Thứ Ba, 16 tháng 12, 2025

HỎI DÂN ĐỂ HIỂU CÁN BỘ!

     Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, dựa vào dân để hiểu cán bộ, để làm công tác cán bộ đến nay còn nguyên giá trị. Theo đó, “hỏi dân để hiểu cán bộ” không chỉ là phương châm mà còn là biện pháp hiệu quả để xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Tầm quan trọng đặc biệt của gần dân, sát dân, hiểu dân

60 năm trước, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc-“cha đẻ của khoán hộ”, “khoán 10”-luôn đau đáu với miếng ăn, hạnh phúc của người dân. Ông luôn quan niệm “phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình”. Những suy nghĩ, quan niệm của ông không tự nhiên hình thành mà nó bắt nguồn từ rất nhiều chuyến thực tế khảo sát, nắm bắt thực tiễn đời sống, hoạt động sản xuất của người dân. Từ năm 1965, Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc cho triển khai thí điểm “khoán hộ” ở một số huyện như Vĩnh Tường, Yên Lạc...

Hẳn nhiên, khi hành động vì dân, phù hợp với chân lý đời sống, “khoán hộ” của Bí thư Kim Ngọc được tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy ủng hộ. Như luồng gió mới, “khoán 10” tạo ra hướng đi mới trong cách thức quản lý, gắn lợi ích với kết quả lao động, người dân phấn khởi, tâm huyết, chăm chỉ, phát huy kinh nghiệm đã có từ ngàn đời, tạo nên những cánh đồng lúa trĩu hạt báo hiệu sự ấm no. Rõ ràng, phải thật sự vì dân, gần dân, sát dân, thấu hiểu thực tế, thấu cảm lòng dân, trăn trở với câu hỏi “làm thế nào để mang lại cuộc sống tốt đẹp cho dân?”, Bí thư Kim Ngọc mới có những quyết định táo bạo để người dân có bữa ăn no, đời sống được cải thiện, có thêm thóc gạo gửi vào chiến trường.

Trong thời gian là cán bộ cấp cao đứng đầu tỉnh Nghệ An (2000-2002)-địa phương có địa giới hành chính rộng nhất cả nước, “tư dinh” của Bí thư Tỉnh ủy Trương Đình Tuyển chỉ là căn phòng tập thể nằm trên tầng 2, trong khuôn viên trụ sở Tỉnh ủy. Thời gian này, người dân TP Vinh và đặc biệt là bà con tiểu thương tại chợ Quán Lau (gần cơ quan Tỉnh ủy Nghệ An) rất quen thuộc với hình ảnh một vị Bí thư quần xắn ngang bắp, chân đi dép tông, đạp chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ đi chợ, vừa mua thực phẩm về nấu ăn, vừa tranh thủ gần dân để hỏi chuyện. Bởi ông nắm được thông tin, có những việc dân biết hết nhưng họ không nói, không bày tỏ. Trong đầu Bí thư Tỉnh ủy Trương Đình Tuyển luôn trăn trở “làm thế nào để dân nói, dân chia sẻ, đồng hành với cán bộ, đảng viên?”.

Chính nhờ đi sâu vào thực tiễn đời sống người dân, nắm bắt nguyện vọng của nhân dân, trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, ông làm cuộc “cải tổ” có một không hai trong lịch sử phát triển của Đảng bộ tỉnh này. Gần 3 năm, ông cương quyết thay 9 bí thư huyện ủy, trong đó có cả cán bộ vốn là chỗ thân tình, nhưng vì việc chung, ông vẫn kiên quyết không có ngoại lệ. Chỉ cần những lãnh đạo cũ yếu kém, làm sai trái hoặc thiếu bản lĩnh là ông đề xuất tập thể thay ngay.

Thời gian qua, từ khi chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động càng khẳng định vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của việc gần dân, sát dân và hiểu dân. Điển hình như tại xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình, sau hơn 3 tháng vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đại đa số người dân được lấy ý kiến đều đánh giá cao hiệu quả xử lý công việc của chính quyền và tinh thần, trách nhiệm phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Trong đó, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hải Hậu được nâng cấp, sửa chữa khang trang, đáp ứng nhu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp. Xã ưu tiên nguồn lực đầu tư đồng bộ trang thiết bị với hệ thống máy lấy số xếp hàng tự động, máy cảm ứng tra cứu thông tin, hệ thống kết nối mạng trực tuyến, mạng nội bộ... để phục vụ người dân đến giao dịch, không để nhân dân phải chờ đợi lâu.

Với tinh thần “lấy người dân làm trung tâm phục vụ”, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hải Hậu đã tiếp nhận và giải quyết cơ bản hồ sơ thủ tục hành chính. Đây là minh chứng rõ ràng khi cán bộ, công chức cấp xã, phường gần với người dân hơn thì cơ chế tiếp nhận ý kiến, xử lý phản ánh cũng nhanh hơn, hiệu quả hơn và niềm tin của người dân với Đảng, Nhà nước, chính quyền được củng cố vững chắc hơn.

Biểu hiện và hệ lụy của bệnh xa dân

Vài năm trước, với những vi phạm rất nghiêm trọng, cựu Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Nguyễn Văn Vịnh bị Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án Nhân dân tỉnh Lào Cai tuyên mức án 5 năm 6 tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Khi cơ quan chức năng thực hiện lệnh bắt tạm giam và khám xét nhà riêng của ông Nguyễn Văn Vịnh, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều bình luận thể hiện tâm lý hả hê. Từ lâu, căn biệt thự của gia đình ông Vịnh nằm ở vị trí được xem là đẹp nhất TP Lào Cai (cũ) đã trở nên xa cách với đời sống của phần đông người dân. Hình ảnh người cán bộ như vậy khiến người dân bức xúc.

Cũng từ khi chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động, tại nhiều địa phương, cán bộ chưa nắm được thực tiễn, không nắm được địa bàn, chưa sâu sát và xắn tay hành động cùng nhân dân. Điển hình nhất là những đợt thiên tai gây nhiều thiệt hại ở các địa phương vừa qua cho thấy, không phải địa phương nào cán bộ, chính quyền cơ sở cũng sâu sát, nắm được thực tế để chỉ đạo xử lý các công việc phù hợp, kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt, nhiều thủ tục hành chính gây phiền hà, nhũng nhiễu ở các địa phương vẫn chưa được loại bỏ, trong khi người dân luôn có cái nhìn không tốt về thực trạng này.

Tìm hiểu những câu chuyện thực tế ở nhiều địa phương cho thấy, tình trạng cán bộ mắc bệnh xa dân, quan liêu, thích nghe báo cáo, không chịu nắm cơ sở diễn ra khá phổ biến. Cán bộ ít đến với dân, ít nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân; cán bộ tránh, trốn tiếp dân bằng nhiều lý do, nhất là khi có “tình huống điểm nóng”. Người dân không dễ gặp được cán bộ dù ý kiến, nguyện vọng muốn trình bày với người có trách nhiệm giải quyết là chính đáng và cần thiết.

Bệnh xa dân của một số cán bộ, đảng viên được biểu hiện ở cả suy nghĩ, thái độ, hành vi và việc làm cụ thể như: Thiếu kiểm tra, đôn đốc, không sâu sát, không nắm chắc tình hình cơ sở, xa quần chúng, bàn giấy; làm việc quan cách, cửa quyền, hách dịch, thiếu dân chủ, vòi vĩnh, thờ ơ, vô cảm, tắc trách, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi quyền lợi chính đáng của nhân dân...

Bệnh xa dân dẫn tới hậu quả, hệ lụy vô cùng nguy hiểm, một trong những nguyên nhân đe dọa sự tồn vong của chế độ: Quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước không đến được với người dân; khi tổ chức thực hiện không hiệu quả vì áp dụng không sát với thực tiễn ở từng địa phương, cơ sở, không hợp lòng dân, không làm cho dân tin, dân hiểu, dân theo, gây bức xúc.

Nguy hại hơn, bệnh xa dân dẫn đến tệ nạn tham nhũng, lãng phí tiền của, sức lao động của nhân dân trong quản lý, xây dựng các công trình công cộng..., trở thành “mắt xích yếu nhất” để các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo, mua chuộc, khiến cán bộ, đảng viên sa ngã, làm suy yếu chính quyền, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân; kích động nhân dân chống lại chính quyền, gây xung đột, tạo “điểm nóng” dẫn đến hậu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng, trong dân.

Trên hết và trước hết của người “công bộc”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong”. Người còn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”.

Chính vì vậy, trong mọi hành động và việc làm, cán bộ, đảng viên phải luôn gần dân, sát dân, dựa vào dân, nắm bắt nguyện vọng của nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân, làm lợi cho nhân dân; phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến, kinh nghiệm của dân, giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đặt kế hoạch, khuyến khích, đôn đốc, theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết những khó khăn. Với công việc, phải đặt việc công lên trên, lên trước; phải tận tâm, tận lực, không sợ khó, sợ khổ.

Bất luận hoàn cảnh nào, mỗi cán bộ, đảng viên phải là những người tiền phong, gương mẫu, có tính dẫn dắt, truyền cảm hứng cho nhân dân nên phải luôn khẳng định tính đứng đắn, trong sáng trong ứng xử, tính chăm chỉ, cần cù trong công tác, tính kỷ luật, khuôn phép trong sinh hoạt. Theo đó, từng cán bộ, đảng viên phải xây dựng hình ảnh đẹp trong đội ngũ, trong công sở cả về tư cách cá nhân lẫn cách phục vụ nhân dân, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong các hoạt động, ngày càng thuyết phục được nhân dân.

Cùng với đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để trở thành những công chức chuyên nghiệp miệng nói, tay làm, thống nhất lời nói và hành động, thực hiện lý luận gắn với thực tiễn; chống thói tùy tiện, ba hoa, chủ quan; chống bệnh hình thức, sáo rỗng, quan liêu, coi thường nhân dân... Có như vậy, cán bộ, đảng viên mới được dân mến, dân tin, dân phục, sẵn sàng chia sẻ tâm tư, nguyện vọng; gắn bó mật thiết được với nhân dân.

Bài học “hỏi dân để hiểu cán bộ”, dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, dựa vào dân để làm công tác cán bộ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng ngẫm càng thấy thấm thía và giá trị, nhất là trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức thi đua, lập thành tích hướng về Đại hội XIV của Đảng./.
Môi trường ST.

PHÊ DUYỆT KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI CÁC KHUYẾN NGHỊ CỦA ỦY BAN NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC VỀ THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC ICCPR

     Phó thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 2715/QĐ-TTg ngày 13-12-2025 phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc đối với Báo cáo lần thứ tư của Việt Nam về thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Kế hoạch).

Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định rõ nội dung công việc, lộ trình thực hiện nhằm triển khai hiệu quả các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền và các quy định của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Công ước ICCPR), gắn kết với quá trình hoàn thiện thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về các quyền dân sự và chính trị phù hợp với Hiến pháp và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Đồng thời, nâng cao hiệu quả điều phối, theo dõi và báo cáo việc thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền, bảo đảm việc thực hiện đạt kết quả tốt phục vụ công tác báo cáo giữa kỳ và báo cáo quốc gia thực hiện Công ước ICCPR giai đoạn tiếp theo...

