Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2025
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 6 NĂM 1955!
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 05 THÁNG 6 NĂM 1951!
XÂY DỰNG MỘT CHÍNH QUYỀN GẦN DÂN, VÌ DÂN Để có căn cứ, đồng thời có cơ sở triển khai đồng bộ chủ trương của
Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp thì việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 là hết sức cần thiết. Cùng với đó, để bảo đảm tính kế thừa và phát huy vai trò giám sát của HĐND và hoạt động của đại biểu HĐND trong thời gian tới, chúng ta cần quan tâm và tập trung làm rõ một số nội dung:
Thứ nhất, để thống nhất việc thực hiện chủ trương chính quyền hai cấp
(không còn cấp huyện) thì việc sửa đổi, hướng dẫn cho thôi hay kết thúc hoạt
động của HĐND cấp huyện và đại biểu HĐND cấp huyện như thế nào? Đại biểu HĐND
cấp tỉnh ứng cử tại địa bàn các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sau khi kết
thúc chính quyền cấp huyện sẽ tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ trước cử
tri địa bàn ứng cử ra sao?
Thứ hai, một trong những hoạt động hết sức quan trọng của đại biểu HĐND
được pháp luật quy định, đó là chức năng giám sát và chất vấn. Trong thực tiễn
hiện nay, khi thực hiện chủ trương giải thể, sáp nhập, kết thúc hoạt động của
một số cơ quan, đơn vị, sẽ vừa bảo đảm được việc thực hiện tinh giản đầu mối cơ
quan, đơn vị trực thuộc, giảm được số lượng chức danh cán bộ quản lý các cấp và
thực hiện một phần tinh giản biên chế bộ máy nhà nước, giảm gánh nặng cho ngân
sách... theo lộ trình, tuy nhiên phát sinh những vấn đề mới cần được giải
quyết.
Ví dụ như, thực hiện chủ trương sáp nhập của Tổng cục Hải quan, chi cục
hải quan các tỉnh sáp nhập, thành lập hải quan khu vực, hoạt động nghiệp vụ của
hải quan vẫn thực hiện nhiệm vụ chính trị trên địa bàn các tỉnh, song trụ sở và
cơ quan quản lý nhà nước của cơ quan hải quan khu vực lại nằm trên địa bàn của
địa phương khác, do đó hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn của các đại biểu
HĐND tại các kỳ họp, hay hoạt động giám sát quản lý nhà nước của HĐND đối với
lĩnh vực hải quan theo quy định của pháp luật sẽ có khó khăn, cần có hướng dẫn
cụ thể.
Tóm lại, kết thúc hoạt động của chính quyền cấp huyện và thống nhất thực
hiện chủ trương chính quyền địa phương hai cấp là một chủ trương lớn của Đảng,
Nhà nước, nhằm xây dựng một chính quyền gần dân, vì dân phục vụ. Chủ trương đã
nhận được sự đồng tình thống nhất cao của đại đa số cán bộ, đảng viên và quần
chúng nhân dân.
Tuy nhiên, để bộ máy chính quyền cơ sở đi vào hoạt động thực sự hiệu
lực, hiệu năng, hiệu quả, vừa bảo đảm tính kế thừa, vừa phát huy được vai trò
giám sát và làm chủ của nhân dân, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung một số điều
của Hiến pháp năm 2013, chúng ta cần có sự chuẩn bị, rà soát kỹ lưỡng trên cơ
sở khoa học, lý luận và thực tiễn, những nội dung hết sức cụ thể như: Yếu tố
lịch sử, văn hóa, kinh tế...
Bên cạnh đó, cần quan tâm đến việc rà soát điều chỉnh, xây dựng bổ sung
cơ chế, chính sách, nhất là phải xây dựng được một hệ thống hành lang pháp lý
phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất,
tránh chồng chéo trong quá trình triển khai thực hiện. Đây không chỉ đơn thuần
về mặt thể chế mà còn là giải pháp để xây dựng chính quyền tại cơ sở thực sự
trong sạch vững mạnh, nhằm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, xây dựng cho
được một chính quyền thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân./.
TỔNG BỘ VIỆT MINH THÀNH LẬP KHU GIẢI PHÓNG VIỆT BẮC
Chấp hành chỉ thị của đồng chí Hồ Chí Minh về việc thành lập một căn cứ
cách mạng rộng lớn ở Việt Bắc, ngày 4/6/1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội
nghị tuyên bố thành lập Khu Giải phóng.
Phạm vi Khu Giải phóng bao gồm hai căn cứ địa lớn, tức là sáu tỉnh Cao
Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, một số vùng phụ
cận thuộc các tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái. Khu Giải phóng đặt
dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban Chỉ huy lâm.
Để xây dựng Khu Giải phóng vững chắc về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh
tế, văn hoá, Uỷ ban Chỉ huy lâm thời, các Uỷ ban nhân dân cách mạng do dân cử
đã ra sức huy động mọi lực lượng trong khu từng bước thực hiện 10 chính sách
lớn của Việt Minh:
- Thủ tiêu lực lượng của Nhật, trừ khử Việt gian, trừng trị lưu manh.
