Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CÓ DẤU HIỆU VI PHẠM PHÁP LUẬT!

     Lịch sử không phải món đồ trang trí trong chương trình giáo dục của một quốc gia. Lịch sử là “căn cước tinh thần” của một dân tộc. Nó dạy con trẻ biết tự hào, biết phân biệt chính - tà, biết yêu quý nền độc lập và căm ghét sự lệ thuộc. Ở bậc tiểu học, sách giáo khoa lịch sử lại càng quan trọng hơn, đó là lớp “màu nền” đầu tiên in vẽ vào trí óc học trò. Vì vậy, bất kỳ tranh cãi nào quanh sách giáo khoa lịch sử đều không thể bị coi nhẹ, càng không thể xử lý theo kiểu “chụp mũ” rồi đẩy qua hướng hình sự hóa theo cách quan quyền được.

Tuần qua, dư luận đặt câu hỏi rất rõ ràng và rất cụ thể rằng "SGK Lịch sử – Địa lí lớp 5 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) có dạy về Hoàng đế Quang Trung hay không?" Người ta không hỏi lớp 8, không hỏi lớp 11, không hỏi “toàn chương trình”. Người ta hỏi đúng một cuốn sách giáo khoa "Lịch sử - địa lý lớp 5".

Vậy mà phản ứng của cơ quan quản lý lại khiến xã hội bức xúc, Bộ GD&ĐT thông qua truyền thông chính thống gắn nhãn các phản ánh đó của nhân dân là “thất thiệt/xuyên tạc”, rồi còn đề nghị cơ quan công an xem xét xử lý. Trên Báo Điện tử Chính phủ, thông tin được nêu theo hướng Bộ cho rằng có hiện tượng phát tán nội dung sai sự thật, bóp méo chương trình giáo dục và đề nghị xử lý. Đó là động tác rất nặng về pháp lý và rất mạnh về quyền lực nhà nước. 

Nhưng xin hỏi thẳng rằng: Bộ đã chứng minh được điều mình kết luận chưa?

Muốn trả lời, không cần tranh cãi cảm tính. Chỉ cần nhìn vào chứng cứ văn bản.

Trong mạch nội dung lịch sử của SGK Lịch sử – Địa lí 5 (Kết nối tri thức - xem ảnh dưới), phần lịch sử đi theo chuỗi bài từ Bắc thuộc, nhà Lý, nhà Trần, Lam Sơn – Hậu Lê… rồi chuyển sang bài “Triều Nguyễn”; không có một bài/tiết riêng về Tây Sơn – Quang Trung trong mạch lớp 5. Và ngay trong bài “Triều Nguyễn”, sách nêu “Năm 1802, sau khi đánh bại Triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua…” rồi triển khai nội dung về triều Nguyễn.

Nói cách khác, trong phạm vi SGK lớp 5, học sinh có thể thấy “Tây Sơn” xuất hiện chưa tới "mười chữ" và được diễn đạt là đối tượng “bị đánh bại”, còn phần được trình bày thành bài, thành mục, thành hoạt động học chính là “Triều Nguyễn”. Nếu hiểu “dạy về Quang Trung” theo nghĩa thông thường và đúng nghiệp vụ sư phạm là phải có bài, có kiến thức trọng tâm, có câu chuyện, có luyện tập – vận dụng, thì dư luận nói “lớp 5 không dạy về Quang Trung” không phải là câu nói vô căn cứ.

Và đây là điểm quyết định đúng/sai đây thưa Bộ GD-ĐT... rằng nếu dân nói đúng trong phạm vi SGK lớp 5, thì việc Bộ dùng truyền thông để quy kết “xuyên tạc” và đề nghị công an xử lý không còn là chuyện “truyền thông vụng” nữa. Nó đã chạm vào một vùng rủi ro pháp quyền là cơ quan nhà nước gán nhãn sai sự thật đối với phản ánh có căn cứ, gây tổn hại danh dự – uy tín của công dân và tạo hiệu ứng “đe nẹt” - thậm chí có thể gọi nặng nề hơn là "đàn áp dư luận".

Trong nhà nước pháp quyền, mọi quyền lực đều phải đứng sau pháp luật và đứng trên chứng cứ. Hiến pháp khẳng định "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, kiến nghị, phản ánh". Quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin cũng là quyền hiến định (thực hiện theo quy định pháp luật). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở nhấn mạnh việc tôn trọng ý kiến đóng góp của Nhân dân.

Vậy thì người dân mở sách ra, thấy SGK lịch sử - địa lý lớp 5 không có bài về vua Quang Trung, rồi đặt câu hỏi “vì sao?”—đó là quyền, là trách nhiệm, là cách bảo vệ sự thật lịch sử. Nhà nước mạnh là nhà nước biết lắng nghe; ngành giáo dục mạnh là ngành giáo dục biết đối thoại bằng chứng cứ.

Còn khi Bộ vội vã kết luận và “đẩy” sang công an xử lý, lại còn biện minh bằng cách lôi lớp 8 – lớp 11 ra chứng minh là có dạy về vua Quang Trung, thì đó là một lối lập luận đánh tráo khái niệm, vì dân hỏi “lớp 5 có dạy hay không”, Bộ lại trả lời “toàn chương trình giáo dục phổ thông có”. Hai câu đó không hề tương đương. Và càng không thể lấy câu thứ hai để kết tội câu thứ nhất là “xuyên tạc”. Một xã hội nghiêm minh không cho phép đánh tráo sự thật như vậy.

Ở đây, nhiều người đã nhắc đến khái niệm “vu khống”. Pháp luật hình sự quy định tội vu khống là bịa đặt/loan truyền điều biết rõ là sai nhằm xúc phạm danh dự, gây thiệt hại… Tôi không thay cơ quan tố tụng kết luận một cơ quan nhà nước “phạm tội”. Nhưng tôi có quyền và có cơ sở để nói điều này, là Bộ GD&ĐT đang có dấu hiệu lạm dụng ngôn từ pháp lý và quyền lực truyền thông để quy chụp dư luận, trong khi mệnh đề bị quy chụp lại có căn cứ trong chính cuốn SGK lớp 5.

Nói cho đúng bản chất vấn đề, nếu Bộ muốn bảo vệ uy tín, cách duy nhất là chứng minh bằng chứng cứ. Chỉ cần một động tác rất đơn giản là công bố rõ trong SGK lớp 5 có trang nào, mục nào dạy về vua Quang Trung (nếu có). Còn nếu không có, thì Bộ phải thẳng thắn thừa nhận rằng “Dư luận phản ánh đúng phạm vi lớp 5; Bộ đã dùng từ quá mức; Bộ xin lỗi vì đã gây tổn thương và gây hoang mang.” Không ai mất uy tín vì dám xin lỗi khi sai; chỉ mất uy tín khi cố đúng bằng quyền lực.

Vì vậy, điều nhân dân cần lúc này không phải những lời “dạy” rằng "hãy lý trí, đừng tin tin đồn". Nhân dân cần ba việc rất cụ thể:

Thứ nhất, một lời xin lỗi công khai từ Bộ GD&ĐT vì đã quy kết rộng rãi và gắn nhãn nặng nề đối với phản ánh có căn cứ, gây tổn hại danh dự công dân và làm tổn thương niềm tin xã hội.

Thứ hai, một giải trình đúng trọng tâm là trong phạm vi SGK lớp 5, vì sao không bố trí nội dung về Quang Trung – triều đại Tây Sơn một cách tương xứng, trong khi lại để học sinh tiếp cận ngay mốc “đánh bại Tây Sơn” rồi chuyển sang triều Nguyễn. Đây là vấn đề sư phạm, tâm lý lứa tuổi và định hướng nhận thức, không thể nói qua loa.

Thứ ba, đề nghị cơ quan chức năng và ngành công an xem xét trách nhiệm pháp lý – trách nhiệm quản trị đối với việc phát ngôn, truyền thông quy chụp của Bộ. Nếu nội dung quy kết “xuyên tạc” là không đúng trong phạm vi SGK lớp 5, thì phải làm rõ ai tham mưu, ai ký, ai chịu trách nhiệm, và chấn chỉnh để không biến công cụ công quyền thành cây gậy đi dọa nhân dân.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng không phải là bịt miệng dân. Đấu tranh đúng là đặt sự thật lên trên, đặt chứng cứ lên trước, và đặt lòng dân làm gốc. Lịch sử dạy ta một điều đơn giản là triều đại nào đi ngược lòng dân thì sớm muộn cũng mất lòng dân. Ngành giáo dục càng phải nhớ điều đó. Bởi không ai có thể dạy trẻ em “tôn trọng sự thật” trong khi người lớn lại né tránh sự thật.

Nếu Bộ GD&ĐT thật sự vì giáo dục, thì xin hãy bắt đầu từ hành động căn bản nhất của một cơ quan nhà nước trong nhà nước pháp quyền, đó là nhìn thẳng vào chứng cứ, nhận sai khi sai, xin lỗi khi cần xin lỗi. Nhân dân không đòi điều gì quá đáng. Nhân dân chỉ đòi một thứ: sự tử tế và sự thật./.
Môi trường ST.

SỰ KIỆN TỔNG THỐNG MỸ BẮT CÓC TỔNG THỐNG VENEZUELA: LUẬT PHÁP TRONG TAY KẺ MẠNH!

