Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG CỘNG SẢN URUGUAY RA MẮT TUYỂN TẬP HỒ CHÍ MINH!

     Ngày 9/12, Đảng Cộng sản Uruguay (PCU) đã tổ chức lễ ra mắt Tuyển tập Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm tôn vinh di sản tư tưởng và tình đoàn kết quốc tế của Bác Hồ, cũng như tình cảm gắn bó lịch sử giữa nhân dân hai nước trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Theo phóng viên TTXVN tại Nam Mỹ, tham dự lễ ra mắt có ủy viên Trung ương PCU, Juan Bernassa, và Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Uruguay (UJC), Natalia Díaz, cùng đông đảo các đảng viên.

Trong lời giới thiệu ấn phẩm, PCU nhấn mạnh thế kỷ XX là giai đoạn của những thử thách lớn đối với các dân tộc, từ cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít và đế quốc đến những nỗ lực xây dựng các mô hình xã hội mới. Theo PCU, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ đã góp phần định hình thời đại đó bằng trí tuệ, lòng dũng cảm và khả năng kết nối phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn cầu.

Tuyển tập gồm các bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gần 50 năm hoạt động cách mạng của Người, phản ánh quá trình học hỏi, đấu tranh và phát triển tư tưởng về độc lập dân tộc, xây dựng lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế và xây dựng xã hội mới. PCU cho biết những văn bản này không chỉ mang giá trị lịch sử, mà còn “soi sáng” cho phong trào tiến bộ hiện nay, bởi chúng thể hiện tinh thần khiêm tốn, lòng dũng cảm và sự tôn trọng sâu sắc đối với nhân dân – những yếu tố cốt lõi làm nên một nhà cách mạng chân chính.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, PCU cho rằng việc xuất bản tuyển tập là hành động tri ân đối với một nhà lãnh đạo kiệt xuất và là thông điệp hy vọng về sự gắn bó hơn nữa giữa nhân dân hai nước. “Chúng tôi kính cẩn cúi đầu trước một anh hùng chân chính của thời đại, một chiến sĩ quốc tế mẫu mực và một tấm gương sáng trong cuộc đấu tranh vì tự do và nhân phẩm của các dân tộc,” lời giới thiệu nêu rõ.

Phát biểu tại buổi ra mắt, Ủy viên Trung ương PCU Juan Bernassa khẳng định các tư tưởng chính trị, lý luận và tổ chức được trình bày trong tuyển tập vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với đói nghèo, thất nghiệp, bất bình đẳng và khủng hoảng môi trường. Di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là “ngọn hải đăng soi đường” cho những lực lượng đấu tranh vì công bằng xã hội.

Trong khi đó, Bí thư UJC Natalia Díaz nhấn mạnh ấn phẩm cũng nhắc lại mối liên hệ đặc biệt giữa Hồ Chí Minh và Uruguay, trong đó có kỷ niệm Người từng làm việc trên một con tàu viễn dương, đã ghé vào Montevideo năm 1920, đồng thời cho biết nhiều tác phẩm của Hồ Chí Minh, cùng các bài viết của Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, từng được sử dụng như tài liệu học tập bí mật trong thời kỳ Uruguay chịu sự cai trị độc tài (1973-1984), góp phần bồi dưỡng tinh thần và ý chí của thế hệ cộng sản trẻ ngày nay.

Đáng chú ý, phần cuối cuốn sách dài gần 260 trang, cũng đăng tải nhiều tư liệu ảnh quý giá, phản ánh sinh động tình đoàn kết Uruguay–Việt Nam trong thập niên 1960. Trong đó có nhiều cuộc mít tinh, tuần hành tại Montevideo phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam như các cuộc tuần hành do Ủy ban Thanh niên Công đoàn Uruguay tổ chức yêu cầu Mỹ rút quân tháng 3/1965; và hình ảnh đông đảo người dân Uruguay dự sự kiện “Đêm Việt Nam” ngày 26/3/1968 tại quảng trường trụ sở Hội đồng Thành phố Montevideo. Các bức ảnh đều do phóng viên của nhật báo El Popular, cơ quan ngôn luận của PCU, thực hiện.

Cuốn sách cũng đăng Tuyên bố của Ban Chấp hành Trung ương PCU ở trang nhất tờ El Popular ngày 5/9/1969, bày tỏ “sự xúc động sâu sắc” trước sự ra đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khẳng định Người là “biểu tượng cao đẹp của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô sản”. Tuyên bố nhấn mạnh cam kết của nhân dân Uruguay trong việc tiếp tục ủng hộ Việt Nam cho đến thắng lợi cuối cùng của cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng có bài viết tường thuật lại lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh do PCU tổ chức ngày 5/9/1969 tại Montevideo, một sự kiện thu hút đông đảo quần chúng và trí thức cánh tả.

Theo PCU, việc xuất bản tuyển tập Hồ Chí Minh, với 500 cuốn, không chỉ là sự tri ân một nhà lãnh đạo kiệt xuất, mà còn là biểu tượng của tình đoàn kết quốc tế và tình cảm nồng hậu đối với nhân dân Việt Nam, góp phần mở rộng quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc.

Việc ra mắt Tuyển tập Hồ Chí Minh diễn ra đúng vào dịp PCU chuẩn bị Đại hội toàn quốc lần thứ 33, sẽ diễn ra từ ngày 12-14/12, với khẩu hiệu “Con đường hướng tới hạnh phúc của quần chúng”. PCU khẳng định Đại hội sẽ là diễn đàn củng cố đoàn kết chính trị–xã hội, bảo vệ hòa bình, lên án chủ nghĩa đế quốc, ủng hộ nhân dân Palestine, và thúc đẩy vai trò của lực lượng cánh tả trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUỐC HỘI CHẤP NHẬN CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CẢNG HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ GIA BÌNH

     Sáng 11-12, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với 410/427 đại biểu có mặt tán thành (bằng 86,68% tổng số đại biểu Quốc hội).

Quy mô của sân bay là cấp 4F (theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế - ICAO); đáp ứng nhu cầu khai thác giai đoạn đến năm 2030 khoảng 30 triệu hành khách/năm và 1,6 triệu tấn hàng hóa/năm; giai đoạn đến năm 2050 khoảng 50 triệu hành khách/năm và 2,5 triệu tấn hàng hóa/năm.

Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình có nhu cầu sử dụng đất khoảng 1.884,93ha, trong đó khoảng 922,25ha là đất trồng lúa nước từ 2 vụ trở lên; thực hiện thu hồi đất một lần theo quy mô quy hoạch và được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Quốc hội quyết nghị tổng vốn đầu tư của dự án là khoảng 196.378 tỷ đồng; trong đó vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư phải bảo đảm không thấp hơn 15% tổng vốn đầu tư của dự án.

Nghị quyết nêu rõ tiến độ giai đoạn 2025-2027, hoàn thành xây dựng các công trình cần thiết để phục vụ Hội nghị cấp cao APEC năm 2027.

Giai đoạn 2026-2030 hoàn thành xây dựng các công trình còn lại của giai đoạn 1 bảo đảm đồng bộ vận hành, khai thác đáp ứng công suất 30 triệu hành khách/năm và 1,6 triệu tấn hàng hóa/năm.

Giai đoạn 2031-2050 hoàn thành xây dựng các công trình đáp ứng công suất 50 triệu hành khách/năm và 2,5 triệu tấn hàng hóa/năm.

Quốc hội đồng ý thời hạn hoạt động của dự án trong 70 năm.

Hình thức lựa chọn nhà đầu tư thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 03/2025/NQ-CP ngày 14-8-2025 của Chính phủ về cơ chế, chính sách đặc thù đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

Trước khi biểu quyết, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết.

Theo Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết nội dung đầu tiên được làm rõ là ảnh hưởng của Cảng hàng không quốc tế Gia Bình đối với phương thức vận tải và các cảng hàng không lân cận.

Trong quá trình lập quy hoạch chuyên ngành quốc gia của 5 lĩnh vực giao thông vận tải, Bộ Xây dựng đã chỉ đạo tính toán nhu cầu vận tải giữa các phương thức vận tải, trong đó có nhu cầu vận tải hàng không khu vực phía Bắc, nhất là mối quan hệ giữa Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, nhằm bảo đảm khai thác hiệu quả giữa hai cảng.

Về tác động đối với di tích lịch sử văn hóa, dự án ảnh hưởng tới 25 di tích, gồm 1 di tích quốc gia và 11 di tích cấp tỉnh. Việc di chuyển các di tích được thực hiện với nguyên tắc "người dân tái định cư ở đâu sẽ được gắn với di tích ở đó", tổ chức tham vấn cộng đồng và bảo đảm việc di dời không làm ảnh hưởng đến giá trị gốc cấu thành di tích./.

Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NGƯỜI ĐÃ CÓ TƯ TƯỞNG LẬT SỬ THÌ KHÔNG LÊN ĐƯA VÀO THAM GIA BIÊN SOẠN SÁCH GIÁO KHOA!

     Tôi đã đọc rất kỹ status của ông Đỗ Ngọc Thống - người tham gia biên soạn CT 2018 - khi ông nói rằng ông “mừng vì đã kiên quyết đấu tranh để đưa tác phẩm này vào SGK”!

Đến đây, mọi thứ đã rõ ràng.

Không phải do vô tình.
Không phải do sơ suất.
Không phải do cách hiểu.

Mà là do “kiên quyết đấu tranh”.
Nghĩa là cố tình đưa bằng được.

Và tôi phải hỏi một câu rất giản dị, rất thẳng, rất công dân:

Ông đấu tranh vì cái gì? 
Vì giáo dục học sinh Việt Nam, hay vì thỏa mãn một quan điểm cá nhân sai lệch về văn chương?

Đưa một tác phẩm tối tăm vào SGK không phải là đổi mới. Đó là đánh đổi.

Một nền giáo dục muốn mạnh thì phải xây nền tảng tinh thần sáng.

Nhưng tác phẩm mà ông cố tình đưa vào lại u ám đến tuyệt vọng, bi kịch hóa chiến tranh đến mức sai lệch bản chất, làm mờ đi chính nghĩa chống xâm lược, gieo vào đầu giới trẻ tâm thế vô vọng và hoài nghi.

Một tác phẩm khiến chính người từng chiến đấu cùng tác giả phải lên tiếng phản đối, vậy mà ông lại gọi đó là “thành công”.