- Tịch thu tài sản của lũ giặc cướp nước và của Việt gian làm của chung
toàn dân hoặc chia cho dân nghèo.
- Thực hiện phổ thông tuyển cử và các quyền tự do dân chủ.
- Vũ trang quần chúng, động viên quần chúng tham gia xây dựng du kích,
ủng hộ giải phóng quân chống Nhật tấn công vùng giải phóng.
- Tổ chức khai hoang, khuyến khích sản xuất, thực hiện kinh tế tự túc
cho Khu Giải phóng.
- Quy định ngày lao động, thi hành kỷ luật bảo hiểm, cứu tế xã hội.
- Chia lại ruộng đất công, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ.
- Bỏ thuế khoá và phu dịch do chế độ thực dân đặt ra, dự định đặt thuế
luỹ tiến lợi tức duy nhất và nhẹ.
- Chống nạn mù chữ, huấn luyện quân sự, chính trị phổ thông cho nhân
dân.
- Dân tộc bình đẳng, trai gái ngang quyền.
Lập Khu Giải phóng là chủ trương và quyết định sáng suốt của đồng chí Hồ
Chí Minh. Khu Giải phóng ra đời với việc thực hiện 10 chính sách của Việt Minh,
hơn 1 triệu đồng bào thuộc các dân tộc khác nhau bắt đầu được hưởng một cuộc
sống tự do độc lập do cách mạng đem lại. Khu Giải phóng ra đời đã tạo thêm
thanh thế cho Việt Minh trước nhân dân trong nước cũng như trước lực lượng dân
chủ thế giới. Khu Giải phóng được thành lập tạo điều kiện và thúc đẩy phong
trào cách mạng trên cả nước, trước hết là ở Bắc Kỳ tiến mạnh mẽ hơn nữa.
Nhận xét về Khu Giải phóng, đồng chí Trường Chinh cho rằng đó là hình
ảnh “nước Việt Nam mới ra đời (...) một phần Bắc Bộ đã thực tế đặt dưới chính
quyền cách mạng”.
Thứ Năm, 5 tháng 6, 2025
LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA VIỆT TÂN TRƯỚC PHÁT BIỂU CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH VỀ “BIÊN GIỚI MỀM”
Gần đây, một số trang phản động – tiêu biểu như Việt Tân – đã cắt xén, bóp méo và chế giễu phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Họ cố tình biến một câu nói mang tính biểu tượng chiến lược thành trò cười để kích động dư luận. Vậy thực chất câu nói ấy là gì và vì sao những luận điệu kia là độc hại và nguy hiểm?
Ngày 01/6/2024, tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập tổng công ty hàng không Việt Nam ( Vietnam Airlines), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phát biểu: “ Máy bay Việt Nam bay tới đâu thì biên giới mềm của nước ta tới đó”
Câu nói của Thủ tướng mang tư duy hiện đại, hội nhập quốc tế. Đây là cách diễn đạt hình tượng cho một tư duy chiến lược và hội nhập: hàng không không chỉ đơn thuần là vận chuyển người – mà là công cụ kết nối quốc tế, thúc đẩy giao thương, mở rộng hợp tác văn hóa – giáo dục – đầu tư – du lịch. “Biên giới mềm” là thuật ngữ quốc tế (soft borders), hàm ý sự lan tỏa ảnh hưởng và hình ảnh quốc gia ra thế giới mà không cần dùng đến sức mạnh quân sự. Hàng loạt quốc gia phát triển đều nhấn mạnh "quyền lực mềm" như vậy, đặc biệt là qua hàng không, ngoại giao văn hóa, giáo dục... Việc Việt Nam mở rộng mạng bay quốc tế chính là một cách khẳng định vị thế quốc gia, tầm vóc của dân tộc trên bản đồ thế giới. Vậy mà những kẻ phản động lại cố tình hiểu sai, xuyên tạc thành “nổ”, thành ảo tưởng – chẳng khác nào vùi dập nỗ lực cả một ngành đang đưa hình ảnh đất nước bay xa.
Hàng không Việt Nam là biểu tượng cho năng lực phục hồi và lòng nhân đạo. Những kẻ xuyên tạc luôn tìm cách khoét vào các sự cố cá biệt để phủ định tất cả. Họ nhắc tới: Vụ “bay giải cứu” – nhưng quên rằng hàng trăm nghìn người dân Việt khắp thế giới đã được đưa về nước an toàn, trong khi nhiều nước bỏ mặc công dân. Vài vụ việc tiếp viên vi phạm – nhưng quên rằng cả ngành hàng không đang gánh trên vai trọng trách ngoại giao và phát triển kinh tế quốc gia.
Máy bay nhập khẩu – nhưng quên rằng mọi hãng hàng không lớn trên thế giới, kể cả Mỹ, đều sử dụng máy bay từ Boeing, Airbus… chứ không tự sản xuất hết. Không ai phủ nhận còn tồn tại – nhưng cái nhìn công tâm sẽ thấy một ngành hàng không đang nỗ lực hiện đại hóa, phục hồi sau đại dịch, mở rộng toàn cầu. Đó là thực tế chứ không phải “nổ”.