     Chiến dịch ngang ngược “Absolute Resolve”: Lực lượng Delta Force đã bắt Tổng thống Maduro như thế nào?

Đây không phải là một quyết định bộc phát.

Chiến dịch bắt giữ Nicolás Maduro, mang mật danh Operation Absolute Resolve, đã được lên kế hoạch trong nhiều tháng, với một nhóm nòng cốt gồm Stephen Miller, Marco Rubio, Pete Hegseth và Giám đốc CIA John Ratcliffe thường xuyên họp với Tổng thống Trump và nội gián Venezuela .

Lực lượng Delta Force dựng bản sao y hệt nơi ẩn náu an toàn của Maduro và diễn tập cuộc đột kích nhiều lần.

CIA đã triển khai một nhóm nhỏ tại Venezuela , từ tháng 8 để theo dõi di chuyển của ông ta.

Họ cũng có một nguồn tin nội gián rất gần với Maduro, có thể xác định chính xác vị trí của ông ta khi chiến dịch bắt đầu.

Lầu Năm Góc âm thầm điều động hỏa lực khổng lồ vào vùng Caribe: một tàu sân bay, 11 tàu chiến, hơn một chục tiêm kích F-35, máy bay tiếp nhiên liệu, UAV và máy bay gây nhiễu điện tử.

Hơn 15.000 binh sĩ được đưa vào khu vực dưới vỏ bọc các chiến dịch chống ma túy.

Trump phê duyệt nhiệm vụ 4 ngày trước, nhưng các nhà hoạch định quân sự đề nghị chờ thời tiết tốt hơn và ít mây hơn.

Lúc 10:46 tối (giờ EST) hôm qua, ông đưa ra lệnh cuối cùng.

Hơn 150 máy bay xuất phát từ 20 căn cứ trên khắp Tây Bán Cầu - gồm F-35, F-22 và máy bay ném bom B-1 - tấn công các hệ thống phòng không quanh Caracas.

Trump theo dõi phát trực tiếp từ Mar-a-Lago khi Lực lượng Đặc nhiệm bay vào thủ đô ở độ cao thấp, dưới hỏa lực dày đặc.

Một trực thăng trúng đạn nhưng vẫn tiếp tục bay. Người dân đăng video ghi lại đoàn xe.

Binh sĩ mang theo đèn khò để cắt các cánh cửa thép.

Khi họ phá vỡ “pháo đài” của Maduro, ông ta cố chạy vào phòng an toàn nhưng bị ập vào quá nhanh nên không kịp đóng cửa.

Ông ta và vợ đầu hàng trước Lực lượng Đặc nhiệm và các đặc vụ FBI bên trong.

Trong lúc rời lãnh thổ Venezuela, nhiều cuộc đấu súng nổ ra.

Đến 3:20 sáng, trực thăng đã ra tới vùng biển, Maduro bị bịt mắt và còng tay.

7 giờ sau, Trump đăng ảnh ông ta trên boong tàu USS Iwo Jima.
...........
Một nhân vật cấp cao cạnh tổng thống Venezuela Marudo đã bán đứng ông với giá 50 triệu USD cho Mỹ.Có thông tin cho rằng chính lực lượng đặc nhiệm bảo vệ phủ tổng thống đã bắt ông ngay trên giường ngủ rồi giao cho Mỹ.Đây là lí do vì sao không thấy quân đội Venezuela phản ứng khi trực thăng Mỹ bay vào thủ đô Caracas như chỗ không người.

Tổng thống bị quân đội quốc gia nhận tiền ngoại bang làm phản thì thua rồi./.

Ảnh 1. Trên trang của tt Mỹ D. Trump
Ảnh 2. Mỹ ra giá của tt Venezuela
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: VIỆT NAM MỚI HÒA BÌNH - CHƯA CÓ THÁI BÌNH - KHI CHÚNG TA CÒN TỰ CHIA RẼ CHÍNH MÌNH!

     Việt Nam đã hòa bình, nhưng chưa thật sự thái bình. Bởi chiến tranh có thể kết thúc bằng súng đạn, còn vết thương dân tộc chỉ lành khi con người thôi quay lưng với nhau.
Những năm gần đây, một thứ rất nguy hiểm đang len lỏi:
– Phân biệt vùng miền
– Lật sử có chủ đích
– Tôn thờ phương Tây như chân lý
– Và coi việc đấu tố Cộng sản là “khai sáng”
Nguy hiểm ở chỗ: những luận điệu ấy không bắn một viên đạn nào, nhưng có thể làm tan rã một dân tộc từ bên trong:
1) Bắc - Nam không phải hai phe, mà là hai bờ vai của một thân thể: 
Không có miền Bắc thì không có Điện Biên Phủ. Không có miền Nam thì không có Trường Sơn - không có ngày thống nhất.
Máu đổ ở Quảng Trị, ở Củ Chi, ở Đồng Tháp, ở Hà Nội… đều là máu người Việt.
Chia Bắc - Nam để hằn thù hôm nay là phản bội xương máu hôm qua.
Ai còn nuôi tư tưởng “miền này tốt - miền kia xấu” là đang tự chặt rễ chính mình.

2) Lật sử không phải tranh luận - đó là xúc phạm tiền nhân: 
Tranh luận lịch sử là cần thiết.
Nhưng bẻ cong lịch sử, đổi nghĩa từ ngữ, dán nhãn phản động cho anh hùng dân tộc thì không phải học thuật, mà là phá gốc.
Không có Lý - Trần thì không có bờ cõi hôm nay. Không có Quang Trung thì đã có một cuộc Bắc thuộc mới. Không có hàng triệu người ngã xuống trong thế kỷ XX thì không có một Việt Nam độc lập để ngồi chê trách.
Ai ngồi trong hòa bình mà nhạo báng người tạo ra hòa bình, thì đó không phải là tỉnh táo - đó là vô ơn.

3) Thờ phương Tây mù quáng không phải văn minh, mà là mất tự trọng: 
Học cái hay của phương Tây là đúng.
Nhưng tôn thờ vô điều kiện, coi họ luôn đúng, luôn cao thượng, còn dân tộc mình luôn sai, luôn thấp kém - đó không phải là khai sáng.
Đó là đổi chủ trong tư duy.
Một dân tộc trưởng thành là dân tộc:
– biết học hỏi
– biết phê phán
– và biết đứng thẳng
Không cúi đầu trước cường quốc nào.
Không tự đánh mình để làm vừa lòng người khác.

4) Đấu tố Cộng sản bằng thù hằn là con đường cụt: 
Có quyền phê phán chính sách.
Có quyền chỉ ra sai lầm.
Nhưng đấu tố bằng hằn thù, bằng xuyên tạc, bằng phủ định sạch trơn lịch sử dân tộc thì không xây được gì cả.
Chê trách mà không đưa giải pháp là phá.
Chống mà không hiểu lịch sử là mù.
Và nguy hiểm nhất là lấy thù hằn làm bản sắc.

5) Ơn với anh hùng dân tộc không phải là khẩu hiệu: 
Ơn không phải để treo miệng.
Ơn là biết mình từ đâu mà có.
Biết rằng:
–  Mỗi tấc đất có giá
– Mỗi ngày yên ổn là thành quả
– Và độc lập không phải món quà được phát miễn phí
Ai coi thường điều đó, sớm muộn cũng phải trả giá - không bằng máu thì bằng lệ thuộc.

LỜI KẾT: 
Việt Nam chưa thái bình vì chúng ta chưa thống nhất trong nhận thức.
Khi còn chia rẽ, còn lật sử, còn cúi đầu thờ ngoại bang và quay lưng với tiền nhân, thì hòa bình chỉ là trạng thái tạm thời.
Bắc Nam là một nhà.
Lịch sử là nền móng.
Dân tộc là giới hạn cuối cùng không được bước qua.
Ai vượt qua ranh giới đó, dù nhân danh điều gì, cũng đang đứng về phía đối lập với chính dân tộc mình./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM “XÁC LẬP MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI TRƯỚC HẾT PHẢI CHUYỂN ĐỔI MẠNH MẼ VỀ TƯ DUY”!

     Ngày 7-1, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương về định hướng xây dựng 2 nghị quyết: Về đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; về các giải pháp chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng 2 con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Tham dự buổi làm việc có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trần Cẩm Tú, Thường trực Ban Bí thư; Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo Chính phủ, Quốc hội, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương.

Tại buổi làm việc, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã trình bày báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu nội dung xây dựng 2 nghị quyết của Trung ương. Nhiều đại biểu tập trung đóng góp ý kiến tâm huyết, trí tuệ, trách nhiệm, giàu tính thực tiễn, đóng góp nhiều nội dung quan trọng để hoàn thiện các nội dung liên quan.

Phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, yêu cầu quan trọng và cấp bách của việc chuyển đổi mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ và việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới. Kết quả nghiên cứu bước đầu của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương là khá toàn diện, đề xuất được những chủ trương, giải pháp lớn để thực hiện những yêu cầu này.

Tổng Bí thư đề nghị Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện 2 Dự thảo Nghị quyết quan trọng trình Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương theo quy định.