Kế hoạch đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như sau: Tiếp tục rà soát quy định pháp luật và đề xuất phương án hoàn thiện nhằm thực hiện tốt hơn các quy định của Công ước ICCPR, trong đó chú trọng đánh giá tính tương thích giữa quy định tại các dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội với các quy định của Công ước ICCPR.

Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm tiếp tục thực hiện tốt hơn các quy định của Công ước ICCPR, bao gồm các quy định về bảo đảm quyền dân sự và chính trị trong một số lĩnh vực, chống phân biệt đối xử và hạn chế quyền dân sự và chính trị.

Xây dựng và triển khai hiệu quả các chương trình, kế hoạch thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, Chương trình hành động quốc gia về phụ nữ, hòa bình, an ninh; xóa bỏ định kiến, phân biệt đối xử với phụ nữ và các nhóm dễ bị tổn thương khác (trong đó lưu ý tới nhóm người khuyết tật, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người đồng tính - song tính - chuyển giới - liên giới). Triển khai có hiệu quả các chiến lược, kế hoạch quốc gia có liên quan đến bảo đảm các quyền dân sự và chính trị...

Nâng cao hiệu quả tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng thuận tiện, an toàn và tăng tỷ lệ giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến các vi phạm quyền dân sự và chính trị của các cá nhân để đảm bảo tốt hơn quyền khiếu nại, tố cáo. Tăng cường và nâng cao hiệu quả thi hành các quyền dân sự và chính trị trong hoạt động tố tụng hình sự, thi hành án hình sự. 

Triển khai hiệu quả Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam (ban hành kèm theo Quyết định số 1079/QĐ-TTg ngày 14-9-2022 của Thủ tướng Chính phủ), trong đó tập trung vào Công ước ICCPR và kết quả thực thi (thành tựu và nỗ lực) ở Việt Nam, kết quả Phiên đối thoại với nội dung và hình thức phù hợp; nghiên cứu xây dựng các đề án, chương trình truyền thông, phổ biến các quy định pháp luật về quyền dân sự, chính trị./.
Môi trường ST.

NGÀY NÀY NĂM XƯA: TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG ĐƯỢC TRAO TẶNG GIẢI THƯỞNG LÊNIN!

     Chiều 15/12, Lễ trao tặng Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam Nguyễn Phú Trọng Giải thưởng Lênin của Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Liên bang Nga đã được tổ chức trang trọng tại Trụ sở Trung ương Đảng.

Theo TTXVN, tại buổi lễ, ông Leonid Kalashnikov, Phó Chủ tịch Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề về khối cộng đồng các quốc gia độc lập, Liên kết Á - Âu và kiều bào của Duma Quốc gia Nga, đã thay mặt Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Liên bang Nga trao tặng Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng Giải thưởng cao quý nhất của ĐCS Liên bang Nga và ĐCS Liên Xô.

Ông Leonid Kalashnikov khẳng định, việc ĐCS Liên bang Nga trao tặng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng Giải thưởng cao quý này nhân dịp 150 năm kỷ niệm Ngày sinh của Lênin thể hiện sự trân trọng và ghi nhận đối với những đóng góp xuất sắc của Tổng Bí thư - nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, được đánh giá cao tại Nga và trên thế giới, trong việc phấn đấu vì công bằng, nhân văn và tiến bộ xã hội; vì sự nghiệp xây dựng CNXH và nghiên cứu làm phong phú lý luận và thực tiễn cho việc phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng như những nỗ lực không ngừng nhằm củng cố quan hệ hữu nghị Việt Nam - Liên bang Nga.

Bày tỏ sự xúc động và cảm ơn ĐCS Liên bang Nga, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, đây không chỉ là sự ghi nhận đối với cá nhân ông mà còn là sự trân trọng và tình cảm của ĐCS Liên bang Nga, đất nước và nhân dân Nga đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam; đồng thời thể hiện truyền thống quan hệ đặc biệt giữa ĐCS Việt Nam, nhân dân Việt Nam với ĐCS và nhân dân Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay.

Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ to lớn, chí tình, hiệu quả mà nhân dân Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay luôn dành cho nhân dân Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định cùng ĐCS Liên bang Nga và các đối tác Nga tiếp tục củng cố, tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga và quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM “HÀ NỘI TẬP TRUNG VÀO 5 ƯU TIÊN TRONG NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN”!

     Sáng 15-12, tại Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phường Bạch Mai, Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội tiếp xúc cử tri các phường: Ba Đình, Ngọc Hà, Giảng Võ, Đống Đa, Kim Liên, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Láng, Ô Chợ Dừa, Hai Bà Trưng, Vĩnh Tuy và Bạch Mai, để thông cáo kết quả Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV.

Cùng tham dự có các đồng chí: Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Phạm Gia Túc, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Vũ Đại Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội, các Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội, lãnh đạo các sở, ban, ngành của thành phố và đại biểu cử tri của 11 phường.

Nhiều ý kiến tâm huyết

Sau khi nghe báo cáo kết quả Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV, các cử tri phát biểu đánh giá, đây là một kỳ họp lịch sử với nhiều nội dung, bao hàm tất cả chức năng của Quốc hội, từ công tác nhân sự, xây dựng luật, giám sát, đặc biệt là việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Hoạt động của Quốc hội đã cho thấy sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng ta, đó là cải cách thể chế “đột phá của đột phá”, qua đó biến thể chế từ điểm nghẽn trở thành lợi thế của phát triển.

Tại buổi tiếp xúc, cử tri Nguyễn Thị Ngọc Trinh, phường Bạch Mai đề nghị các bộ, ngành chức năng xem xét tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất y tế, bổ sung trang thiết bị, tăng cường nhân lực để bảo đảm đáp ứng nhu cầu khám định kỳ hằng năm cho toàn dân, tránh tình trạng quá tải đối với các bệnh viện.

Cơ quan chức năng ban hành hướng dẫn cụ thể về quy trình khám sức khỏe định kỳ; hoàn thiện hệ thống dữ liệu sức khỏe điện tử để quản lý thông tin của người dân một cách thống nhất, liên thông; làm rõ hơn phạm vi miễn viện phí cơ bản, đối tượng áp dụng và lộ trình triển khai để người dân nắm bắt rõ quyền lợi của mình.

Phản ánh có nhiều dự án tồn đọng, kéo dài lâu năm với giá trị nguồn lực rất lớn của xã hội đang bị lãng phí, cử tri Đinh Quốc Phòng, phường Ô Chợ Dừa đề nghị có chính sách tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế chính sách để các địa phương áp dụng, triển khai các biện pháp, xử lý giải quyết các vấn đề còn tồn đọng, tạo đà tăng trưởng hai con số, giải phóng nguồn lực cho các dự án vào sử dụng, không để lãng phí tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp, người dân và xã hội.

Cử tri Đỗ Văn Thuật, phường Láng đề nghị tiếp tục ưu tiên đầu tư, hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, đẩy nhanh tiến độ các dự án mở rộng đường, quản lý chặt chẽ công tác đào đường cải tạo phải đảm bảo hoàn trả đúng yêu cầu và phải có thời gian bảo hành dài hạn. Các bên liên quan xây dựng cầu vượt, hầm chui và các tuyến đường vành đai nhằm phân luồng, giảm áp lực cho khu vực nội đô; phát triển mạng lưới giao thông công cộng chất lượng cao, đặc biệt là xe buýt và đường sắt đô thị, tạo điều kiện thuận lợi để người dân chuyển dần từ phương tiện cá nhân sang phương tiện công cộng; tăng cường công tác tuyên truyền, ý thức giao thông.

Cử tri kiến nghị triển khai đồng bộ về tăng cường kiểm soát nguồn thải, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về môi trường; đẩy mạnh phát triển và sử dụng năng lượng sạch, phương tiện giao thông xanh, chuyển đổi xe chạy xăng sang xe điện, như dự án của thành phố cho khối đô thị lõi, sau chuyển dần ra toàn thành phố, khuyến khích người dân sử dụng giao thông công cộng để giảm khí thải…

Hiện nay, nạn hàng giả, hàng kém chất lượng, đặc biệt là những sản phẩm được quảng cáo tinh vi, sai sự thật trên không gian mạng, cử tri Lê Gia Ánh, phường Láng cho rằng, cần xử lý nghiêm minh hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hoàn thiện pháp luật để quản lý hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tăng cường kiểm soát giá cả, có phương án xử lý đối với việc "thổi" giá, đầu cơ trục lợi, nhất là trong các lĩnh vực bất động sản để ổn định thị trường nhà đất. Cử tri kiến nghị, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm soát, thanh tra các nhà mạng, siết chặt các tin nhắn, cuộc gọi lừa đảo sử dụng AI trái phép, quảng cáo hàng không đúng chất lượng, gây thiệt hại đến tài sản của nhân dân và Nhà nước.

Bên cạnh đó, cử tri đề nghị Trung ương quan tâm thêm cơ chế, chính sách hỗ trợ địa phương, nhà đầu tư đẩy nhanh cải tạo chung cư cũ; đầu tư đồng bộ về hạ tầng số, liên thông dữ liệu để đơn vị thuận tiện trong khai thác và sử dụng, từng bước chuẩn hóa cán bộ để phát huy được ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nước…

Đổi mới tư duy phát triển, dám nghĩ - dám làm - dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

Phát biểu tại buổi tiếp xúc cử tri, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết, các yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới gồm: Giữ vững ổn định chính trị, phát triển nhanh, bền vững đất nước, tiếp tục nâng cao đời sống của nhân dân; cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân để thực hiện những nhiệm vụ này.

Tổng Bí thư bày tỏ cảm ơn về niềm tin và sự ủng hộ quý báu của toàn thể nhân dân, cử tri thành phố và cử tri cả nước trong nhiệm kỳ Quốc hội XV; nhấn mạnh một số kết quả nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; thông báo tới cử tri một số nét nổi bật về tình hình thế giới và trong nước.

Tổng Bí thư ghi nhận và biểu dương những nỗ lực, cố gắng và tinh thần quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành của hệ thống chính trị TP Hà Nội trong năm 2025. Nhiều vấn đề tồn đọng đã được tích cực tháo gỡ. Những kết quả đó cho thấy sự nỗ lực rất lớn của thành phố, là tiền đề quan trọng để Hà Nội tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức.

Tổng Bí thư nêu rõ, Hà Nội cần giữ vững vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới sáng tạo, thu hút vốn đầu tư; cần triển khai mạnh mẽ Luật Thủ đô sửa đổi, triển khai hiệu quả bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp. Thành phố tập trung thực hiện các dự án hạ tầng giao thông, giải tỏa ách tắc, bảo đảm an toàn, giảm ô nhiễm. Hà Nội cần phải xây dựng quy hoạch, bảo đảm sự phát triển bền vững và công bố công khai rộng rãi để huy động sự tham gia hưởng ứng của toàn dân.