Xuyên tạc biển đảo – chiêu trò nguy hiểm kích động dân tộc cực đoan Những phần tử phản động cố tình gài bẫy tâm lý khi hỏi: “Máy bay Việt Nam có dám bay ra Hoàng Sa, Trường Sa nơi Trung Quốc chiếm đóng không?” Câu hỏi nghe có vẻ “sắc sảo”, nhưng thực ra rất ngụy biện: Hàng không dân dụng không có chức năng quân sự. Không ai lấy chuyến bay thương mại để thể hiện chủ quyền lãnh thổ. Việt Nam đang kiên trì đấu tranh pháp lý, ngoại giao, hòa bình để bảo vệ chủ quyền Biển Đông. Đó là con đường bền vững và phù hợp luật pháp quốc tế, chứ không phải "võ mồm" như những gì Việt Tân đang xúi giục. Việc lôi kéo chủ đề nhạy cảm như Biển Đông để công kích lãnh đạo đất nước là thủ đoạn kích động chống phá điển hình – cực kỳ nguy hiểm và cần tỉnh táo nhận diện.
Tại sao Việt Tân và các phần tử chống phá lại phải xuyên tạc? Vì chúng không thể chấp nhận một Việt Nam ổn định, phát triển, có vị thế trên trường quốc tế. Chúng không phục vụ lợi ích dân tộc, mà chỉ muốn tạo sự hoài nghi, mâu thuẫn và chia rẽ trong lòng dân. Chúng không tạo ra giá trị gì, chỉ giỏi soi mói, bóp méo, đả kích. Đó là lý do tại sao, từ bao lâu nay, chúng chỉ giỏi bôi nhọ mà không bao giờ có giải pháp nào thực tế cho đất nước.
Lòng yêu nước không nằm ở những lời lẽ giận dữ trên mạng – mà nằm ở sự tỉnh táo trước thông tin độc hại, nằm ở niềm tin vào nỗ lực chân chính của những người đang ngày đêm gánh trên vai vận mệnh đất nước. Thủ tướng không "nổ". Hàng không không “thảm họa” Những kẻ xuyên tạc mới là vấn đề thật sự. Hãy chia sẻ để nhiều người cùng hiểu rõ sự thật. Đừng để Việt Tân và đồng bọn dẫn dắt dư luận bằng trò rẻ tiền. Việt Nam – hội nhập mạnh mẽ, vững vàng chủ quyền, vươn xa tầm vóc.
HỌC BÁC MỖI NGÀY
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” lên hàng đầu khi căn dặn cán bộ.
Người cũng là hiện thân, là tấm gương sáng ngời về các phẩm chất đạo đức cách mạng cao đẹp đó. Bởi vậy, trong tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính” viết năm 1949, Người đã khẳng định nếu “thiếu một đức thì không thành người”. Học tập và rèn luyện theo gương Bác, mỗi cán bộ, đảng viên cần chọn cho mình một chữ trong “cần, kiệm, liêm, chính” để thực hành mỗi ngày.
Cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính nền tảng làm nên phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Mỗi đức tính lại liên quan đến các đức tính còn lại. Khi người cán bộ có Cần thì sẽ thực hành Kiệm, có Cần, Kiệm sẽ là nền tảng để xây dựng Liêm. Có Cần, Kiệm, Liêm thì phải có Chính mới đủ.
Việc rèn luyện 4 đức tính này trong giai đoạn hiện nay là đòi hỏi khách quan đối với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị, trước những yêu cầu xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, hiệu năng, sát Dân, gần Dân, vì Nhân dân phục vụ. Bởi vậy, ngay từ cuối tháng 4-2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Dựa trên vị trí, vai trò được phân công đảm nhận, mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định việc rèn luyện cần, kiệm, liêm, chính theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác để phòng ngừa các biểu hiện tự suy thoái, tự diễn biến. Đồng thời lựa chọn một trong các đức tính cần, kiệm, liêm, chính để rèn luyện, từ đó làm nền tảng để rèn luyện các đức tính khác. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện tác phong làm việc cần cù, siêng năng, dẻo dai, sáng tạo, có năng suất cao với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm sẽ biết quý trọng thời gian, công sức, của cải của Nhân dân, từ đó mà thực hành tiết kiệm, không xa hoa, lãng phí. Khi đã thực hành được cần, kiệm thì người cán bộ sẽ luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công, của dân, thực hành đức liêm, chính.