Về yêu cầu chung, Tổng Bí thư chỉ rõ, việc xây dựng 2 nghị quyết phải đạt 5 yêu cầu: Phải bám sát và thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, mục tiêu được nêu trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; phải có tầm nhìn xa, bao quát, đủ chiều sâu, không bị bó hẹp bởi lợi ích ngắn hạn hay tư duy nhiệm kỳ; phải xuất phát từ thực tiễn, đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam, không rập khuôn máy móc theo mô hình nào của nước ngoài; bảo đảm tính khả thi và tính hành động cao, gắn với lộ trình, bước đi, nguồn lực thực hiện; phải có tính hiệu triệu, truyền cảm hứng, tạo được sự thống nhất cao trong toàn Đảng và hệ thống chính trị, sự đồng thuận trong xã hội và khơi dậy khát vọng cống hiến, khát vọng vươn lên của dân tộc bằng tri thức và sáng tạo.

Về một số định hướng lớn, Tổng Bí thư đề nghị, chuyển đổi mô hình phát triển và xác lập mô hình tăng trưởng mới trước hết là chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy, từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu; từ dựa vào tài nguyên và lao động giản đơn sang dựa vào tri thức, công nghệ và năng suất; từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ Nhà nước “làm thay” sang “tạo điều kiện để xã hội và doanh nghiệp sáng tạo”.

Phát huy đầy đủ vai trò của các thành phần kinh tế (kinh tế Nhà nước dẫn dắt, kiến tạo, mở đường; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia).

Tổng Bí thư yêu cầu nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa ổn định và phát triển. Phát triển nhanh nhưng phải bền vững, gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống nhân dân. Tăng trưởng cao nhưng phải trên nền tảng ổn định, lấy ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn là điều kiện tiên quyết, hàng đầu.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ không chỉ là yêu cầu về kinh tế, mà là vấn đề chiến lược tổng hợp, góp phần nâng cao hiệu suất quốc gia, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý, quản trị của Nhà nước, hoàn thiện thể chế, phát triển con người, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia. Đây là con đường bắt buộc phải thực hiện để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm của đất nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Mọi quyết sách về phát triển đều phải đặt trong tổng thể này.

Xác lập rõ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của mô hình phát triển mới, mô hình tăng trưởng mới và là yếu tố căn cốt nhất để thực hiện mục tiêu tăng trưởng dài hạn 2 con số. Đồng thời, xác định con người là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển đất nước, là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển. Phát triển khoa học, công nghệ phải gắn với phát triển con người Việt Nam toàn diện, có tri thức, bản lĩnh, đạo đức và khát vọng cống hiến.

Tổng Bí thư lưu ý, tăng trưởng và phát triển cần đi liền với tăng cường tự chủ chiến lược quốc gia trên các lĩnh vực; củng cố quốc phòng, an ninh; nâng cao tính tự chủ, tự lực, tự cường của nền kinh tế là cơ sở để chủ động đối phó với những yếu tố nhanh, bất định của tình hình bên ngoài; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới; phát huy cao độ dân chủ, trí tuệ xã hội và khát vọng sáng tạo của toàn dân, tạo sự đồng thuận và quyết tâm chính trị cao trong toàn hệ thống chính trị.

Về lộ trình thời gian và phân công trách nhiệm, Tổng Bí thư đề nghị Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tiếp tục chủ trì phối hợp với các cơ quan khẩn trương nghiên cứu xây dựng 2 nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; về các giải pháp chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng 2 con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Tại buổi làm việc, Tổng Bí thư cho rằng, cần xây dựng nghị quyết về xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, phát triển; đề nghị Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với các cơ quan nghiên cứu xây dựng và trình Trung ương trong năm 2026.

Với các nghị quyết lớn được giao, trách nhiệm của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương sẽ rất nặng nề, Tổng Bí thư đề nghị cần tập trung cao độ về thời gian và tâm sức, chủ động nghiên cứu sâu lý luận và tổng kết thực tiễn, không ngại đổi mới tư duy, không né tránh vấn đề khó; huy động trí tuệ của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước, tham mưu cho Trung ương những nội dung đột phá thực sự, góp phần phát triển đất nước trong giai đoạn tới./.

Yêu nước ST.

TỈNH TÁO VỚI CHIÊU TRÒ MƯỢN CÁC DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ ĐỂ CHỐNG PHÁ!

     Trong thời đại công nghệ số với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, tư tưởng của con người rất dễ bị chi phối bởi các dòng thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là khi nó được thế lực thù địch, cơ hội chính trị mượn các diễn ngôn chính trị làm phương tiện để thao túng. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện và phê phán những chiêu trò ẩn giấu sau những diễn ngôn chính trị là rất cần thiết, có ý nghĩa góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những hệ lụy khôn lường từ diễn ngôn “đồng phục tư tưởng”

Diễn ngôn chính trị là kiểu diễn ngôn đề cập đến các vấn đề quản lý xã hội, khi nó thể hiện mối quan tâm của con người đối với các vấn đề quản lý nhà nước. Diễn ngôn chính trị không chỉ giới hạn trong phát biểu của các chính trị gia mà còn được thể hiện qua các văn kiện pháp lý, chiến dịch truyền thông, các cuộc tranh luận công khai và hiện nay nó tồn tại cả ở các phương tiện truyền thông đại chúng, trên các nền tảng mạng xã hội hiện đại. Do tính đa nghĩa, linh hoạt và dễ bị “diễn giải lại” bởi các chủ thể khác nhau nên diễn ngôn chính trị luôn chứa đựng cả yếu tố tích cực và tiêu cực.

“Đồng phục tư tưởng” là một diễn ngôn chính trị đã xuất hiện từ lâu, nhưng gần đây nhất nó được các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến mang tâm thế chống phá “diễn lại” qua một số bài viết trên mạng xã hội. Ẩn chứa đằng sau cụm từ gợi hình này là những chiêu trò mang vẻ “khoa học giả định” nhưng lại nhằm mục đích phê phán, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi nhắc đến “đồng phục tư tưởng”, nhiều người, nhất là những người thiếu nhãn quan chính trị sắc bén sẽ dễ dàng chấp nhận nó và xem đó là cách “đặt lại vấn đề” về sự đa dạng tư tưởng, dung nạp chính trị và sự tôn trọng lịch sử đa chiều, mà đâu biết rằng nó đã và đang tạo ra những hệ lụy hết sức nguy hại trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, tạo ra sự hoài nghi đối với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi sử dụng diễn ngôn “đồng phục tư tưởng”, các thế lực thù địch đã cố tình dùng lối nói bóng bẩy nhằm gán ghép sự lãnh đạo tư tưởng của Đảng thành thứ gì đó “áp đặt”, “độc đoán”. Đây là cách họ tiêm nhiễm công chúng, khiến một số người, nhất là giới trẻ và những người chưa có hiểu biết lý luận dần nghi ngờ và không còn tin tưởng vào hệ tư tưởng của Đảng. Một khi sự nghi ngờ len lỏi, họ sẽ nghĩ rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh “đã lỗi thời” hoặc “không còn phù hợp” và dần mất niềm tin. Khi gán nhãn “đồng phục tư tưởng” lên Chủ nghĩa Mác-Lênin và tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch còn hướng tới phủ định công lao và nỗ lực phát triển lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Không tỉnh táo trước diễn ngôn này, người dân sẽ ngộ nhận rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam không có sự đổi mới trong tư duy, tư tưởng mà chỉ có sự rập khuôn máy móc, chỉ có “một màu duy nhất”, và khi đó, niềm tin vào nỗ lực đổi mới của Đảng bị suy giảm, không chỉ trong nhân dân, mà thậm chí còn cả trong chính nội bộ Đảng.

Thứ hai, chia rẽ và kích hoạt xung đột nhận thức. Khi bị tiêm nhiễm vào cái gọi là “đồng phục tư tưởng”, nhiều người sẽ cho rằng sự thống nhất trong công tác tư tưởng là “sự ép buộc” và không thấy được sự cần thiết của tính thống nhất trong đường lối cách mạng. Diễn ngôn này đã và đang tạo ra sự xung đột, phân hóa giữa các thế hệ và các vùng miền. Chẳng hạn, một bộ phận những người từng gắn bó với chế độ cũ (hoặc thế hệ kế cận họ), khi nghe đến cụm từ “đồng phục tư tưởng”, họ dễ liên tưởng đến hình ảnh bị “áp đặt”.