Trả lời một số kiến nghị của cử tri, Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Hà Nội cần phải xác định rõ căn nguyên, có giải pháp quyết liệt để giải quyết tình trạng này. Thành phố phải kiểm soát chặt chẽ các nguồn xả thải ra môi trường, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt, nước thải từ cơ sở sản xuất… để ngăn ngừa ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố.

Về vấn đề an ninh mạng, quản lý thị trường, hạ tầng số, Tổng Bí thư khẳng định rõ, đây là con đường để phát triển nhanh đất nước trong giai đoạn hiện nay. Thực tế các nước phát triển trên thế giới cho thấy đều đã lựa chọn con đường này và đạt được kết quả tốt. Hà Nội cần phải đi đầu trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng số, đảm bảo an toàn an ninh mạng; xử lý nghiêm các hình thức kinh doanh hàng nhái, hàng giả trên thị trường online; tích cực bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho người dân về trình độ tiếp cận, xử lý, phòng ngừa các tình huống lừa đảo, đấu tranh với lừa đảo, phản động trên không gian mạng. Đây là vấn đề mới, phức tạp, đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của nhiều cấp, nhiều ngành.

Trước việc cử tri phản ánh tình trạng quá tải bệnh viện, lo lắng về việc triển khai chương trình khám sức khỏe định kỳ, dữ liệu sức khỏe điện tử, Tổng Bí thư đề nghị, thành phố và Bộ Y tế triển khai quyết liệt Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9-9-2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân”. Về vấn đề miễn viện phí, có thể hiểu là miễn phí các dịch vụ y tế cơ bản của bảo hiểm y tế; để tăng mức miễn viện phí cho người dân, thì định hướng là sẽ nâng cao tỷ lệ người dân có bảo hiểm y tế, mở rộng danh mục bảo hiểm y tế chi trả cũng như mức đồng chi trả... để người dân đóng bảo hiểm y tế được miễn viện phí nhiều hơn theo từng giai đoạn và điều kiện của đất nước… Thành phố tiếp tục đầu tư nâng cấp bệnh viện tuyến thành phố và cơ sở; hoàn thiện hệ thống dữ liệu sức khỏe điện tử liên thông; bảo đảm quyền lợi chính đáng của nhân dân khi triển khai khám sức khỏe định kỳ.

Cử tri rất quan tâm đến vấn đề giáo dục và đào tạo, do đó, Tổng Bí thư yêu cầu, thành phố tiếp tục triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Thành phố đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất, bảo đảm trường lớp khang trang, an toàn, hiện đại; rà soát chương trình dạy học theo hướng tinh giản, thực chất, thiết thực hơn; tăng cường kỷ cương, minh bạch, phòng chống tiêu cực trong thi cử, tuyển sinh; đẩy mạnh chuyển đổi số, giảm thủ tục, giảm áp lực hành chính cho giáo viên và phụ huynh. Đổi mới giáo dục là hành trình lâu dài, cần sự chung tay của gia đình, nhà trường và toàn xã hội. TP Hà Nội tiếp tục giữ vững truyền thống hiếu học, đi đầu trong đổi mới giáo dục, đáp ứng kỳ vọng của nhân dân Thủ đô và cả nước.

Đối với một số dự án treo, hạ tầng số chưa đồng bộ, thông tin dự báo thiên tai, Tổng Bí thư nhấn mạnh, thành phố cần phân loại, xử lý dứt điểm các dự án treo; đẩy nhanh cải tạo chung cư cũ, nhất là các khu nguy hiểm; đầu tư mạnh cho chuyển đổi số, hạ tầng dữ liệu; hoàn thiện hệ thống cảnh báo thiên tai, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu. Đây là những vấn đề kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng trực tiếp đời sống người dân. Thành phố xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, cần có lộ trình rõ, người chịu trách nhiệm rõ và báo cáo kết quả trước cử tri.

Về một số định hướng lớn của TP Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, dám nghĩ - dám làm - dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, tập trung vào 5 ưu tiên (Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù; đột phá hạ tầng giao thông - đô thị; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng môi trường sống văn minh, xanh, sạch, an toàn). Chính quyền địa phương 2 cấp phải thực sự linh hoạt, hiệu quả, gần dân - sát dân - vì dân, với cam kết tiến độ cụ thể cho từng nhiệm vụ mà cử tri nêu.

Tổng Bí thư khẳng định, những ý kiến vừa thể hiện sự kỳ vọng của nhân dân, vừa là động lực để thành phố và các cơ quan Trung ương tiếp tục đổi mới, sáng tạo, hành động quyết liệt hơn. Tổng Bí thư tin tưởng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô sẽ tiếp tục phát huy truyền thống ngàn năm văn hiến, tinh thần đoàn kết, trí tuệ, bản lĩnh, đưa Hà Nội phát triển mạnh mẽ, xứng đáng là trung tâm lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục của cả nước. Hà Nội đã nói là làm - làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả; đã cam kết là phải hoàn thành; đã nhận nhiệm vụ là phải làm đến nơi đến chốn, đem lại sự hài lòng cho nhân dân./.

Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN biến HÒA BÌNH”!

BÀI 2: VẤN ĐỀ “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ!

     Luận điệu “dân sự hóa” quân đội liên tục được các thế lực thù địch và một số học giả thiếu thiện chí cổ xúy như một mô hình “tiến bộ” của phương Tây. Tuy nhiên, cả lý luận lẫn thực tiễn đều cho thấy quân đội không bao giờ tồn tại tách rời chính trị hay đứng ngoài lợi ích của giai cấp cầm quyền. Các thủ đoạn núp bóng cải cách, minh bạch hay tinh gọn đều nhằm làm suy yếu vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền, vô hiệu hóa sức mạnh quân đội và tạo “lỗ hổng” về quốc phòng.

Thực chất của cái gọi là “dân sự hóa” quân đội ở phương Tây

Theo Đại tá, TS Nguyễn Hữu Phúc, Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị, dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, giới lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của 3 nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” đã được luật hóa thì việc của quân đội tất yếu do phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng hay phe phái quân sự nào. Đơn cử như tại Mỹ, giới làm luật thường viện dẫn Hiến pháp quy định Tổng thống là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân, hải quân và lực lượng dự bị ở một số bang; Bộ trưởng Quốc phòng là quan chức dân sự và các quy định hạn chế quân nhân tham gia chính trị, để cổ xúy cho mô hình “dân quản quân”, “quân đội phi giai cấp, đứng ngoài chính trị”.

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy điều nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” đó, thậm chí vấp phải sự phản đối của chính học giả phương Tây-những người không thuộc trường phái Mác-xít. Trong công trình khoa học “50 từ then chốt của xã hội học”, nhà xã hội học Jean Golfin cho rằng: “Tầm quan trọng của chức năng quân sự bắt nguồn từ sự gần gũi của nó với quyền lực chính trị: Nó là sức mạnh phục vụ cho chính trị, chống lại sự đe dọa ở bên ngoài”.

Nhấn mạnh yếu tố chính trị là khẳng định quân đội luôn mang bản chất giai cấp và gắn liền với nhà nước; không thể có một quân đội trong nhà nước tư sản mà lại không phục vụ lợi ích của chính nhà nước đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và bản chất giai cấp của quân đội, giới cầm quyền truyền bá hệ tư tưởng của mình qua giáo dục mang tính định hướng và áp dụng nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và cơ chế kiểm soát trong toàn lực lượng. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền, trước đây gọi là Cơ quan Thông tin và Giáo dục quân đội (AFIS) và hiện nay chuyển thành nhiều cơ quan như Cơ quan Hoạt động Truyền thông Quốc phòng (DMA), Cơ quan Quan hệ công chúng (PA) và Cơ quan Tác chiến tâm lý (MISO) thuộc Bộ Chiến tranh với cùng mục đích là tiến hành công tác tư tưởng, giáo dục tinh thần binh sĩ... Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan tương tự. 

Vì lẽ đó, “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội chỉ là hình thức chứ không làm thay đổi bản chất quân đội phục vụ giai cấp thống trị. Trong nhà nước tư sản, quyền lực vẫn thuộc về giai cấp tư sản, nên quân đội-dù được tuyên bố “trung lập”-vẫn phục vụ cho lợi ích của họ. Việc thay nhau cầm quyền giữa các đảng ở Mỹ chỉ thay đổi đường lối quản trị chứ không làm thay đổi chế độ chính trị đã được Hiến pháp quy định. Các chính đảng ở Mỹ vẫn can dự mạnh mẽ vào cả lập pháp, hành pháp và tư pháp trong lĩnh vực quân sự. Minh chứng là trong lịch sử Mỹ, ngoại trừ Tổng thống đầu tiên George Washington không thuộc đảng phái nào, các tổng thống còn lại đều đại diện cho các đảng phái chính trị và thực thi đường lối của đảng mình khi đắc cử. Việc Mỹ và một số nước quy định Bộ trưởng Quốc phòng phải là người dân sự chỉ là sử dụng quan chức dân sự thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quân sự. Đây không có nghĩa là “dân sự hóa” quân đội và càng không phải tách quân đội khỏi chính trị. Hơn nữa, quy định này cũng không được áp dụng tuyệt đối, vì vẫn có những cựu quân nhân chưa đủ thời gian xuất ngũ theo luật nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng (năm 1950, 2017).

Thực tế đời sống chính trị ở một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy, chính phủ và các đảng phái đều tìm cách tranh thủ sự ủng hộ và hậu thuẫn về mặt chính trị từ quân đội. Trong nhiều cuộc đảo chính, lực lượng nào kiểm soát hoặc được quân đội ủng hộ thường chiếm ưu thế quyết định trong việc nắm quyền.

Trung Quốc ứng phó với các thủ đoạn thúc đẩy “dân sự hóa” quân đội

Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, GS, TS Thành Hán Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khu vực và Quốc gia kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Công nghiệp Chiết Giang (Trung Quốc), cho biết mặc dù chỉ tác động ở mức độ nhỏ, trào lưu tư tưởng sai lệch đó vẫn từng tồn tại nhất định trong xã hội Trung Quốc và tiềm ẩn nhiều nguy cơ phải cảnh giác. Một số trí thức thường dẫn chứng mô hình của các nước phương Tây để ca ngợi “lợi ích” của cái gọi là “quốc gia hóa quân đội”. Họ lợi dụng các hội thảo, mạng xã hội, diễn đàn và bài viết để tuyên truyền, đánh tráo khái niệm, gây nhiễu loạn nhận thức dư luận. Một số trí thức từng du học nước ngoài càng tích cực cổ xúy cho luận điệu này.     

Theo Đại tá, ThS Vũ Văn Khanh, nguyên Trưởng ban Quốc tế, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, các thủ đoạn chống phá đối với quân đội Trung Quốc tập trung vào một số lĩnh vực then chốt, như: Xuyên tạc tổ chức, biên chế quân đội, với luận điệu cho rằng mô hình hiện nay “cồng kềnh, lạc hậu” và có thể được thay thế bằng các lực lượng dân sự. Dưới vỏ bọc “cải cách quân đội” hay “tinh gọn biên chế”, chúng tài trợ các nghiên cứu, hội thảo quốc tế để hợp thức hóa quan điểm “giảm vai trò quân đội thường trực”, từng bước tác động vào nhận thức và tạo nền tảng lý luận cho âm mưu dân sự hóa. Đồng thời, chúng lợi dụng những hạn chế, sự cố trong huấn luyện và quản lý để chỉ trích mô hình tổ chức quân đội, kêu gọi “tách quân đội khỏi hệ thống chính trị”. Các thế lực thù địch khoét sâu vấn đề ngân sách, thổi phồng “chi phí quân sự” nhằm gây sức ép cắt giảm nguồn lực, tư nhân hóa các chức năng then chốt và làm gia tăng sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài.

