi, sau thất bại nặng nề của Pháp ngay trong đợt 1 chiến dịch (giữa tháng 3-1954), từ Thủ tướng Pháp Lanien đến Navarre, Cogny đều chuyển sang “thái độ bi quan sâu sắc”. Navarre than phiền rằng: “Tổn thất của chúng ta là nặng nề và chúng ta đã tiêu phí một số rất lớn vũ khí; dự trữ của chúng ta đã bị xuống rất thấp, cần phải nhiều thời gian mới bổ sung được”. Cogny thú nhận với một số nhà báo: “Điện Biên Phủ quả là một cái bẫy, nhưng không phải là cái bẫy với Việt Minh nữa, mà đã thành một cái bẫy đối với chúng ta”.

Một nguyên nhân bộ đội Việt Nam giành thắng lợi trong trận mở màn chiến dịch, điểm mới trong tác chiến chiến dịch là vai trò của pháo binh. Bộ chỉ huy Pháp không thể tin được là bộ đội Việt Nam có thể kéo pháo bằng tay vào các trận địa đặt trên núi cao hướng xuống lòng chảo Điện Biên Phủ. Uy lực và hiệu quả của những trận pháo kích khiến các khẩu pháo của Pháp bị phá hủy và khống chế. Tướng Yves Gras viết: “Trận đánh bắt đầu bằng sự xuất hiện của pháo binh Việt Minh và điều này đã gây nên bất ngờ chiến thuật thực sự... Pháo binh Việt Minh được bố trí thành từng khẩu riêng biệt suốt dọc sườn núi phía Đông của lòng chảo... bắn trực tiếp và có thể bắn dồn dập với một mật độ nhất định... Pháo binh Pháp rất dễ bị phá hủy bằng những phát đạn bắn thẳng từ trên núi”(4).

Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, mặc dù đánh phá ác liệt song quân Pháp vẫn không ngăn được con đường tiếp tế của đối phương cho mặt trận Điện Biên Phủ. 10 năm sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, Jules Roy, cựu Đại tá không quân Pháp phải thừa nhận: “Mặc dù nhiều tấn bom đã trút xuống các trục lộ giao thông nhưng tuyến tiếp tế của Việt Minh không bao giờ bị đứt... Tướng Navarre bị đánh bại không phải bởi các phương tiện chiến tranh mà là do trí thông minh và ý chí quyết thắng của đối phương”(5). Tướng Raoul Salan, người trực tiếp cầm quân chỉ huy trên chiến trường Việt Nam, khi nói về nghệ thuật quân sự của đối phương cũng bày tỏ khâm phục: “Quân đội Việt Minh là một lực lượng bộ binh xuất sắc... Lính bộ binh chính quy Việt Minh theo quan niệm của tôi là địch thủ ghê gớm nhất mà Pháp đã gặp phải từ sau trận Verdun. Lính bộ binh Việt Nam còn mạnh hơn người lính Đức vì với chất lượng đã có lại cộng thêm sức mạnh tập thể...”(6). Trong cuốn "Đông Dương đỏ", Raoul Salan cũng không ngần ngại nói rằng: “Sau 30 năm chiến tranh, vừa kết hợp được khả năng chiến đấu của mình, với lòng cuồng nhiệt và hăng say của quần chúng, người lính Việt Minh quả thực là một địch thủ đáng sợ trong thời đại ngày nay” và “Quân đội của họ (Việt Minh)-Quân đội giỏi nhất trên thế giới hiện nay, đã chiến đấu kể từ năm 1945. Được trưởng thành trong khói lửa, quân đội nay đã đạt tới đỉnh cao. Đó là một bộ máy chiến tranh không gì sánh kịp”.

Khi nhận xét về đội ngũ cán bộ chỉ huy của QĐND Việt Nam, trong cuốn “Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày”, tác giả Michael Maclear đã phân tích sâu sắc yếu tố chiến thắng của QĐND Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ và vai trò của vị Tổng chỉ huy: “Đối với ông Giáp, cảm giác khi gặp thì người ta thấy ông là một con người giống Napoléon về dáng vóc và kiến thức. Ông ta là một chiến lược gia có tài... chẳng bao giờ thua một cuộc chiến tranh nào”. Cũng nhận định về đội ngũ của các tướng lĩnh cầm quân trên chiến trường Điện Biên Phủ, Đại tá Gabriel Bonnet, công tác tại Viện hàn lâm Quân sự Pháp, trong cuốn “Chiến tranh cách mạng Việt Nam” đánh giá: “Những nhà chỉ huy quân sự cao cấp của Việt Minh có đầy đủ các đức tính làm tự hào cho quân đội cách mạng, trung thành và đức tin chính trị, sự hiểu biết và sự thông minh tổng hợp... cho phép họ hoàn thành tất cả mọi nhiệm vụ, giải quyết những vấn đề quân sự rất phức tạp”. Còn ông Jules Roy, một ký giả người Pháp có mặt tại Điện Biên Phủ năm 1954 đã so sánh rằng: “Hỏi xem có được mấy vị tư lệnh binh đoàn, sư đoàn và trung đoàn của quân đội ta (Pháp) biết chịu đựng cùng binh sĩ, cùng sống như họ, chịu đi bộ, lặng lẽ, không ầm ĩ, nhưng rất đáng sợ như đối phương của ta đang ở quanh ta...”(7).