Trong khi đó, một số người hoặc các thế hệ trẻ lớn lên trong thời bình, ít va chạm trực tiếp với quá khứ lại không chia sẻ cảm xúc hoặc ít đồng cảm. Hệ quả là, thay vì tìm thấy mẫu số chung để hòa giải ký ức và tăng cường gắn kết, các bên lại sa vào những tranh luận không đáng có, nhất là khi lại dựa trên cảm xúc lịch sử nhiều hơn lý trí và sự thấu hiểu toàn diện. Điều này vô tình “đóng băng” những mâu thuẫn lịch sử vốn có thể được hóa giải qua đối thoại và xây dựng niềm tin. Diễn ngôn “đồng phục tư tưởng” đã lợi dụng chính những vết rạn lịch sử và cảm xúc chia rẽ, biến nó thành chất xúc tác cho xung đột ý thức hệ, từ đó kích động và khơi dậy những nghi ngờ đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ ba, tạo ra nguy cơ “phân mảnh” hệ giá trị trong một xã hội đang cần sự đồng thuận cao. Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, khi những biến động địa-chính trị, xung đột lợi ích, khủng hoảng giá trị và âm mưu “diễn biến hòa bình” len lỏi vào mọi ngóc ngách đời sống, thì sự nhất quán trong hệ giá trị cốt lõi càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Với Việt Nam, hệ giá trị đó chính là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Đây không phải là khuôn mẫu khép kín, mà là nền tảng linh hoạt, dẫn dắt tiến trình đổi mới tư duy và hành động một cách kiên định... Vậy nên, diễn ngôn “đồng phục tư tưởng” chính là thủ đoạn nhằm gieo rắc sự hoài nghi đối với tính chính danh và khả năng quy tụ niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, làm lệch hướng phản biện, dễ dẫn tới phản kháng cực đoan hoặc thờ ơ chính trị. Khi “đánh đồng” tư tưởng và công tác tư tưởng là một dạng “đồng phục”, các thế lực thù địch đã sử dụng thủ pháp đánh tráo khái niệm nhằm tầm thường hóa tư tưởng (vốn là nền tảng nhận thức, lập trường và phương hướng hành động) như một dạng hình thức bề ngoài có thể thay đổi tùy hứng. Bởi trong lẽ thông thường, “đồng phục” thường gợi liên tưởng về sự đồng đều, thống nhất, nhưng đồng thời cũng ngầm ám chỉ sự đồng hóa, mất cá tính. Đây là cách họ dẫn dắt đến luận điểm: Nếu tư tưởng chỉ là “đồng phục” thì nên được “đổi mẫu”, “thay mới” theo mùa, theo thời gian, vì thế, nó cũng khiến người dân rơi vào tình trạng thờ ơ chính trị và cho rằng “tư tưởng nào cũng được, không cần quan tâm”.

Thực tiễn ở Việt Nam không có cái gọi là “đồng phục tư tưởng”

Về bản chất, diễn ngôn chính trị thường mang tính đa nghĩa, linh hoạt và dễ bị “diễn giải lại”. Tuy nhiên, cái nguy hại không thể hiện ở diễn ngôn, mà nằm ở cách diễn ngôn đó được dùng để đánh tráo khái niệm. Vậy nên, chúng ta cần lý trí tỉnh táo để nhận diện, cần bản lĩnh để phản biện và cần tri thức để lý giải thấu đáo, khoa học.

Trước hết, cần nói rằng, tư tưởng không phải “đồng phục”, mà là cốt lõi của bản lĩnh dân tộc. Tư tưởng là những suy nghĩ, quan điểm, niềm tin mang tính cá nhân. Nhưng khi vượt ra khỏi giới hạn cá nhân để hòa quyện với những đòi hỏi sâu xa của thời đại, với nhu cầu vận động của xã hội và lịch sử thì nó không còn là tư tưởng đơn lẻ mà trở thành hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng không phải là sản phẩm tức thời hay ngẫu nhiên. Nó được hình thành qua quá trình kết tinh lịch sử: Từ điều kiện vật chất-xã hội cụ thể, từ lợi ích và yêu cầu chính đáng của các giai cấp, từ chiều sâu văn hóa-lịch sử và đặc biệt từ vai trò sáng tạo, tổng kết, lý giải thực tiễn của con người. Vì thế, hệ tư tưởng không thể bị giản lược, không thể xếp vào thứ “trang phục” tinh thần theo kiểu “khoác lên” rồi “cởi bỏ”. Ví von tư tưởng là “đồng phục” để rồi hô hào “cởi bỏ” là một chiêu trò nhằm tầm thường hóa những gì thuộc về chiều sâu lý luận chính trị khoa học và bản lĩnh dân tộc. 

Với Việt Nam, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn. Đây không phải là “bộ cánh của quá khứ” mà là kim chỉ nam, được kiểm nghiệm qua thực tiễn và tiếp tục soi đường trong kỷ nguyên mới.

Trong dòng chảy lịch sử, thế giới từng chứng kiến nhiều mô hình chính trị khắc nghiệt, nơi tư tưởng bị đồng hóa, sáng tạo bị trấn áp và phản biện trở thành điều cấm kỵ. Nhưng tại Việt Nam, thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã cho thấy một hướng đi khác: Không gian tư tưởng không bị bóp nghẹt mà được nuôi dưỡng trong tinh thần đổi mới, khoa học và nhân văn. Đảng không chỉ kiên định với nền tảng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn chủ động cập nhật yêu cầu thời đại, mở rộng cánh cửa cho phản biện xây dựng và sáng tạo đổi mới. Phản biện không bị xem là đối lập mà được xem là nghĩa cử có trách nhiệm với sự nghiệp phát triển đất nước. Sáng tạo không bị gò bó, mà được khơi nguồn từ chính thực tiễn đời sống sôi động, từ tiếng nói của nhân dân, của trí thức, nhà khoa học, cán bộ, đảng viên.

Thực tiễn 40 năm đổi mới của Việt Nam đã chứng minh rõ ràng: Đất nước không ngừng hoàn thiện, tự điều chỉnh và phát triển dựa trên một nền tảng tư tưởng vững chắc, linh hoạt, sáng tạo. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nền tảng trụ cột, định hướng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. 

Những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua không chỉ là sự tăng lên của các chỉ số, chỉ tiêu mà còn là chứng cứ sống động cho thấy tư duy lãnh đạo của Đảng không rập khuôn, không giáo điều và luôn vận động, sáng tạo để thích nghi và dẫn dắt Nhà nước và xã hội. Từ một quốc gia nghèo nàn, phụ thuộc vào viện trợ, sau 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Việt Nam đã vươn mình trở thành một trong những nền kinh tế năng động với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) duy trì ở mức ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; đời sống người dân không ngừng cải thiện, chỉ số phát triển con người (HDI) tăng liên tục. Những kết quả này là nhờ Đảng ta kịp thời nắm bắt những chuyển biến của tình hình và xử lý thích ứng, linh hoạt với sự biến động bất thường, tận dụng các cơ hội, vượt qua thách thức, lãnh đạo nhân dân xây dựng và phát triển đất nước, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Những thành tựu mà chúng ta đạt được là những minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã lựa chọn. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định, ở Việt Nam hoàn toàn không tồn tại cái gọi là “đồng phục tư tưởng” mà các thế lực thù địch rêu rao, bịa đặt./.
Môi trường ST.

CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CHO NHỮNG KẺ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM!

     Ngày 31-12-2025, Tòa án nhân dân TP Hà Nội mở phiên tòa xét xử Lê Trung Khoa và Nguyễn Văn Đài cùng đồng bọn về tội chống phá Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Phiên tòa, dù xét xử vắng mặt một số bị cáo, không chỉ là hoạt động tố tụng bình thường, mà là sự khẳng định dứt khoát: Không có “vùng an toàn” cho hành vi chống phá có tổ chức, có chủ ý; mọi ảo tưởng núp bóng “tự do ngôn luận”, “bất đồng chính kiến” đều phải trả giá trước pháp luật.

Không phải đến khi phiên tòa diễn ra, thông điệp ấy mới được phát đi. Trên thực tế, hệ thống pháp luật Việt Nam từ lâu đã xác lập một nguyên tắc rõ ràng: Mọi hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, dù thực hiện ở đâu, bằng hình thức nào, đều không thể đứng ngoài sự điều chỉnh của pháp luật. Khoảng cách địa lý không làm thay đổi bản chất hành vi; việc cư trú ở nước ngoài không tạo ra “lá chắn miễn trừ”.

Vụ án Lê Trung Khoa cho thấy rõ một xu hướng đặc biệt nguy hiểm: Chống phá Nhà nước bị thương mại hóa. Dưới vỏ bọc “truyền thông độc lập”, các nội dung xuyên tạc, bịa đặt được sản xuất liên tục như một dây chuyền, với mục tiêu chính không phải phản biện xã hội, mà là thu lợi. Lượt xem, lượt tương tác, trong đó khoảng 90% đến từ Việt Nam, được quy đổi trực tiếp thành tiền quảng cáo, tài trợ. Càng gây sốc, càng cực đoan, càng kích động, thì nguồn thu cá nhân càng tăng.

Chính động cơ trục lợi ấy đã đẩy Lê Trung Khoa ngày càng đi xa khỏi mọi giới hạn pháp luật. Việc cố tình bóp méo sự thật, thổi phồng mâu thuẫn, sử dụng ngôn từ công kích, hình ảnh gây phản cảm không nhằm “thức tỉnh xã hội”, mà nhằm giữ chân người xem và duy trì dòng tiền. Khi lợi ích cá nhân trở thành mục tiêu, thì mọi giá trị đạo đức, trách nhiệm xã hội đều bị gạt sang một bên.

Nguy hại hơn, đây không phải là hành vi đơn lẻ. Quá trình điều tra cho thấy sự câu kết có hệ thống giữa Lê Trung Khoa với các phần tử phản động lưu vong như Vũ Quốc Phương, Vũ Quốc Dụng, Nguyễn Văn Đài… Một mạng lưới được hình thành, có sự phối hợp, phân vai, hỗ trợ lẫn nhau, cùng hướng tới mục tiêu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thực tế này bác bỏ hoàn toàn luận điệu “ý kiến cá nhân” hay “phát biểu độc lập” mà các đối tượng thường dùng để ngụy biện.

