Thứ Hai, 2 tháng 6, 2025

Không thể phủ nhận giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh

Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng. Thấy rõ giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không ngừng tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng của Người.

Nhận diện luận điệu sai trái, xuyên tạc

Một trong những luận điệu nguy hiểm mà các thế lực thù địch xuyên tạc là cho rằng Hồ Chí Minh không phải nhà tư tưởng, không có tư tưởng hoặc nếu có thì đó chỉ là những quan điểm rời rạc, thiếu hệ thống, không đủ tầm vóc để gọi là một hệ tư tưởng.

Các đối tượng thù địch thường nguỵ biện rằng, Hồ Chí Minh là người hoạt động thực tiễn, không viết lý luận theo nghĩa hàn lâm, không có hệ thống học thuyết riêng như C.Mác, Ph.Ăngghen hay Lênin. Họ lý sự rằng, ở Hồ Chí Minh không có các tác phẩm lý luận tầm cỡ và vì bản thân Hồ Chí Minh cũng tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng nên quy kết “không có khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Bên cạnh đó, một số kẻ đội lốt “nhà phản biện”, “nhà nghiên cứu”, “nhà khoa học” còn cố tình ngụy biện rằng Hồ Chí Minh chỉ là người “sao chép” chủ nghĩa Mác - Lênin, không có sự sáng tạo gì mới nên không thể gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Ở đây không đơn thuần là sự hoài nghi học thuật mà là các thế lực thù địch, phản động âm mưu nhằm hạ bệ biểu tượng tư tưởng cách mạng, tạo ra khoảng trống lý luận để tung quan điểm lệch lạc, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trong thế hệ trẻ. Họ muốn phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh để từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận chế độ XHCN, thúc đẩy mô hình “đa nguyên, đa đảng”. Đây là chiêu bài chính trị quen thuộc nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học được lặp đi, lặp lại, nhất là trong dịp kỷ niệm 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đối tượng lại tìm cách “khuấy” lên dưới nhiều chiêu trò như toạ đàm, hội luận, phỏng vấn, phân tích...

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và CNXH với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trong quá trình vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã phát triển nhiều luận điểm mới, phù hợp và sáng tạo. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin tập trung vào đấu tranh giai cấp ở phương Tây thì Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vấn đề dân tộc và giải phóng thuộc địa. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập nhiều về vai trò của giai cấp vô sản thì Hồ Chí Minh nhận thấy vai trò to lớn của nông dân và các tầng lớp bị áp bức trong xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.

Tư tưởng không nhất thiết phải được thể hiện bằng những bộ sách đồ sộ hay khái niệm trừu tượng, hàn lâm mà có thể hiện diện qua các tác phẩm chính luận, bài viết, bài nói, hành động và trên hết là qua sự chỉ đạo đúng đắn và hiệu quả đối với thực tiễn cách mạng. Các nhà khoa học chỉ rõ rằng, Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng theo đúng nghĩa của một nhà cách mạng hành động, nơi mà lý luận luôn được kiểm chứng và phát triển qua thực tiễn sôi động của Người. Do đó, không thể nguỵ biện rằng, ở Hồ Chí Minh không có các tác phẩm lý luận tầm cỡ và vì bản thân Hồ Chí Minh cũng tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, từ đó đưa ra quan điểm sai trái, phủ nhận tư tưởng của Người.

Thế giới đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi

Các nhà khoa học trong nước và quốc tế đã khẳng định, Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lớn, bởi Người có sự chuẩn bị kỹ càng về lý luận, có khả năng dự báo, xác định đúng hướng đi cho phong trào của quần chúng khi đang còn tự phát. Có tầm nhìn chính trị bao quát, rộng mở để giải quyết những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng. Có khả năng tổ chức thành lập một chính đảng cách mạng để quy tụ, tập hợp quần chúng để đấu tranh. Có khả năng vượt qua những khó khăn, thử thách để thực hiện tư tưởng của mình trong thực tiễn cách mạng.

Người đã có rất nhiều tác phẩm lý luận thể hiện tư duy sâu sắc, nhất quán và mang tính hệ thống về cách mạng Việt Nam. Trong di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh có rất nhiều tác phẩm tiêu biểu, đánh dấu những sự kiện quan trọng gắn liền với những bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Năm 2021, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập” (15 tập).

Bộ sách tập hợp khoảng 3.300 tác phẩm, bài nói, bài viết, điện, thư... của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1912 đến năm 1969 đã được xác minh và thẩm định, cung cấp nhiều tư liệu làm sáng tỏ sự nghiệp, những giá trị lớn lao của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó phải kể đến năm tác phẩm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh - năm di sản đã được công nhận là bảo vật quốc gia: “Đường Kách mệnh” (1927), “Nhật ký trong tù” (1942-1943), “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946), “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (17/7/1966) và “Di chúc” (10/5/1965-19/5/1969).

Năm tác phẩm tiêu biểu được xếp hạng bảo vật quốc gia cũng như toàn bộ di sản của Người có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đều có những chỉ dẫn cụ thể, là kim chỉ nam, mang giá trị định hướng trường tồn. Đó không phải là những mảnh ghép rời rạc như luận điệu các thế lực xấu mà là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế. Đồng thời, minh chứng cho những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng thế giới, sự cống hiến của Người vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã chứng minh tính đúng đắn và sức sống mạnh mẽ của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ và thống nhất đất nước, xây dựng XHCN, đưa đất nước tiến lên hiện đại. Không chỉ có giá trị trong lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh còn mang tính thời đại sâu sắc, tiếp tục soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là minh chứng sinh động cho giá trị khoa học, giá trị cách mạng và giá trị nhân văn cao cả của một tư tưởng vĩ đại.

Đại hội XI (2011), Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”. Định nghĩa này không chỉ mang tính lý luận sâu sắc mà còn thể hiện sự đúc kết từ thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Điều này đủ sức bác bỏ quan điểm cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn không có hệ thống lý luận độc lập.

Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”.

Ghi nhận những đóng góp, cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh cho tư tưởng, văn hóa của dân tộc Việt Nam, cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, UNESCO đã ban hành Nghị quyết khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh và tư cách nhà tư tưởng của Người. Nghị quyết ghi nhận Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.

Chính các học giả, nhà nghiên cứu quốc tế đã thừa nhận và ca ngợi tư tưởng Hồ Chí Minh như một hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn trên bình diện thế giới. Tại nhiều hội thảo quốc tế, các học giả đã nhấn mạnh tính nhân văn, tính thực tiễn và tính định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là sự đóng góp quan trọng vào kho tàng tư tưởng cách mạng thế giới. Hiện nay, đã có 35 công trình tượng, tượng đài Hồ Chí Minh được xây dựng tại 22 quốc gia trên thế giới.

Đây chính là sự bác bỏ đầy thuyết phục của cộng đồng quốc tế đối với các luận điệu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh hiện nay, khi sự nghiệp cách mạng bước vào giai đoạn mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen thì việc nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa quan trọng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Điều này cũng chứng tỏ rằng, những luận điệu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh không những phi khoa học mà còn đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.