Đó không phải là cải cách.
Đó là việc đánh đổi tinh thần dân tộc để lấy cái gọi là “cá tính nghệ thuật”.

Ông có thể thích tác phẩm ấy. 
Ông có quyền đọc, quyền khen, quyền cảm xúc.
Nhưng đưa vào SGK là trách nhiệm quốc gia.

Ông không được quyền lấy cảm xúc riêng để quyết định cảm xúc của hàng triệu học sinh, lấy sở thích cá nhân để thay đổi chuẩn giá trị của dân tộc, lấy sự “hào hứng” riêng để áp đặt lên tâm hồn thế hệ trẻ.

Đó không còn là lựa chọn nghệ thuật.
Đó là trách nhiệm công vụ.
Và trách nhiệm ấy, ông không thể né.

Nếu ông tự hào vì “đấu tranh để đưa vào”, vậy hãy dũng cảm đứng ra chịu trách nhiệm trước Nhân dân.

Người làm chính sách không được đứng trên cao để tuyên bố “tôi mừng vì tôi đã đúng”.

Người làm chính sách phải biết lắng nghe phản biện của Nhân dân, 
phải dám đối thoại khi xã hội bức xúc, 
phải hiểu rằng chương trình giáo dục không phải nơi để thử nghiệm cái nhìn u tối về lịch sử.

Ông nói ông “mừng”.

Nhưng Nhân dân không mừng.
Cựu chiến binh không mừng.
Những người hiểu chiến tranh không mừng.
Học sinh và phụ huynh lại càng không mừng...

Vậy ông mừng vì điều gì?

Chương trình giáo dục không phải một “khu vực đặc quyền”.

Nó phải được soi chiếu bởi lương tri xã hội, đạo lý dân tộc, ký ức chiến tranh chân thực và trách nhiệm với thế hệ trẻ.

Và bây giờ khi nhiều điều đã sáng rõ, xin ông đừng tiếp tục đứng trên cao mà tự hào về quyết định ấy nữa.

Hãy xuống đây - đối diện với câu hỏi của Nhân dân:
Vì sao ông đưa bóng tối vào sách của trẻ em Việt Nam⁉️

Một người làm giáo dục có thể sai.
Điều đó bình thường.
Nhưng một người làm giáo dục mà kiên quyết sai, thì đó mới là điều nguy hiểm.

Ông hãy trả lời đi!
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẨY NHANH LỘ TRÌNH CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG VÀ TIẾN TỚI TRẢ LƯƠNG THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM!

     Nghị quyết của Quốc hội yêu cầu khẩn trương rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm phù hợp với tổ chức bộ máy sau sắp xếp; đẩy nhanh lộ trình cải cách tiền lương và tiến tới trả lương theo vị trí việc làm gắn với kết quả đánh giá theo sản phẩm đầu ra.

Sáng 11/12, Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc thực hiện một số nghị quyết của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIV và khóa XV về giám sát chuyên đề, chất vấn với 439/439 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành.

Đẩy nhanh lộ trình cải cách tiền lương

Nghị quyết nhấn mạnh tập trung thực hiện hiệu quả 17 nội dung, trong đó, về lĩnh vực nội vụ, Quốc hội yêu cầu khẩn trương rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm phù hợp với tổ chức bộ máy sau sắp xếp; đẩy nhanh lộ trình cải cách tiền lương và tiến tới trả lương theo vị trí việc làm gắn với kết quả đánh giá theo sản phẩm đầu ra.

Bổ sung kinh phí từ ngân sách trung ương cho các địa phương chưa cân đối được ngân sách để các địa phương giải quyết chế độ phù hợp đối với số lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động dôi dư sau khi sắp xếp đơn vị hành chính.

Trong năm 2026, rà soát, đánh giá tình hình thực hiện Đề án phát triển quan hệ lao động giai đoạn 2021 - 2025, xây dựng, thực hiện Đề án phát triển quan hệ lao động phù hợp với yêu cầu của tình hình mới...

Về giáo dục, nghị quyết nêu rõ việc tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 686/NQ-UBTVQH15 ngày 19/8/2023 của Ủy ban TVQH về giám sát chuyên đề về việc thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Nghị quyết số 51/2017/QH14 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

Tổng kết, đánh giá toàn diện việc tổ chức kỳ thi trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai chương trình giáo dục phổ thông (năm 2006 và năm 2018), định hướng lộ trình tổ chức kỳ thi phù hợp, thống nhất và ổn định trong các năm tiếp theo.

Chỉ đạo các địa phương thực hiện tuyển dụng hết số biên chế giáo viên được cấp có thẩm quyền giao, giải quyết triệt để tình trạng thừa, thiếu giáo viên. Xây dựng và phê duyệt đề án phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông giai đoạn 2026 - 2035...

Về y tế, Quốc hội yêu cầu rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến y tế cơ sở, y tế dự phòng, đầu tư công, quản lý tài sản công trong lĩnh vực y tế. Chậm nhất đến quý II năm 2026 ban hành quy định để giải quyết vướng mắc, khó khăn trong quản lý, sử dụng và thanh toán, quyết toán các nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19.

Sớm sửa đổi toàn diện Luật Bảo hiểm y tế để giải quyết triệt để những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế.

Phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; hỗ trợ, can thiệp kịp thời cho trẻ em bị xâm hại và hướng dẫn bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Trong năm 2027, 100% xã/phường có người làm công tác bảo vệ trẻ em và đường dây nóng hoạt động 24/7.

Khẩn trương nghiên cứu về việc thành lập sàn giao dịch vàng

Với lĩnh vực ngân hàng, tổng kết việc thực hiện Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai Chương trình tín dụng cho vay dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ; Chương trình tín dụng cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội.

"Khẩn trương nghiên cứu, có giải pháp thực hiện theo lộ trình phù hợp về việc thành lập sàn giao dịch vàng...", nghị quyết yêu cầu.

Đối với lĩnh vực thanh tra, nghị quyết nhấn mạnh khẩn trương rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp còn tồn đọng, nhất là các vụ việc có vướng mắc do có sự thay đổi của pháp luật về đất đai. Khẩn trương ban hành quy định về tiếp công dân trực tuyến...

Nâng cấp, hoàn thiện Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo, bảo đảm kết nối dữ liệu liên thông, đồng bộ trên phạm vi toàn quốc. Sớm hoàn thành dự án “Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập”.

Đẩy nhanh tiến độ thanh tra, tiếp tục theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kết luận thanh tra, nhất là các kết luận thanh tra thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đưa vào theo dõi, chỉ đạo. Trong năm 2026, ban hành Bộ chỉ số và tài liệu hướng dẫn công tác đánh giá phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại các Bộ, ngành trung ương.

Còn về lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần đẩy mạnh rà soát, hoàn thiện thể chế pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Hoàn thành tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và ban hành Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2026 - 2030. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ, hạn chế các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, ngăn chặn tội phạm ngay từ khi mới phát sinh./.

Môi trường ST.

BẢO VỆ CHÂN LÝ CHIẾN TRANH: LÀN SÓNG PHẢN ỨNG TỪ GIỚI TRÍ THỨC, CỰU CHIẾN BINH, ĐỘC GIẢ YÊU NƯỚC!

     Trong nhiều năm qua, tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh” của Bảo Ninh dù được một số tổ chức và cá nhân vinh danh, vẫn liên tục gây tranh cãi. Bên cạnh ý kiến đề xuất trao giải hay đưa vào sách giáo khoa, một làn sóng phản đối mạnh mẽ từ cựu chiến binh, các nhà nghiên cứu, sử học, giáo sư, cùng đông đảo độc giả yêu nước đã dấy lên như hồi chuông cảnh tỉnh. Nhiều người cho rằng tác phẩm thể hiện góc nhìn lệch lạc, làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, lấy nỗi ám ảnh cá nhân bao phủ lên giá trị nhân văn, vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sự phản đối ấy không xuất phát từ cảm xúc nhất thời, mà từ trách nhiệm với lịch sử, phẩm giá dân tộc và thế hệ trẻ.

Vì sao tác phẩm gây phẫn nộ trong giới cựu chiến binh và người yêu nước?
Xuyên tạc, làm méo mó hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là điều không thể dung thứ. Trong “Nỗi Buồn Chiến Tranh”, hình tượng người lính không còn hiện lên như những con người dũng cảm, kiên cường, giàu lý tưởng và sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, mà lại được khắc họa trong trạng thái tuyệt vọng kéo dài, suy sụp tinh thần, hoang mang và đổ vỡ nội tâm. Nhiều độc giả thẳng thắn chỉ ra: “Đó không phải người lính chúng tôi đã chiến đấu cùng.”

Nhà nghiên cứu Nguyễn Cảnh Toàn đồng đội, cùng đơn vị của Bảo Ninh cũng lên tiếng phản bác, cho rằng tác phẩm đã lấy những lát cắt đau thương của một cá nhân để khái quát thành diện mạo chung của cả đội ngũ chiến sĩ, dễ dẫn đến nhận thức sai lệch cho thế hệ trẻ. Theo ông, những hy sinh, chiến công và phẩm chất cao đẹp của hàng triệu chiến sĩ đã bị phủ lên một màn bi lụy, thậm chí u ám đến phi lý.

Nhiều cựu chiến binh cùng chung nhận định: “Đó không phải là bộ đội chúng tôi đã sống, chiến đấu và hy sinh.” Họ khẳng định, nếu chỉ nhìn chiến tranh qua lăng kính bi thảm ấy, mọi chiến thắng và mất mát đều sẽ bị bóp méo.

Lãng mạn hóa nỗi đau cá nhân, đẩy chiến tranh vào bóng tối bi kịch. Chiến tranh Việt Nam là cuộc kháng chiến chính nghĩa, nơi lòng yêu nước, ý chí độc lập và tinh thần đoàn kết đã đưa dân tộc ta đến thắng lợi vẻ vang. Thế nhưng, “Nỗi Buồn Chiến Tranh” lại trượt dài trong sự tang thương hóa hiện thực, phủ nhận lý tưởng, gieo rắc hoài nghi về chiến thắng và khắc họa con người trong trạng thái lạc lõng trước vận mệnh dân tộc.