Tấm gương đạo đức, phong cách của Bác vừa vĩ đại mà vô cùng gần gũi, giản dị. Học và làm theo Bác là nhiệm vụ, cũng là tình cảm của mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - KHE SANH: KẾ NGHI BINH HOÀN HẢO
Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh là một trong những chiến dịch tiêu biểu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thể hiện rõ nét nghệ thuật quân sự Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật nghi binh đánh lạc hướng. Đây không chỉ là trận đánh có quy mô lớn, mà còn là đòn chiến lược mang tính quyết định, giúp ta giành được nhiều thắng lợi quan trọng trên mặt trận chính trị và quân sự, đặc biệt là mở đường cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
Khe Sanh là một căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ nằm ở phía Tây tỉnh Quảng Trị, gần biên giới Việt - Lào. Với địa hình hiểm yếu, Khe Sanh được Mỹ và chính quyền Sài Gòn xây dựng như một “pháo đài bất khả xâm phạm” nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời kiểm soát tuyến hành lang Đông Trường Sơn. Vì thế, việc ta lựa chọn Khe Sanh làm hướng nghi binh chủ lực là một tính toán chiến lược khôn ngoan và đầy táo bạo.
Ngay từ cuối năm 1967, Bộ Tư lệnh chiến trường đã triển khai lực lượng lớn áp sát khu vực Khe Sanh, tổ chức nhiều đợt pháo kích và đánh vào các cứ điểm xung quanh như Tà Cơn, Làng Vây. Những hoạt động này khiến phía Mỹ tưởng rằng ta sẽ tập trung toàn lực vào tấn công và tiêu diệt căn cứ Khe Sanh. Trước áp lực đó, Mỹ đã huy động hơn 45.000 quân để phòng thủ, đồng thời giảm bớt lực lượng tại các đô thị miền Nam, trong đó có Sài Gòn và Huế.
Ngày 21 tháng 01 năm 1968, chiến dịch chính thức bắt đầu bằng trận pháo kích dữ dội vào căn cứ Khe Sanh. Các vị trí trọng yếu của địch như kho đạn, sân bay, bãi đáp bị đánh phá, khiến quân Mỹ hoang mang và rơi vào trạng thái bị động. Những trận đánh tiếp theo diễn ra liên tục, vừa nhằm tiêu hao sinh lực địch, vừa làm tăng thêm độ “thật” cho đòn nghi binh. Trong suốt nhiều tuần, Mỹ bị sa lầy trong một trận địa không rõ mục tiêu cụ thể của đối phương.
Trong khi Mỹ đang tập trung toàn lực cho Khe Sanh, thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nổ ra đồng loạt trên khắp miền Nam. Từ Huế đến Sài Gòn, từ các đô thị lớn đến vùng nông thôn, quân và dân ta đã đồng loạt tấn công vào các cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn, làm chấn động nước Mỹ và thế giới. Chính nhờ đòn nghi binh tại Khe Sanh mà địch đã không kịp chuẩn bị, bị bất ngờ cả về chiến lược lẫn chiến thuật.
Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh đã hoàn thành xuất sắc vai trò nghi binh chiến lược, góp phần làm nên thắng lợi bước đầu cho Tổng tiến công Tết Mậu Thân. Dù không giữ lại được cứ điểm lâu dài, nhưng chiến dịch đã khiến Mỹ phải thay đổi chiến lược, rơi vào thế phòng thủ, và từng bước chuyển sang “Việt Nam hóa chiến tranh” - mở đầu cho sự rút lui khỏi cuộc chiến. Đây là minh chứng cho việc sử dụng mưu lược, kết hợp với sức mạnh nhân dân trong chiến tranh cách mạng.
Nghệ thuật nghi binh trong Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh được xem là một đòn đánh kinh điển trong lịch sử quân sự hiện đại. Không chỉ thể hiện sự nhạy bén trong chỉ đạo chiến lược, chiến dịch còn cho thấy tài tổ chức, khả năng phối hợp giữa các lực lượng và sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Từ đó, khẳng định chân lý: Trong chiến tranh, thắng lợi không chỉ nằm ở vũ khí mà còn nằm ở trí tuệ và mưu lược.
Vạch trần luận điệu của những “săng-ta chính trị” và thái độ của chúng ta
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, các thế lực cơ hội
chính trị, thù địch, phản động với nhiều “mưu ma chước quỷ” thường xuyên gieo
rắc thông tin xấu độc, xuyên tạc tình hình, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo.
Trước các loại thông tin bịa đặt như thời gian qua, mỗi chúng ta cần hết sức
tỉnh táo, biết phân tích để phân biệt đúng sai. Đồng thời có thái độ kiên quyết
đấu tranh, phản bác bằng những thông tin chính thống, công khai, minh bạch. Đó
là thái độ, ý thức và trách nhiệm chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên, công
dân, quân nhân, góp phần đẩy lùi bóng tối thông tin, bảo vệ thanh danh của
Đảng, uy tín của quân đội, nhất là khi chúng ta đang tiến hành đại hội đảng các
cấp hướng tới Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và Đại hội XIV của Đảng./.
Giá trị cốt lõi và tính ưu việt của chế độ sẽ phủ nhận những luận điệu xuyên tạc
Những giá trị cốt lõi đó là: Xã hội thực sự quan tâm, coi trọng
con người, tất cả vì con người, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người, làm
cho con người có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Con người được sống trong xã
hội đề cao tình đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, “ai cũng có cơm ăn áo
mặc, ai cũng được học hành” như lời Bác Hồ mong muốn. Con người ứng xử đúng
mực, thân thiện với môi trường để giữ gìn tài nguyên thiên nhiên cho thế hệ mai
sau và phát triển bền vững đất nước.