Sưu tầm

Phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc về sửa đổi Hiến pháp hiện nay

Đẩy mạnh tổng kết, thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nhiều nghị quyết quan trọng khác của Đảng, vừa qua Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 ban hành kế hoạch, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp. Tuy nhiên lợi dụng vào việc này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc, cần cảnh giác, đấu tranh phản bác.

Mượn gió bẻ măng

Lợi dụng vào việc nhà nước lấy ý kiến Nhân dân sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 2018 để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ sắp xếp tổ chức bộ máy và nhiều chủ trương quan trọng của Đảng, trong những ngày qua, một số tổ chức phản động như Việt Tân, các trung tâm truyền thông VOA tiếng Việt, RFA và một số cá nhân có tư tưởng chống đối, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm chỉ đạo, định hướng của Đảng, Nhà nước ta về việc nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 2013.

Chúng lợi dụng lấy ý kiến về sửa đổi Hiến pháp để đưa ra đòi hỏi phi lý từ rất nhiều năm nay, đó là “đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013”. Chúng rêu rao tuyên truyền xuyên tạc theo kiểu dân túy là: “Để đảm bảo quyền làm chủ của người dân thì Hiến pháp mới cần bỏ Điều 4”, “Sửa Hiến pháp: Yêu cầu bỏ Điều 4 để Nhân dân được tự do chính trị”… Những luận điệu này đã thể hiện rõ âm mưu chống phá của chúng và thực chất là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng, hướng lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chúng xuyên tạc rằng “Chuyện sửa đổi Hiến pháp chẳng qua là trò mị dân” và việc lấy ý kiến Nhân dân về sửa đổi Hiến pháp chỉ là “Trò làm màu tốn thời gian, tiền của”, “Hiến pháp không thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân”…

Trái với những điều này, theo Điều 120 Hiến pháp 2013 quy định về việc sửa đổi Hiến pháp: “Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp”. Rõ ràng, việc sửa Hiến pháp sẽ phải tiến hành lấy ý kiến Nhân dân. Người dân ngoài việc được lấy ý kiến với quy trình tiến hành rất chặt chẽ, dân chủ, khách quan, còn được theo dõi phiên thảo luận tại Hội trường của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 qua truyền hình, phát thanh trực tiếp. Không có chuyện “mị dân” trong việc sửa Hiến pháp và lấy ý kiến Nhân dân như những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch suy diễn trong những ngày qua. Chỉ tính trong 3 tuần qua, qua phần mềm VNeID do Bộ Công an quản lý đã có hơn 14 triệu lượt ý kiến Nhân dân góp ý trực tiếp, đóng góp vào sửa đổi, bổ sung Hiến pháp thể hiện tinh thần trách nhiệm công dân, dân chủ của công dân trong việc tham gia hoàn thiện Hiến pháp.

Đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới

Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 là một sự kiện chính trị pháp lý trọng đại, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý và toàn xã hội. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 không chỉ là điều chỉnh về kỹ thuật pháp lý, mà còn thể hiện sự đổi mới tư duy của cả hệ thống chính trị, với một số nội dung rất quan trọng như: Vị thế, vai trò của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị; đổi mới, tái cấu trúc mô hình tổ chức chính quyền địa phương... Các ý kiến góp ý của các tầng lớp Nhân dân đều hướng tới mục tiêu cao nhất là phục vụ người dân tốt hơn, giải phóng mọi nguồn lực cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Trước hết có thể thấy, việc lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động trí tuệ, tâm huyết và tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của toàn dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013, bảo đảm Hiến pháp phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.

Về mục đích, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; tạo cơ sở hiến định cho việc sắp xếp cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp theo hướng gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn. Mặt khác, sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng; nội dung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp trên cơ sở căn cứ vào chủ trương, định hướng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Về cơ sở lý luận, đối với nước ta, Hiến pháp là một hệ thống cao nhất của pháp luật quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập thủ tục, quyền hạn, trách nhiệm của nhà nước, chính quyền, bảo đảm các quyền của nhân dân. Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước, thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân, là đạo luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Quốc hội ban hành và có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, xã hội; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước…

Ở đây có thể thấy, khi điều kiện lịch sử cụ thể, đất nước bước sang giai đoạn, xã hội có bước pháp triển mới, có nội dung, điều luật quy định không phù hợp với thực tiễn thì việc sửa đổi để đảm bảo đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới là hết sức cần thiết, hệ trọng thể hiện ý chí, nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân.

Về thực tiễn, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 là dựa trên kết quả rà soát, đánh giá thực tiễn việc thi hành quy định cụ thể của Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật có liên quan, nhất là các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước, chính quyền địa phương. Trước yêu cầu đưa đất nước vào kỷ nguyên mới, phát triển đất nước nhanh và bền vững, Hiến pháp hiện hành cần được điều chỉnh để tạo động lực mạnh mẽ hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.

Trong đó, thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy, sắp xếp các đơn vị hành chính, tinh giản biên chế đòi hỏi phải có sự điều chỉnh ở cấp độ hiến pháp để đảm bảo tính pháp lý cao nhất. Sau hơn 10 năm thi hành, Hiến pháp năm 2013 đã bộc lộ một số vấn đề cần được sửa đổi, bổ sung, khắc phục những bất cập trong thực tiễn để phù hợp hơn. Đảm bảo đồng bộ, sửa đổi Hiến pháp là cơ sở chính trị, pháp lý để sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật. Sửa đổi một số điều của hiến pháp để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, tạo điều kiện thuận lợi hơn đối với nước ta trong quá trình hội nhập.

Việc sửa đổi Hiến pháp năm 2013 là một nhiệm vụ quan trọng cần thiết và chiến lược nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, hoàn thiện hệ thống chính trị và pháp luật, đồng thời thể hiện ý chí và nguyện vọng của Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới. Với quá trình triển khai khẩn trương, khoa học, dân chủ, minh bạch như hiện nay, việc hoàn thiện sửa đổi Hiến pháp năm 2013 đảm bảo về mặt tiến độ theo yêu cầu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ sắp xếp, tinh gọn bộ máy đang diễn ra quyết liệt, mạnh mẽ.

Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc hệ trọng, được tiến hành thận trọng, khách quan, dân chủ, khoa học, hiệu quả; có cơ chế bảo đảm sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và lấy ý kiến nhân dân, qua đó huy động trí tuệ, tâm huyết và tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của toàn dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 và hiện thực hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước cũng như thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, trước luận điệu mà các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá như trên, cần cảnh giác, nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Sưu tầm

Mối nguy hại khôn lường từ tư tưởng xét lại lịch sử

Trên thực tế, đa số các quan điểm xét lại, phủ nhận lịch sử đều xuất phát từ những thế lực chống đối, thành phần bất mãn chính trị và cơ hội chính trị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tính nghiêm trọng của vấn đề, thiếu cảnh giác, vô hình trung đã để cho các quan điểm, tư tưởng xét lại lịch sử lan truyền trong đời sống xã hội, từ đó gây ra nhiều hệ lụy.