Cách thể hiện ấy dễ khiến những độc giả trẻ, chưa có trải nghiệm về chiến tranh hiểu sai rằng: “Chiến tranh không có lý tưởng, chỉ có đau khổ.” Đây là một cách nhìn nguy hiểm, bởi nó tạo ra cảm xúc và nhận thức lệch lạc về lịch sử, làm mờ đi giá trị nhân văn, chính nghĩa và tinh thần anh hùng của dân tộc Việt Nam.

Một góc nhìn cá nhân không thể đại diện cho cả cuộc chiến. Không ai phủ nhận rằng mỗi người lính đều mang trong mình nỗi đau riêng, nhưng nỗi đau cá nhân không thể thay thế cho ý chí toàn quân, tinh thần dân tộc và bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến. Khi tác phẩm lấy sự ám ảnh của một cá nhân để phác họa cả bức tranh chiến tranh, đó là sự lạm dụng góc nhìn chủ quan, dễ dẫn đến những nhận thức sai lệch, đặc biệt trong cộng đồng độc giả trẻ, những người chưa từng trải qua chiến tranh và dễ bị chi phối bởi cảm xúc bi lụy thay vì sự thật lịch sử.

Thiếu tính cách mạng, không có giá trị giáo dục. Giá trị của văn học chiến tranh Việt Nam luôn gắn liền với hai yếu tố: phản ánh trung thực sự thật lịch sử và góp phần bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ sau. Tuy nhiên, nhiều nhà phê bình cho rằng “Nỗi Buồn Chiến Tranh” chưa thể hiện được tinh thần thời đại, mà ngược lại, nuôi dưỡng tâm lý hoài nghi lý tưởng, bi quan trước chiến thắng, đề cao nỗi đau cá nhân hơn là sức mạnh tinh thần tập thể, khiến con người trở nên tách rời khỏi mục tiêu chung của dân tộc.

Những quan điểm này được cho là lệch khỏi chuẩn mực của văn học cách mạng, và vì thế, nhiều ý kiến nhận định tác phẩm không phù hợp để đưa vào môi trường giáo dục, nơi cần lan tỏa tinh thần yêu nước, niềm tin và khát vọng cống hiến cho Tổ quốc.

Phản bác của độc giả và giới nghiên cứu
“Biến nỗi đau chiến tranh thành hàng hóa văn chương gây nhiễu loạn nhận thức”. Nhiều độc giả phản đối cho rằng “Nỗi Buồn Chiến Tranh” mang màu sắc u tối, ám ảnh, đầy hoang mang, chủ yếu khai thác những góc nhìn tiêu cực về chiến tranh. Cách thể hiện này khiến người đọc, đặc biệt là giới trẻ, dễ hiểu sai bản chất của cuộc kháng chiến, một cuộc chiến chính nghĩa, nơi toàn dân tộc đứng lên bảo vệ Tổ quốc.

Không ít ý kiến nhận định việc tôn vinh tác phẩm là đi ngược lại với giá trị truyền thống và lý tưởng cách mạng. Họ cảnh báo rằng, xu hướng văn học tôn vinh sự tuyệt vọng thay vì tinh thần bất khuất sẽ làm lệch hướng cảm thụ văn học, khiến người đọc đánh mất niềm tin và sự tự hào về lịch sử dân tộc.

Những phản ứng gay gắt hướng về Hội đồng thẩm định. Nhiều độc giả đã chỉ rõ trách nhiệm của Hội đồng thẩm định, trong đó có nhà thơ Trần Đăng Khoa, người giữ vai trò chủ trì. Hội đồng bị cho là thiếu khách quan, chưa đánh giá đầy đủ tác động tư tưởng của tác phẩm, đồng thời không tham khảo rộng rãi ý kiến từ giới quân đội và giới sử học.

Dư luận đặt câu hỏi: Vì sao một tác phẩm gây tranh cãi dữ dội như vậy không được xem xét chỉnh sửa, thậm chí đình chỉ, mà trái lại còn được giới thiệu và trao giải? Nhiều ý kiến gọi đây là “sự dễ dãi đáng thất vọng của những người giữ trọng trách trong đời sống văn học”, cho thấy nhu cầu cấp thiết phải xem xét lại tiêu chí thẩm định, để tránh những lệch hướng trong việc tôn vinh các giá trị văn học.

Vấn đề lớn nhất: Nguy cơ bị lợi dụng để bóp méo lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu cảnh báo rằng, các thế lực thù địch thường lợi dụng những tác phẩm có xu hướng bi kịch hóa chiến tranh, nhấn mạnh sự tuyệt vọng hơn là tinh thần đấu tranh, để xuyên tạc và bóp méo bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Từ thực tế đó, các ý kiến phản đối cho rằng việc phổ biến “Nỗi Buồn Chiến Tranh” có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức lịch sử của lớp trẻ, đặc biệt khi tác phẩm bị cho là làm giảm nhẹ tính chính nghĩa của cuộc chiến, che mờ vai trò lãnh đạo của Đảng và làm phai nhạt hào khí chiến thắng của dân tộc.

Giáo dục phổ thông không thể là nơi thử nghiệm với những tác phẩm bi lụy, lệch lạc. Trường học là môi trường định hình lý tưởng và nhân cách cho thế hệ trẻ. Sách giáo khoa không chỉ dạy chữ, mà còn truyền đạt lý tưởng sống, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Tuy nhiên, trích đoạn trong “Nỗi Buồn Chiến Tranh” của Bảo Ninh bị cho là chưa thể hiện được những giá trị ấy.

Thay vì khơi dậy niềm tin và khát vọng, tác phẩm dễ gieo vào học sinh cảm giác mất phương hướng, nghi ngờ chiến thắng chính nghĩa và nhìn nhận u tối về hình tượng người lính. Nhiều nhà giáo cho rằng học sinh Trung học phổ thông chưa có đủ trải nghiệm và bản lĩnh lịch sử để phân biệt ranh giới giữa hư cấu nghệ thuật và cảm xúc cực đoan, nên việc đưa tác phẩm này vào giảng dạy cần được cân nhắc thận trọng.

Nguy cơ “nhiễu loạn nhận thức lịch sử” trong giới trẻ. Học sinh phổ thông chưa có đủ trải nghiệm để phân biệt giữa tư tưởng cá nhân và sự thật lịch sử, dễ bị chi phối bởi văn chương mang nặng cảm xúc. Khi thiếu khả năng phản biện, các em khó nhận ra đâu là hư cấu nghệ thuật, đâu là sự bóp méo hiện thực.

Nếu chỉ tiếp cận chiến tranh qua lăng kính hoang mang, bi lụy của “Nỗi Buồn Chiến Tranh”, các em rất dễ hiểu sai rằng cuộc kháng chiến của dân tộc là vô nghĩa, người lính chỉ là những con người đau khổ, thất bại, còn lý tưởng cách mạng chỉ là ảo vọng. Đây là sự sai lệch nguy hiểm, đi ngược lại truyền thống yêu nước, phủ mờ giá trị hy sinh cao cả của thế hệ cha anh và làm tổn hại đến ý thức lịch sử chính nghĩa của dân tộc. Giáo dục không thể để lịch sử bị làm mờ, bị đánh tráo hay bị u tối hóa, đó là trách nhiệm không chỉ của ngành giáo dục, mà còn của toàn xã hội trong việc bảo vệ ký ức và bản lĩnh dân tộc.

Sách giáo khoa không phải nơi thử nghiệm văn chương gây tranh cãi. Ở nhiều quốc gia, việc lựa chọn tác phẩm chiến tranh để giảng dạy luôn được cân nhắc thận trọng. Những tác phẩm có quan điểm gây chia rẽ, thể hiện góc nhìn đối lập hoặc dễ bị hiểu sai thường chỉ được nghiên cứu ở bậc đại học, nơi người học đã có đủ khả năng tư duy phản biện và nền tảng kiến thức lịch sử cần thiết.

Vì vậy, đề xuất đưa “Nỗi Buồn Chiến Tranh”, một tác phẩm gây tranh luận suốt nhiều năm vào chương trình sách giáo khoa Trung học phổ thông bị cho là vượt quá giới hạn an toàn của giáo dục phổ thông. Bởi ở lứa tuổi này, học sinh cần được tiếp cận với những tác phẩm khơi dậy niềm tin, lý tưởng và lòng tự hào dân tộc, thay vì những góc nhìn dễ gây hoang mang, lệch hướng nhận thức lịch sử.

Tôn vinh cái nhìn bi lụy thay vì phẩm giá dân tộc, một lựa chọn sai hướng. Lịch sử Việt Nam tỏa sáng bởi chủ nghĩa anh hùng, lòng quả cảm của “Bộ đội Cụ Hồ” và niềm tin tất thắng của dân tộc trong mọi cuộc chiến. Thế nhưng, tác phẩm của Bảo Ninh lại chìm đắm trong nỗi buồn cá nhân, sự tan rã tinh thần, cùng những ảo giác và tuyệt vọng.

Nếu được đưa vào sách giáo khoa, tư tưởng chủ đạo mà học sinh tiếp nhận sẽ dễ nghiêng về quan niệm sai lệch: “Chiến tranh chỉ toàn đau thương và vô nghĩa.” Đó không chỉ là sự sai lạc về nhận thức, mà còn là sự bất công với hàng triệu chiến sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do và phẩm giá dân tộc.

Kêu gọi độc giả tỉnh táo, sàng lọc và nói không với những tác phẩm lệch lạc. Trước hàng loạt lập luận phản bác, nhiều tiếng nói từ cộng đồng độc giả, các tướng lĩnh, cựu chiến binh và giới trí thức yêu nước đã thống nhất quan điểm: Không thể để những tác phẩm thiếu tính chân thực lịch sử chi phối cảm xúc và nhận thức của thanh niên Việt Nam. Không thể chấp nhận việc biến nỗi bi quan cá nhân thành “chân lý văn học” về chiến tranh, càng không thể để các giá trị anh hùng, bất khuất của dân tộc bị che khuất bởi những mô tả lệch lạc, phiến diện.

Từ đó, lời kêu gọi được cất lên mạnh mẽ: Hãy tẩy chay những tác phẩm làm tổn thương hình tượng Bộ đội Cụ Hồ; hãy đứng về phía sự thật lịch sử, phía những giá trị thiêng liêng được xây bằng xương máu của hàng triệu chiến sĩ. Đồng thời, hãy chung tay bảo vệ một nền văn hóa đọc lành mạnh, trung thực và chính nghĩa, nơi văn học phải góp phần nuôi dưỡng niềm tin, khát vọng và lòng tự hào dân tộc.