Con đường Việt Nam đang đi không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên
mà là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, phù hợp với ý Đảng-lòng dân, phù hợp với
quy luật phát triển của thời đại. Kể từ khi lập quốc theo chế độ mới đến nay,
Việt Nam đã trải qua chặng đường gần 80 năm. Trên con đường đi lên CNXH ở Việt
Nam không hề bằng phẳng, trơn tru, thậm chí có lúc vấp váp, sai lầm, song với
tinh thần cầu thị, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kết hợp và phát huy sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại, dân tộc Việt Nam thêm một lần minh chứng với thế
giới là không chỉ chiến thắng những kẻ thù cường bạo nhất thời đại mà còn nỗ
lực chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh,
văn minh, từng bước tiệm cận gần hơn với những mục tiêu cao cả của CNXH-cũng là
những mục tiêu tốt đẹp nhất mà nhân loại tiến bộ hướng tới.
Danh nhân văn hóa người Đức J.Goethe từng nói, đại ý: Lý luận
chỉ là màu xám, còn cây đời mãi xanh tươi. “Cây đời” được ươm mầm, chăm sóc và
đang lớn lên, tươi cành xanh lá trên mảnh đất Việt Nam chính là cuộc sống của
gần 100 triệu người dân được hưởng thụ hương thơm trái ngọt nhờ thành quả cách
mạng XHCN đã mang lại. Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, sau 35 năm tiến hành
công cuộc đổi mới, Việt Nam vươn lên trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng
cao, người dân đã chuyển từ nhóm thu nhập thấp sang thu nhập trung bình, trong
đó một tầng lớp trung lưu, thịnh vượng đang hình thành, chiếm tỷ lệ ngày càng
cao trong xã hội.
Giữa bộn bề, phức tạp của thời cuộc, nhất là trong bối cảnh đại
dịch Covid-19 đang hoành hành, làm chao đảo nhiều quốc gia, dân tộc khiến hàng
triệu người dân nghèo trên thế giới có nguy cơ lâm vào cuộc khủng hoảng nhân
đạo thì hầu hết người dân Việt Nam vẫn sống trong an toàn, bình yên. Càng trong
hoàn cảnh thiên tai, địch họa, dịch bệnh, tinh thần yêu nước thương nòi, ý chí
cố kết cộng đồng, tình yêu thương chia sẻ của người Việt Nam càng tỏa sáng và
trở thành một trong những giá trị văn hóa nổi bật làm nên sức mạnh Việt Nam,
giá trị Việt Nam, uy tín Việt Nam trên thế giới.
Những năm gần đây, Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận là
một trong những nước thực hiện hiệu quả những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
của Liên hợp quốc. Nhiều mô hình, sáng kiến của Việt Nam như giải quyết đói
nghèo, bất bình đẳng giới; phòng, chống thiên tai; bảo đảm an ninh lương
thực... đã được nhiều nước có điều kiện, hoàn cảnh tương đồng với Việt Nam tham
khảo, học hỏi kinh nghiệm. Ðặc biệt, những thành công của Việt Nam trong việc
ngăn chặn, kiểm soát, phòng, chống đại dịch Covid-19 đã được Tổ chức Y tế thế
giới và nhiều hãng truyền thông quốc tế đánh giá cao. Theo công bố từ một khảo
sát toàn cầu có uy tín, Việt Nam là quốc gia có độ hài lòng của người dân cao
nhất thế giới về phản ứng của Chính phủ đối với dịch Covid-19. Những nhận định
khách quan đó như một bằng chứng sinh động về sự quan tâm chăm lo chu đáo của
Ðảng và Nhà nước ta đối với cuộc sống, sức khỏe của nhân dân trong mọi hoàn
cảnh; đồng thời, đó cũng là “chỉ số lòng dân” góp phần đo lường tính chính
danh, tính ưu việt của chế độ XHCN ở nước ta.
Có được thành quả đó là sự kết tinh của trí tuệ, mồ hôi, lao
động sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân ta; và sâu xa hơn là bắt nguồn từ sự hy
sinh xương máu của gần 1,2 triệu liệt sĩ, trong đó có gần 160.000 đảng viên
liệt sĩ. Vì vậy, Việt Nam đi theo con đường CNXH không chỉ từng bước hiện thực
hóa mục tiêu, lý tưởng “độc lập-tự do-hạnh phúc” mà Đảng và Bác Hồ đã đề ra mà
còn là sự tiếp nối hành trình tri ân các thế hệ người Việt Nam đã anh dũng ngã
xuống, dâng hiến trọn đời mình vì những khát vọng cao cả đó.