1. “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Lời căn dặn năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của lịch sử đối với sự tồn vong của đất nước. Lịch sử là tập hợp những sự kiện đã xảy ra, hàm chứa nhiều bài học sâu sắc trong tiến trình vận động và phát triển của cả một dân tộc. Vì lẽ đó, lịch sử không bao giờ chỉ đơn thuần là câu chuyện trong quá khứ mà còn là mối dây liên kết bền chặt giữa các thế hệ, đúc kết kinh nghiệm của cha ông để kiến tạo con đường phát triển cho hôm nay và mai sau.

Đất nước Việt Nam có bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước đáng tự hào. Nhân dân Việt Nam có truyền thống trọng đạo nghĩa, luôn ghi nhớ công lao của các thế hệ đi trước, giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp được tích lũy xuyên suốt chiều dài lịch sử. Nhận thức được điều đó, kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng lịch sử truyền thống dân tộc, coi đó là nguồn lực nội sinh, kết hợp với ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để lãnh đạo đất nước đi qua bao cuộc “thử lửa” của thời đại, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc.

Việc tìm hiểu, khai thác giá trị lịch sử có mối quan hệ khăng khít với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang thực hiện. Có lẽ vì thế mà lịch sử cũng trở thành một nội dung chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị với nhiều thủ đoạn tinh vi, nham hiểm.

2. Trong đời sống xã hội ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm sai trái, tư tưởng lệch lạc nhằm cắt đứt con đường tìm về với ngọn nguồn lịch sử, tiếp sức cho những mưu đồ phá hoại thâm độc.

Thứ nhất, những quan điểm, tư tưởng xét lại về vai trò của lịch sử, gạt bỏ sức ảnh hưởng của lịch sử khỏi đời sống xã hội dần làm phai nhạt lòng yêu nước, ý chí cách mạng, bản sắc văn hóa dân tộc trong quần chúng nhân dân. Những người theo tư tưởng này cho rằng lịch sử không có nhiều ý nghĩa trong điều kiện nền kinh tế thị trường và cách mạng khoa học-công nghệ, do đó cần giảm bớt sự quan tâm đến lịch sử để tập trung cho các lĩnh vực khác, đồng thời giảm bớt hoặc bỏ môn học Lịch sử trong chương trình giáo dục ở các cấp học.

Quan điểm sai trái này đánh vào tâm lý thực dụng của một bộ phận quần chúng, nhất là đối tượng thanh thiếu niên vì họ tuy có sự năng động, nhiệt huyết nhưng chưa có bản lĩnh vững vàng, thường gặp khó khăn trong việc tiếp thu giá trị sâu sắc của bài học lịch sử. Quan điểm phủ nhận vai trò của lịch sử rất phổ biến trên không gian mạng với hình thức chủ yếu là những bài viết mang tính định hướng dư luận, kích động tâm lý đám đông. Tư tưởng phủ nhận vai trò của lịch sử vẫn rất nguy hiểm, đánh trực diện vào tư duy của nhiều người trẻ-thế hệ tương lai của đất nước, khiến họ lãng quên lịch sử dân tộc, vô cảm với vận mệnh quốc gia, lâu dài sẽ dẫn tới nguy cơ đánh mất độc lập, tự chủ, phụ thuộc vào kẻ khác.

Thứ hai, các quan điểm xuyên tạc, xét lại lịch sử đến từ nhiều loại đối tượng khác nhau, chủ yếu từ các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Thủ đoạn quen thuộc của các đối tượng xuyên tạc lịch sử là viết sách, viết báo, đăng tải bài viết dưới danh nghĩa “công trình nghiên cứu” để đưa số liệu, thông tin sai trái, đổi trắng thay đen, xuyên tạc trắng trợn những sự kiện lịch sử đã xảy ra; xoáy sâu vào một vài hạn chế của cách mạng Việt Nam trong những thời kỳ trước đây. Các đối tượng tập trung vào những sự kiện từ năm 1945 trở về sau vì đây là quãng thời gian Đảng ta nắm quyền lãnh đạo công cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của thủ đoạn xuyên tạc lịch sử là nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng.

Bên cạnh thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, các đối tượng chống phá còn sử dụng một chiêu bài tinh vi hơn, đó là xét lại lịch sử. Hoạt động xét lại lịch sử có phạm vi rộng hơn, không chỉ hướng đến các sự kiện trong lịch sử hiện đại mà còn nhắm vào các thời kỳ lịch sử trung đại, cận đại. Thay vì trực tiếp xuyên tạc, các đối tượng theo khuynh hướng xét lại lịch sử đi sâu vào phân tích, lật lại những vấn đề chưa rõ ràng, tính chính nghĩa của các nhân vật lịch sử và tính đúng đắn của sự kiện lịch sử; đặt ra giả thuyết để tạo sự nghi ngờ ở người đọc, người nghe đối với nguồn lịch sử chính thống; ca ngợi phồn vinh giả tạo của chế độ ngụy quyền để khơi gợi tư duy xét lại, phủ định sự nghiệp đấu tranh cách mạng; tạo ra sản phẩm giải trí, sáng tác văn học-nghệ thuật mượn chất liệu lịch sử để cài cắm thông điệp với dụng ý xấu. Hoạt động xét lại lịch sử có mục đích chính là phủ nhận quan điểm lịch sử chính thống đã được Đảng, Nhà nước ta công nhận và cũng không nằm ngoài mục đích chống phá Đảng, cách mạng và chế độ ta.

3. Bảo vệ giá trị, tầm quan trọng của lịch sử, bảo vệ sự thật lịch sử là bộ phận không thể tách rời trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Để ngăn chặn những hậu quả nguy hại đến từ xu hướng xét lại lịch sử, trước hết cần sớm thống nhất những nội dung về lịch sử trong tài liệu được sử dụng ở các cấp học. Phải nhấn mạnh vai trò không thể thay thế của môn học Lịch sử trong chương trình giáo dục-đào tạo; không được phép hoài nghi về tầm quan trọng của lịch sử. Nội dung học tập cần có sự chọn lọc, bảo đảm cho người học nắm được sự kiện lịch sử và bài học lịch sử, đồng thời đáp ứng những yêu cầu về văn hóa, chính trị, ngoại giao, công tác dân tộc, tôn giáo trên cơ sở lợi ích quốc gia và duy trì, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việc biên soạn, phát hành tài liệu lịch sử, sản phẩm giải trí, sáng tác văn học-nghệ thuật mượn chất liệu lịch sử phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và thường xuyên được kiểm tra, giám sát. Cho phổ biến rộng rãi những nguồn sử liệu chính thống đã được công nhận để sử dụng trong nghiên cứu khoa học. Với những vấn đề, sự kiện lịch sử chưa rõ ràng, cần tập trung đầu tư, huy động nguồn nhân lực, vật lực để nghiên cứu một cách căn cơ, thuyết phục, hiệu quả.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh với các quan điểm xét lại lịch sử. Trước hết, chú trọng vào học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà nền tảng là quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử vì đây là nguồn cung cấp thế giới quan, phương pháp luận chính xác khi nghiên cứu khoa học, là vũ khí để đấu tranh với những luận điệu đòi xét lại lịch sử. Bản thân cán bộ, đảng viên khi tiến hành đấu tranh cũng phải nắm được sự thật lịch sử, các bài học lịch sử để vô hiệu hóa những quan điểm thù địch, chống phá trên lĩnh vực này; phải lấy tinh thần bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích giai cấp, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm định hướng khi tiến hành đấu tranh. Việc đấu tranh bảo vệ giá trị của lịch sử phải tuân thủ, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, cần sớm phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý phù hợp, thích đáng đối với những chủ thể có hành vi xuyên tạc, xét lại lịch sử. Trên thực tế, đa số các quan điểm xét lại, phủ nhận lịch sử đều xuất phát từ những thế lực chống đối, thành phần bất mãn chính trị và cơ hội chính trị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tính nghiêm trọng của vấn đề, thiếu cảnh giác, vô hình trung đã để cho các quan điểm xét lại lịch sử lan truyền trong đời sống xã hội. Do đó, thời gian tới, cần bảo đảm nghiêm túc, thực chất hơn nữa trong công tác đấu tranh, nhìn nhận đúng đắn về vấn đề này để bảo vệ lịch sử chân chính, bảo vệ thành quả cách mạng mà các thế hệ cha anh đi trước đã phải hy sinh biết bao xương máu để có được nền độc lập, tự do cho Tổ quốc hiện nay.