Kiến nghị cơ quan chức năng thẩm định, làm rõ nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật
Cần thẩm định lại “Nỗi Buồn Chiến Tranh” theo đúng quy định. Trong bối cảnh “Nỗi Buồn Chiến Tranh” tiếp tục gây tranh cãi sâu rộng, nhiều ý kiến từ dư luận xã hội, đặc biệt là của các cựu chiến binh, nhà giáo, nhà nghiên cứu và độc giả yêu nước đã đề nghị các cơ quan quản lý văn hóa, cơ quan chuyên môn và cơ quan bảo vệ pháp luật sớm vào cuộc để thẩm định, đánh giá lại toàn bộ nội dung tác phẩm một cách khách quan, đúng quy định.

Đây không phải là cáo buộc hay kết luận vội vàng, mà là một kiến nghị chính đáng, xuất phát từ trách nhiệm xã hội và ý thức bảo vệ nền tảng tư tưởng quốc gia. Kiến nghị này dựa trên ba yếu tố: mức độ lan truyền và tác động xã hội của tác phẩm, những mô tả dễ bị hiểu sai hoặc bị lợi dụng để diễn giải lịch sử theo hướng lệch lạc, và trách nhiệm bảo vệ giá trị văn hóa, lịch sử, giữ vững bản sắc và phẩm giá dân tộc.

Cơ quan pháp luật cần thẩm định khách quan nếu có dấu hiệu vi phạm. Trước phản ánh của dư luận về việc “Nỗi Buồn Chiến Tranh” có thể chứa những nội dung gây hiểu lầm nghiêm trọng về lịch sử, mô tả sai lệch dễ bị lợi dụng để chống phá đường lối, chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, hoặc xuyên tạc hình ảnh người lính, việc đề nghị các cơ quan pháp luật vào cuộc thẩm định, đánh giá khách quan theo đúng quy trình là hoàn toàn phù hợp với trách nhiệm bảo vệ an ninh tư tưởng và văn hóa quốc gia.

Kiến nghị của dư luận hướng tới mục tiêu rõ ràng: Nếu qua thẩm định, tác phẩm được xác định có dấu hiệu vi phạm pháp luật về văn hóa, xuất bản hoặc an ninh quốc gia, thì các cơ quan có thẩm quyền cần xử lý nghiêm minh, đúng quy định, kể cả việc xem xét trách nhiệm của cá nhân và tổ chức có liên quan. Đây không chỉ là hành động bảo vệ luật pháp, mà còn là bảo vệ sự trong sáng của đời sống văn hóa, tinh thần và lịch sử dân tộc.

Không kết luận thay pháp luật, chỉ yêu cầu kiểm tra, làm rõ. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là: dư luận không kết luận tác phẩm có tội, cũng không tự phán xét thay cho các cơ quan có thẩm quyền. Dư luận chỉ yêu cầu được kiểm tra, thẩm định lại nội dung tác phẩm một cách công khai, minh bạch và chính xác, để đảm bảo sự khách quan trong đánh giá và đúng quy trình pháp lý. Đây là thái độ thận trọng, đúng mực và thể hiện tinh thần tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng là sự kiên quyết trong việc bảo vệ giá trị lịch sử, phẩm giá dân tộc và nền tảng tư tưởng của đất nước.

Thẩm định là để bảo vệ Nhà nước, không phải đàn áp sáng tạo văn học. Việc kiến nghị điều tra, nếu có, không nhằm mục đích cấm đoán hay hạn chế tự do sáng tạo trong văn chương, mà nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng quốc gia, giữ gìn hình tượng cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, và ngăn chặn những yếu tố xuyên tạc có thể bị kẻ xấu lợi dụng.

Đồng thời, đây cũng là cách để làm rõ ranh giới giữa quyền tự do sáng tạo và trách nhiệm với lịch sử, với dân tộc. Công tác thẩm định vì thế không phải là rào cản đối với văn học, mà là biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng các tác phẩm không vô tình trở thành công cụ làm sai lệch nhận thức, gây tổn hại đến giá trị tinh thần và niềm tự hào chung của đất nước.

Kiến nghị chính đáng của độc giả yêu nước. Nhiều độc giả, đặc biệt là các cựu chiến binh, đã thẳng thắn bày tỏ: “Không thể để một tác phẩm gây tranh cãi nghiêm trọng tùy tiện lan truyền mà không có sự thẩm định chính thống.”

“Nếu có dấu hiệu xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, cơ quan pháp luật phải vào cuộc.” Đó là tiếng nói xuất phát từ tinh thần trách nhiệm với lịch sử và sự trong sạch của môi trường văn hóa. Văn học được sáng tạo trên nền tảng tự do, nhưng tự do ấy phải gắn liền với trách nhiệm, trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân và với sự thật lịch sử.

Lịch sử và Tổ quốc không cho phép bất kỳ tác phẩm nào, nếu có dấu hiệu vi phạm, đứng ngoài sự thẩm định của pháp luật. Nếu một tác phẩm gây nguy hại đến nhận thức lịch sử, làm tổn thương nền tảng tư tưởng của dân tộc, thì các cơ quan chức năng cần vào cuộc, làm rõ và xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Đó không chỉ là yêu cầu của luật pháp, mà còn là đòi hỏi của lương tri, của trách nhiệm công dân và của lòng yêu nước chân chính.

Đưa “Nỗi Buồn Chiến Tranh” vào sách giáo khoa là sai lầm nghiêm trọng, cần bị bác bỏ dứt khoát. Việc đề nghị đưa “Nỗi Buồn Chiến Tranh” vào chương trình sách giáo khoa trung học phổ thông là một bước đi sai lầm, bởi tác phẩm này phi thực tế với lịch sử, không phù hợp với môi trường giáo dục, dễ gây nhiễu loạn tư tưởng học sinh và có nguy cơ bị lợi dụng để bóp méo hình tượng Bộ đội Cụ Hồ.

Tiếng nói của độc giả, cựu chiến binh và giới học thuật đã thể hiện rõ ràng: Không chấp nhận đưa một tác phẩm mang màu sắc bi lụy, lệch lạc về lịch sử vào sách giáo khoa. Không thể để thế hệ trẻ bị dẫn dắt bởi góc nhìn u tối, bi thương hóa cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc; cũng không thể khoan nhượng với bất kỳ biểu hiện nào làm phai nhạt phẩm giá anh hùng của người lính Việt Nam.

“Nỗi Buồn Chiến Tranh” có thể tồn tại như một góc nhìn cá nhân trong đời sống văn học. Tuy nhiên, khi góc nhìn ấy lệch khỏi sự thật lịch sử, gây hoang mang nhận thức và xuyên tạc hình tượng người chiến sĩ, thì việc độc giả lên tiếng phản bác là hành động thể hiện trách nhiệm với quá khứ, với Tổ quốc và với thế hệ mai sau.

Sự tỉnh táo của cộng đồng chính là tấm lá chắn bảo vệ lịch sử, gìn giữ sự thật và phẩm giá dân tộc trước mọi diễn giải sai lệch, dù đến từ bất kỳ hình thức hay danh nghĩa nào./.



Trung tướng Ngô Quý Đức/Nguyên Cục trưởng, Cục Cứu hộ - Cứu nạn.
Khuyết danh ST.

LẬT SỬ - ÂM MƯU XUYÊN SUỐT TỪ QUÁ KHỨ ĐẾN HIỆN TẠI ĐÃ ĐẾN LÚC PHẢI LỘ DIỆN VÀ TRẢ GIÁ!

     Hiện tượng “lật sử” không còn là những manh nha yếu ớt như thuở phong kiến suy tàn, mà nay đã trở thành một trào lưu có tổ chức, tinh vi và nguy hiểm hơn bao giờ hết. Nó không còn dừng ở vài quan điểm nhập nhằng hay những trang tấu sớ yếu hèn, mà đã được đạo diễn, khống chế và tiếp sức bởi truyền thông, xuất bản cùng sự im lặng đáng sợ của một số cơ quan chức năng. Tất cả đang góp phần bóp méo lịch sử, gieo rắc nhận thức lệch lạc trong xã hội. Lịch sử từng chứng kiến những kẻ phản bội khi đất nước bị xâm lăng; và nay, một lớp “trí thức lệch chuẩn” đang tiếp bước, gây tổn hại nghiêm trọng đến nền tảng tư tưởng dân tộc.

Phan Thanh Giản với những văn sớ cầu hòa, đầu hàng, đã để lại vết nhơ đau xót trong lịch sử dân tộc. Trương Vĩnh Ký, dù được ca ngợi là “học giả uyên bác”, thực tế lại trở thành cầu nối giúp thực dân Pháp thâm nhập sâu vào đời sống văn hóa, tư tưởng Việt Nam. Lê Văn Duyệt một ngu trung, Nguyễn Ánh một ông vua cầm cố và bán nước cũng là những kẻ đặt lợi ích, quyền lực cá nhân và ngai vàng lên trên vận mệnh quốc gia, vô tình mở đường cho ngoại bang xâm lược và đô hộ Việt Nam gần một thế kỷ.

Những cái tên ấy không chỉ dừng lại ở vai trò lịch sử, mà còn là biểu tượng cho sự suy thoái ý chí dân tộc, cho tư tưởng tự hạ thấp mình trước kẻ thù. Đáng lo ngại hơn, hiện nay xuất hiện xu hướng cố tình “tẩy trắng”, phục hồi danh dự cho những nhân vật từng bị xem là phản bội, thậm chí nâng họ lên hàng “khai sáng văn minh”, “mang tư duy tiến bộ”.

Đó chính là mầm mống của hiện tượng “lật sử”, một âm mưu đã manh nha từ nhiều thế kỷ trước và nay đang tiếp diễn tinh vi hơn. Nhiều người, nhân danh tri thức hay cán bộ, đang vô tình hoặc hữu ý tiếp tay cho sự xuyên tạc lịch sử, phủ nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ, cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa, mang tầm vóc lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Ngày nay, những người theo đuổi tư tưởng “lật sử” không còn sử dụng bom đạn, chất độc hay mệnh lệnh của quân xâm lược như trong quá khứ. Họ lựa chọn những công cụ mềm mại hơn nhưng thực sự nguy hiểm: văn chương, truyền thông, xuất bản và mạng xã hội. Thông qua đó, họ gieo vào giới trẻ tâm lý hoài nghi, cảm giác mất cội nguồn, khiến ranh giới giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa trở nên mờ nhạt. Đỉnh điểm của xu hướng nhập nhằng này là việc một số người tán tụng cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” như một “kiệt tác phản chiến”, “tác phẩm dũng cảm đối diện lịch sử”.