Trường hợp Nguyễn Văn Đài càng cho thấy rõ bản chất ngoan cố và coi thường pháp luật. Là người từng được hưởng chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam, được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để xuất cảnh chữa bệnh nhưng sau khi ra nước ngoài, Nguyễn Văn Đài không những không hối cải, mà tiếp tục con đường cũ. Thông qua hàng loạt tài khoản mạng xã hội, blog, kênh youtube do Đài trực tiếp quản lý, đối tượng này liên tục phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc tình hình trong nước, phỉ báng vai trò lãnh đạo của Đảng, gieo rắc tâm lý hoài nghi và đối kháng trong xã hội.

Những hoạt động đó không phải phản biện mang tính xây dựng, càng không phải trao đổi học thuật. Đó là hành vi tuyên truyền chống Nhà nước có chủ ý, kéo dài, gây tác động tiêu cực rõ rệt, và vì thế, việc xử lý bằng pháp luật hình sự là điều tất yếu.

Phiên tòa ngày 31-12-2025 tại Tòa án nhân dân TP Hà Nội là kết cục của một chuỗi hành vi vi phạm pháp luật có tổ chức. Xét xử vắng mặt không làm giảm hiệu lực của bản án; ngược lại, nó cho thấy quyết tâm của Nhà nước trong việc bảo vệ trật tự pháp lý và lợi ích quốc gia. Từ đây, cái giá mà các đối tượng phải trả hiện lên rất rõ.

Trước hết, danh dự chính trị bị tước bỏ hoàn toàn. Một khi đã bị xác định là người phạm tội chống Nhà nước, mọi danh xưng tự phong như “nhà hoạt động”, “luật sư nhân quyền”, “nhà báo độc lập” đều mất giá trị. Tiếp đó, tự do cá nhân bị ràng buộc nghiêm ngặt: Hồ sơ pháp lý gắn liền với bản án kéo theo các hạn chế về đi lại, quan hệ quốc tế, nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm tiếp theo. Và cuối cùng, con đường trở về Tổ quốc gần như khép lại, một cái giá không nhỏ đối với bất kỳ người Việt Nam nào.

Đây là thực tế mà những cái tên như Mẹ Nấm, Phương Ngô, Huệ Như, Hoàng Dũng… hay bất kỳ ai đang nuôi ảo tưởng “nối gót đàn anh” cần nhìn thẳng. Không có tương lai vinh quang nào trên con đường chống phá Đảng, Nhà nước. Điều chờ đợi chỉ là bản án, sự cô lập, sự lợi dụng rồi bị bỏ rơi. Các thế lực bên ngoài chỉ cần họ khi còn giá trị tuyên truyền; khi hết vai trò, họ sẽ bị thay thế không do dự.

Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ pháp luật. Nhưng tự do không đồng nghĩa với quyền bịa đặt, xuyên tạc, kích động và chống phá chế độ. Mọi hành vi vượt qua ranh giới đó đều phải trả giá, sớm hay muộn.

Phiên tòa ngày 31-12-2025 là lời khẳng định rõ ràng: Pháp luật Việt Nam đủ bản lĩnh, đủ cơ sở và đủ kiên quyết để bảo vệ Đảng, Nhà nước, lợi ích quốc gia và sự ổn định xã hội. Đó cũng là lời cảnh báo nghiêm khắc, nhưng công bằng, dành cho những ai đang lầm đường: Đừng đánh đổi danh dự, tự do và tương lai của mình cho những ảo vọng chống phá hão huyền./.
Ảnh: Lê Trung Khoa (bên trái) và Nguyễn Văn Đài.
Môi trường ST.

THỨC TỈNH GIỚI TRẺ TRƯỚC “MA TRẬN” THÔNG TIN, NGÔN TỪ ĐỘC HẠI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

     Không gian mạng không vô hình, cũng không vô chủ, không phải là nơi ai muốn nói gì cũng được, càng không thể trở thành vùng xám tư tưởng để các phần tử xấu lợi dụng gieo rắc hoài nghi, xuyên tạc, kích động. Trước ma trận” thông tin, ngôn từ ngày càng hỗn tạp, mỗi người dân, nhất là người trẻ cần tỉnh táo nhận diện đúng-sai, phải-trái, tốt-xấu, kiên trì giữ vững lập trường, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng và dân tộc.

Âm mưu phá hoại bằng vỏ bọc trung lập, ngụy biện

Với sức lan tỏa tức thì, tốc độ cập nhật liên tục và khả năng tiếp cận sâu rộng, đặc biệt trong giới trẻ-những người chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số gần 80 triệu người dùng internet tại Việt Nam-mạng xã hội không chỉ đơn thuần là công cụ trao đổi thông tin mà còn là nơi hình thành, củng cố hoặc lung lay tư tưởng, nhận thức, thái độ, niềm tin và quan điểm chính trị-xã hội.

Do tính chất mở cùng khả năng ẩn danh và cơ chế thuật toán của các nền tảng số, không gian mạng đang trở thành môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch, phản động âm thầm, lén lút gieo rắc thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật và kích động tâm lý chống đối. Một trong những thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch trên không gian mạng là sự ngụy trang dưới những “vỏ bọc trung lập”, khoác áo “trí thức độc lập”, “phản biện xã hội” để tung ra nội dung mang tính chống phá, xuyên tạc bản chất của chế độ XHCN. Những bài viết tưởng như mang tính học thuật, trung dung nhưng lại được cài cắm những luận điểm lắt léo, ngôn ngữ ngụy biện, lập lờ nhằm gieo rắc hoài nghi, làm xói mòn niềm tin của người dân vào Đảng, Nhà nước.

Nguy hiểm hơn, các đối tượng thù địch còn tận dụng hiệu ứng lan truyền mạnh mẽ của văn hóa mạng như hành vi châm biếm, video hài, ảnh chế để biến các luận điệu phản động thành “trò đùa giải trí”, dễ tiếp cận, dễ chia sẻ, đặc biệt với giới trẻ-những người thường bị cuốn hút bởi sự mới lạ, hài hước mà ít khi đề phòng tính chất chính trị ẩn chứa trong đó. Cũng không hiếm những clip giả danh “khoa học lịch sử”, “phân tích chính trị” nhưng thực chất là sản phẩm của thuyết âm mưu, bóp méo sự kiện, gây nhiễu loạn nhận thức, đánh vào tâm lý phản kháng, hoài nghi và bất mãn-điều này càng nguy hại đối với những người trẻ đang trong quá trình hình thành thế giới quan, nhân sinh quan.

Sự nguy hại không chỉ nằm ở những lời lẽ công khai đối đầu mà còn là thứ ngôn từ "mập mờ đánh lận con đen", kiểu như “tôi không chống ai, tôi chỉ đặt câu hỏi”, “tôi yêu nước theo cách riêng của tôi”, hay “yêu nước không có nghĩa phải theo đảng”. Những ngụy biện kiểu này, nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, sẽ từng bước làm xói mòn niềm tin, gây ra sự hoài nghi chính trị âm ỉ trong một bộ phận quần chúng, nhất là thanh niên. Đây chính là những “liều thuốc tẩy não mềm” mà nếu không cảnh giác, dễ khiến người tiếp nhận trở nên mơ hồ về lịch sử, rơi vào trạng thái vô cảm chính trị và từng bước bị dẫn dắt đến tư tưởng lệch lạc.

Vì sao giới trẻ dễ rơi vào “ma trận” thông tin, ngôn từ hỗn loạn?

Giới trẻ với đặc trưng năng động, sáng tạo, khát khao khám phá và luôn đi đầu trong tiếp cận cái mới, đồng thời cũng là nhóm dễ bị tác động nhất bởi những xu hướng tư tưởng lệch chuẩn trên không gian mạng. Ở độ tuổi đang hình thành thế giới quan và hệ giá trị cá nhân, nhiều người trẻ có xu hướng đề cao sự “độc lập tư tưởng”, thích thể hiện bản sắc riêng nhưng lại thiếu nền tảng tri thức lý luận chính trị vững chắc để làm “la bàn định hướng” nhận thức, thái độ và hành vi. Thêm vào đó, thói quen đọc lướt, chia sẻ nhanh, bình luận vội đang trở thành biểu hiện khá phổ biến trong cách người trẻ tiêu thụ thông tin ngày nay.

Một đoạn clip ngắn, một hình ảnh gây sốc hay vài dòng status giật gân, cảm tính có thể nhanh chóng đánh động cảm xúc, khiến người xem vội vàng chia sẻ mà không quan tâm đến tính chính xác hay mục đích phía sau là gì. Những thủ đoạn như cắt ghép video, trích dẫn rời rạc, bóp méo ngữ cảnh... dễ dàng tạo ra hiệu ứng tưởng là thật, khiến người tiếp cận bị dẫn dụ mà không nhận ra mình đang rơi vào cái bẫy ngôn từ đã được giăng sẵn.