Sưu tầm

Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy đảng các cấp những cán bộ suy thoái, tham nhũng, tiêu cực

Thực tế cho thấy, việc để lọt những người không đủ đức, đủ tài, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng vào cấp ủy, vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của một số bộ, ngành, địa phương và Trung ương đã gây ra những hậu quả tai hại, hệ lụy khôn lường, làm suy giảm uy tín của Đảng, tạo dư luận xấu trong xã hội, gây phương hại đến niềm tin của nhân dân. Do đó, vấn đề mấu chốt trong công tác nhân sự là kiên quyết không để lọt vào cấp ủy đảng các cấp những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực.

1. Công tác nhân sự đại hội đảng các cấp là công việc hệ trọng, được Đảng xác định là “then chốt” của “then chốt”, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định “có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”.

Nhìn lại các kỳ đại hội, công tác nhân sự luôn được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo bằng những chủ trương, giải pháp toàn diện, đồng bộ, kiên quyết với yêu cầu ngày càng cao, phương pháp tiến hành ngày càng chặt chẽ, khoa học. Nhờ đó, đại hội đảng bộ các cấp đã lựa chọn được đội ngũ cấp ủy viên, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược, thực sự là lực lượng ưu tú, tinh hoa nhất của Đảng, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, nhận thức đầy đủ, sâu sắc nghĩa vụ, trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm trong công tác nhân sự, dẫn đến việc để lọt những người không đủ đức, đủ tài, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng vào cấp ủy, vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của một số bộ, ngành, địa phương và Trung ương. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, đã có những cán bộ, đảng viên vi phạm phải xử lý kỷ luật ở những mức độ khác nhau, trong đó có cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, có cả cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý. Thực trạng đó đã gây ra những hậu quả tai hại, hệ lụy khôn lường, làm suy giảm uy tín, thanh danh của Đảng, năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp và sự phát triển của đất nước, tạo dư luận xấu trong xã hội, gây phương hại đến niềm tin của nhân dân, của cán bộ, đảng viên vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng, xuyên tạc, chống phá.

2. Tình hình trên đòi hỏi các cấp bộ đảng từ Trung ương đến cơ sở phải chú trọng làm thật tốt công tác nhân sự từ đại hội đảng bộ các cấp để góp phần chuẩn bị tốt nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng. Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề của cả hệ thống chính trị, trước hết là trọng trách của các cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ và tiểu ban nhân sự đại hội.

Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 14-4-2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu rõ, không để "bỏ sót" những người thật sự có đức, có tài; đồng thời, kiên quyết không để “lọt” vào cấp ủy khóa mới những người: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, dao động, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; phẩm chất, đạo đức, năng lực, uy tín giảm sút, ý thức tổ chức kỷ luật kém, mất đoàn kết; né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, không dám làm; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, tư duy nhiệm kỳ, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, cục bộ, “lợi ích nhóm”, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

3. Để thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác nhân sự đại hội, trước hết cần đề cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ và tiểu ban nhân sự đại hội trong việc hiểu, đánh giá và giới thiệu đúng cán bộ.     

Để hiểu rõ và đánh giá, giới thiệu đúng nhân sự đại hội, đòi hỏi cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ và tiểu ban nhân sự đại hội phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó cần tiếp tục tăng cường tự phê bình và phê bình một cách thực sự, chân thành, thẳng thắn vì mục đích chung. Cần khắc phục triệt để tình trạng: Tự phê bình phần lớn chỉ nhấn mạnh ưu điểm, công lao, thành tích, nói đến khuyết điểm thì bao biện, đổ lỗi cho khách quan, cho tập thể. Khi phê bình thì né tránh, ngại va chạm, không thành thật, “nhẹ cùng nhẹ”, xuê xoa giữ đoàn kết hình thức, dung hòa mâu thuẫn, nhân nhượng lẫn nhau. Tập thể cấp ủy, cơ quan tổ chức cán bộ và người đứng đầu có trách nhiệm lắng nghe, tiếp thu, dũng cảm, thành thật tự phê bình và phê bình, không giấu giếm khuyết điểm của nhân sự đại hội, ghi thành nghị quyết, kết luận của tập thể cấp ủy, công khai, minh bạch. Thực tiễn cho thấy, chỉ có thông qua tự phê bình và phê bình thực sự, chân thành, thẳng thắn mới giúp cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan chức năng hiểu rõ cán bộ, đánh giá chính xác cán bộ và giới thiệu đúng nhân sự đại hội.

Giải pháp rất quan trọng là phải xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí cấp ủy viên cụ thể, rõ ràng để xem xét, kết luận mức độ đáp ứng của từng cán bộ làm cơ sở giới thiệu nhân sự đại hội đảng các cấp một cách công tâm, khách quan, công khai, minh bạch. Phải xác định rõ những tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể mang tính định lượng làm căn cứ để xem xét, so sánh, kết luận mức độ đáp ứng của nhân sự cán bộ được giới thiệu. Căn cứ vào tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể, cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan tổ chức cán bộ cần xem xét toàn diện, cả quá khứ, hiện tại và hướng phát triển, lịch sử gia đình, bản thân và quan hệ xã hội; thực hiện đầy đủ, chặt chẽ các khâu, các bước, tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nhiều hướng để đối chiếu, so sánh, khẳng định mức độ đáp ứng tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực công tác cũng như các tiêu chí khác về tuổi đời, thời gian công tác, trình độ đào tạo... và những hạn chế, khuyết điểm của từng nhân sự cán bộ. Làm được như vậy sẽ phát hiện và loại bỏ được những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, hạn chế về năng lực, nhất là những cán bộ tham nhũng, biến chất, tham vọng quyền lực khi giới thiệu bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.