Đặc biệt, chúng tiến công vào hệ thống tư pháp quân đội Trung Quốc bằng cách khai thác sai phạm nội bộ, rò rỉ tài liệu, vận động các cơ chế quốc tế chất vấn tính hợp pháp của hoạt động tố tụng, từ đó làm suy giảm uy tín và quyền tự chủ tư pháp quân đội. Cùng với đó, chúng thúc đẩy cơ chế giám sát dân sự, đề xuất chuyển một số thẩm quyền xử lý sang hệ thống tư pháp dân sự hoặc quốc tế, nhằm từng bước làm xói mòn tính đặc thù và vai trò của quân đội trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh (đây là âm mưu thâm độc đang được kẻ thù thúc đẩy ở Việt Nam và nhiều nước khác).

Mục tiêu của những hoạt động chống phá này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội; làm suy yếu bản chất chính trị, tư tưởng và tính giai cấp của lực lượng vũ trang; từng bước biến quân đội thành lực lượng “phi chính trị”, “trung lập”, chỉ phục vụ lợi ích quốc gia theo quan điểm phương Tây; qua đó làm suy giảm sức mạnh chính trị, khả năng chiến đấu và ổn định chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc.

Trung Quốc coi các luận điểm như “quân đội quốc gia hóa”, “quân đội dân sự hóa” là mối đe dọa trực tiếp tới sự ổn định chính trị và sức mạnh quân đội. Dù thúc đẩy kết hợp quân sự-dân sự, nước này khẳng định đây không phải là việc thay thế quân đội bằng lực lượng quần chúng mà là phát huy sức mạnh toàn xã hội trên nền tảng một quân đội chính quy, chuyên nghiệp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, Trung Quốc triển khai các biện pháp đồng bộ về chính trị, pháp lý, kinh tế, truyền thông và công nghệ nhằm bảo đảm quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng và không bị tác động bởi xu hướng “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa”.

Bản chất chính trị của quân đội và những luận điệu cần bác bỏ từ thực tiễn Việt Nam

Nhà lý luận quân sự nổi tiếng của nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) thế kỷ 19 Clausewitz từng nêu luận điểm được thừa nhận như một chân lý trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn vô sản: “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những biện pháp khác”. Thừa nhận bản chất chính trị của chiến tranh, tất yếu phải thấy rằng không có quân đội nào “đứng ngoài chính trị” hay “không liên quan đến chính trị”. Mọi cuộc chiến tranh đều nhằm đạt mục tiêu chính trị nhất định; quân đội của các bên tham chiến đều do lực lượng cầm quyền tổ chức, giáo dục và sử dụng để thực hiện mục tiêu đó.

Vì vậy, xây dựng quân đội về chính trị là yêu cầu khách quan, tồn tại ở mọi loại hình quân đội. Điểm khác nhau nằm ở cách đặt vị trí của xây dựng chính trị trong tổng thể xây dựng quân đội-đặc biệt là so với hiện đại hóa vũ khí, trang bị-và mức độ công khai bản chất cũng như nội dung giáo dục chính trị.

Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn lịch sử đều khẳng định: Quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng do giai cấp nắm quyền lãnh đạo tổ chức nên, là công cụ bạo lực bảo vệ lợi ích và vị thế của giai cấp đó. Tính chất của nhà nước như thế nào thì quân đội-lực lượng bảo vệ nhà nước-mang bản chất tương ứng đến đó.    

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, ra đời trước khi chính quyền cách mạng được thiết lập. Chính vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là nguyên tắc căn bản đã được hiến định mà còn là nhân tố quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu và chiến thắng của Quân đội. Vì vậy, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội với Đảng là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời.   

Từ lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta luôn coi trọng xây dựng Quân đội tinh nhuệ, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định giai cấp vô sản muốn bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới phải có quân đội đủ mạnh, thường xuyên được nâng cao sức chiến đấu để trở thành thành trì vững chắc trước mọi âm mưu xâm lược. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực phức tạp hiện nay, tăng cường tiềm lực quốc phòng và hiện đại hóa Quân đội để tự vệ chính đáng và giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ cấp thiết. Đây không phải là điều “không cần thiết”, “lãng phí” hay “gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân” như luận điệu chống phá. Trái lại, điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước; điều kiện, khả năng và đồng thuận xã hội trong mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại. Mặt khác, đặt trong mối quan hệ giữa “xây dựng” và “bảo vệ”, môi trường hòa bình, ổn định chính là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, xã hội, xem nhẹ đầu tư cho quốc phòng đồng nghĩa với việc hạ thấp nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhất thiết phải được đầu tư tương xứng để bảo đảm sức mạnh, khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, chủ trương đầu tư hiện đại hóa Quân đội được Đảng, Nhà nước tính toán kỹ lưỡng, phù hợp. Quân đội phát huy nội lực, sử dụng ngân sách hiệu quả cho nhiệm vụ này.

Đánh đồng hoạt động quân sự với hoạt động chuyên môn của cơ quan dân sự thuần túy, từ đó đòi “công khai hoạt động quân sự như dân sự”, là sự đánh tráo về bản chất giữa hai loại hình tổ chức hoàn toàn khác nhau. Quân đội là lực lượng vũ trang của Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh vũ lực-lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến an ninh, chủ quyền và sự tồn vong quốc gia. Các hoạt động của Quân đội, từ huấn luyện, bố trí lực lượng đến xây dựng kế hoạch tác chiến... đều mang tính bí mật, không thể và không bao giờ được công khai như hoạt động dân sự. Thông lệ quốc tế và nhiều bộ luật đều xác lập rõ nguyên tắc bảo mật trong lĩnh vực quốc phòng, bởi chỉ cần để lộ một phần nhỏ thông tin cũng có thể tạo ra nguy cơ chiến lược. Việc đòi hỏi Quân đội vận hành “công khai” như cơ quan dân sự thực chất không phải để tăng minh bạch mà nhằm vô hiệu hóa cơ chế phòng thủ, làm suy giảm sức mạnh răn đe, phá vỡ tính kỷ luật, bí mật quân sự.   

Một kiểu đánh đồng khác là quy chụp việc Quân đội tham gia lao động sản xuất là “làm kinh tế thuần túy”. Cần thấy rằng, “vừa chiến đấu, vừa sản xuất”, trong đó chiến đấu là nhiệm vụ trung tâm; lao động, sản xuất là nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần phát triển kinh tế, giảm gánh nặng cho nhân dân và tăng cường tiềm lực quốc phòng, là chức năng, truyền thống của Quân đội ta. Chỉ nói “Quân đội làm kinh tế” không thôi, rồi đánh đồng với các tổ chức kinh tế dân sự khác là không phản ánh đầy đủ bản chất của hoạt động này. Quân đội tham gia lao động sản xuất trước hết phục vụ quốc phòng, đồng thời đóng góp cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hiệu quả của các đoàn kinh tế-quốc phòng trong tạo sinh kế, xóa đói, giảm nghèo, ổn định dân cư; các doanh nghiệp Quân đội sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng phục vụ quốc phòng và dân sinh... là minh chứng rõ nét cho điều này./.
Ảnh: Khối nữ chiến sĩ Thông tin tham gia nhiệm vụ A80.
(còn nữa)
Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN biến HÒA BÌNH”!

BÀI 1: BẢN CHẤT, ÂM MƯU VÀ NHỮNG NGUY CƠ ĐỐI VỚI VIỆT NAM!

     Thời gian qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam trên nhiều phương diện, trong đó Quân đội luôn là mục tiêu trọng điểm. Một trong những mũi tiến công nguy hiểm nhất là luận điệu đòi “dân sự hóa” quân đội với những thủ đoạn tinh vi, nham hiểm. Đáng lo ngại là nhận thức về vấn đề này trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Vì vậy, việc kịp thời nhận diện, phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm này là nhiệm vụ cấp thiết trong nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng hiện nay.

Bản chất “dân sự hóa” quân đội

Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương: “Dân sự hóa” quân đội là thuật ngữ dùng để chỉ xu hướng chuyển hóa quân đội từ lực lượng vũ trang mang chức năng chính trị - quân sự đặc thù sang mô hình tương tự tổ chức dân sự, thông qua việc làm giảm vai trò, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; coi quân đội như một thiết chế trung lập trong đời sống xã hội; chỉ tuân theo pháp luật, không tuân theo sự lãnh đạo của Đảng.

Thực chất, nội dung cốt lõi của “dân sự hóa” quân đội bao gồm các quá trình: Thay đổi chức năng quân sự sang chức năng và mục tiêu dân sự hoặc phi quân sự, phi vũ trang, chịu sự kiểm soát, quản lý của tổ chức dân sự. Giảm hoặc loại bỏ tính chính trị và sự lãnh đạo của chủ thể cầm quyền là Đảng Cộng sản, người chỉ huy cao nhất trong quân đội là dân sự, không phải là tướng lĩnh. Phi trung tâm hóa cơ chế chỉ huy, kỷ luật và quản lý quân đội, chẳng hạn biến bộ tổng tham mưu như một tổ chức xã hội, phủ nhận vai trò của cơ quan chính trị và cán bộ chính trị các cấp. Đồng nhất quân đội với tổ chức dân sự về vị trí, vai trò và tính chất hoạt động; đòi công khai các hoạt động quân sự như dân sự. Biến đổi mục tiêu sử dụng lực lượng từ bảo vệ quốc gia sang phục vụ lợi ích phi quốc phòng.

Trên thế giới, quan điểm “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội, “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị” thường xuất hiện ở các nước có chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Để tránh quân đội can dự vào các tranh chấp chính trị, các nhà nước tư sản quy định quân đội phải “đứng trên đảng phái”, "đứng ngoài đảng phái", chịu sự chỉ huy trực tiếp của nguyên thủ quốc gia mà không chịu sự lãnh đạo hay chi phối của bất kỳ đảng phái nào. Ở mỗi nước, cách thức thực hiện và nội hàm cụ thể của vấn đề “dân sự hóa” quân đội có sự khác biệt, nhưng điểm chung là khẳng định quân đội phải là lực lượng vũ trang của quốc gia, phục vụ lợi ích đất nước.

Dựa trên “học thuyết phân quyền”, giới lập pháp ở nhiều nước đã ban hành hàng loạt đạo luật với kỳ vọng tách bạch quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Trên cơ sở đó, họ tin rằng chế định “dân sự quản lý quân sự” được luật hóa sẽ bảo đảm mọi vấn đề của quân đội đều do lực lượng dân sự quyết định, không liên quan tới bất kỳ đảng phái hay thiết chế quân sự nào.

Ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện lợi ích của giai cấp và của nhân dân lao động. Vì vậy, quân đội được lãnh đạo trực tiếp bởi đảng của giai cấp công nhân. Chính điều này khiến các nước tư bản lo ngại và tìm cách làm suy yếu vai trò lãnh đạo ấy bằng cách cổ xúy luận điệu “dân sự hóa” quân đội nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Đối với Việt Nam, đây là một chiêu bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Thực chất của luận điệu này nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về chính trị, chúng phủ nhận vai trò của các tổ chức đảng, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về pháp lý-tổ chức, chúng xuyên tạc rằng Quân đội là công cụ của toàn xã hội, “sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Vì vậy, Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không mang bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị”, chỉ chịu sự quản lý của các thiết chế dân sự và phải được “dân sự hóa” triệt để.

Mục tiêu của các thế lực thù địch là gây nhiễu loạn nhận thức, lung lạc ý chí, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ; làm sai lệch mục tiêu xây dựng và chiến đấu, tạo ra sự hoài nghi về chức năng, bản chất và vai trò của Quân đội ta; nhạt hóa niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Xa hơn là tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, khiến Quân đội phai nhạt bản chất cách mạng và suy giảm sức mạnh chiến đấu bảo vệ Đảng, Tổ quốc và nhân dân để dễ bề can thiệp, thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Âm mưu, thủ đoạn “dân sự hóa” quân đội

“Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân”, cho nên các thế lực thù địch lợi dụng vào đó để ngụy biện rằng Quân đội chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Quân đội phải phụng sự nhân dân, do nhân dân chỉ huy, quản lý; Quân đội không phụ thuộc vào một đảng phái nào mà là của chung nhân dân, dân tộc. Chúng còn đưa ra những yêu sách phi lý như đòi công khai toàn bộ vấn đề quân sự, quốc phòng, ngân sách quốc phòng; đòi nhân dân được giám sát và quyết định các vấn đề quân sự; xuyên tạc chủ trương hiện đại hóa Quân đội, bóp méo chức năng và nhiệm vụ xây dựng kinh tế-quốc phòng của Quân đội. Chúng tìm cách gieo rắc lối sống thực dụng, đề cao cá nhân, coi thường kỷ luật, thờ ơ chính trị nhằm từng bước làm phai nhạt lý tưởng và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ để dễ bề thúc đẩy “tự chuyển hóa” từ bên trong...

Để hiện thực hóa âm mưu đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh những thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm.

Trước hết, chúng tấn công trực diện vào đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, bóp méo cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội.

Dưới chiêu bài “quân đội quốc gia”, “quân đội phục tùng hiến pháp”, các thế lực thù địch đòi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Từ đó, chúng đòi “trao quyền kiểm soát Quân đội” thuần túy cho Quốc hội, Chính phủ như mô hình quân đội các nước tư sản. Chúng còn dẫn chứng những hiện tượng “bề ngoài” để biện hộ cho quan điểm “dân sự hóa quân đội” và “khuyên răn” Việt Nam làm theo, như: Bộ trưởng quốc phòng nhiều nước không phải quân nhân; áp dụng thuyết “tam quyền phân lập”, một số nước đã ban hành luật thể hiện “dân sự quản lý quân sự”, quân đội tách ra khỏi sự ảnh hưởng, chi phối của đảng phái... Để tạo sự mơ hồ, dễ bề chuyển hóa khái niệm này, chúng ra sức tô hồng mô hình quân đội các nước tư sản mà bỏ qua một thực tế rõ ràng ở những nước này, các chính đảng nắm quyền vẫn thông qua người của đảng mình nắm giữ vị trí chủ chốt trong hệ thống chính quyền, chi phối lập pháp, hành pháp, tư pháp và chính sách quân sự, quốc phòng.  

Thứ hai, cố tình bóp méo chức năng và nhiệm vụ xây dựng kinh tế gắn với quốc phòng của Quân đội.

Bằng những lập luận phiến diện, đánh tráo khái niệm, các thế lực thù địch quy chụp nhiệm vụ tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế gắn với quốc phòng thành “làm kinh tế thuần túy”, rồi từ đó vu cáo Quân đội “lợi ích nhóm”, “đặc quyền đặc lợi” (?!) Từ đó, chúng phủ nhận những đóng góp quan trọng của Quân đội trong lĩnh vực kinh tế, rêu rao rằng Quân đội đã “đánh mất bản chất cách mạng”, bị “tha hóa bởi kinh tế thị trường” nhằm gieo rắc tâm lý nghi ngờ, phá hoại niềm tin của nhân dân đối với Quân đội.   

Thứ ba, trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, các thế lực thù địch tìm cách cổ xúy lối sống thực dụng, đề cao cá nhân, thiếu trách nhiệm, xem nhẹ kỷ luật, xa rời mục tiêu, lý tưởng, nhằm từng bước làm phai nhạt lý tưởng và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Đây là thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm, bởi nó tác động trực tiếp đến nền tảng tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Một khi những biểu hiện này len lỏi vào đời sống quân nhân sẽ là mảnh đất màu mỡ cho mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hình thành; đồng thời tạo điều kiện để các tư tưởng thù địch thâm nhập và từng bước phá vỡ sự trong sạch, vững mạnh của Quân đội.

Thứ tư, đối với chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc rằng đây là khoản đầu tư “lãng phí”, rằng thời bình và để “chống chạy đua vũ trang”, Việt Nam mở rộng đối ngoại, hợp tác quốc tế không còn nguy cơ xung đột, chiến tranh nên không cần hiện đại hóa Quân đội. Dưới chiêu bài “dân chủ”, chúng đòi đưa các vấn đề quân sự, quốc phòng ra bàn luận công khai để nhân dân giám sát và quyết định. Nhằm gieo rắc hoài nghi và chia rẽ trong xã hội, chúng xuyên tạc rằng ngân sách quốc phòng “quá cao” so với nhiều lĩnh vực dân sinh; phủ nhận tính đặc thù của hoạt động quân sự, đánh đồng Quân đội với một cơ quan hành chính thông thường, biến việc quân sự thành việc của dân sự. Từ đó, chúng kêu gọi cắt giảm ngân sách quốc phòng để “tiết kiệm nguồn lực đầu tư cho phát triển” hoặc huy động đơn thuần các nguồn lực xã hội để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với đề xuất “dân sự hóa hoạt động quân sự”.

Về phương thức, không gian mạng là “mũi tiến công mềm” được các thế lực thù địch khai thác triệt để. Chúng tung tin giả, cắt ghép hình ảnh xuyên tạc về Quân đội; tạo lập tài khoản ảo, tán phát “thư ngỏ”, “kiến nghị”, “tâm thư” với giọng điệu giả danh trí thức để gây nhiễu loạn nhận thức, thao túng dư luận. Mỗi sự cố nhỏ đều bị thổi phồng nhằm gây chia rẽ nội bộ, kích động bất mãn, hạ thấp hình ảnh Quân đội trong mắt nhân dân. Chúng xuyên tạc việc cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn là “diễn”, rằng “tại sao phải mặc quân phục khi giúp đỡ nhân dân, giúp hay chỉ làm màu, khoe mẽ”... 

Về lực lượng, các thế lực thù địch móc nối với các phần tử cơ hội, tổ chức phản động trong và ngoài nước, được các kênh truyền thông chống phá như BBC, VOA, RFA... "hà hơi, tiếp sức", lôi kéo những người có nhận thức lệch lạc và một bộ phận cư dân mạng dễ bị kích động để lan truyền tin giả, thông tin độc hại. 

Nguy cơ “tự diễn biến” từ vấn đề “dân sự hóa” quân đội

Những âm mưu, thủ đoạn trên nếu không bị đấu tranh và loại bỏ, hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Nó thẩm thấu, làm suy yếu từ bên trong đối với vai trò của tổ chức đảng; dẫn đến khoảng trống ý thức hệ, tạo điều kiện cho chủ nghĩa thực dụng, cá nhân chủ nghĩa thâm nhập; bào mòn bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội; hạ thấp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, giảm sút uy tín và niềm tin của Quân đội trong lòng nhân dân.

Một số người chỉ nhìn thấy lợi ích kinh tế trước mắt mà xem nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; đánh đồng Quân đội với cơ quan dân sự về giờ giấc, chế độ đãi ngộ, rồi thổi phồng trên mạng xã hội, tạo thành những luồng dư luận nhiễu loạn, tác động tiêu cực tới tâm lý xã hội.

Từ sự hời hợt trong nhận thức đến thái độ phủ nhận vai trò, chức năng đội quân chiến đấu chỉ cách nhau một bước nhỏ. Và chính sự lệch lạc này trở thành mảnh đất cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: Giảm niềm tin vào Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; coi Quân đội như “nghề công chức vũ trang”, không phải lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu của Đảng. Bài học về sự tan rã của Liên Xô đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Khi đó, 5 triệu quân nhân Liên Xô đã hoàn toàn thất thủ trước âm mưu “phi chính trị hóa” của kẻ thù, khoanh tay đứng nhìn nhà nước Xô viết-chính thể sinh ra mình sụp đổ. Hay gần đây, sự sụp đổ của chính phủ nhiều nước Bắc Phi-Trung Đông trước sức ép của các cuộc bạo loạn chính trị mang tên “Mùa xuân Arab” cũng có nguyên nhân từ việc mất kiểm soát đối với quân đội.

Một biểu hiện đáng lo ngại của “tự diễn biến” hiện nay là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Không ít người đánh giá hời hợt, thậm chí giản đơn những biến động nhanh chóng, phức tạp của môi trường an ninh thế giới và khu vực, nơi các nguy cơ xung đột, tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh chiến lược luôn tiềm ẩn cả nguy hại trực tiếp lẫn lâu dài. Nhận thức lệch lạc ấy dẫn tới thái độ xem nhẹ vai trò của Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh ấy, những “kiến nghị” đòi cắt giảm quân số, giảm ngân sách quốc phòng để dành nguồn lực cho phát triển kinh tế không chỉ đi ngược xu thế chung của thế giới mà còn mâu thuẫn với yêu cầu củng cố sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước.

Trong bối cảnh nhiệm vụ quân sự ngày càng nặng nề và tác động phức tạp của đời sống xã hội hiện đại, quân nhân nếu không kiên định lập trường, kém tu dưỡng rèn luyện, sẽ bị cuốn vào lối sống thực dụng, hưởng thụ, từ đó từng bước dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các doanh nghiệp, bên cạnh thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng kinh tế, không nên xem nhẹ vấn đề kỷ luật, duy trì môi trường rèn luyện và tu dưỡng phẩm chất của quân nhân. Bởi nếu tư duy kinh tế lấn át tư duy quân sự, kỷ luật dễ bị buông lỏng, hoạt động của doanh nghiệp dễ rơi vào xu hướng “dân sự hóa”. Điều này tạo nguy cơ khiến cán bộ, nhân viên dễ bị tác động bởi cám dỗ vật chất, sa sút trách nhiệm, thiếu rèn luyện, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng và hành động./.
Ảnh: Khối xe - pháo quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam tại Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Quốc khánh 2-9.
(còn nữa)
Môi trường ST.