Đặc biệt, sự trưởng thành vượt bậc của QĐND Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng giáng cho đối phương những đòn bất ngờ. Sống sót sau trận Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, Trung tá Marcel Bigeard (sau là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp) chua chát rằng: “Những con người do tướng Giáp đào luyện thật là những chiến binh tuyệt vời! Những cuộc phản kích của quân Việt chặn đứng pháo binh của chúng tôi, các khẩu súng cối của chúng tôi không thể nhả đạn”(8). Và rồi Marcel Bigeard lại tự vấn: “Liệu có ai có thể tin được rằng những người Bắc Kỳ nhỏ nhắn ấy, những con người của đồng ruộng, thanh đạm, tích cực lao động, được huấn luyện chút ít về chính trị và quân sự lại đã có thể biến thành một phương tiện chiến đấu ghê gớm, linh hoạt, cơ động, bền bỉ, biết cách hành động, có năng lực không chỉ ở cấp độ người chiến binh mà cả ở cấp độ bộ chỉ huy... Trong lúc chúng ta đã không làm sao có thể chỉ định được một hoặc hai, thậm chí ba viên tướng chỉ huy chung các đơn vị của chúng ta ở Điện Biên Phủ”.

Từng rải truyền đơn thách thức tướng Giáp đưa quân đọ sức tại Điện Biên Phủ nhưng kết cục De Castries phải thú nhận: “Quân đội viễn chinh Pháp và các tướng tá Pháp chúng tôi là một đội quân nhà nghề, thiện chiến và trang bị hiện đại. Sự kiện tướng Giáp thắng chúng tôi ở Điện Biên Phủ làm chúng tôi ngạc nhiên về tài năng của ông... Tôi thừa nhận tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cogny và Đại tướng Navarre. Tôi hân hạnh làm đối thủ của tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”.

 Không chỉ thử thách về sức bền thể lực, mà còn là sự rèn giũa ý chí tinh thần: Giữ thẳng hàng, bước đều, động tác dứt khoát, đồng đều, đẹp mắt. Từng cử động không cho phép có một sai sót nhỏ. Yêu cầu kỹ, mỹ thuật cao, cộng với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, khiến không ít chị em, đặc biệt là những người lần đầu tham gia không khỏi bỡ ngỡ. Nhưng trên tất cả, tinh thần kỷ luật thép, ý chí của người lính biển cùng sự sẻ chia ấm áp của đồng đội, đã giúp họ vững vàng bước tiếp.

Gửi yêu thương vào từng nhịp bước
Thiếu tá QNCN Trương Thùy Dương trong giờ luyện tập. 

Trong đội hình luyện tập, ánh mắt đồng chí Thiếu tá QNCN Trương Thùy Dương, nhân viên Kho 700, Cục Hậu cần - Kỹ thuật Hải quân, ánh lên niềm xúc động: “Từ những ngày đầu đặt chân đến Biên Hòa, tôi khá bỡ ngỡ vì thời tiết quá khắc nghiệt, cường độ tập luyện lại rất cao. Nhưng nhờ sự động viên của cấp trên, tình cảm gắn bó của anh chị em đồng đội, tôi thấy mình trưởng thành hơn từng ngày. Tôi sẽ nỗ lực hết mình để cùng toàn đội bước đi thật đều, thật đẹp trong ngày Đại lễ. Thật tự hào là một nữ chiến sĩ Hải quân!”n kỷ luật thép, ý chí của người lính biển cùng sự sẻ chia ấm áp của đồng đội, đã giúp họ vững vàng bước tiếp.

Giữa sân tập Biên Hòa, trong cái oi nóng tháng Tư, những bước chân nữ quân nhân vẫn đều đặn, vững vàng, như một khúc quân hành bền bỉ của niềm tin, ý chí và tình yêu Tổ quốc


Quân ta đã toàn thắng trên mặt trận Điện Biên Phủ, thu được một chiến thắng vĩ đại xưa nay chưa từng có trong lịch sử đấu tranh vũ trang của quân dân Việt Nam

 

Chiến dịch Điện Biên Phủ to lớn của quân ta chính thức bắt đầu vào ngày 13-3-54, ngày quân ta mở cuộc tấn công đầu tiên vào các cứ điểm ngoại vi của tập đoàn cứ điểm.