Sống trong chế độ XHCN, ai cũng có cơ hội, điều kiện được tiếp
cận, hưởng thụ các giá trị của hạnh phúc. Và trên thực tế, hạnh phúc đã, đang
đến với mỗi người, mỗi nhà trên dải đất hình chữ S. Tuy quan niệm về hạnh phúc
của mỗi người dân không giống nhau, song đều có chung cảm giác là hài lòng về
đời sống vật chất, tinh thần tốt đẹp mà thể chế chính trị ưu việt đã kiến tạo
và mang lại cho họ. Khi đất nước bình yên, xã hội an toàn, cộng đồng hưởng niềm
vui, chắc chắn không ai bị bỏ lại phía sau. Đó là cội nguồn sâu xa, là xuất
phát điểm để chúng ta vững tin vào chế độ XHCN mà toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta đang chung tay xây dựng; đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn, căn cứ khoa
học để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch nhằm xuyên tạc những giá trị tốt
đẹp của chế độ XHCN và phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta.
Một số giải pháp chủ yếu đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của các thế lực thù địch
Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật cho toàn dân; giữ gìn, phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ
đội Cụ Hồ và bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ
động, tăng cường thông tin sâu rộng với bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất
đường lối, chính sách QPTD hòa bình, tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà
nước Việt Nam.
Ba là, tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản
khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD;
kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là
nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên.
Bốn là, tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững
mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng
dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Đây chính là thành trì, nền tảng chắc chắn nhất để chúng ta chung sức
đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
KIÊN ĐỊNH, VẬN DỤNG SÁNG TẠO, PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Thực tiễn những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 95 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rằng: Nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong 38 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng chính là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.
Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2025) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Bài viết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, phản ánh cả tầm tư tưởng, lý luận và thực tiễn, làm sáng rõ thêm con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong bài viết của mình, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra những lý lẽ sâu sắc, luận cứ thuyết phục về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan, là giải pháp đúng đắn để mang lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Kết thúc bài viết đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: “Điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học.”.
Qua thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính khoa học, sự kế thừa và phát triển không ngừng. Chủ nghĩa Mác - Lênin được hiểu theo nghĩa chung nhất là học thuyết khoa học về quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống lại mọi sự bất công, nô dịch, áp bức; về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống hoàn chỉnh những quan điểm triết học, kinh tế chính trị, xã hội. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin là một chuyển biến cách mạng vĩ đại trong đời sống chính trị của nhân loại. Đây là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, điều kiện và phương pháp giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, bất công và đói nghèo trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” [].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ đó hình thành nên một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam và lãnh đạo Đảng ta, dân tộc ta hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giành nhiều thành tựu vĩ đại trong sự nghiệp đổi mới. Tổng hợp tri thức văn hóa phương Đông và phương Tây, tư tưởng Hồ Chí Minh đạt tới tầm cao trí tuệ của thời đại, thấm đậm bản sắc văn hóa và bản lĩnh của dân tộc, có sức sống mạnh mẽ, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng được hoàn thiện, phát triển cùng với những thắng lợi và những bước tiến lên của cách mạng nước ta, của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước. Bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, cũng là bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện toàn cầu hóa. Từ thành quả và kinh nghiệm trong tổ chức lãnh đạo cách mạng, Văn kiện trình đại hội XIII của Đảng, thống nhất quan điểm: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [].
Nhìn lại lịch sử, từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời cho đến nay, luôn phải đương đầu với những cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa các lập trường, tư tưởng đối lập nhau. Đặc biệt, sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt.
Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008 - 2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Cho đến ngày hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại.
Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng: Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.
Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp
với xu thế phát triển của lịch sử”.
Với Việt Nam, sự vận dụng và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nguyên nhân cơ bản của thắng lợi vĩ đại trong 2 cuộc kháng chiến, cũng như những thành tựu to lớn trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Thành quả đó đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Sự nghiệp đổi mới của nước ta đến nay đạt được những thành tựu hết sức to lớn và có ý nghĩa lịch sử cũng chính nhờ chúng ta nhận thức đúng đắn bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thực tiễn 38 năm thực hiện chính sách đổi mới vừa qua cho thấy, công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ngày càng đi vào chiều sâu thì chúng ta càng phải đối diện với những vấn đề khó khăn, phức tạp mới, lại đặt ra cho đất nước những cơ hội lớn và thách thức mới. Tất cả đều đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại cho đúng, vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển và bảo vệ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với bối cảnh mới của thế giới và các điều kiện cụ thể trong nước hiện nay.
Tư tưởng của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh ngay từ khi xuất hiện đã bị các thế lực thù địch và phản động không ngừng xuyên tạc, phê phán, bác bỏ và chống phá quyết liệt. Các thế lực thù địch vẫn đang dùng “trăm phương nghìn kế” để bôi nhọ, phủ định sạch trơn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, cố tình xuyên tạc, hạ thấp vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tuyên truyền rằng tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin cách ngày nay đã quá xa, những tư tưởng này không còn phù hợp để lý giải một xã hội phát triển như hiện nay. Hơn nữa, họ còn cho rằng cả C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đều xuất phát từ bối cảnh lịch sử của phương Tây, vì vậy, không thể hiểu và không thể giải quyết vấn đề của phương Đông, đặc biệt là của Việt Nam. Lập luận này sai về cả lôgíc lẫn lịch sử. Thực tiễn cho thấy, không phải cứ thời gian càng trôi xa thì học thuyết, tư tưởng càng mất đi giá trị. Có những học thuyết, tư tưởng càng qua thời gian thì càng khẳng định giá trị của mình.