Bên cạnh đó, cần dựa vào dân, có cơ chế động viên và phát huy vai trò của nhân dân tham gia tích cực vào công tác nhân sự đại hội đảng các cấp. Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo mọi mặt đời sống xã hội, do đó, công việc của Đảng cũng chính là công việc của dân. Việc nhân dân tham gia ý kiến vào công tác nhân sự của Đảng là đương nhiên, cần làm. Thực tiễn khẳng định, dựa vào nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp, thông tin nhân dân cung cấp giúp cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ hiểu rõ cán bộ, tìm được cán bộ có đức, có tài để trọng dụng; đồng thời, phát hiện được cán bộ thoái hóa biến chất, tham nhũng, tiêu cực để loại bỏ ra khỏi đội ngũ.

Các cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan tổ chức cán bộ cần bằng nhiều phương cách cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin nhân sự cán bộ và cách thức tham gia ý kiến của nhân dân. Cần có cơ chế khuyến khích nhân dân tham gia công tác nhân sự, nhất là có quy chế cung cấp thông tin về cán bộ, người thân của cán bộ tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa biến chất. Đồng thời, cần có cơ chế và những biện pháp đủ mạnh để bảo vệ quần chúng nhân dân dũng cảm cung cấp thông tin về cán bộ tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa biến chất đang cố tình che giấu, tránh sự phát hiện của tổ chức.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, công tác nhân sự đại hội đảng các cấp, kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền. Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng đặc biệt của công tác nhân sự đại hội, của việc lựa chọn những người đủ đức, đủ tài và loại bỏ những cán bộ thoái hóa biến chất, tham nhũng, tiêu cực khỏi cơ quan lãnh đạo các cấp-một trong những điều kiện tiên quyết xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Cần đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác nhân sự đại hội theo hướng vừa mở rộng dân chủ, vừa tăng trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu trong công tác nhân sự, tôn trọng ứng cử và đề cử của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên và ý kiến của nhân dân. Đó cũng là cách để đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia giám sát quyền lực trong công tác nhân sự đại hội đảng các cấp. Tiếp tục thực hiện nghiêm các quy chế, quy định, quy trình, các khâu, các bước tiến hành, xác định rõ phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của cấp ủy, cơ quan tổ chức cán bộ, tiểu ban nhân sự đại hội, người đứng đầu, các tổ chức, lực lượng có liên quan trong công tác nhân sự và cơ chế, nguyên tắc hoạt động làm cơ sở pháp lý để kiểm soát thực thi quyền lực được giao. Kiên quyết đấu tranh và xử lý mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp... để được cất nhắc, lựa chọn, bố trí, bổ nhiệm chức vụ cán bộ, hợp thức hóa diện được giới thiệu nguồn nhân sự đại hội theo đúng kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ, tiểu ban nhân sự phải thực sự làm nòng cốt trong kiểm soát quyền lực trong công tác nhân sự đại hội. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, phải đề cao trách nhiệm nêu gương, nêu cao đức tính cần, kiệm, liêm, chính, kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, lạm quyền, nể nang, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải tập trung lãnh đạo và làm nòng cốt trong kiểm soát quyền lực, thực hành dân chủ rộng rãi và phát huy vai trò các tổ chức, các lực lượng tham gia kiểm soát quyền lực trong công tác nhân sự đại hội đảng các cấp, phải bảo đảm lựa chọn và giới thiệu được những cán bộ thật sự ưu tú để bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.

Sưu tầm

Rèn luyện bản lĩnh, chế ngự bản năng

Lòng tham là thuộc tính của chủ nghĩa cá nhân, có sẵn trong bản năng con người. Muốn chế ngự nó, phải có bản lĩnh. Bản lĩnh không tự nhiên có, mà được hình thành, phát triển, hoàn thiện thông qua môi trường giáo dục, rèn luyện. Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, việc đẩy mạnh phê bình, tự phê bình, nâng cao tính chiến đấu trong cấp ủy, tổ chức đảng chính là các hình thức, giải pháp rèn luyện bản lĩnh cán bộ, đảng viên...

Nâng cao bản lĩnh, lấy "xây" để "chống"

Trong dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025), không gian mạng xuất hiện một số đoạn video clip được người dùng mạng xã hội chia sẻ với tốc độ chóng mặt. Clip được quay bằng điện thoại di động, cho thấy hình ảnh một phụ nữ trẻ, gương mặt sáng, tác phong nhanh nhẹn, phong thái tự tin, mạnh mẽ, xuất hiện giữa một nhóm người Việt sinh sống ở nước ngoài đang tập trung trên đường, mang theo cờ “ba sọc” của ngụy quyền Sài Gòn trước năm 1975. Theo các thông tin được thể hiện trong các video clip này thì địa điểm diễn ra sự việc là tại Australia và người phụ nữ bản lĩnh này là người Việt, gốc ở Hải Phòng, đang sinh sống, làm việc tại Australia. Trong lúc nhóm người này đang thực hiện các hành vi phản cảm, tuyên truyền, kích động chống phá đất nước Việt Nam, xuyên tạc về Đại thắng 30-4-1975, thì người phụ nữ trẻ đã mở to công suất chiếc loa, phát bài hát “Như có Bác trong ngày đại thắng”. Mặc dù bị nhiều đối tượng với gương mặt đằng đằng sát khí lao đến đe dọa, chửi bới, đòi hành hung, nhưng người phụ nữ trẻ vẫn hiên ngang, bình tĩnh, đấu tranh phản đối hành động phản bội Tổ quốc của nhóm người kia. Phía dưới các video clip, rất nhiều người để lại bình luận, bày tỏ sự thích thú, nể phục bản lĩnh của người phụ nữ trẻ. Cộng đồng mạng gọi cô là “bông hoa thép”, “khiêu vũ giữa bầy sói”...

Người có bản lĩnh luôn có xu hướng, nhu cầu hành động vì lẽ phải để bảo vệ công lý và chân lý. Đó là những người “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha...”, không bàng quan, thờ ơ trước cái ác, cái xấu, cái tiêu cực. Sự thể hiện cao nhất của bản lĩnh công dân là tinh thần yêu nước, luôn đặt Tổ quốc trong tim, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Trong đời sống xã hội, sự xuất hiện của những hành động trượng nghĩa của người có bản lĩnh luôn tạo hiệu ứng mạnh mẽ, lan tỏa, truyền năng lượng tích cực đến cộng đồng. Với tinh thần lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy hoa thơm lấn át cỏ dại, sự xuất hiện, lan tỏa những hành động đẹp, giàu tính trượng nghĩa, nhân văn trong đời sống đã nêu gương tốt, kiềm chế, đẩy lùi cái xấu, tiêu cực.