Nhưng sự thật là gì? Một cá nhân được biến thành đại diện cho cả dân tộc. Một góc nhìn bi lụy lại được nâng lên thành “bản chất chiến tranh”. Những chi tiết sai lệch về quân đội, đồng đội, về tinh thần chiến đấu được thổi phồng, coi như “chứng cứ lịch sử”. Nguy hiểm hơn cả, tác phẩm ấy gieo vào tâm trí người đọc trẻ tuổi sự hoang mang về tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc.

Một cuốn tiểu thuyết bị biến thành vũ khí đánh vào niềm tin, bởi những kẻ mang danh “trí thức” nhưng đi ngược dòng lịch sử. Một tác phẩm văn chương bị lợi dụng thành công cụ gây nhiễu nhận thức, phá hoại nền tảng tư tưởng. Đó chính là biểu hiện của “lật sử” trong thời hiện đại, không ồn ào, nhưng âm thầm, tinh vi và đặc biệt nguy hại.

Thế nhưng, dù những kẻ muốn “lật sử” đã lộ diện rõ ràng, dù nhân dân đã lên tiếng mạnh mẽ, mọi thứ dường như vẫn không chuyển động. Vẫn còn đó sự thờ ơ, bàng quan trước vận mệnh của lịch sử dân tộc.

Điều khiến xã hội phẫn nộ không chỉ nằm ở một cuốn sách hay người viết ra nó, mà ở thực tế đáng lo hơn: sự im lặng khó hiểu của những cơ quan, tổ chức lẽ ra phải đứng mũi chịu sào trong việc bảo vệ nền tảng lịch sử, đạo đức và truyền thống dân tộc. Chính sự im lặng ấy khiến lòng dân bất an, khiến niềm tin vào giá trị lịch sử bị bào mòn từng ngày.

Đỉnh điểm của sự nhập nhằng ấy chính là cuốn sách “Nỗi buồn chiến tranh”, được một số người tung hô như “kiệt tác phản chiến”, “thẳng thắn đối diện lịch sử”. Không ai lên tiếng rõ ràng về nhân vật “Kiên”, liệu có thật hay không. Không ai kiểm chứng mức độ sai lệch trong nội dung. Không ai đặt câu hỏi về hệ quả tư tưởng đối với hàng triệu thanh niên. Và cũng không ai đủ mạnh mẽ để bảo vệ hình ảnh người lính, những con người đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc.

Vậy vì sao vẫn có người chọn im lặng? Im lặng nghĩa là buông bỏ trách nhiệm. Im lặng là sự thỏa hiệp nguy hiểm. Và im lặng chính là mở đường cho những “bầy sói” mặc sức cắn xé lịch sử dân tộc. Trong khi lẽ ra, mỗi tiếng nói trung thực, mỗi hành động bảo vệ sự thật lịch sử đều là một tấm khiên vững chắc gìn giữ lòng tự tôn và niềm tin của nhân dân.

“Thế giới trở nên tồi tệ hơn không phải vì sự tàn bạo của kẻ xấu, mà vì sự im lặng của những người tốt”, Napoleon.

Napoleon từng cảnh báo bằng một chân lý không thể phủ nhận, kẻ xấu dù tàn bạo đến đâu cũng không đáng sợ bằng sự im lặng của những người tốt, bởi chính sự im lặng ấy mở toang cánh cửa cho cái ác hoành hành. Lời cảnh báo ấy hôm nay vang lên như tiếng chuông thức tỉnh, khi trước mắt chúng ta đang xuất hiện những “mũi dao” chĩa thẳng vào lịch sử dân tộc, thứ được dựng xây bằng máu, bằng trí tuệ và bằng niềm kiêu hãnh của hàng triệu người Việt Nam qua bao thế hệ.

Thực tế cho thấy, một cuốn sách không đủ sức lật đổ lịch sử. Một tác giả đơn lẻ cũng không thể phá vỡ nền tảng tư tưởng quốc gia và một nhóm truyền thông, dù khéo léo đến đâu, cũng không thể tự mình làm lung lay niềm tự hào dân tộc. Thế nhưng, tất cả những “nọc độc” đó vẫn ngang nhiên tồn tại, vẫn có thể thao túng dư luận, vẫn âm thầm gieo từng “mũi độc tư tưởng” vào nhận thức xã hội. Vì sao những hành vi bóp méo, xuyên tạc và lật sử ấy lại có thể tồn tại dai dẳng, thậm chí ngạo nghễ thách thức cả dư luận? Câu hỏi ấy cần được đặt ra một cách thẳng thắn, không né tránh, không vòng vo nếu chúng ta thực sự muốn bảo vệ sự thật lịch sử và niềm tự tôn dân tộc.

Chỉ còn một lời giải thích duy nhất: có những bàn tay đang đứng sau thao túng. Đâu đó trong bóng tối, có những thế lực cố tình đẩy lịch sử vào vùng nhiễu loạn, gieo hoài nghi vào lòng nhân dân, kích hoạt sự chia rẽ trong giới trí thức và từng bước bào mòn nền tảng niềm tin xã hội.

Câu hỏi không thể né tránh nữa: Phải chăng đang tồn tại một thế lực có tổ chức, có mục tiêu và có chiến lược, đứng sau việc đạo diễn, cổ súy cho những luận điệu xuyên tạc, bảo trợ cho các tư tưởng lệch lạc, và che chắn cho những cú đâm hiểm vào lịch sử dân tộc?

Điều chúng hướng tới là gì? Là bôi nhọ cuộc kháng chiến, hạ thấp hình tượng anh hùng, làm phai nhạt giá trị dân tộc, tẩy trắng kẻ phản bội, đánh tráo chính nghĩa và từng bước làm suy yếu tinh thần yêu nước trong thế hệ trẻ. Nếu không được ngăn chặn, âm mưu đó sẽ còn tiếp diễn mạnh mẽ hơn, tinh vi hơn và một ngày nào đó, lịch sử dân tộc có thể bị bóp méo đến mức không còn nhận ra chính mình.

Vì vậy, đã đến lúc phải hành động! Đã đến lúc nhân dân cần đồng lòng lên tiếng, và các cơ quan chức năng phải vào cuộc kiên quyết. Bởi im lặng lúc này đồng nghĩa với tiếp tay cho sai trái. Lịch sử dân tộc, vốn được viết bằng máu, trí tuệ và lòng quả cảm cần được bảo vệ bằng chính sự tỉnh táo và trách nhiệm của mỗi chúng ta.

Những kẻ lật sử và tiếp tay cho lật sử hãy nhớ: Lịch sử dân tộc này không phải tấm vải để ai muốn xé là xé, không phải cỗ máy để ai muốn thao túng là thao túng và càng không phải món hàng để bất kỳ thế lực ngầm nào đem ra mặc cả, trao đổi. Lịch sử Việt Nam không phải bản nháp để ai tùy tiện gạch xóa.

Bởi lịch sử ấy được viết bằng máu, bằng xương, bằng linh hồn của hàng triệu người Việt Nam qua bao thế hệ. Lịch sử không phải trò chơi cho kẻ phản bội, càng không phải công cụ để đầu độc nhận thức thế hệ trẻ. Không ai được phép bóp méo nó. Không ai được phép xuyên tạc nó. Và càng không ai được phép dùng văn chương để che phủ sự thật.

Ngày hôm nay, nhân dân đã lên tiếng, xã hội đã cảnh báo, và những người yêu nước đã nhận ra nguy cơ. Vì thế, người tốt không được phép im lặng thêm nữa. Bọn lật sử phải cúi đầu trước sự thật và công lý. Đất nước này phải dọn sạch bóng tối đang bao phủ lịch sử.

Đã đến lúc các cơ quan có trách nhiệm, những người có lương tri phải hành động ngay bây giờ nếu không muốn thế hệ tương lai phải đau đớn hỏi lại: “Việt Nam ta ở đâu?”. Bởi lịch sử không chỉ là những trang quá khứ, mà là linh hồn của dân tộc, nơi kết tinh bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng Việt Nam. Mỗi người Việt, dù ở đâu, làm gì, đều đang mang trong mình sứ mệnh gìn giữ và tiếp nối ngọn lửa ấy. Khi sự thật được bảo vệ, khi niềm tin được củng cố, đất nước sẽ mãi trường tồn, và lịch sử Việt Nam sẽ tiếp tục tỏa sáng như biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và tự hào dân tộc./.




Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: PHẢI CHĂNG NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ VĂN HÓA KHÔNG BIẾT HAY CỐ TÌNH VINH DANH NHỮNG NHÂN VẬT BÁN NƯỚC CẦU VINH VÀ TÁC (RÁC) PHẨM HẠI DÂN NHƯ "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH"!

     Có một sự thật là ngày nay đất nước được hưởng nền Hòa Bình, sống trong đầy đủ thì không ít kẻ trong giới trí thức, cán bộ, nhà báo... ngồi phòng máy lạnh tiếp xúc với nhiều người cả ta lẫn tây, trơn lông đỏ da thì phong cách sống của họ trở nên xôi thịt, thực dụng chứ không vì cống hiến , nhất là những thành phần đi lên bằng cửa sau, bằng đầu gối dẫn đến bất mãn dù vẫn chễm chệ ngồi hưởng lương, hưởng lợi nhưng mang tư tưởng tây hóa, họ sẵn sàng làm nô lệ cho đồng tiền dù cho đó là những việc làm gây hại đất nước đâm chọc đồng bào.

Tôi gọi đó là những thành phần suy thoái biến chất tư tưởng chính trị, những thành phần này dễ nhận thấy nhưng khó xử lý vì nó mông lung, chưa được qui định rõ trong luật định.

Hãy xem sự việc nóng đang diễn ra và đang gây tranh cãi nảy lửa trên mạng XH như công nhận, tôn vinh công trạng bằng cách đặt tên đường, tên trường thậm chí đưa cả vào SGK cho các thế hệ học tập, noi gương một số nhân vật bán nước cầu vinh như Gia Long (Nguyễn Ánh), Lê Văn Duyệt, Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản... và gần đây nhất là rác phẩm vh Nỗi Buồn Chiến Tranh của tên suy thoái tư tưởng Bảo Ninh.