Thứ hai, tập trung tấn công tư tưởng Hồ Chí Minh với hai thái cực khác nhau: một là, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ nhắc lại tư tưởng của C.Mác, PhĂnghen, V.I.Lênin và các nhà tư tưởng vĩ đại khác chứ không có tư tưởng của riêng mình hoặc tư tưởng không trở thành một hệ thống; hai là, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản. Cả hai quan niệm này đều sai, vì tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử Việt Nam. Người đã kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng truyền thống dân tộc và các giá trị tinh hoa của nhân loại. Chủ nghĩa Mác - Lênin ở Hồ Chí Minh không phải là những luận điểm sáo rỗng, giáo điều mà đã chuyển hóa thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, thực tiễn, trực tiếp chỉ đạo thành công của cách mạng Việt Nam.
Thứ ba, phủ nhận tính hợp pháp và tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đã hết vai trò lịch sử. Đảng cầm quyền là không chính đáng, vì không được bầu lên; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, sẽ thất bại giống như Liên Xô và một số nước Đông Âu,... Chúng cố tình quên rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành chính quyền từ tay ngoại xâm để xây dựng một nước Việt Nam mới độc lập, tự chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi qua các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mà còn cả trong xây dựng đất nước. Thành tựu của sự nghiệp đổi mới, đời sống của người dân được cải thiện và nâng cao… là minh chứng sinh động nhất cho việc Đảng là đại diện cho ý nguyện và lợi ích của nhân dân.
Thứ tư, phủ nhận mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; cho rằng tất yếu phải đi theo con đường của chủ nghĩa tư bản. Những luận điệu đó bắt nguồn từ việc vô tình hoặc cố ý lẫn lộn giữa hiện tượng với bản chất, giữa tính đặc thù với tính phổ biến, giữa cái riêng với cái chung. Họ đã rêu rao tư bản chủ nghĩa là con đường duy nhất để phát triển, cố tình biến những khuyết điểm của chủ nghĩa tư bản thành ưu điểm, thần thánh hóa chủ nghĩa tư bản; khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội, quy kết thành bản chất của chủ nghĩa xã hội.
Từ thực tiễn trên cho thấy, công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ngày càng đi vào chiều sâu thì chúng ta càng phải đối diện với những vấn đề khó khăn, phức tạp mới, lại đặt ra cho đất nước những cơ hội lớn và thách thức mới. Tất cả đều đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại cho đúng, vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển và bảo vệ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với bối cảnh mới của thế giới và các điều kiện cụ thể trong nước hiện nay.
Phương pháp tốt nhất để phát triển, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là tiếp tục phát triển hệ thống các nguyên lý lý luận trên cơ sở thường xuyên tổng kết thực tiễn, dùng thực tiễn để bảo vệ lý luận, lấy thành tựu đổi mới, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân làm chỗ dựa vững chắc cho tư tưởng.
Trước mắt, cần tập trung nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề căn bản nhất trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, như: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị; phát huy dân chủ; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới; phát triển văn hóa, con người và nguồn lực con người; đặc điểm nội dung của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0)...
Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, việc giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính nguyên tắc, đây là yêu cầu chính trị hàng đầu đặt ra đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thể hiện tập trung nhất của giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa là sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường cách mạng mà Đảng ta, dân tộc ta đã lựa chọn. Đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc của đổi mới, đồng thời cũng là chủ trương, quan điểm của Đảng ta trong hội nhập quốc tế, mà thực chất là sự kiên định mục tiêu lý tưởng, kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái, bảo vệ tính khoa học, trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cần tổ chức nghiên cứu, nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ những luận điểm chung đến những luận điểm cụ thể, trên từng lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tăng cường hơn sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất cúa các cấp ủy đảng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; bảo đảm các hoạt động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng trong quan điểm chính trị, sâu sắc về tính khoa học, hiệu quả trong phương pháp đấu tranh. Cần huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan truyền thông, báo chí ... tiến công chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh dưới nhiều hình thức, để kịp thời định hướng đấu tranh. Quan tâm đầu tư kinh phí, phương tiện, điều kiện, vật chất cho các hoạt động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.
Trong tiến trình lãnh đạo đất nước, thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta, Nhân dân ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó là một minh chứng sinh động, khẳng định Đảng ta đã tuyệt đối trung thành và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Chúng ta cũng cần nhận thức sâu sắc rằng, con đường mà chúng ta đang đi tới là không dễ dàng, bằng phẳng mà phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ. Nhưng chúng ta luôn tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất định sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh được hiện thực hóa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; các quan điểm sai trái, thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận sẽ sớm bị vạch trần bởi tính chất phản khoa học, phản cách mạng của chúng./.