Đáng lo hơn, trong bối cảnh hiện nay, không ít thanh niên rơi vào trạng thái thờ ơ chính trị khi cho rằng các vấn đề tư tưởng, chính sách, hay lịch sử chỉ là chuyện của người lớn hay chẳng liên quan đến mình. Chính thái độ mơ hồ, non nớt ấy là mảnh đất màu mỡ để các quan điểm sai trái len lỏi, gieo mầm hoài nghi, dẫn đến nhận thức lệch lạc, mất phương hướng lý tưởng, niềm tin tích cực trong một bộ phận giới trẻ. Nếu không có sự quan tâm, định hướng và đồng hành kịp thời từ gia đình, nhà trường và xã hội thì “ma trận" ngôn từ, thông tin trên không gian mạng sẽ tiếp tục là cái bẫy tai hại, ảnh hưởng tiêu cực đối với thế hệ tương lai.

Chủ động phòng ngừa, tỉnh táo đấu tranh, vững vàng định hướng

Giữa làn sóng thông tin hỗn loạn trên không gian mạng, việc trang bị cho thanh niên một “hệ miễn dịch tư tưởng số” không chỉ là yêu cầu nhất thời mà còn là trách nhiệm lâu dài, gắn chặt với tương lai của mỗi cá nhân người trẻ và sự ổn định an ninh chính trị của quốc gia. Muốn vậy, cần có các giải pháp định hướng, phòng ngừa và đấu tranh linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với tâm lý và hành vi truyền thông của giới trẻ; từ đó không chỉ chống "nhiễm độc” mà còn tạo "kháng thể" nhận thức vững vàng, giúp thế hệ trẻ có đủ sức đề kháng trước những "cám dỗ" ngôn từ, hình ảnh lệch chuẩn và cạm bẫy thông tin độc hại.

Để nâng cao năng lực “miễn dịch" thông tin xấu độc cho giới trẻ-đối tượng nhạy bén nhưng cũng dễ tổn thương trước các luồng quan điểm xa lạ, tư tưởng đối lập-việc giáo dục bồi đắp tri thức lý luận chính trị vững chắc phải được đặt lên hàng đầu. Tư duy phản biện, khả năng phân tích thông tin, nhận diện ngôn ngữ ngụy biện và hiểu được bản chất sâu xa của vấn đề là “lá chắn” hiệu quả giúp thanh niên không bị cuốn theo những xu hướng, trào lưu lệch chuẩn trên mạng xã hội. Khi lý trí của giới trẻ được bồi đắp, tôi rèn vững chắc, cảm xúc của họ sẽ không còn là điểm yếu dễ bị dẫn dắt, thao túng bởi những thông tin sai lệch, độc hại.

Muốn chạm tới trái tim và khối óc người trẻ, cần làm mới nội dung giáo dục chính luận bằng hình thức sáng tạo, gần gũi mà vẫn sâu sắc. Những video ngắn giàu thông tin, infographic trực quan, podcast phân tích chuyên sâu dưới góc nhìn trẻ trung, sinh động sẽ là “vũ khí mềm” hiệu quả để đấu tranh bằng lý lẽ thuyết phục và truyền cảm hứng tích cực cho người trẻ. 

Bên cạnh đó, gia đình, nhà trường, các tổ chức đoàn thể cần phối hợp chặt chẽ để tạo thành một “tam giác phòng tuyến” ngăn chặn từ gốc sự xâm nhập của các luồng tư tưởng lệch lạc. Thanh thiếu niên không thể lớn lên vững vàng trong lý tưởng tốt đẹp nếu cha mẹ thờ ơ, nhà trường hời hợt và tổ chức đoàn thể thiếu sức hấp dẫn. Cần tích cực chống tư tưởng độc hại từ gốc rễ bằng cách chủ động, tích cực đồng hành, hướng dẫn và tiếp sức để thanh niên không rơi vào trạng thái xa rời hoài bão, lý tưởng, bị "dắt mũi" bởi những thông tin, luận điệu sai trái trên không gian mạng.

Ngoài ra, cần thiết lập “hàng rào pháp lý” cứng rắn đối với các hành vi phát ngôn, lan truyền thông tin xấu độc. Nhà nước cần xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả, xử lý nghiêm minh các cá nhân, tổ chức tán phát thông tin sai lệch, xuyên tạc, gây chia rẽ, kích động trên không gian mạng. Sự nghiêm khắc của pháp luật không phải để hạn chế tự do ngôn luận mà để bảo vệ tự do chân chính, bảo vệ lòng tin và an ninh tư tưởng của xã hội. Khi luật pháp đồng hành với giáo dục và truyền thông sáng tạo, không gian mạng sẽ trở thành nơi bồi đắp bản lĩnh, nhân cách và trách nhiệm công dân đối với thế hệ trẻ.

Không gian mạng không vô hình, cũng không vô chủ, không phải là nơi ai muốn nói gì cũng được, càng không thể trở thành vùng xám tư tưởng để kẻ xấu lợi dụng gieo rắc hoài nghi, xuyên tạc, kích động. Trước "ma trận" thông tin, ngôn từ ngày càng hỗn tạp, mỗi người dân, nhất là người trẻ cần tỉnh táo nhận diện đúng-sai, phải-trái, tốt-xấu, kiên trì giữ vững lập trường, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng và dân tộc.

Khi người trẻ hành động bằng lý trí sắc bén, trái tim yêu nước và trách nhiệm công dân thì không gian mạng sẽ không còn là “bãi chiến trường” của thông tin, ngôn từ độc hại mà là vùng đất lan tỏa ánh sáng tư tưởng đúng đắn, góp phần củng cố niềm tin xã hội, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số./.
Môi trường ST.

PHẢI NHẤT QUÁN, KIÊN ĐỊNH TÍNH ĐẢNG TRONG VĂN HỌC!

BÀI 2: ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN SUY thoái TRONG VĂN HỌC!
(Tiếp theo và hết)

     Một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong đời sống văn học đã được Đảng ta chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) là: Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng... Đây cũng chính là biểu hiện xa rời tính đảng trong văn học. Nếu không kịp thời ngăn chặn, chấn chỉnh, sự suy thoái sẽ phát triển thành “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ trong một bước ngắn, thậm chí rất ngắn...

Nhận thức đúng để định hướng sáng tác đúng

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa, văn nghệ luôn được đặt ngang hàng với những lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Như vậy, kiên định, bảo vệ, giữ vững tính đảng chính là nhằm bảo đảm môi trường văn học không đứng ngoài sự nghiệp cách mạng của dân tộc, môi trường sáng tạo của nhà văn không bị chệch hướng, đi ngược lại chuẩn mực chân, thiện, mỹ...

Vấn đề này không mới, nhưng chúng ta phải thường xuyên nhấn mạnh và nhất quán trong mọi hoàn cảnh, nhất là khi dư luận “chín người mười ý”. Đáng chú ý là, không ít người không hiểu hoặc cố tình không hiểu bản chất và nội hàm của tính đảng trong văn học nên đã quy chụp, võ đoán, cực đoan cho rằng tính đảng là sự "khuôn sáo", "tuyên truyền một chiều", "cản trở sáng tạo". Thực chất, tính đảng chưa và không bao giờ đòi hỏi nhà văn và tác phẩm văn học phải khuôn mẫu, minh họa, tô hồng. 

Ngược lại, đó là sự “định vị” để nhà văn biết mình là ai, mình đang đứng ở đâu, mình sáng tác cho ai, vì mục tiêu gì... trong dòng chảy đầy biến động của thời cuộc và thời đại. Và từ sự “định vị” ấy, nhà văn tự tìm ra câu trả lời, đó là lao động sáng tạo, dù ở đâu, lúc nào cũng phải luôn đứng về phía nhân dân, đứng về phía chính nghĩa, đứng ở cái tâm của giá trị nhân văn và lợi ích quốc gia, dân tộc. Văn học phản ánh đời sống và nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại, nhưng đó không phải là sự ghi chép đơn thuần. Văn học hướng con người đến cái đẹp, cái thiện, cái chân giá trị, hun đúc niềm tin, sức mạnh, khát vọng và lòng nhân ái. Ở bất cứ chế độ xã hội nào cũng không thể có văn học vô lập trường, vô khuynh hướng.

Nhấn mạnh vấn đề này để thấy, tính đảng không phải là sự “kiểm soát tư tưởng” trong sáng tạo như không ít người cố tình suy diễn. Đảng ta nhất quán tôn trọng tự do sáng tác, khuyến khích sáng tạo và tạo mọi điều kiện để nhà văn tạo ra tác phẩm phản ánh sâu sắc hiện thực đất nước và chân dung thời đại. Nhưng tự do không phải sự thả nổi vô nguyên tắc. Không có xã hội nào chấp nhận thứ tự do đứng trên pháp luật, đạo lý; kích động thù hận, ly khai, phủ nhận lịch sử.

Thế giới đã chứng kiến không ít trường hợp văn học tiếp tay cho chủ nghĩa cực đoan, làm bùng nổ xung đột sắc tộc, tôn giáo. Một viên đạn chỉ có thể giết một mạng người ngay tức khắc, nhưng một tác phẩm văn học nguy hại có thể trở thành lưỡi dao vô hình làm tổn hại đến cả một thế hệ, thậm chí là nhiều thế hệ. Sự nguy hiểm ấy nhắc nhở chúng ta rằng, tự do sáng tác, tự do ngôn luận phải luôn gắn với trách nhiệm xã hội và chuẩn mực của đạo đức, văn hóa dân tộc. Tính đảng chính là điểm tựa tư tưởng vững chắc để nhà văn đi đúng hướng, đồng hành với sự phát triển của đất nước và xu thế thời đại trong khi vẫn giữ được bản sắc, phong cách sáng tạo riêng.