Tất nhiên thường dân thì không ai làm được việc đó ngoài các vị trí thức trí ngủ ngồi máy lạnh trong bộ máy công quyền như Viện sử, Bộ Giáo dục, Bộ Văn hóa, các nhà báo hại báo đời và những lãnh đạo, cán bộ chức năng có thẩm quyền .

Không ai khác chính họ đã trực tiếp hay gián tiếp, tiếp tay vực dậy khiến chúng dậy sóng gây mất đoàn kết dân tộc, rồi hô biến ghi nhận, ghi danh đặt tên đường, tên trường, vinh danh, trao giải... thử hỏi họ làm như vậy để làm gì? Làm như vậy có ích lợi gì cho dân cho nước?
Câu trả lời: Tất nhiên là không rồi.

Vậy họ làm như vậy có lợi cho ai nếu không phải phục vụ thế lực chống phá đất nước?

Tôi chỉ là một thường dân thôi nhưng tôi còn nhận ra đó là mối nguy hại cho đất nước khi mà những thứ kể trên xa rời tính Đảng, mang nặng tính xôi thịt.

Hãy xem rác phẩm NBCT xem tên suy thoái BN viết cho ai đọc, tính Đảng, tính chiến đấu ở đâu trong cuốn sách và nó mang tính định hướng, tuyên truyền giáo dục ra sao mà bộ GD thì đưa vào sách GK cho con cháu ta học, bộ VH thì vinh danh trao giải, báo hại báo đời thì ra sức đánh bóng? Hỏi rằng tư tưởng chính trị, tinh thần phụng sự đất nước, phụng sự Nhân dân của các vị ở đâu? Các vị có hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là gì không hay các vị chỉ đọc cho sang mồm vậy hả?

Không biết ai thế nào chứ cá nhân tôi cảm nhận bộ GD và bộ VH, báo hại báo đời có lúc như là của Mỹ hay phương tây đặt nhầm vào nước ta í, đau vô cùng./.



Khuyết danh ST.

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2025

TỈNH TÁO NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG NGỪA HOẠT ĐỘNG NHIỄU LOẠN, XUYÊN TẠC THÔNG TIN!

     Thế giới đang bước vào thời kỳ toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi lĩnh vực xã hội với sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Lợi dụng thế mạnh của thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là không gian mạng, những năm qua, các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền các thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc hòng gieo rắc tư tưởng hoài nghi, gây mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta, qua đó hòng xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, từng bước thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Bản chất không gian mạng là môi trường mở cho phép người sử dụng tự do cung cấp, tìm kiếm và sử dụng thông tin, chia sẻ, kết nối cộng đồng. Thông qua đó, con người được tiếp cận với lượng thông tin, kiến thức xã hội khổng lồ, được cập nhật thường xuyên với tốc độ rất nhanh, nội dung phong phú, đa dạng… nên rất khó quản lý, giám sát và kiểm duyệt. Đây chính là một trong những thế mạnh của không gian mạng được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để tuyên truyền thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc đối với nước ta.

Về nội dung thông tin xuyên tạc, kẻ địch triệt để lợi dụng, khoét sâu những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lợi dụng các vụ việc phức tạp xảy ra ở trong nước… để rêu rao, xuyên tạc rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, cần thay thế bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản để “phù hợp với xu thế phát triển”.

Đặc biệt, mới đây, nhân việc Đảng, Nhà nước ta thực hiện việc tinh giản biên chế và sắp xếp lại hệ thống chính trị, kẻ địch đã ra sức xuyên tạc rằng, việc tinh giản biên chế ở Việt Nam chỉ là “hình thức, mị dân, không đem lại hiệu quả thực tế mà chỉ là gây tốn kém tiền bạc, ngân sách”; là “miếng bánh phân chia quyền lực của các phe phái”. Hay nhân Hội nghị Trung ương XIV vào 2 ngày 5 và 6/11/2025 vừa qua để cho ý kiến về công tác chuẩn bị Đại hội Đảng XIV, công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ, chúng cho rằng, việc giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV chỉ mang tính hình thức, thực chất chỉ là việc “củng cố hay thâu tóm quyền lực” của một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Lợi dụng sự thay đổi về nhân sự cấp cao của Đảng, Nhà nước và ở một số bộ, ngành địa phương trước đại hội, các tổ chức phản động đồng loạt đăng tải các bài viết xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng là “không bảo đảm dân chủ”,“áp đặt”,“đặt lợi ích nhóm lên trên lợi ích quốc gia - dân tộc”…

Thậm chí, kẻ địch tìm cách bịa đặt đời tư cá nhân; xuyên tạc nhân phẩm, đạo đức lối sống... của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tuyên truyền xuyên tạc tình hình sức khỏe; bình phẩm, phán xét về trình độ, năng lực nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của các đồng chí lãnh đạo, nhất là các đồng chí được giới thiệu vào Ban Chấp hành Trung ương và UBKT Trung ương khóa XIV.

Về phương pháp, thủ đoạn: Các thế lực thù địch lập ra hơn 380 báo, tạp chí, hàng ngàn các trang web, blog, tài khoản mạng xã hội và hội, nhóm trên mạng Facebook và lợi dụng chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt của hãng BBC, VOA, RFA… để đăng tải tin, bài, clip có nội dung xuyên tạc, nhiễu loạn, thông tin xấu, độc theo kiểu “mưa dầm thấm lâu” để chống phá nước ta. Chúng tìm cách trộn lẫn thông tin thật - giả một cách tinh vi để hướng lái người dân theo luồng thông tin sai lệch; núp bóng “phản biện độc lập”, ngụy tạo sự khách quan để xuyên tạc nhiều vấn đề trong xã hội rất khó nhận biết. Chúng còn lợi dụng công nghệ để cắt dán, trích dẫn sai lệch các hình ảnh, tài liệu; lập những tài khoản giả mạo trên mạng xã hội, website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhân vật nổi tiếng để đăng tải thông tin sai sự thật, gieo rắc tâm lý hoang mang, hoài nghi, mất lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Tính riêng năm 2020, cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh YouTube, 49 Fanpage, 765 tài khoản Facebook đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Các thế lực thù địch còn thiết lập cơ sở dữ liệu, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), Internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn (Big Data)... để tạo ra các dữ liệu, tài liệu giả theo kiểu “có giá trị như thật” nhằm chống Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, chúng còn sử dụng người nhẹ dạ, cả tin, có nhận thức hạn chế hoặc vì lợi nhuận kinh tế đứng ra “làm chim mồi” đóng vai “nhân chứng” chứng minh “độ tin cậy” cho thông tin xuyên tạc mà chúng đã tuyên truyền, xuyên tạc.   

Về đối tượng, đối tượng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc rất đa dạng, phức tạp, đó là một số người nghiên cứu lý luận, thực tiễn bài xích tư tưởng XHCN trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; một bộ phận cán bộ, đảng viên bất mãn, cơ hội, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những người nhận thức thấp bị lôi kéo, lừa bịp… nhưng lực lượng chủ yếu chính là đối tượng trong các tổ chức phản động lưu vong cấu kết với các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị trong nước. Số này giữ vai trò nòng cốt trong triển khai các chiến dịch phá hoại tư tưởng, tiến hành các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc.

Về thời điểm, chúng triệt để lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội hoặc xảy ra các vụ việc nhạy cảm, phức tạp, những vấn đề mà xã hội quan tâm, những “điểm nóng” về an ninh trật tự trong nước; những biến động lớn về chính trị, kinh tế của thế giới… để đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, thù địch đối với nước ta.  

Nhằm góp phần khắc phục hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc, cần xác định rằng đó là một nội dung quan trọng trong công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng; đây là một trong những nhiệm vụ mang tính cấp bách, thường xuyên và lâu dài của cả hệ thống chính trị. Do vậy, cần phát huy sức mạnh tổng hợp các tầng lớp nhân dân trong triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn nhằm tranh thủ được sự đồng lòng, ủng hộ của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân và cộng đồng người Việt ở nước ngoài một cách thực chất, thiết thực và hiệu quả nhất. Chủ động tăng cường nắm tình hình, phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn, đặc biệt là phương thức hoạt động mới của kẻ địch để tuyên truyền luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch. Xây dựng và phát huy vai trò của phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng nhằm huy động sức mạnh của các tầng lớp nhân dân trong tham gia hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động này.    

Phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của các cơ quan chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và hệ thống cơ quan báo chí, đài truyền hình trong phòng ngừa, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Chú trọng đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có đạo đức, bản lĩnh, trí tuệ, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Các cơ quan chức năng cần chủ động hướng dẫn người dân được tiếp cận thông tin chính thống về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và từng địa bàn.

Tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí, truyền thông, Internet và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực này nhằm chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các trang mạng thường đăng tải các tin, bài, phim có nội dung xấu, độc hại, trái với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác phòng chống các loại tội phạm trên không gian mạng có phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh nhuệ, hiện đại, có trình độ chuyên môn sắc bén. Tiếp tục đầu tư, trang bị các trang thiết bị nghiệp vụ chuyên dụng và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống hoạt động tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc, thù địch chống phá nước ta./.
Môi trường ST.

KHÔNG THỂ ĐỘI LỐT TỰ DO NGÔN LUẬN ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC!

     Sau khi cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các đối tượng Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài về hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các thế lực thù địch, đối tượng chống đối đã lập tức lan truyền các luận điệu xuyên tạc, cho rằng đây là hành động “hạn chế tự do ngôn luận”, “cản trở những người phản biện xã hội”...

Lại đánh tráo khái niệm, núp bóng tự do ngôn luận

Ngày 8/11 và 18/11/2025, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài về tội danh được quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự. Các bước tố tụng này đều được VKSND Tối cao phê chuẩn theo đúng quy định pháp luật. Thế nhưng 2 đối tượng trên và số tổ chức, đối tượng phản động lưu vong tiếp tục xuyên tạc việc khởi tố, bẻ lái bản chất vụ việc để đả phá pháp luật Việt Nam, vu cáo cơ quan chức năng.