Binh lực của địch lúc đó có 12 tiểu đoàn bộ binh và quân nhảy dù. 3 tiểu đoàn trọng pháo và trọng bức kích pháo. Sau mấy đợt tấn công liên tiếp và thắng lợi của quân ta, quân địch bị thất bại phải lần lượt tăng thêm 5 tiểu đoàn quân nhảy dù tinh nhuệ nữa, cộng với một số đơn vị và binh chủng chuyên môn khác, tất cả có trên 21 tiểu đoàn và 10 đại đội. Quân địch bố trí thành một tập đoàn cứ điểm lớn kiên cố hơn Nà Sản nhiều, gồm có nhiều tập đoàn cứ điểm nhỏ hợp lại, cộng tất cả là 49 cứ điểm, đóng trên một khu vực dài 12 cây số, rộng 6 cây số có 2 trường bay lớn, phi cơ hạng nặng có thể xuống được.

Cuộc tấn công của quân ta vào Điện Biên Phủ kể từ ngày 13-3 cho đến ngày mồng 6-5 là ngày quân ta phát động cuộc tổng công kích đã tiếp diễn liên tục và mãnh liệt trong suốt 55 ngày và đêm. Cho đến 22 giờ ngày 7-5 thì quân ta tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã thu được toàn thắng.

Theo những thống kê đầu tiên, quân ta đã tiêu diệt 17 tiểu đoàn bộ binh và quân nhảy dù của địch, 3 tiểu đoàn trọng pháo và trọng bức kích pháo, ngoài ra còn nhiều đơn vị cơ giới, không quân, công binh, vận tải… cũng bị tiêu diệt không một lần nào chạy thoát. Tổng cộng có trên 21 tiểu đoàn bộ binh và quân nhảy dù và 10 đại đội ngụy bổ sung, quân số có đến 16.200 tên địch, đã bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn. 

a) Sau đây là phiên hiệu các đơn vị của địch bị ta tiêu diệt

1 - Binh đoàn quân nhảy dù số 2 (GAP 2) gồm 7 tiểu đoàn dù:

- Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 (1er BPC), tiểu đoàn dù lê dương số 1 (1er BEP), tiểu đoàn dù thuộc địa số 2 (2e BPC), tiểu đoàn dù lê dương số 2 (2er BEP), tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6e BPC), tiểu đoàn dù thuộc địa số 8 (8e BPC), tiểu đoàn dù nguỵ số 5 (5e BPVN).

2 - Binh đoàn cơ động số 9 (GM 9) gồm 6 tiểu đoàn bộ binh:

- Tiểu đoàn thứ 1 thuộc bán lữ đoàn lê dương số 13 (1/13 DBLE), tiểu đoàn thứ 3 thuộc bán lữ đoàn lê dương số 13 (3/13 DBLE), tiểu đoàn thứ 1 thuộc trung đoàn lê dương số 2 (1/2 REI), tiểu đoàn thứ 3 thuộc trung đoàn Bắc Phi An-giê-ri số 3 (3/3 RTA), tiểu đoàn thứ 1 thuộc trung đoàn Bắc Phi Ma-rốc số 4 (1/4 RTM), tiểu đoàn ngụy Thái số 2 (2 BT).

3 - Binh đoàn cơ động số 6 (GM 6) gồm 4 tiểu đoàn bộ binh:

- Tiểu đoàn thứ 3 trung đoàn lê dương số 3 (3/3 REI), tiểu đoàn thứ 2 thuộc trung đoàn Bắc Phi An-giê-ri số 1 (2/1 RTA), tiểu đoàn thứ 5 thuộc trung đoàn Bắc Phi An-giê-ri số 7 (5/7 RTM), tiểu đoàn nguỵ Thái số 3 (3BT).

4 - Hai tiểu đoàn và 1 đại đội trọng pháo 155 và 105 ly và 1 tiểu đoàn trọng bức kích pháo 120 ly cộng 48 khẩu thuộc trung đoàn pháo binh thuộc địa số 4 (4er RAC).

5 - Hai trung đội phòng không 12 ly 7

6 - Một tiểu đoàn công binh, 1 đại đội cơ giới có 10 xe tăng 18 tấn, đại đội vận tải có 120 xe các loại.

7 - Căn cứ không quân Điện Biên Phủ trong đó có một đại đội không quân thường trực gồm 5 chiếc phi cơ thám thính, 7 chiếc phi cơ khu trục, 4 chiếc phi cơ vận tải, 1 chiếc phi cơ trực thăng, cộng 17 chiếc và cơ quan phụ trách không quân.