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng những năm gần đây, chúng ta thấy rõ bức tranh tương phản giữa những cán bộ, đảng viên giàu bản lĩnh, ý chí chiến đấu và một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, hành động theo bản năng, bị lòng tham, tính đố kỵ, hẹp hòi, chủ nghĩa cá nhân thao túng. Kể từ khi chúng ta đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là từ Đại hội XII của Đảng đến nay, độ đậm sắc của bức tranh tương phản ngày càng rõ nét. Bên cạnh một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái bị phát hiện, điều tra, xử lý, môi trường văn hóa trong Đảng càng trong sạch hơn, văn minh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin, kỳ vọng của nhân dân “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Gam màu sáng được tạo nên bởi bản lĩnh, ý chí chiến đấu của cán bộ, đảng viên giữ vai trò chủ đạo, tạo hiệu ứng giáo dục, cảm hóa mạnh mẽ. Rất nhiều tấm gương cán bộ, đảng viên kiên trung, nhiệt huyết, giàu bản lĩnh, đã dũng cảm đấu tranh, nêu cao tính tiền phong gương mẫu, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Sự nêu gương của rất nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy các cấp, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị đã tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với phương châm lấy “xây” để “chống”. Chính vì vậy, nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực đã được điều tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh, tạo sức mạnh răn đe, thể hiện tính giáo dục, nhân văn sâu sắc trong Đảng.

Cuộc thanh lọc của bản lĩnh và ý chí chiến đấu

Một trong những dấu ấn sâu đậm từ các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là lòng dân. Hình ảnh hàng vạn người dân và du khách muôn phương đổ về trung tâm TP Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm, xem diễu binh, diễu hành, bày tỏ tình cảm, niềm tin yêu sâu sắc đối với Bộ đội Cụ Hồ cho thấy sức mạnh lòng dân là tài nguyên, tài sản vô giá của Đảng. Niềm tin Việt, bản lĩnh Việt, ý chí Việt, khát vọng Việt... được hình thành, hun đúc, phát triển từ "thế trận lòng dân", một phần rất quan trọng xuất phát từ những chuyển biến, đột phá mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; hoạch định hướng đi cho đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Lòng dân là sức mạnh vô song. Quy tụ được lòng dân, phát huy sức mạnh vĩ đại của nhân dân là bài học kinh nghiệm xương máu của Đảng, là hồng phúc của dân tộc.

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đẩy mạnh triển khai sắp xếp, tinh gọn bộ máy; tổ chức đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng, yêu cầu về bản lĩnh, ý chí chiến đấu của cán bộ, đảng viên được đặt ra rất cao. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy được thực hiện với tinh thần như một cuộc cách mạng, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc nảy sinh. Đồng thời, việc giải quyết bài toán “ai về, ai ở”, “chọn ai, gạch ai” trong đại hội đảng và trong các cơ quan, đơn vị chắc chắn sẽ có tác động đến tâm tư, tình cảm, cuộc sống gia đình của nhiều người. Bản lĩnh và ý chí chiến đấu chính là vũ khí để mỗi cán bộ, đảng viên, cấp ủy, tổ chức đảng triển khai thực hiện chủ trương của Đảng một cách kịp thời, kiên quyết, hiệu quả, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, “chạy ghế”, “chạy phiếu bầu”. Trong bài viết “Học tập suốt đời” được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: Hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh-gọn-mạnh, hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả...

Lựa chọn cán bộ cho các vị trí trong hệ thống chính trị các cấp chưa bao giờ là công việc dễ dàng. Làm không chặt chẽ, không bám sát nguyên tắc, cấp ủy, tổ chức đảng yếu kém bản lĩnh, để cho cá nhân lũng đoạn, chi phối, hậu quả sẽ khôn lường. Trong bài viết “Tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được khắc phục triệt để; tình trạng “nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo”, “đánh trống bỏ dùi”, “lạc quan tếu”, báo cáo không trung thực, cán bộ thiếu năng lực, thiếu gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta... Chính vì vậy, công tác nhân sự đại hội phải được tiến hành theo quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán theo hướng dẫn của Trung ương; tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc, cài cắm “quân xanh, quân đỏ” hoặc máy móc, cứng nhắc, xa rời thực tiễn; phải bảo đảm lựa chọn được những người tốt nhất, xứng đáng nhất, không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đồng thời kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen...

Có thể nói, công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy và tổ chức đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng là hai nhiệm vụ có mối quan hệ biện chứng. Quá trình triển khai thực hiện, đòi hỏi người đứng đầu, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải nêu cao bản lĩnh, ý chí đấu tranh; đặt yêu cầu nhiệm vụ và lợi ích chung lên hàng đầu; chế ngự bản năng, kiềm chế lòng tham, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để thanh lọc, lựa chọn nhân sự một cách trong sạch, đúng nguyên tắc, chọn được đội ngũ có đủ tâm, tầm và tài; thực sự đại diện cho ý chí, khát vọng của nhân dân. Để giải quyết tốt mối quan hệ “xây” và “chống”, lấy “xây” để “chống”, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, hướng dẫn, chỉ thị, kết luận của Trung ương. Đặc biệt, cần tiếp tục rà soát 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII và Kết luận 21, Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực và có nhiều khiếu kiện, khiếu kiện kéo dài. Đồng thời, quan tâm giải quyết dứt điểm những vụ việc gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn...

Rèn luyện bản lĩnh đòi hỏi tính liên tục, kết hợp chặt chẽ giữa rèn luyện và tự rèn luyện, giáo dục và tự giáo dục. Khi bản lĩnh trở thành phẩm chất của cán bộ, đảng viên, lòng tham và những nhu cầu mang tính bản năng, tiêu cực sẽ được chế ngự, kiềm tỏa. Cá nhân cũng vậy và tập thể cũng vậy.

Sưu tầm

Vết trượt từ lòng tham và bài học về tính chiến đấu

Cùng với nhiệm vụ sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực... trong hệ thống chính trị được Đảng ta tiếp tục triển khai rất mạnh mẽ, quyết liệt. Khi ánh sáng công lý rọi sâu vào chức trách công vụ, đã làm lộ chân tướng của không ít đối tượng suy thoái, trong đó có một số nhân vật từng được kỳ vọng là “hạt giống đỏ” của hệ thống chính trị...

Khi “hạt giống đỏ” suy thoái...

Những ngày gần đây, dư luận tại TP Hồ Chí Minh xôn xao trước việc một cán bộ từng được coi là “hạt giống đỏ” bị vướng vòng lao lý. Người được nhắc đến là ông Huỳnh Nguyễn Lộc, sinh năm 1981, cựu Viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cách mạng, được đào tạo căn bản về ngành y, từng là một cán bộ đoàn được đánh giá có năng lực...

Huỳnh Nguyễn Lộc thăng tiến rất nhanh. Năm 2014, khi mới 33 tuổi, Lộc đã được bổ nhiệm Phó viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh và chỉ một năm sau đã được đề bạt giữ chức Viện trưởng, trở thành một trong những cán bộ trẻ nhất đứng đầu một cơ quan khoa học danh giá. Có năng lực chuyên môn và giỏi về “kỹ năng mềm”, mỗi lần xuất hiện trước công chúng và truyền thông, Huỳnh Nguyễn Lộc luôn chứng tỏ bản thân là “hình mẫu” của cán bộ trẻ dồi dào năng lượng sáng tạo và tâm huyết. Sự nghiệp đang lên như diều gặp gió thì cuối năm 2024, Huỳnh Nguyễn Lộc bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về tội nhận hối lộ.