Trong bối cảnh truyền thông số và mạng xã hội phát triển nhanh chóng, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng cơ hội chính trị đã không ngừng khai thác không gian mạng để tán phát thông tin sai sự thật, xuyên tạc tình hình, gây nhiễu loạn nhận thức xã hội. Một trong những thủ đoạn phổ biến nhất là lợi dụng chiêu bài “tự do ngôn luận”, “nhân quyền”, “báo chí độc lập” nhằm che đậy hành vi phạm pháp. Thực tế cho thấy, không ít cá nhân đã sử dụng danh nghĩa phản biện xã hội để tiến hành các hoạt động chống phá, gây phương hại đến lợi ích quốc gia. Âm mưu, thủ đoạn hoạt động biểu hiện ở các nội dung sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên kích hoạt, thực hiện các chiến dịch truyền thông sai lệch mỗi khi cơ quan chức năng xử lý vụ án liên quan đến an ninh quốc gia. Mục tiêu của chúng là vu cáo Việt Nam “kiềm chế dân chủ”, “không có tự do ngôn luận” trong khi pháp luật Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới đều có quy định rõ ràng về trách nhiệm, giới hạn của tự do ngôn luận nhằm bảo đảm trật tự, an ninh và lợi ích cộng đồng. Sự đánh tráo khái niệm này khiến một số người bị dẫn dắt, nhất là khi các thông tin sai lệch được thiết kế theo cách gây sốc, cảm tính, đánh vào tâm lý tò mò, thị hiếu của người sử dụng mạng xã hội.

Thứ hai, thủ đoạn của các thế lực chống phá thể hiện ở việc tạo dựng hệ sinh thái “truyền thông đen” như xây dựng các trang mạng núp bóng “báo chí độc lập”, tài khoản cá nhân chuyên đăng tải thông tin xuyên tạc, kênh you tube hoặc fanpage chia sẻ nội dung cắt ghép, suy diễn. Các nội dung này thường xuất hiện đồng loạt, có tính phối hợp, sử dụng ngôn từ tiêu cực, quy kết chủ quan, thiếu căn cứ. Mục tiêu của việc lan truyền thông tin theo mô thức “đồng thanh” hòng tạo cảm giác như dư luận chung, từ đó tác động vào tâm lý người sử dụng mạng xã hội.

Thứ ba, các đối tượng hướng lái bản chất vụ việc nhằm bôi nhọ uy tín của Đảng, Nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, bôi nhọ cơ quan tiến hành tố tụng. Các đối tượng thường xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, những sự kiện đơn lẻ, sau đó suy diễn thành bản chất của chế độ, phủ nhận các thành tựu phát triển mà Việt Nam đã đạt được. Đây là thủ đoạn không mới nhưng vẫn được sử dụng thường xuyên bởi tính lan truyền của mạng xã hội.

Thứ tư, bên cạnh mục tiêu tuyên truyền chống phá, nhiều cá nhân còn sử dụng mạng xã hội như một phương tiện mưu lợi cá nhân, thu lợi bất chính từ việc sản xuất nội dung gây chú ý, nhận tài trợ từ các tổ chức, cá nhân có quan điểm thù địch với Việt Nam. Một số trường hợp cơ quan chức năng xác định có dấu hiệu liên hệ, móc nối với tổ chức phản động ở nước ngoài hoặc hợp tác truyền thông nhằm khuếch tán thông tin bất lợi đối với Việt Nam.

Thứ năm, cách thức chống phá ngày càng tinh vi, được “quốc tế hóa”. Các đối tượng thường xuyên gửi thông tin sai lệch tới một số tổ chức nước ngoài, cố tình biến những vụ án hình sự thông thường thành vấn đề nhân quyền, chính trị, tạo cớ để những tổ chức này gây áp lực ngoại giao đối với Việt Nam. Những hoạt động này không chỉ gây nhiễu loạn nhận thức người dân mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh quốc gia.

Cần khẳng định rằng, mục đích của các hoạt động nói trên không nằm ở việc góp ý, phản biện để xây dựng xã hội dân chủ hơn mà là lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá đất nước. Thông qua đó nhằm gây rối, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, làm suy yếu nền tảng chính trị - xã hội, hướng đến mục tiêu tạo bất ổn, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Lật tẩy bản chất

Đối với Lê Trung Khoa, theo cơ quan ANĐT, có đủ căn cứ xác địnhđối tượng này đã thực hiện hành vi làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Lê Trung Khoa điều hành tài khoản mạng xã hội đăng tải các nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đưa tin thiếu kiểm chứng và bình luận theo hướng tiêu cực, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của các cơ quan công quyền. Thông tin mà Lê Trung Khoa phát tán là có hệ thống, không phải hành vi phản biện đơn lẻ mà mang tính tổ chức, tác động tiêu cực đến dư luận và hình ảnh quốc gia. Bên cạnh đó, Khoa từng lợi dụng cơ hội tiếp xúc với một số sự kiện cộng đồng người Việt tại Đức để tạo dựng hình ảnh bản thân, từ đó tăng mức độ ảnh hưởng về các nội dung đăng tải trên mạng. Tuy nhiên, nhiều thông tin Khoa đưa ra là không có cơ sở, sai lệch bản chất vấn đề, gây hiểu lầm cho người xem và cộng đồng. 

Đối với Nguyễn Văn Đài, đối tượng này từng có tiền án liên quan đến hoạt động chống Nhà nước và bị toà án xét xử trước đây. Sau khi xuất cảnh sang Đức năm 2018, đối tượng này tiếp tục tham gia vào một số tổ chức có quan điểm đối lập và tiến hành các hoạt động tuyên truyền chống Việt Nam trên mạng xã hội. Nguyễn Văn Đài thường xuyên đăng tải nội dung mang tính kích động, bôi nhọ các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đồng chí lãnh đạo, cùng với đó là hoạt động kết nối một số nhóm cực đoan ở nước ngoài. Kết quả điều tra vụ án có đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn Đài đã có hành vi làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Việt Nam. Điểm chung của hai trường hợp trên là đều sử dụng các trang mạng xã hội, tự nhận mình hoạt động vì tự do ngôn luận nhưng thực chất là lợi dụng tự do ngôn luận, phát tán thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng. Việc cơ quan chức năng tiến hành khởi tố, điều tra là bước đi cần thiết nhằm xử lý hành vi của các đối tượng theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời đảm bảo môi trường thông tin lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của cộng đồng trước các thông tin sai lệch trên mạng.

Đảm bảo quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam

Tự do ngôn luận là quyền cơ bản của con người, được Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định. Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật Việt Nam xây dựng nhiều cơ chế để bảo đảm người dân có quyền tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến, tham gia thảo luận về các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, tự do ngôn luận luôn đi đôi với trách nhiệm và pháp luật đặt ra giới hạn để ngăn ngừa việc lợi dụng quyền này nhằm xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, cộng đồng.

Việt Nam hiện có hàng trăm cơ quan báo chí, hàng nghìn trang thông tin điện tử và hàng chục triệu tài khoản mạng xã hội. Không gian truyền thông rộng mở đã tạo điều kiện để người dân tham gia vào quá trình giám sát, phản biện xã hội. Nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai phạm đã được báo chí và người dân phát hiện, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, củng cố niềm tin của nhân dân. Điều đó khẳng định báo chí, truyền thông Việt Nam không hề bị hạn chế mà ngược lại đang ngày càng phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và trách nhiệm xã hội cao.

Chủ trương của Đảng nhấn mạnh vai trò của báo chí, truyền thông, là “cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân”, đồng thời là diễn đàn để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, quyền giám sát. Chiến lược phát triển báo chí, truyền thông của Đảng, Nhà nước ta nâng cao chất lượng thông tin, tăng tính phản biện, đảm bảo công khai, minh bạch, chống lại tin giả và thông tin sai lệch. Điều này cho thấy sự tôn trọng, khuyến khích tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật. Trong thời đại số, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện để báo chí chuyển đổi số, cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời và chính xác cho người dân. Đồng thời, cơ quan quản lý cũng tăng cường các biện pháp xử lý tin giả, tin sai sự thật, bảo vệ quyền tiếp cận thông tin lành mạnh của người dân. Hành lang pháp lý như Luật Báo chí, Luật An ninh mạng, Luật Tiếp cận thông tin… đã tạo cơ sở cho cả quyền tự do ngôn luận và trách nhiệm thông tin.

Các tổ chức quốc tế cũng ghi nhận sự phát triển của truyền thông Việt Nam, đặc biệt là việc phổ cập Internet nhanh chóng và rộng rãi. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng Internet cao trong khu vực, là môi trường thuận lợi để công dân bày tỏ ý kiến. Nhà nước không giới hạn việc người dân tham gia mạng xã hội. Tuy nhiên, cũng chính vì môi trường thông tin rộng mở mà nguy cơ tin giả, xuyên tạc, thao túng dư luận gia tăng. Do đó, xử lý các hành vi lợi dụng tự do ngôn luận để phát tán thông tin sai lệch là việc làm cần thiết nhằm bảo vệ xã hội, bảo vệ người dân. Đây là nguyên tắc phổ biến trên thế giới, không quốc gia nào chấp nhận hành vi sử dụng truyền thông để gây bất ổn an ninh, kích động chống phá, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và cộng đồng.

Tự do ngôn luận là quyền cơ bản được pháp luật bảo vệ nhưng không thể bị lợi dụng để phát tán thông tin sai lệch, xâm phạm an ninh quốc gia hay gây tổn hại đến lợi ích xã hội. Việc ra quyết định khởi tố, điều tra đối với những cá nhân như Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài là hoạt động tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo sự trong sạch môi trường thông tin và bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích chung của người dân./.
Môi trường ST.

NHỮNG TRÒ LỐ CỦA VIỆT TÂN TRONG DỊP KỶ NIỆM NGÀY NHÂN QUYỀN THẾ GIỚI

     Một trong những tổ chức thường xuyên đưa ra các trò lố dịp kỷ niệm Ngày Nhân quyền thế giới để thực hiện các hành động chống phá Việt Nam là Việt Tân. Những hoạt động của tổ chức này dưới vỏ bọc bảo vệ nhân quyền, dân chủ song thực chất là nhằm mục tiêu gây rối an ninh trật tự, phá hoại sự ổn định đất nước, tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Hằng năm, Ngày Nhân quyền thế giới 10/12 được tổ chức với nhiều quy mô khác nhau tại khắp nơi trên thế giới, là dịp để kỷ niệm việc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền vào ngày 10/12/1948. Đây là một trong những sự kiện quan trọng của Liên hợp quốc nhằm công nhận và bảo vệ quyền con người mà không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, giới tính, địa giới hay địa vị xã hội. Thế nhưng, đi ngược mục đích, ý nghĩa tốt đẹp ấy, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại có những chiêu trò lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam.