PHẢI NHẤT QUÁN, kiên ĐỊNH TÍNH ĐẢNG TRONG VĂN HỌC!

BÀI 2: ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN SUY THOÁI TRONG VĂN HỌC!
(Tiếp theo và hết)

     Một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong đời sống văn học đã được Đảng ta chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) là: Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng... Đây cũng chính là biểu hiện xa rời tính đảng trong văn học. Nếu không kịp thời ngăn chặn, chấn chỉnh, sự suy thoái sẽ phát triển thành “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ trong một bước ngắn, thậm chí rất ngắn...

Nhận thức đúng để định hướng sáng tác đúng

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa, văn nghệ luôn được đặt ngang hàng với những lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Như vậy, kiên định, bảo vệ, giữ vững tính đảng chính là nhằm bảo đảm môi trường văn học không đứng ngoài sự nghiệp cách mạng của dân tộc, môi trường sáng tạo của nhà văn không bị chệch hướng, đi ngược lại chuẩn mực chân, thiện, mỹ...

Vấn đề này không mới, nhưng chúng ta phải thường xuyên nhấn mạnh và nhất quán trong mọi hoàn cảnh, nhất là khi dư luận “chín người mười ý”. Đáng chú ý là, không ít người không hiểu hoặc cố tình không hiểu bản chất và nội hàm của tính đảng trong văn học nên đã quy chụp, võ đoán, cực đoan cho rằng tính đảng là sự "khuôn sáo", "tuyên truyền một chiều", "cản trở sáng tạo". Thực chất, tính đảng chưa và không bao giờ đòi hỏi nhà văn và tác phẩm văn học phải khuôn mẫu, minh họa, tô hồng. 

Ngược lại, đó là sự “định vị” để nhà văn biết mình là ai, mình đang đứng ở đâu, mình sáng tác cho ai, vì mục tiêu gì... trong dòng chảy đầy biến động của thời cuộc và thời đại. Và từ sự “định vị” ấy, nhà văn tự tìm ra câu trả lời, đó là lao động sáng tạo, dù ở đâu, lúc nào cũng phải luôn đứng về phía nhân dân, đứng về phía chính nghĩa, đứng ở cái tâm của giá trị nhân văn và lợi ích quốc gia, dân tộc. Văn học phản ánh đời sống và nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại, nhưng đó không phải là sự ghi chép đơn thuần. Văn học hướng con người đến cái đẹp, cái thiện, cái chân giá trị, hun đúc niềm tin, sức mạnh, khát vọng và lòng nhân ái. Ở bất cứ chế độ xã hội nào cũng không thể có văn học vô lập trường, vô khuynh hướng.

Nhấn mạnh vấn đề này để thấy, tính đảng không phải là sự “kiểm soát tư tưởng” trong sáng tạo như không ít người cố tình suy diễn. Đảng ta nhất quán tôn trọng tự do sáng tác, khuyến khích sáng tạo và tạo mọi điều kiện để nhà văn tạo ra tác phẩm phản ánh sâu sắc hiện thực đất nước và chân dung thời đại. Nhưng tự do không phải sự thả nổi vô nguyên tắc. Không có xã hội nào chấp nhận thứ tự do đứng trên pháp luật, đạo lý; kích động thù hận, ly khai, phủ nhận lịch sử.

Thế giới đã chứng kiến không ít trường hợp văn học tiếp tay cho chủ nghĩa cực đoan, làm bùng nổ xung đột sắc tộc, tôn giáo. Một viên đạn chỉ có thể giết một mạng người ngay tức khắc, nhưng một tác phẩm văn học nguy hại có thể trở thành lưỡi dao vô hình làm tổn hại đến cả một thế hệ, thậm chí là nhiều thế hệ. Sự nguy hiểm ấy nhắc nhở chúng ta rằng, tự do sáng tác, tự do ngôn luận phải luôn gắn với trách nhiệm xã hội và chuẩn mực của đạo đức, văn hóa dân tộc. Tính đảng chính là điểm tựa tư tưởng vững chắc để nhà văn đi đúng hướng, đồng hành với sự phát triển của đất nước và xu thế thời đại trong khi vẫn giữ được bản sắc, phong cách sáng tạo riêng.

Ở đây, chúng tôi muốn thông qua những hiện tượng xã hội, những vấn đề dư luận quan tâm, xâu chuỗi vấn đề một cách có hệ thống để góp tiếng nói chấn chỉnh những tư tưởng, khuynh hướng lệch lạc, cả trong sáng tác, phổ biến, thẩm định tác phẩm và trong cảm thụ, đánh giá, phê bình tác phẩm văn học của công chúng. Khi không gian mạng là một thế giới thứ hai, tác động đến mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, dư luận dễ bị dẫn dắt. Không gian ảo nhưng tác hại là thật.

Khi một bộ phận người sáng tác có tư duy lệch chuẩn thì tác phẩm văn học rất dễ bị đánh tráo giá trị. Chúng ta cần nhìn thẳng vào những biểu hiện lệch chuẩn, mầm mống suy thoái trong đời sống văn học, soi chiếu vào quan điểm, đường lối của Đảng để thấy rõ hơn tính cấp thiết của việc phải kiên định, bảo vệ, giữ vững tính đảng trong văn học.

Đấu tranh ngăn ngừa suy thoái 

Tại sao những cuộc tranh luận về văn học thường diễn biến gay gắt và tốn nhiều giấy mực? Ấy là bởi, việc đánh giá, thẩm định, cảm thụ văn học là công việc của cảm xúc, cảm tính. Muốn có sự đánh giá đúng đắn, khách quan, bên cạnh kiến thức chuyên môn, trình độ thẩm mỹ, đòi hỏi chủ thể phải có bản lĩnh chính trị, đứng trên lập trường, quan điểm của Đảng. Việc nhất quán, kiên định tính đảng cũng chính là cách giúp chúng ta nhận diện rõ những mầm mống, biểu hiện suy thoái trong đời sống văn học.

Trong tác phẩm văn học, sự suy thoái có thể được nhận diện ở những biểu hiện: Cổ xúy tư tưởng bi quan, cực đoan, phản ánh xã hội bằng gam màu đen tối, khiến người đọc dễ mất niềm tin; xuyên tạc lịch sử, coi cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc là “nội chiến”; phản ánh méo mó hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, từ nhân vật chính nghĩa bị đẩy thành những dạng nhân vật phiến diện, tiêu cực, lệch lạc về lối sống; “phi chính trị hóa” văn học, cổ vũ quan điểm tách văn học ra khỏi chính trị, coi lập trường tư tưởng là vật cản sáng tạo...

Những biểu hiện suy thoái này rất dễ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Văn học, nghệ thuật là linh hồn của văn hóa. Văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa còn thì dân tộc còn. Mất văn hóa là mất tất cả. Những đúc kết mang tính triết học ấy cần được giới nhà văn, nghệ sĩ coi như “bảng cửu chương” của hành trình sáng tạo. Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 đã cảnh báo rõ tình trạng một bộ phận sáng tác bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc (nói nặng ra là "vô văn hóa", "phản văn hóa"). Khi tác phẩm gieo rắc sự hoài nghi, dao động, mơ hồ, ảo tưởng và khi giá trị dân tộc bị đảo lộn, lịch sử bị bôi xóa, xuyên tạc... thì không thể nói đó là “tự do sáng tạo”. Thực chất, đó là sự suy thoái cần được nhận diện, cảnh tỉnh và đấu tranh mạnh mẽ.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội đang làm dịch chuyển, thay đổi căn bản hệ sinh thái văn hóa đọc, đời sống văn học trong nước phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Một trong những vấn đề trọng tâm là làm sao giữ vững hệ giá trị cốt lõi, không đánh mất bản sắc, không lơi lỏng lập trường tư tưởng trước làn sóng thông tin từ không gian mạng.

Thực tiễn ngày càng đặt ra yêu cầu phải kiên định, bảo vệ, nâng cao tính đảng trong văn học. Để có một hệ sinh thái văn học tiến bộ, giữ vững tính đảng, bảo tồn tâm hồn dân tộc, phải đi từ công tác lý luận, phê bình, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong văn học. Những cuộc tranh luận kiểu “ném đá” hay “tâng bốc” không những không thể thay thế hoạt động phê bình học thuật, mà nhiều khi nó còn là tác nhân làm “biến dạng” thị hiếu văn học và giá trị thẩm mỹ.

Đặc biệt, vai trò định hướng, chỉ đạo của các cấp, các ngành chức năng và tiếng nói của những nhà văn, nghệ sĩ chân chính, có bản lĩnh chính trị vững vàng là hết sức quan trọng. Nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài là cần tiến hành thường xuyên, liên tục công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ sáng tác; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là vai trò định hướng của Ban Tuyên giáo và Dân vận từ Trung ương đến các địa phương; nâng cao hoạt động sinh hoạt chính trị, chuyên môn nghiệp vụ của tổ chức hội, đoàn các cấp.

Tác phẩm văn học chỉ thực sự có giá trị khi nhà văn, người cầm bút đứng vững trên nền tảng tư tưởng, văn hóa, lịch sử dân tộc, hướng về lợi ích quốc gia, phụng sự Tổ quốc, nhân dân. Giữ vững tính đảng cũng chính là giữ gìn phẩm giá, bản lĩnh của người cầm bút. Trong thời đại số, yêu cầu này càng trở nên cấp bách. Trượt khỏi nguyên tắc đó là tự chối bỏ chính mình, làm vẩn đục đời sống văn học./.
Môi trường ST.

PHẢI NHẤT QUÁN, kiên ĐỊNH TÍNH ĐẢNG TRONG VĂN HỌC!

BÀI 1: KHÔNG ĐƯỢC XA RỜI NGUYÊN TẮC RƯỜNG CỘT!

     Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh dân tộc và sự tồn vong của chế độ. Bất luận hoàn cảnh nào cũng tuyệt đối không lơ là, coi nhẹ, sao nhãng. Văn học, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc, việc nhất quán, kiên định tính đảng là nguyên tắc mang tính rường cột...

Tính đảng là nguyên tắc rường cột của văn học

Thời gian gần đây, đời sống văn học liên tục được “hâm nóng” bởi những cuộc tranh luận xoay quanh một số tác phẩm. Trên không gian mạng, chủ đề này là một trong những nội dung được truy cập, chia sẻ, bàn luận nhiều nhất. Một số tác phẩm văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, LLVT và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ được đưa ra phân tích, mổ xẻ dưới những góc nhìn đa chiều. Theo dõi thông tin trên không gian mạng, chúng ta thấy rõ có những lúc, những nơi, việc tranh luận diễn ra gay gắt, dẫn đến những tranh cãi chưa có hồi kết...

Việc tác phẩm văn học gây chú ý, tạo phản ứng đa chiều trong dư luận xã hội không phải bây giờ mới diễn ra. Sau ngày thống nhất Tổ quốc, đặc biệt là giai đoạn đất nước đổi mới, hội nhập trong bối cảnh địa chính trị thế giới có những biến động sâu sắc mang tính bước ngoặt, đời sống văn học trong nước chịu sự tác động, chi phối từ nhiều khuynh hướng tư tưởng. Chính vì vậy đã có nhiều cuộc tranh luận diễn ra trong giới sáng tác và công chúng văn học. Tuy nhiên, do trước đây không gian mạng chưa phát triển nên mức độ ảnh hưởng không diễn ra nhanh chóng, phủ sóng toàn diện như hiện nay.