Một số giải pháp chủ yếu đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của các thế lực thù địch
Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật cho toàn dân; giữ gìn, phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ
đội Cụ Hồ và bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ
động, tăng cường thông tin sâu rộng với bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất
đường lối, chính sách QPTD hòa bình, tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà
nước Việt Nam.
Ba là, tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản
khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD;
kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là
nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên.
Bốn là, tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững
mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng
dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Đây chính là thành trì, nền tảng chắc chắn nhất để chúng ta chung sức
đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LÀ MỘT VỊ LÃNH TỤ VĨ ĐẠI, MỘT DANH NHÂN VĂN HÓA CỦA THẾ GIỚI.
Chủ tịch Hồ Chí Minh như một người cha già của dân tộc, Người có công lớn trong việc tìm đường giải phóng dân tộc, dẫn dắt nhân dân thoát khỏi kiếp lầm than lầm than.
Chính nhờ con đường mà Người đã chỉ dẫn chúng ta, chúng ta mới có
cơ hội đánh bại hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, giúp dân tộc thoát khỏi sự áp
bức của các nước thuộc địa và đế quốc. Chỉ có con người mới có thể tự do kiểm
soát cuộc sống của mình, làm chủ vận mệnh của mình.
Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước vĩ đại, với lòng yêu nước mạnh mẽ,
sinh ra trong thời kỳ mà đất nước chúng ta đang chìm trong bóng tối của nô lệ.
Nhân dân chúng ta đau khổ, chịu đựng, lao động vất vả mà không có đủ thức ăn,
do bị lợi dụng và bóc lột bởi chế độ phong kiến và chế độ thực dân Pháp.
Khi kinh tế của đất nước chúng ta đối mặt với khủng hoảng. Chế độ
phong kiến dưới triều vua Khải Định được xem là thời kỳ của sự thiếu nhân
quyền, tham vọng, và bất công, bỏ quên trách nhiệm với dân và đất nước. Thực
dân Pháp giả mạo làm người văn minh, xâm nhập và thống trị đất nước ta.
Chúng đã lan truyền nền văn minh dưới hình thức tiêu thụ rượu và
ma túy, làm dân ta rơi vào cảnh nghiện ngập để dễ dàng kiểm soát. Dù có những
nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, họ cũng đã nhiều lần cố gắng
tìm cách giải cứu đất nước nhưng đều thất bại vì phương pháp họ lựa chọn chưa
phù hợp.
Trong tình trạng khó khăn này, khi mới 21 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã quyết định ra nước ngoài. Thay vì chọn các quốc gia láng giềng, ông
chọn Pháp, một đất nước mà ông tin rằng có thể học hỏi về tự do, công bằng, và
nhân đạo, cũng như về những kẻ áp bức và giữ chân dân tộc ta.
Ông muốn tới Pháp để hiểu sâu hơn về quốc gia đó. Trong chuyến đi
này, ông đã đến Nga và chứng kiến sự thành công của cách mạng vô sản trong Cách
mạng Tháng Mười Nga. Đó là lúc ông bắt đầu tiếp xúc với chủ nghĩa Marx - Lenin
và tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam.
Sau đó, ông trở về nước và tham gia vào việc hợp nhất ba tổ chức
Đảng tồn tại ở cả nước: Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương và
Liên minh Cộng sản Đông Dương.
Ba tổ chức này đều do những nhà tri thức yêu nước, mang tư tưởng
tiên tiến nhưng thiếu khả năng lãnh đạo, thiếu đoàn kết trong một tổ chức đồng
nhất, không biết cách kêu gọi người nông dân, công nhân - những người có vẻ như
không có tri thức nhưng lại sẵn sàng cầm súng, cầm dao chống lại kẻ thù.
Chính nhờ việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản
Việt Nam, lá cờ đỏ sao vàng đã trở thành quốc kỳ của đất nước.
Nhờ có Đảng Cộng sản dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Việt Nam đã vượt qua từng thử thách, từ chiến thắng này đến chiến thắng khác.
Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã lập nên Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Chiến thắng trước thực dân Pháp năm 1954, thống nhất hai miền Nam-Bắc
năm 1975, tất cả những thành tựu đều là nhờ công lao của Người, Lãnh tụ vĩ đại,
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông thực sự là một nhà lãnh đạo xuất sắc, là người cha
già của cả dân tộc.
Tăng cường sức mạnh niềm tin về đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ chính nghĩa
Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Chính vì đó, chúng ta cần xác định cuộc đấu tranh chống các luận
điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của Đảng ta hiện nay phải gắn
chặt với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng
cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch trong tình hình mới”; đồng thời gắn với đấu tranh phòng, chống
âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị.
Để góp phần đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận
đường lối QPTD của các thế lực thù địch, chúng ta cần chú trọng thực
hiện một số giải pháp chủ yếu. Trước hết cần quan tâm nghiên cứu, làm
rõ bản chất khoa học và cách mạng của đường lối, chính sách quốc phòng của
Đảng, Nhà nước ta. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ, chính nghĩa,
trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và khát
vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam.