Những trò lố của Việt Tân

Một trong những tổ chức thường xuyên đưa ra các trò lố dịp kỷ niệm Ngày Nhân quyền thế giới để thực hiện các hành động chống phá Việt Nam là Việt Tân. Những hoạt động của tổ chức này dưới vỏ bọc bảo vệ nhân quyền, dân chủ song thực chất là nhằm mục tiêu gây rối an ninh trật tự, phá hoại sự ổn định đất nước, tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Theo đó, có thể nhận diện trò lố của Việt Tân qua những điểm sau:

Thứ nhất, Việt Tân tiến hành các cuộc biểu tình tại một số quốc gia như Na Uy, Đức, Úc, Canada… để vu cáo Việt Nam “đàn áp nhân quyền”. Trong các cuộc biểu tình, Việt Tân đã đưa ra những biểu ngữ sai sự thật về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Tổ chức này đưa thông tin sai trái rằng, “dưới chế độ độc tài, người dân Việt Nam không có dân chủ, tự do” và cho rằng chính quyền Việt Nam đang thực hiện những hành vi đàn áp đối với những người bất đồng chính kiến; miệt thị, xuyên tạc Việt Nam “bịt miệng” quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận.

Thứ hai, tổ chức livestream bình luận về nhân quyền Việt Nam. Một trong những chiêu trò quen thuộc của Việt Tân trong dịp này được sử dụng các nền tảng mạng xã hội để tiến hành phát trực tiếp, bình luận về vấn đề dân chủ, nhân quyền; sử dụng các kênh truyền thông trực tuyến như Facebook, YouTube và các nền tảng mạng xã hội khác để phát sóng các chương trình bình luận, đánh giá về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Những buổi phát trực tiếp này thường có sự tham gia, dẫn dắt bởi các đối tượng phản động, thù địch với Việt Nam núp dưới vỏ bọc với tên gọi hết sức mĩ miều như “nhà dân chủ”, “người đấu tranh vì công lý”, “luật sư nhân quyền”…

Thứ ba, tổ chức ra cái gọi là “giải thưởng nhân quyền”. Kể từ năm 2018, Việt Tân đã rêu rao cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền Lê Đình Lượng” để cổ xúy, tán dương cho những cá vi phạm pháp luật Việt Nam. Năm nay trên trang Facebook, Việt Tân đưa ra bài viết với tiêu đề rất mĩ miều “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng 2024 công lý cho dân tộc, công bằng cho mọi người”, nhằm “chống phân biệt đối xử và thúc đẩy bình đẳng trong xã hội”, để “xiển dương tinh thần đấu tranh cho dân sinh dân quyền của nhà hoạt động Lê Đình Lượng”. Cá nhân được Việt Tân xướng tên là Y Krếc Byă, thuộc “Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên”.

Thứ tư, một trong những luận điệu phổ biến mà Việt Tân và các tổ chức phản động khác thường xuyên sử dụng trong dịp kỷ niệm Ngày Nhân quyền thế giới là kêu gọi sự tự do, dân chủ theo kiểu phương Tây, kêu gọi các chính phủ, tổ chức phi chính phủ sử dụng nhân quyền như một công cụ để can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam.

Như vậy, với những âm mưu, thủ đoạn trên, Việt Tân bên cạnh xuyên tạc, phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam còn đánh tráo bản chất, làm méo mó giá trị dân chủ, nhân quyền; dẫn dắt mọi người đến những thông tin sai trái, tiêu cực; từ đó, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, hệ thống chính trị; hạ bệ vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đây là chiêu trò quen thuộc của Việt Tân mượn vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam. Mỗi năm, Việt Tân lại biến tấu, diễn những trò lố nhằm thu hút sự theo dõi của dư luận trong và ngoài nước, thực chất là vì lợi ích của tổ chức này, hoàn toàn trái ngược với lợi ích quốc gia – dân tộc. Trong đó việc trao cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” là một ví dụ. “Giải thưởng nhân quyền” vốn là một danh hiệu được trao cho những cá nhân, tổ chức có những đóng góp, cống hiến quan trọng trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn cầu. Tuy nhiên, trường hợp “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” mà Việt Tân đưa ra không mang ý nghĩa như vậy, không mang lại giá trị nhân quyền trên thực tế.

Nhìn vào bản danh sách trao giải trong những năm qua có thể thấy những cá nhân được Việt Tân tôn vinh đều là đối tượng có hành vi chống phá chính quyền và những đối tượng này thường xuyên có mối quan hệ mật thiết với các tổ chức phản động ở nước ngoài, những tổ chức nhân quyền có thái độ thù địch với Việt Nam. Trường hợp Y Krếc Byă thuộc “Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên” cũng là một trong số đó. Mặt khác, tổ chức đứng ra phát động và trao giải - tổ chức Việt Tân không có tư cách pháp lý để trao giải thưởng nhân quyền, vì bản thân tổ chức này đã bị Bộ Công an Việt Nam đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố vào ngày 4/10/2016.

Mặc dù Việt Tân ngợi ca dân chủ, nhân quyền phương Tây nhưng có một thực tế cho thấy, nhiều quốc gia phương Tây tuy thường xuyên đề cao về quyền tự do, dân chủ lại chính là nơi có những vấn đề về bất bình đẳng xã hội, phân biệt chủng tộc. Việc áp dụng mô hình dân chủ, nhân quyền phương Tây vào Việt Nam là không hợp lý, không đúng với luật pháp, công ước quốc tế bởi vì mỗi quốc gia đều có một hoàn cảnh, nền văn hóa và truyền thống riêng, có sự lựa chọn con đường phát triển không giống nhau. Đối với Việt Nam là con đường độc lập dân tộc và CNXH để bảo đảm mọi người dân được hưởng thụ đầy đủ các quyền con người. Vì vậy, không thể có bất kỳ ai, lực lượng nào có thể thay đổi con đường mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta đã lựa chọn.

Minh chứng thành tựu thúc đẩy nhân quyền ở Việt Nam

Xuyên suốt tiến trình bảo đảm, thúc đẩy nhân quyền cho tất cả mọi người trên thực tế, sẽ là thiếu khách quan nếu như không thấy được những khó khăn của đất nước vốn xuất phát điểm từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bị bao vậy, cấm vận... Song tất cả vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, Đảng ta đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua muôn vàn trở ngại, thử thách.

Thực tiễn qua gần 40 năm thực hiện đổi mới cho thấy, kết quả vận dụng lý luận của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần thúc đẩy nhân quyền cho nhân dân. Tốc độ tăng trưởng vẫn duy trì được ở mức khá cao, tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2023 đạt khoảng 6%/năm. Quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên với GDP đạt 430 tỷ USD năm 2023, nằm trong nhóm 35 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

GDP bình quân đầu người tiếp tục tăng nhanh, đạt hơn 4.200 USD năm 2023, qua đó Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp để gia nhập nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều theo chuẩn mới giảm từ 4,03% năm 2022 xuống 2,93% năm 2023. Chỉ số phát triển con người (HDI) liên tục cải thiện, đạt 0,73 điểm năm 2023, cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập.

Về độ bao phủ, tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội của cả nước đạt khoảng 39,25% so với lực lượng lao động trong độ tuổi với 18,26 triệu người. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt gần 31,6% lực lượng lao động trong độ tuổi với 14,7 triệu người. Đặc biệt, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 93,35%. Hiện nay, Việt Nam có hơn 78 triệu người sử dụng Internet (xếp thứ 13 thế giới về số lượng người dùng, tăng 21% so với năm 2019), số thuê bao băng rộng di động là 86,6 triệu (tăng 38% so với năm 2019). Tốc độ truy cập internet băng rộng di động đạt 48,29 Mbps (tăng 26,28% so với năm 2022), xếp thứ 45 và cao hơn trung bình thế giới là 42,35 Mbps). Mạng lưới viễn thông phủ sóng 99,73% số thôn trên toàn quốc; hệ thống cáp quang đã triển khai tới 100% xã, phường, thị trấn, 91% thôn, bản, 100% trường học và 78,3% số hộ gia đình.

Đến nay, Việt Nam đã tham gia 7/9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người. Hiện nay Việt Nam đang xem xét khả năng gia nhập Công ước về Người mất tích cưỡng bức (CPED) và Công ước về Quyền của người lao động di cư và thành viên gia đình họ (CMW). Bên cạnh các điều ước quốc tế về quyền con người cơ bản nêu trên, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế khác liên quan đến việc bảo vệ quyền con người và luật nhân đạo quốc tế.

Năm 1994, Việt Nam trở thành thành viên ILO, từ đó đến nay nước ta đã gia nhập 25 công ước của ILO, trong đó 7/8 công ước cơ bản của ILO có liên quan đến các lĩnh vực thương lượng tập thể, phòng chống phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡng bức. Vào tháng 6/2020, Việt Nam phê chuẩn Công ước số 105 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức và tiếp tục nghiên cứu việc tham gia Công ước số 87 về Tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức.

Việt Nam đã và đang thực hiện đầy đủ các cam kết đối với các công ước quốc tế về quyền con người mà nước ta đã tham gia, trong đó bảo đảm tính tương thích pháp luật quốc gia phù hợp với các quy định của các công ước; thực thi các biện pháp lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền con người; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nội dung các công ước; soạn thảo và đệ trình báo cáo quốc gia định kỳ về việc thực hiện các công ước; hợp tác quốc tế trong việc thực hiện các công ước; xây dựng các chương trình quốc gia để thực hiện những cam kết quốc tế về quyền con người. Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử là nền tảng xuyên suốt các văn bản pháp luật Việt Nam, tạo tiền đề cho việc bảo đảm và phát huy các quyền của người dân trên từng lĩnh vực cụ thể.

Những thành tựu trên các lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân là hết sức cụ thể, sinh động, cùng với đó là uy tín, vị thế đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Đó là những minh chứng rõ ràng phản bác các âm mưu, thủ đoạn chống phá, các luận điệu sai trái, xuyên tạc của của các thế lực thù địch, phản động./.
Ảnh: Hình ảnh lố bịch được Việt Tân tung lên mạng.
Khuyết danh ST.