Đánh giá đời sống văn học trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 chỉ rõ, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta còn thiếu những tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật lớn, tầm cỡ, phản ánh được tầm vóc của sự nghiệp đổi mới, có tác dụng tích cực đối với việc xây dựng đất nước, xây dựng con người...

Thực tế cho thấy, bên cạnh dòng chủ lưu của văn học cách mạng, đời sống văn học cũng xuất hiện không ít tác phẩm có nội dung tư tưởng lệch lạc, độc hại, đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc, phản bội lý tưởng cách mạng và truyền thống tốt đẹp của tiên tổ, ông cha. Một số tác giả công khai thể hiện hành động phản trắc, phản bội, từ bỏ Tổ quốc, quê hương ra nước ngoài sinh sống, trở thành những con rối để các thế lực thù địch lợi dụng, giật dây, chống phá đất nước. Ban đầu, khi còn giá trị lợi dụng, họ như những cái loa lớn tiếng chỉ trích, quy chụp Đảng, Nhà nước, đòi Việt Nam phải đa nguyên, đa đảng, xuất bản những tác phẩm cổ xúy hành vi lệch lạc, lối sống thực dụng, tha hóa đạo đức. Về sau, như quả chanh đã vắt hết nước, họ bị bỏ rơi như xác ve cuối hạ, trở thành những “bóng ma” vật vờ. Một số trường hợp chết nơi đất khách quê người, ra đi trong đớn đau, tủi nhục.

Hơn 50 năm Tổ quốc thống nhất, gần 40 năm Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, những thăng trầm thời cuộc và độ sâu của lịch sử giúp chúng ta ngày càng nhận rõ chân lý: Những tác phẩm được xây dựng từ nền tảng truyền thống, từ bản sắc dân tộc, từ lợi ích quốc gia, từ cái tâm phụng sự Tổ quốc, nhân dân... thì sẽ có chỗ đứng, giá trị bền vững. Bản sắc dân tộc chính là tấm “căn cước” để đưa văn hóa, văn học Việt Nam hội nhập quốc tế. Sự đổi mới của văn học, dù có đi theo khuynh hướng nào, hình thức nào, ảnh hưởng của những trào lưu sáng tác nào... vẫn phải dựa vào, bám vào nền tảng gốc rễ của dân tộc. Đi ngược lại giá trị căn cốt ấy, tác phẩm văn học dù có được xem là “đổi mới”, “phá cách” kiểu gì, cuối cùng vẫn là thứ vô giá trị, thậm chí là rác rưởi gây hại.

Bàn đến vấn đề mang tính thời đại của văn học, thiết nghĩ chúng ta phải cần đến những hội nghị, hội thảo chuyên đề, những công trình nghiên cứu quy mô. Trong phạm vi một bài báo, nhắc lại những vấn đề mang tính nguyên tắc để chúng ta có cơ sở, căn cứ về thế giới quan, phương pháp luận khi đánh giá, luận giải các vấn đề nảy sinh trong đời sống văn học một cách đúng đắn, chuẩn mực. Trong mọi cuộc tranh luận, để phân biệt thật-giả, trắng-đen, vàng-thau... chúng ta không thể phán xét một cách cảm tính mà cần phải quy nó về chuẩn mực chung. Đó là cái trục của học thuật, là cái tâm của những khuynh hướng thẩm mỹ, là hệ tham chiếu cho những khám phá, đổi mới, tìm tòi. Đời sống xã hội vận động, biến đổi từng ngày, từng giờ. Văn học, muốn làm thỏa mãn nhu cầu công chúng, cũng phải không ngừng đổi mới. Nhưng cho dù có đổi mới thế nào, đổi mới đến đâu thì chức năng của văn học vẫn là hướng con người đến những giá trị chân-thiện-mỹ. Trượt khỏi chức năng cơ bản đó, tác phẩm văn học không thể được xem là có chất lượng.

Trong văn học cách mạng Việt Nam, giữ vững tính đảng là nguyên tắc mang tính rường cột. Biểu hiện cao nhất, phổ quát nhất của tính đảng trong văn học đó là tính dân tộc, tính nhân dân, tính thời đại, hướng con người đến chân-thiện-mỹ. Bởi, trong sứ mệnh lãnh đạo đất nước, ngoài lợi ích của quốc gia, dân tộc, nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Như vậy, tính đảng là thuộc tính quan trọng nhất của văn học cách mạng, thể hiện ở sự kiên định, trung thành với lý tưởng, đường lối của Đảng, phản ánh tinh thần cách mạng xã hội chủ nghĩa, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Để tác phẩm văn học giữ vững tính đảng đòi hỏi nhà văn, người sáng tác phải có lập trường tư tưởng vững vàng, có trình độ lý luận chính trị sâu sắc, có tinh thần cống hiến, phục vụ nhân dân. Nhà văn thông qua tác phẩm của mình góp phần tuyên truyền, giáo dục, bồi đắp phẩm giá con người, bảo tồn tâm hồn dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại những tư tưởng sai lệch, thù địch, làm phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc và đời sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân.

Như vậy, cơ sở để giới phê bình cũng như độc giả thẩm định, đánh giá, cảm thụ, phê bình... tác phẩm văn học chính là phải dựa vào nguyên tắc mang tính rường cột này. Rời xa nguyên tắc rường cột, những tranh luận, tranh cãi sẽ dễ rơi vào kiểu “ông nói gà, bà nói vịt”; “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” mang nặng cảm tính. Rời xa nguyên tắc rường cột, sự ồn ào trong tranh luận (thậm chí là tranh cãi) sẽ dễ tạo ra môi trường để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, kích động, chống phá, nhất là trong bối cảnh Đảng ta đang chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIV...

Không thể độc lập văn học với chính trị

Các nghị quyết, quyết sách của Đảng, trong đó, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII năm 1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 đã đánh giá, hoạch định, định hướng những vấn đề mang tầm chiến lược về phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ nghiên cứu lý luận, đúc kết thực tiễn, Đảng ta đã lựa chọn những lĩnh vực trọng tâm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, trong đó quan trọng nhất là chiến lược xây dựng con người Việt Nam với trọng tâm là xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta lựa chọn, kiên trì xây dựng. Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị...

Từ quan điểm của Đảng về sự nghiệp văn hóa, soi chiếu vào đời sống văn học, chúng ta thấy rõ đã có những lúc, những nơi, một bộ phận trong giới sáng tác, giới thẩm định cũng như công chúng văn học có biểu hiện mơ hồ, lệch lạc về tư tưởng, mục tiêu sáng tạo. Thậm chí có những tác giả lấy danh nghĩa cách tân, đổi mới sáng tác để kêu gọi tách văn học ra khỏi mối quan hệ với chính trị. Họ ngụy biện rằng khi văn học độc lập với chính trị, nhà văn mới có tự do ngôn luận, tự do sáng tác đúng nghĩa (!). Đây là quan điểm hết sức phi lý. Về mặt lý luận, chính trị và văn học đều là những hình thái ý thức của kiến trúc thượng tầng, có mối quan hệ biện chứng. Về thực tiễn, lịch sử đã chứng minh, ở đâu văn học và chính trị tách rời, thậm chí đối lập nhau thì đó là dấu hiệu suy vong của thể chế chính trị và đời sống xã hội. Bài học nhãn tiền từ sự sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu cách đây hơn 30 năm luôn nóng hổi tính thời sự. Sau hơn 3 thập niên nhìn lại, ngay cả nhiều nhà nghiên cứu có tư tưởng đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin trên thế giới cũng phải thẳng thắn thừa nhận sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu không những không mang lại trật tự hòa bình cho thế giới, không mang lại hạnh phúc cho nhân loại mà còn đẩy những mâu thuẫn, thách thức thời đại trở nên gay gắt hơn. Những cuộc xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, cạnh tranh lợi ích giữa các nước lớn làm cho địa chính trị thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, môi trường hòa bình bị đe dọa... chính là minh chứng rõ nét.

Trong bối cảnh đó, chấn hưng đời sống văn học là một trong những giải pháp căn cơ để bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, tạo sức mạnh chính trị tinh thần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhất quán, kiên định, bảo vệ tính đảng trong văn học chính là cách để nền văn học cách mạng Việt Nam phát triển bền vững, là môi trường để nhà văn và đội ngũ sáng tác văn học thể hiện ý thức công dân, trách nhiệm xã hội của nghệ sĩ trước Tổ quốc và nhân dân...
(còn nữa)
Môi trường ST.

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2025

TIẾP VỀ CHUYỆN “ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN”!

     Hôm nay tôi vẫn chưa viết “NHỮNG LÝ LẼ BÊNH VỰC NBCT SAI TRÁI NHƯ THẾ NÀO?”, nhưng tôi xin khẳng định, viết NBCT BN không chỉ sai mà đã phạm pháp, tất cả những ai bênh vực đều là đồng phạm, tôi sẵn sàng hầu tòa nếu bị kiện về ý này. Còn tất cả lý lẽ bênh vực BN đều của những cái đầu thiểu năng trí tuệ nên đã không nhận ra được đúng sai, đã thiếu lương tri nên đi bênh vực cái bệnh hoạn, cái xấu, cái ác; còn tất cả những người làm nghiên cứu và dạy văn thì đúng là mất dạy, dường như do nghiên cứu, học hỏi nhiều quá nên đã tẩu hỏa nhập ma, không còn nhận ra những giá trị cơ bản nhất thuộc về nhân bản, nhân văn.