Ở đây, chúng tôi muốn thông qua những hiện tượng xã hội, những vấn đề dư luận quan tâm, xâu chuỗi vấn đề một cách có hệ thống để góp tiếng nói chấn chỉnh những tư tưởng, khuynh hướng lệch lạc, cả trong sáng tác, phổ biến, thẩm định tác phẩm và trong cảm thụ, đánh giá, phê bình tác phẩm văn học của công chúng. Khi không gian mạng là một thế giới thứ hai, tác động đến mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, dư luận dễ bị dẫn dắt. Không gian ảo nhưng tác hại là thật.

Khi một bộ phận người sáng tác có tư duy lệch chuẩn thì tác phẩm văn học rất dễ bị đánh tráo giá trị. Chúng ta cần nhìn thẳng vào những biểu hiện lệch chuẩn, mầm mống suy thoái trong đời sống văn học, soi chiếu vào quan điểm, đường lối của Đảng để thấy rõ hơn tính cấp thiết của việc phải kiên định, bảo vệ, giữ vững tính đảng trong văn học.

Đấu tranh ngăn ngừa suy thoái

Tại sao những cuộc tranh luận về văn học thường diễn biến gay gắt và tốn nhiều giấy mực? Ấy là bởi, việc đánh giá, thẩm định, cảm thụ văn học là công việc của cảm xúc, cảm tính. Muốn có sự đánh giá đúng đắn, khách quan, bên cạnh kiến thức chuyên môn, trình độ thẩm mỹ, đòi hỏi chủ thể phải có bản lĩnh chính trị, đứng trên lập trường, quan điểm của Đảng. Việc nhất quán, kiên định tính đảng cũng chính là cách giúp chúng ta nhận diện rõ những mầm mống, biểu hiện suy thoái trong đời sống văn học.

Trong tác phẩm văn học, sự suy thoái có thể được nhận diện ở những biểu hiện: Cổ xúy tư tưởng bi quan, cực đoan, phản ánh xã hội bằng gam màu đen tối, khiến người đọc dễ mất niềm tin; xuyên tạc lịch sử, coi cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc là “nội chiến”; phản ánh méo mó hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, từ nhân vật chính nghĩa bị đẩy thành những dạng nhân vật phiến diện, tiêu cực, lệch lạc về lối sống; “phi chính trị hóa” văn học, cổ vũ quan điểm tách văn học ra khỏi chính trị, coi lập trường tư tưởng là vật cản sáng tạo...

Những biểu hiện suy thoái này rất dễ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Văn học, nghệ thuật là linh hồn của văn hóa. Văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa còn thì dân tộc còn. Mất văn hóa là mất tất cả. Những đúc kết mang tính triết học ấy cần được giới nhà văn, nghệ sĩ coi như “bảng cửu chương” của hành trình sáng tạo. Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 đã cảnh báo rõ tình trạng một bộ phận sáng tác bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc (nói nặng ra là "vô văn hóa", "phản văn hóa"). Khi tác phẩm gieo rắc sự hoài nghi, dao động, mơ hồ, ảo tưởng và khi giá trị dân tộc bị đảo lộn, lịch sử bị bôi xóa, xuyên tạc... thì không thể nói đó là “tự do sáng tạo”. Thực chất, đó là sự suy thoái cần được nhận diện, cảnh tỉnh và đấu tranh mạnh mẽ.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội đang làm dịch chuyển, thay đổi căn bản hệ sinh thái văn hóa đọc, đời sống văn học trong nước phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Một trong những vấn đề trọng tâm là làm sao giữ vững hệ giá trị cốt lõi, không đánh mất bản sắc, không lơi lỏng lập trường tư tưởng trước làn sóng thông tin từ không gian mạng.

Thực tiễn ngày càng đặt ra yêu cầu phải kiên định, bảo vệ, nâng cao tính đảng trong văn học. Để có một hệ sinh thái văn học tiến bộ, giữ vững tính đảng, bảo tồn tâm hồn dân tộc, phải đi từ công tác lý luận, phê bình, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong văn học. Những cuộc tranh luận kiểu “ném đá” hay “tâng bốc” không những không thể thay thế hoạt động phê bình học thuật, mà nhiều khi nó còn là tác nhân làm “biến dạng” thị hiếu văn học và giá trị thẩm mỹ.

Đặc biệt, vai trò định hướng, chỉ đạo của các cấp, các ngành chức năng và tiếng nói của những nhà văn, nghệ sĩ chân chính, có bản lĩnh chính trị vững vàng là hết sức quan trọng. Nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài là cần tiến hành thường xuyên, liên tục công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ sáng tác; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là vai trò định hướng của Ban Tuyên giáo và Dân vận từ Trung ương đến các địa phương; nâng cao hoạt động sinh hoạt chính trị, chuyên môn nghiệp vụ của tổ chức hội, đoàn các cấp.

Tác phẩm văn học chỉ thực sự có giá trị khi nhà văn, người cầm bút đứng vững trên nền tảng tư tưởng, văn hóa, lịch sử dân tộc, hướng về lợi ích quốc gia, phụng sự Tổ quốc, nhân dân. Giữ vững tính đảng cũng chính là giữ gìn phẩm giá, bản lĩnh của người cầm bút. Trong thời đại số, yêu cầu này càng trở nên cấp bách. Trượt khỏi nguyên tắc đó là tự chối bỏ chính mình, làm vẩn đục đời sống văn học./.
Môi trường ST.

PHẢI NHẤT QUÁN, KIÊN ĐỊNH TÍNH ĐẢNG TRONG VĂN HỌC!

BÀI 1: KHÔNG ĐƯỢC XA RỜI NGUYÊN TẮC RƯỜNG CỘT!

     Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh dân tộc và sự tồn vong của chế độ. Bất luận hoàn cảnh nào cũng tuyệt đối không lơ là, coi nhẹ, sao nhãng. Văn học, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc, việc nhất quán, kiên định tính đảng là nguyên tắc mang tính rường cột...

Tính đảng là nguyên tắc rường cột của văn học

Thời gian gần đây, đời sống văn học liên tục được “hâm nóng” bởi những cuộc tranh luận xoay quanh một số tác phẩm. Trên không gian mạng, chủ đề này là một trong những nội dung được truy cập, chia sẻ, bàn luận nhiều nhất. Một số tác phẩm văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, LLVT và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ được đưa ra phân tích, mổ xẻ dưới những góc nhìn đa chiều. Theo dõi thông tin trên không gian mạng, chúng ta thấy rõ có những lúc, những nơi, việc tranh luận diễn ra gay gắt, dẫn đến những tranh cãi chưa có hồi kết...

Việc tác phẩm văn học gây chú ý, tạo phản ứng đa chiều trong dư luận xã hội không phải bây giờ mới diễn ra. Sau ngày thống nhất Tổ quốc, đặc biệt là giai đoạn đất nước đổi mới, hội nhập trong bối cảnh địa chính trị thế giới có những biến động sâu sắc mang tính bước ngoặt, đời sống văn học trong nước chịu sự tác động, chi phối từ nhiều khuynh hướng tư tưởng. Chính vì vậy đã có nhiều cuộc tranh luận diễn ra trong giới sáng tác và công chúng văn học. Tuy nhiên, do trước đây không gian mạng chưa phát triển nên mức độ ảnh hưởng không diễn ra nhanh chóng, phủ sóng toàn diện như hiện nay.

Đánh giá đời sống văn học trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 chỉ rõ, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta còn thiếu những tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật lớn, tầm cỡ, phản ánh được tầm vóc của sự nghiệp đổi mới, có tác dụng tích cực đối với việc xây dựng đất nước, xây dựng con người...

Thực tế cho thấy, bên cạnh dòng chủ lưu của văn học cách mạng, đời sống văn học cũng xuất hiện không ít tác phẩm có nội dung tư tưởng lệch lạc, độc hại, đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc, phản bội lý tưởng cách mạng và truyền thống tốt đẹp của tiên tổ, ông cha. Một số tác giả công khai thể hiện hành động phản trắc, phản bội, từ bỏ Tổ quốc, quê hương ra nước ngoài sinh sống, trở thành những con rối để các thế lực thù địch lợi dụng, giật dây, chống phá đất nước. Ban đầu, khi còn giá trị lợi dụng, họ như những cái loa lớn tiếng chỉ trích, quy chụp Đảng, Nhà nước, đòi Việt Nam phải đa nguyên, đa đảng, xuất bản những tác phẩm cổ xúy hành vi lệch lạc, lối sống thực dụng, tha hóa đạo đức. Về sau, như quả chanh đã vắt hết nước, họ bị bỏ rơi như xác ve cuối hạ, trở thành những “bóng ma” vật vờ. Một số trường hợp chết nơi đất khách quê người, ra đi trong đớn đau, tủi nhục.