Mới đây, kết luận của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khiến nhiều người ngạc nhiên, bất ngờ, bày tỏ thái độ xót xa, tiếc nuối. Huỳnh Nguyễn Lộc đã nhận hối lộ một cách liên tục, có hệ thống với hàng chục lần, tổng số tiền lên đến hơn 47 tỷ đồng từ Công ty Cổ phần Dược Sơn Lâm để cho doanh nghiệp này trúng thầu, cung cấp dược liệu và thuốc chữa bệnh cho Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh. Cùng với Huỳnh Nguyễn Lộc còn có hàng chục bị can khác tại một số cơ quan, đơn vị ngành y bị cơ quan điều tra đề nghị truy tố với tội danh tương tự.

Trong bối cảnh thông tin về những vụ sản xuất, buôn bán thuốc chữa bệnh giả, thực phẩm chức năng giả với số lượng lên đến hàng trăm tấn khiến người dân hoang mang, lo lắng, việc những cán bộ trẻ như Huỳnh Nguyễn Lộc nhận hối lộ để cho doanh nghiệp thao túng, đưa hối lộ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản... càng làm cho cơn phẫn nộ của dư luận tăng cao.

Huỳnh Nguyễn Lộc là dẫn chứng điển hình nhưng không phải duy nhất về sự tha hóa, suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ trẻ, đảm nhiệm cương vị người đứng đầu trong đơn vị của hệ thống chính trị. Chỉ tính riêng lĩnh vực ngành y và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, thời gian gần đây đã có nhiều người đứng đầu các đơn vị từ Trung ương đến địa phương bị pháp luật xử lý về tội nhận hối lộ, buông lỏng quản lý, tiếp tay cho buôn lậu, gian lận thương mại, nạn thuốc giả, thực phẩm bẩn... hoành hành.

Trước vấn nạn này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị về tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ... nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người dân, doanh nghiệp. Trong chỉ thị, Thủ tướng yêu cầu xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm với phương châm xử lý một vụ cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực; không có vùng cấm, không có ngoại lệ...

Hậu quả của các hành vi suy thoái này đối với hệ thống chính trị và đời sống xã hội là vô cùng nặng nề. Bên cạnh việc gây thất thoát tài sản nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân và an ninh kinh tế, trật tự, an toàn xã hội... những hành vi này còn gây tổn hại nghiêm trọng niềm tin của nhân dân; lộ ra những khoảng trống đáng báo động về trách nhiệm quản lý, ý chí đấu tranh của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Trong một cuộc họp của Chính phủ gần đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh, hành vi buôn lậu, hàng giả với số lượng hàng trăm tấn mà cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng không biết thì chỉ có hai việc, một là không còn ý chí chiến đấu, hai là cán bộ bị mua chuộc. Cả hai tội này phải xử ngay...

Mầm mống tội ác và vũ khí đấu tranh

Vấn nạn thuốc giả, thực phẩm bẩn, hàng giả, hàng nhái... tiếp tục là chủ đề “nóng” trong các phiên thảo luận của các đại biểu Quốc hội trong những phiên họp gần đây. Hành vi buôn lậu, sản xuất, tiêu thụ, đưa-nhận hối lộ, bao che, tiếp tay cho thuốc giả, thực phẩm bẩn đầu độc đời sống xã hội chính là tội ác. Thậm chí, có đại biểu đã ví loại tội phạm này tương đương với hành vi giết người hàng loạt, cần phải nghiêm trị trước pháp luật.

Lý giải về nguyên nhân biến một số cán bộ từ “hạt giống đỏ” trở thành tội phạm, giới chuyên gia tội phạm học cho rằng, tất cả đều bắt nguồn từ lòng tham. Khi nhân cách và ý chí của cán bộ, đảng viên bị đồng tiền chi phối, lòng tham dẫn dắt thì bản lĩnh sẽ gục ngã trước bản năng, đối tượng sẽ dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích cá nhân. Dưới góc nhìn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phòng, chống suy thoái, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ rõ: Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân...

Nhìn cận cảnh một số vụ việc, vụ án nổi cộm về tham nhũng, tiêu cực gần đây, chúng ta thấy, hành vi suy thoái diễn biến theo quy luật từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao. Ban đầu, hành vi nhận hối lộ chỉ ở dạng “cảm ơn”, “quà biếu”, “phần trăm”, “lại quả”... ở phạm vi cá nhân. Dần dần, vòng xoáy của đồng tiền và chủ nghĩa cá nhân đã làm mờ mắt đối tượng. Họ lôi kéo cả vợ con, gia đình, người thân, đồng chí, đồng nghiệp... vào cuộc. Và cuối cùng, không ít cán bộ, cơ quan quản lý lại biến thành tay sai cho các đối tượng, đường dây tội phạm, gây hậu quả nặng nề, hệ lụy khôn lường đối với đời sống xã hội.

Khi cán bộ, nhất là người đứng đầu trượt dài vào con đường suy thoái, rất cần sự đấu tranh, thức tỉnh từ tập thể. Đó là vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng thông qua công tác kiểm tra, giám sát, đấu tranh phê bình, tự phê bình. Nếu ở đâu tinh thần phê bình, ý chí chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng được phát huy, chắc chắn ở đó sẽ ngăn ngừa có hiệu quả hành vi tiêu cực, sự suy thoái của cán bộ, đảng viên. Thực tế cho thấy, ở những tổ chức đảng, đơn vị để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, thứ vũ khí quan trọng này không phát huy tác dụng hoặc đã bị cá nhân vô hiệu hóa; vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII khẳng định: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu.

Mọi vết trượt, mọi hành vi suy thoái đều có căn nguyên, vạch xuất phát. Duy trì liên tục tính chiến đấu trong cấp ủy, tổ chức đảng chính là giải pháp đấu tranh phòng, chống suy thoái từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát. Bài học về nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả công tác lãnh đạo, kiểm tra, giám sát; nâng cao chất lượng sinh hoạt phê bình, tự phê bình trong Đảng là vấn đề căn cốt, luôn luôn nóng hổi tính thời sự.

Sưu tầm

Làm cán bộ, đừng “mắc nợ” người lao động

Nhân Ngày Quốc tế Lao động (1-5) và Tháng công nhân, cần suy ngẫm về hiện tượng cán bộ “mắc nợ” cấp dưới, người lao động. Bởi thực tế có khá nhiều cán bộ mắc khuyết điểm này, dẫn đến nhiều hệ lụy.

Cán bộ... khác quá!

Đó là nhận xét “rỉ tai” của người lao động, nhân viên dành cho những người thay đổi nhiều theo hướng tiêu cực từ khi họ trở thành cán bộ, làm sếp. Thực tế có không ít người khi là nhân viên thì rất tốt, sống hòa đồng và tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ đồng nghiệp; nhưng khi được làm sếp thì họ dần khác. Ban đầu là ít gặp gỡ, gần gũi, trò chuyện với cấp dưới, rồi ngày càng xa cách, lạnh nhạt, thờ ơ. Có cán bộ khi gặp đồng nghiệp cũ còn quay mặt đi, như không quen biết; trong tình huống buộc phải giao tiếp thì bắt tay hờ hững, trả lời qua loa, thậm chí lên giọng trịnh thượng, ra oai. Trong khi đó, đối với cấp trên thì họ lại khúm núm, xun xoe, nịnh bợ.