Hôm nay tôi muốn viết tiếp cái mạch nghĩ khi viết bài trước, viết luôn thì dài sợ độc giả đọc mệt nên tôi đã ngắt. Đó là cái ý tôi đề nghị anh Hồng Vinh để tôi có đất dụng võ trên các báo nhiều độc giả, nhưng anh HV lại bảo tôi viết với tư cách cá nhân sẽ khách quan, bọn chống đối sẽ không thể cho tôi là cái loa tuyên truyền trong guồng máy thể chế. Nhưng những ngày hôm nay, chắc anh HV không thể ngờ được rằng, từ VTV, các báo viết, báo điện tử lớn nhất của thể chế đều hớn hở đưa tin NBCT của BN được vinh danh. Như vậy, các cơ quan truyền thông chính thống của thể chế đã bị những quan điểm sai trái đánh chiếm, còn những người bảo vệ lẽ phải, trong đó có tôi từng được các cơ quan chức năng yêu cầu định hướng dư luận, lại thành những người bên lề!!! Thật nguy hại thay!!!
*** 
Hôm nay tôi sẽ viết 2 dẫn chứng cụ thể về “sự đánh chiếm” trên.
Tôi đã viết, có những tờ báo là diễn đàn của thanh niên, cánh tay đắc lực của Đảng nhưng lại cầm dao thọc vào mạn sườn của Đảng. 
Thí dụ thứ nhất.
2016, khi NBCT của BN bị “Nhà nước” loại khỏi “Giải Nhà nước”, 17/07/2016, trên Báo Tiền phong, Nông Hồng Diệu đã viết bài “Nỗi buồn... Bảo Ninh” như một cuộc đồng khởi chống lại sự xét duyệt của nhà nước. Cụ thể, bài báo viết: “Tin Bảo Ninh “trượt” ở vòng cuối cùng xét giải thưởng Nhà nước đã làm giới văn chương choáng váng… Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam (Hữu Thỉnh) buông tiếng thở dài: Buồn vô cùng!”; “Nhà văn Trung Trung Đỉnh không còn giữ được bình tĩnh”; “Các nhà văn: Cao Duy Sơn, Dương Hướng, vô cùng ngạc nhiên”: “PSG.TS Lưu Khánh Thơ (em gái Lưu Quang Vũ) bày tỏ: “Bảo Ninh có lẽ là người xứng đáng nhất, “Nỗi buồn chiến tranh” là đỉnh cao về đề tài chiến tranh”; v.v… 
BN viết NBCT cho rằng cuộc chiến tranh do Đảng, Bác phát động, lãnh đạo để chống Mỹ và Ngụy quyền tay sai là “nỗi buồn”, là “nội chiến”, tức BN đã phủ nhận tính chính nghĩa, phủ nhận giá trị của cuộc chiến, vì vậy cả BN và những nhân vật trong “cuộc đồng khởi” ở Báo Tiền phong đã tự làm mình mù điếc mà không thấy rằng, Đảng, Bác gọi cuộc chiến tranh đó là “cuộc kháng chiến”, tức là cuộc chiến chống chiến tranh xâm lược chứ không phải là ta gây chiến; và giá trị của việc giành lại chủ quyền đất nước để VN ta được như hôm nay thì chỉ là con vật mới không nhận ra. Vậy Báo Tiền phong ghi rõ là “Cơ quan Trung ương của Đoàn TNCS HCM”, cơ quan báo chí của lực lượng “cánh tay phải của Đảng” đã đăng bài bảo vệ BN phủ nhận cuộc kháng chiến do Đảng, Bác phát động và lãnh đạo, chống ngoại xâm, giành lại chủ quyền đất nước thì Báo TP đúng là đã thọc dao vào mạn sườn của Đảng!!!
*** 
Ví dụ thứ hai.
 Tôi đã viết một bài có ý: “Trên báo Tuổi trẻ online, tờ báo của Đoàn Thanh niên, “cánh tay đắc lực” của Đảng bộ TPHCM, 20/08/2017, cũng đăng chình ình bài “Thừa nhận Việt Nam Cộng hòa là bước tiến quan trọng”. Như vậy, báo của Đoàn thanh niên đã thú nhận VN Dân chủ Cộng hòa, tiền thân của VN chúng ta hôm nay, đã xâm chiếm VNCH. Nhưng tại sao là “bước tiến”? Phải chăng là “bước tiến” cho mồ ma VNCH đòi lại lãnh thổ, nếu không được, VNCH hoàn toàn có chính nghĩa để tổ chức kháng chiến, kêu gọi thế giới ủng hộ, và đất nước chúng ta sẽ lại nhà tan cửa nát, lại máu chảy đầu rơi.

Trong bài báo trên, “nhà sử học” Nguyễn Nhã cho rằng để đòi lại Hoàng Sa từ TQ khi TQ cho là “đất vô chủ” thì phải thừa nhận VNCH để “bảo đảm tính pháp lý quốc tế liên tục”. Theo tôi (Đông La), cần phải đưa ra những tài liệu có tính pháp lý chứng nhận chủ quyền HS, TS thuộc VN. Khi Pháp xâm lược, rồi Mỹ nặn ra VNCH chiếm giữ, thì tất cả lãnh thổ thuộc VN thì vẫn là của VN, và khi VN tiến hành kháng chiến, giải phóng, giành lại được chủ quyền tất sẽ giành lại lãnh thổ, tất có quyền đòi lại những lãnh thổ thuộc về mình mà TQ chiếm giữ. Việc thừa nhận VNCH là chính danh, chính nghĩa để đòi HS từ TQ thật phi lý, ngớ ngẩn, và dại dột. Như vậy, TQ chỉ có thể trả HS lại cho VNCH, nhưng VNCH không còn họ trả cho ai?

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ KHOA HỌC VIỆN Kỹ THUẬT QUÂN SỰ 7 LẦN ĐOẠT GIẢI OLYMPIC TOÀN QUỐC!

     Huy Thành, học viên chuyên ngành Vũ khí, 7 lần "ẵm" giải nhất, nhì Olympic toàn quốc, toàn quân ở các lĩnh vực Vật lý, Cơ học, Tiếng Nga, trước khi tốt nghiệp thủ khoa Học viện Kỹ thuật quân sự.

Nguyễn Huy Thành, 23 tuổi, quê Bắc Ninh, hoàn thành 5,5 năm học ở Học viện Kỹ thuật quân sự với điểm tổng kết 8,69/10. Nhà trường hôm 13/12 cho biết Thành là thủ khoa, đứng đầu trong khoảng 520 học viên tốt nghiệp năm nay.

Kết quả này vượt xa mục tiêu của Thành. Hồi mới vào trường, nam sinh chỉ mong trong nhóm 70% có thành tích cao nhất để được phong hàm trung úy khi ra trường.

Thành có bố là sĩ quan quân đội, mẹ là giáo viên Tiếng Anh. Từ nhỏ, anh đã được dạy coi kỷ luật là yếu tố quan trọng để cố gắng mỗi ngày. Đến khi chọn trường, Thành đăng ký Học viện Kỹ thuật quân sự để được khoác bộ quân phục giống bố, trúng tuyển năm 2020.

Đặc thù trường quân đội là học viên phải trải qua 6 tháng huấn luyện trước khi học chuyên ngành. Chàng trai quê Bắc Ninh học chính trị, tập điều lệnh, bắn súng, ném lựu đạn, rồi tăng gia sản xuất. Nam sinh cũng làm quen với 11 chế độ trong ngày, đi hành quân, trực gác. Dù cường độ tập luyện cao, Thành đều vượt qua bởi đã lường trước.

Khó khăn lớn nhất với Thành là nhớ nhà. Đi huấn luyện đúng đợt Covid-19 bùng phát, Thành không được về nhà ăn Tết như các khóa khác. Dịp Tết năm sau đó, Thành vẫn trong thời gian cấm trại.

"Chưa bao giờ mình nhớ nhà đến vậy. Từ chỗ yêu thích ca khúc 'Đi về nhà', mình không dám mở lại", Thành kể.

Niềm an ủi lớn nhất với Thành là được phân công vào chuyên ngành Vũ khí như mong muốn. Bố luôn nói với Thành rằng vũ khí là phần quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội, học vất vả nhưng có nhiều cơ hội.

Dù có điểm học bạ THPT luôn trên 9, Thành thấy "ngợp" và chật vật ngay ở những môn đầu tiên như Giải tích do khối lượng kiến thức lớn. Anh phải nghiêm túc xem lại cách học, trở nên tập trung hơn, không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để hỏi thầy cô, bạn bè.

Theo ngành học đặc thù, nguồn tài liệu khan hiếm, Thành cũng phải chịu khó tìm đọc tài liệu bằng tiếng Việt hoặc Nga trên thư viện trường.

"May mắn chuyên ngành rất thú vị, được học về đủ loại vũ khí như tên lửa, các loại súng, pháo, khí tài hiện đại với những chuyên gia đầu ngành nên mình luôn hào hứng", Thành kể.

Ngoài học, Thành tham gia nghiên cứu khoa học. Nam sinh chủ trì đề tài "Nghiên cứu, tính toán thiết kế phương án động lực cho thủy lôi thềm lục địa PM-20", cùng một học viên khác, được xếp loại xuất sắc cấp học viện.

Theo Thành, nghiên cứu về thủy lôi là hướng đi mới, góp phần thực hiện nhiệm vụ phòng thủ biển đảo quê hương. Thành thấy may mắn khi được các thầy tin tưởng giao đề tài này nên dồn tâm sức để thực hiện.

Từ đề tài trên, Thành phát triển thành đồ án tốt nghiệp, đạt 9,2/10 điểm. Nam sinh là đồng tác giả ba bài báo khoa học trên các tạp chí trong nước và quốc tế với hướng nghiên cứu về thiết bị hoạt động trong môi trường nước.

Thành cũng là thành viên quen mặt trong các đội tuyển Olympic của trường. Nam sinh giành tới 7 giải Olympic toàn quân, toàn quốc ở các lĩnh vực Vật lý, Tiếng Nga, Cơ học, trong đó có hai giải nhất và 5 giải nhì. Học viện Kỹ thuật quân sự cho biết khá hiếm học viên đạt được nhiều giải Olympic như Thành.

Trong đó, giải nhất Olympic Tiếng Nga các học viện, trường sĩ quan toàn quân năm nay khiến Thành xúc động nhất.

Thành kể lên đại học mới bắt đầu học tiếng Nga, gặp nhiều khó khăn khi chữ viết khó, không cùng hệ Latin như tiếng Việt hay Anh, cách phát âm và ngữ pháp cũng rất phức tạp. Do sợ không đạt chuẩn tiếng Nga để tốt nghiệp loại giỏi, ở năm thứ tư, Thành đăng ký ôn luyện đội tuyển.

"Mình nghĩ nếu không đủ điều kiện đi thi Olympic toàn quân thì mình cũng có động lực học tốt hơn bởi được thầy cô kèm cặp thường xuyên", Thành nói.

Vào đội tuyển, Thành có hơn một tháng chỉ học tiếng Nga với đủ kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, hùng biện. Dù phải sắp xếp lại việc học và nghiên cứu khoa học để đảm bảo hoàn thành mọi đầu việc, Thành mãn nguyện khi được chọn đi thi, đạt giải nhất cá nhân và nhất đồng đội. Nam sinh cũng đạt 10/10 điểm thi Tiếng Nga tốt nghiệp.

PGS.TS. Thượng tá Nguyễn Văn Hưng, Chủ nhiệm Bộ môn Vũ khí, giảng viên hướng dẫn Thành nghiên cứu khoa học, nhìn nhận các thành tích trên là xứng đáng với khả năng, sự chủ động, ham tìm tòi của học trò.

"Chỉ cần tôi đưa ra vấn đề, bạn chủ động tìm phương án rồi hỏi xem có được không. Tôi đưa ra một thì bạn có thể tìm được ba. Sự chủ động đó là rất tốt", thầy Hưng nói.

Với các thành tích trong học tập, nghiên cứu, hoạt động đoàn hội, Thành nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Gương mặt trẻ triển vọng toàn quân năm 2024 cùng nhiều giấy khen, danh hiệu khác.

Thủ khoa Học viện Kỹ thuật quân sự cho biết đã điền nguyện vọng ở lại trường làm giảng viên, đang đợi quyết định phân công công tác.

"Nếu được công tác tại trường, đó sẽ là niềm vui nhân đôi với mình", Thành nói, cho biết em gái cũng vừa được tuyển chọn trở thành lưu học sinh quân sự tại Nga./.

Yêu nước ST.