8 - Các cơ quan chỉ huy và trực thuộc như tình báo quân sự, thông tin, hậu cần, quân y, hiến binh, đội sửa chữa xe cộ và cơ giới v.v…

9 - 10 đại đội ngụy bổ sung người Thái

Ngoài ra còn có một số bộ binh lẻ thuộc các đơn vị cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ mà địch điều động đến và bắt buộc phải nhảy dù xuống Điện Biên Phủ để bổ sung cho các đơn vị bị hao hụt. Địch đã gọi bọn này là “bộ đội tình nguyện nhảy dù tăng viện” cho Điện Biên Phủ.

b) Trong số quân địch bị chết hoặc bị bắt làm tù binh, có:

- Toàn bộ cơ quan tổng chỉ huy của địch ở Điện Biên Phủ.

- Toàn bộ 3 bộ chỉ huy ba phân khu Nam, Bắc và Trung tâm.

- Ba bộ chỉ huy của 3 binh đoàn cơ động và tất cả các ban chỉ huy các tiểu đoàn bộ binh và binh chủng nói trên.

Sĩ quan cao cấp hiện đã biết rõ có:

- Tên thiếu tướng Đờ Cát-tri, tư lệnh quân khu Tây Bắc kiêm tư lệnh Điện Biên Phủ bị bắt sống.

- 16 tên quan năm vừa bị bắt vừa bị giết, trong đó có:

Tên quan năm Tờ-răng-ca (Trancart) tư lệnh phó thứ nhất phụ trách công việc địa phương Tây Bắc.

Tên quan năm Gốt-sê (Goucher), tư lệnh phó thứ hai kiêm tư lệnh phân khu miền Bắc và chỉ huy trưởng binh đoàn cơ động số 9.

Tên quan năm Lăng-gờ-le (Langlais), tư lệnh phó thứ ba kiêm chỉ huy trưởng binh đoàn cơ động quân nhảy dù số 2.

Tên quan năm Pi-rốt (Piroth), tư lệnh phó thứ tư kiêm chỉ huy trưởng pháo binh.

Tên quan năm An-li-u (Alliou) thay cho Pi-rốt (Piroth) tử trận.

Tên quan năm La-lăng-đơ (Lalande), tư lệnh phân khu miền Nam kiêm chỉ huy trưởng binh đoàn cơ động số 6.

Tên quan năm Guýt (Guth), tham mưu trưởng Điện Biên Phủ.

Tên quan năm Đu-cờ-ruých (Ducruix) thay cho Guýt (Guth) tử trận.

Tên quan năm Gơ-ranh (Guerin), tư lệnh không quân Điện Biên Phủ.

Tên quan năm Vây-ăng (Vaillant) tư lệnh pháo binh thay An-li-u (Alliou).

Tên quan năm Lơ-mơ-ni-ê (Lemeunier) phó tư lệnh phân khu trung tâm.

Tên quan năm Sê-guyn Pac-di (Seguin Parzies) tham mưu trưởng thay Đờ-cờ-ruých (Ducruix) v.v…

Tổng số sĩ quan bị giết và bị bắt từ quan một đến quan tư là 353 tên, tổng số hạ sĩ quan bị giết và bị bắt là 1.396 tên. Cộng tất cả là 1.749 tên.

“Tổng cộng phi cơ bị bắn rơi và phá hủy ở ngay mặt trận có 57 chiếc, ngoài ra còn 5 chiếc bị bắn rơi trên các tuyến cung cấp cho mặt trận. Tổng cộng là 62 chiếc đủ các loại trong đó có những phi cơ oanh tạc hạng nặng B.24, phi cơ chống pháo B.26, phi cơ vận tải hạng nặng C.119 và phi cơ khu trục Hen-đi-vơ, đều toàn là của Mỹ viện trợ cho Pháp”.

Quân ta thu toàn bộ vũ khí và toàn bộ kho tàng đạn dược quân trang quân dụng trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, hiện chưa thống kê hết được, trong đó chỉ riêng số dù thu được đã có trên 3 vạn chiếc.

Chiến dịch Điện Biên Phủ đã thu được thắng lợi vĩ đại như trên là do sự chỉ đạo sáng suốt của HỒ CHỦ TỊCH, TRUNG ƯƠNG ĐẢNG và CHÍNH PHỦ do tinh thần chiến đấu tích cực bền bỉ và anh dũng, tinh thần chịu đựng gian khổ rất cao và sự trưởng thành vượt bậc của toàn thể cán bộ và chiến sĩ trên mặt trận Điện Biên Phủ, do tinh thần tích cực phục vụ tiền tuyến của đồng bào hậu phương và các anh chị em dân công, do sự phối hợp hoạt động rất đắc lực của quân đội và nhân dân trên các chiến trường toàn quốc. Thắng lợi Điện Biên Phủ là một chiến thắng rất to lớn xưa nay chưa từng có trong lịch sử đấu tranh vũ trang của quân dân Việt Nam.