“Cán bộ... khác quá” còn ở chỗ, thời là nhân viên, họ thường chia sẻ với những khó khăn, vất vả của đồng nghiệp trong cuộc sống và công việc, chê trách cấp trên không kịp thời quan tâm giải quyết những vướng mắc, bất cập, không có những chế độ, chính sách thỏa đáng chăm lo cho người lao động; không ít người còn “hùng hồn” tuyên bố: "Tôi mà là sếp thì sẽ khác...". Thế nhưng, đến lúc họ làm sếp lại quên hết; cấp dưới kiến nghị thì... bỏ đấy. Có sếp mới còn không quan tâm giải quyết những ý kiến, nguyện vọng chính đáng của người lao động bằng sếp cũ mà chỉ lo thu vén cá nhân, cốt được lợi mình. Chính sự “khác quá” này làm cho cấp dưới, người lao động cảm thấy chán nản, mất niềm tin và động lực phấn đấu.


Trách nhiệm phải làm, đâu phải “ban ơn”?

Một hiện tượng rất cần cảnh báo, chấn chỉnh là một số cán bộ không nhận thức đầy đủ về trách nhiệm, nghĩa vụ của mình; đáng lẽ phải quan tâm chăm lo, giải quyết những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cấp dưới và người lao động, thì họ lại “mặc định”: Cấp dưới phải nhờ vả, xin xỏ, còn sếp có quyền “ban ơn”, nếu không thích, không ưa thì không cho. Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng “chạy chọt”, khiến nhiều nhân viên, người lao động dù không muốn vẫn phải tìm cách tiếp cận, nịnh nọt, cung phụng sếp để lấy lòng, để được sếp quan tâm “giúp đỡ”.

Việc sếp tự cho mình có quyền “ban ơn” gây hệ lụy rất lớn, không chỉ tạo ra tình trạng “chạy”-một dạng tham nhũng, tiêu cực phổ biến mà còn khiến nội bộ mất đoàn kết, nhiều nhân viên, người lao động nảy sinh tư tưởng tiêu cực, thậm chí dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây còn là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, bởi nó tạo ra sự cạnh tranh tiêu cực: Những người tài đức mà không biết “chạy” thì không được cấp trên trọng dụng; người phải “chạy”, khi được làm sếp sẽ tìm cách “thu hồi vốn”, chỉ “ban ơn” cho những cấp dưới cung phụng mình, và cái vòng “chạy chọt” cứ thế tái diễn... 

Có cán bộ từ khi lên sếp bỗng tỏ thái độ “lạnh như tiền” với cấp dưới và người lao động. Đồng nghiệp cũ thường xì xào về họ: Sếp lạnh như tiền thì cấp dưới mới sợ, phải cung phụng để được quan tâm giúp đỡ. Nếu cứ thân mật, gần gũi nhân viên, vô tư, khách quan làm đúng trách nhiệm thì... tiền ở đâu ra (!)

Xa dân dẫn đến nhiều sai lầm

Là cán bộ, đảng viên, hẳn ai cũng biết câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là bài học quý báu, lời căn dặn sâu sắc của Bác Hồ đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên về việc phải “lấy dân làm gốc”, dù công việc dễ dàng mà không có sự đồng lòng, ủng hộ và tham gia của nhân dân thì cũng không thể làm được. Ngược lại, được nhân dân đồng tình, góp sức thì việc khó đến mấy cũng thành công. Theo Người, “nhân dân có trăm tai nghìn mắt”, vì nhân dân có ở khắp mọi nơi, có thể phát hiện nhanh những điều đúng-sai, hay-dở nên không ai có thể che giấu hành vi sai trái trước nhân dân. Vì thế, người lãnh đạo phải biết tôn trọng, lắng nghe, tin tưởng và phát huy vai trò của nhân dân. Muốn chống quan liêu, tham ô, lãng phí thì phải thực hành dân chủ, phải cho dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, giám sát; thực hành dân chủ cũng chính là động lực để phát triển xã hội cũng như mỗi tổ chức.

Thế nhưng vẫn có không ít cán bộ xa dân, không thực sự lắng nghe cấp dưới, người lao động, dẫn đến không nắm chắc thực tế để ban hành các quyết sách phù hợp, hiệu quả, khả thi; thậm chí có trường hợp ban hành những quy định “trên trời”, bị dư luận phản đối bởi không thể đi vào cuộc sống, dẫn đến sai lầm, thất bại.

Thời gian qua, chúng ta đã có nhiều bài học về việc này, như: Một số trạm thu phí BOT giao thông (để hoàn vốn cho các dự án xây dựng, nâng cấp hạ tầng) đặt sai vị trí, không tiếp thu ý kiến nhân dân dẫn đến người dân phản ứng gay gắt, phải dừng thu phí hoặc di dời trạm, thậm chí có dự án BOT bị điều tra, xử lý vi phạm. Chủ trương hạn chế xe máy vào nội thành Hà Nội (giai đoạn 2017-2021) để giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường cũng không tham khảo kỹ ý kiến người dân, thiếu phương án giao thông công cộng thay thế hợp lý nên không khả thi.

Ở phạm vi nhỏ, có không ít cán bộ độc đoán, gia trưởng, coi thường ý kiến của cấp dưới và người lao động dẫn đến “tự quyết” nhiều việc sai lầm, không hiệu quả. Trong đó, đáng phê phán nhất là việc đánh giá, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ theo cảm tính, không tham khảo và không tôn trọng ý kiến cấp dưới. Thực tế có khá nhiều người “nói như rồng leo, làm như mèo mửa”, đối với cấp trên thì xun xoe, nịnh bợ, họ giả vờ tốt rất giỏi nên sếp siêu lòng, cất nhắc; song họ không thể hoàn thành tốt vai trò cán bộ, tư cách đạo đức cũng không xứng đáng, làm nhiều người bức xúc, phát sinh tư tưởng bất mãn, tiêu cực. Trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, nếu người có thẩm quyền coi trọng xem xét hiệu quả công việc và chân thành hỏi ý kiến của cấp dưới, người lao động, phân tích thông tin kỹ lưỡng thì sẽ biết thực chất, không mắc sai lầm.

Để cấp dưới, người lao động thực sự tâm phục, khẩu phục, từng cán bộ cần thường xuyên và nghiêm túc tự soi, tự sửa và cách tốt nhất để sửa mình chính là gần gũi, chân thành lắng nghe ý kiến của cấp dưới, người lao động. Vẫn biết, làm cán bộ có nhiều công việc và mối quan hệ phải giải quyết, ít có thời gian gặp gỡ, tiếp xúc với cấp dưới, người dân. Tuy nhiên, nếu cán bộ thật sự có tâm và tầm, thật sự vì việc chung thì cũng sẽ có cách phù hợp để cấp dưới nể phục, tin tưởng, không trở thành cán bộ “mắc nợ” người lao động, bị quần chúng chê trách.

Sưu tầm