Hơn 50 năm Tổ quốc thống nhất, gần 40 năm Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, những thăng trầm thời cuộc và độ sâu của lịch sử giúp chúng ta ngày càng nhận rõ chân lý: Những tác phẩm được xây dựng từ nền tảng truyền thống, từ bản sắc dân tộc, từ lợi ích quốc gia, từ cái tâm phụng sự Tổ quốc, nhân dân... thì sẽ có chỗ đứng, giá trị bền vững. Bản sắc dân tộc chính là tấm “căn cước” để đưa văn hóa, văn học Việt Nam hội nhập quốc tế. Sự đổi mới của văn học, dù có đi theo khuynh hướng nào, hình thức nào, ảnh hưởng của những trào lưu sáng tác nào... vẫn phải dựa vào, bám vào nền tảng gốc rễ của dân tộc. Đi ngược lại giá trị căn cốt ấy, tác phẩm văn học dù có được xem là “đổi mới”, “phá cách” kiểu gì, cuối cùng vẫn là thứ vô giá trị, thậm chí là rác rưởi gây hại.

Bàn đến vấn đề mang tính thời đại của văn học, thiết nghĩ chúng ta phải cần đến những hội nghị, hội thảo chuyên đề, những công trình nghiên cứu quy mô. Trong phạm vi một bài báo, nhắc lại những vấn đề mang tính nguyên tắc để chúng ta có cơ sở, căn cứ về thế giới quan, phương pháp luận khi đánh giá, luận giải các vấn đề nảy sinh trong đời sống văn học một cách đúng đắn, chuẩn mực. Trong mọi cuộc tranh luận, để phân biệt thật-giả, trắng-đen, vàng-thau... chúng ta không thể phán xét một cách cảm tính mà cần phải quy nó về chuẩn mực chung. Đó là cái trục của học thuật, là cái tâm của những khuynh hướng thẩm mỹ, là hệ tham chiếu cho những khám phá, đổi mới, tìm tòi. Đời sống xã hội vận động, biến đổi từng ngày, từng giờ. Văn học, muốn làm thỏa mãn nhu cầu công chúng, cũng phải không ngừng đổi mới. Nhưng cho dù có đổi mới thế nào, đổi mới đến đâu thì chức năng của văn học vẫn là hướng con người đến những giá trị chân-thiện-mỹ. Trượt khỏi chức năng cơ bản đó, tác phẩm văn học không thể được xem là có chất lượng.

Trong văn học cách mạng Việt Nam, giữ vững tính đảng là nguyên tắc mang tính rường cột. Biểu hiện cao nhất, phổ quát nhất của tính đảng trong văn học đó là tính dân tộc, tính nhân dân, tính thời đại, hướng con người đến chân-thiện-mỹ. Bởi, trong sứ mệnh lãnh đạo đất nước, ngoài lợi ích của quốc gia, dân tộc, nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Như vậy, tính đảng là thuộc tính quan trọng nhất của văn học cách mạng, thể hiện ở sự kiên định, trung thành với lý tưởng, đường lối của Đảng, phản ánh tinh thần cách mạng xã hội chủ nghĩa, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Để tác phẩm văn học giữ vững tính đảng đòi hỏi nhà văn, người sáng tác phải có lập trường tư tưởng vững vàng, có trình độ lý luận chính trị sâu sắc, có tinh thần cống hiến, phục vụ nhân dân. Nhà văn thông qua tác phẩm của mình góp phần tuyên truyền, giáo dục, bồi đắp phẩm giá con người, bảo tồn tâm hồn dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại những tư tưởng sai lệch, thù địch, làm phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc và đời sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân.

Như vậy, cơ sở để giới phê bình cũng như độc giả thẩm định, đánh giá, cảm thụ, phê bình... tác phẩm văn học chính là phải dựa vào nguyên tắc mang tính rường cột này. Rời xa nguyên tắc rường cột, những tranh luận, tranh cãi sẽ dễ rơi vào kiểu “ông nói gà, bà nói vịt”; “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” mang nặng cảm tính. Rời xa nguyên tắc rường cột, sự ồn ào trong tranh luận (thậm chí là tranh cãi) sẽ dễ tạo ra môi trường để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, kích động, chống phá, nhất là trong bối cảnh Đảng ta đang chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIV...

Không thể độc lập văn học với chính trị

Các nghị quyết, quyết sách của Đảng, trong đó, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII năm 1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 đã đánh giá, hoạch định, định hướng những vấn đề mang tầm chiến lược về phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ nghiên cứu lý luận, đúc kết thực tiễn, Đảng ta đã lựa chọn những lĩnh vực trọng tâm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, trong đó quan trọng nhất là chiến lược xây dựng con người Việt Nam với trọng tâm là xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta lựa chọn, kiên trì xây dựng. Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị...

Từ quan điểm của Đảng về sự nghiệp văn hóa, soi chiếu vào đời sống văn học, chúng ta thấy rõ đã có những lúc, những nơi, một bộ phận trong giới sáng tác, giới thẩm định cũng như công chúng văn học có biểu hiện mơ hồ, lệch lạc về tư tưởng, mục tiêu sáng tạo. Thậm chí có những tác giả lấy danh nghĩa cách tân, đổi mới sáng tác để kêu gọi tách văn học ra khỏi mối quan hệ với chính trị. Họ ngụy biện rằng khi văn học độc lập với chính trị, nhà văn mới có tự do ngôn luận, tự do sáng tác đúng nghĩa (!). Đây là quan điểm hết sức phi lý. Về mặt lý luận, chính trị và văn học đều là những hình thái ý thức của kiến trúc thượng tầng, có mối quan hệ biện chứng. Về thực tiễn, lịch sử đã chứng minh, ở đâu văn học và chính trị tách rời, thậm chí đối lập nhau thì đó là dấu hiệu suy vong của thể chế chính trị và đời sống xã hội. Bài học nhãn tiền từ sự sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu cách đây hơn 30 năm luôn nóng hổi tính thời sự. Sau hơn 3 thập niên nhìn lại, ngay cả nhiều nhà nghiên cứu có tư tưởng đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin trên thế giới cũng phải thẳng thắn thừa nhận sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu không những không mang lại trật tự hòa bình cho thế giới, không mang lại hạnh phúc cho nhân loại mà còn đẩy những mâu thuẫn, thách thức thời đại trở nên gay gắt hơn. Những cuộc xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, cạnh tranh lợi ích giữa các nước lớn làm cho địa chính trị thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, môi trường hòa bình bị đe dọa... chính là minh chứng rõ nét.

Trong bối cảnh đó, chấn hưng đời sống văn học là một trong những giải pháp căn cơ để bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, tạo sức mạnh chính trị tinh thần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhất quán, kiên định, bảo vệ tính đảng trong văn học chính là cách để nền văn học cách mạng Việt Nam phát triển bền vững, là môi trường để nhà văn và đội ngũ sáng tác văn học thể hiện ý thức công dân, trách nhiệm xã hội của nghệ sĩ trước Tổ quốc và nhân dân...
(còn nữa)
Môi trường ST.

CHÚNG TA CÓ NHÂN DÂN, NHỮNG CCB, CÁC SQQĐ, RẤT KIÊN CƯỜNG ĐẤU TRANH BẢO VỆ SỰ THẬT LỊCH SỬ, CHỐNG DBHB!

     Đấu tranh bảo vệ sự thật lịch sử, giữ vững nền tảng tư tưởng, niềm tin của nhân dân!

Sau nửa thế kỷ đất nước hoàn toàn giải phóng, Việt Nam đã đi qua một hành trình đầy gian nan nhưng cũng vô cùng vẻ vang. Từ một quốc gia bị chiến tranh tàn phá và chịu bao vây, cấm vận kéo dài, hôm nay chúng ta đã xây dựng được một đất nước ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, đúng như mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc đi xa.

Việt Nam hôm nay là một quốc gia ổn định về chính trị, phát triển kinh tế – xã hội bền vững, với đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Đất nước ta được bạn bè quốc tế, các chính khách và tổ chức uy tín ghi nhận là một trong những quốc gia an toàn, hạnh phúc và ổn định nhất thế giới, mô hình đáng tham khảo cho nhiều nước đang phát triển. Thực tiễn sinh động ấy khẳng định con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn.

Nguy hiểm hơn cả là sự tiếp tay từ bên trong bộ máy

Điều đáng lo ngại hiện nay không chỉ xuất phát từ các thế lực thù địch công khai chống phá bên ngoài, mà còn từ sự tiếp tay, dù trực tiếp hay gián tiếp, của một số cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước. Đây là những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, thể hiện sự thiếu kiên định về lập trường chính trị, thậm chí dung túng cho các quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử và phủ nhận giá trị của cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc.

Việc tham mưu, đề xuất trao giải thưởng cho tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”, một tác phẩm mang khuynh hướng bi quan, phiến diện, làm lu mờ lý tưởng chiến đấu và sự hy sinh cao cả của người lính cách mạng, là một sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức chính trị và lịch sử.

Đáng lo ngại hơn, khi những tác phẩm mang nội dung lệch lạc được đưa vào chương trình giáo dục, nó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thế hệ trẻ, những người đang hình thành nhân sinh quan, thế giới quan và rất cần được trang bị nền tảng lịch sử, tư tưởng vững chắc để nhận diện đúng – sai, thật – giả trong dòng chảy thông tin hiện nay.

Tiếng nói phản bác từ những người lính có trách nhiệm với lịch sử

Trước thực trạng đáng lo ngại đó, nhiều tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, cựu chiến binh và các nhà nghiên cứu uy tín đã thể hiện rõ trách nhiệm chính trị, lương tâm người lính và tinh thần trung thực với lịch sử bằng những tiếng nói phản biện mạnh mẽ, kiên định. Tiêu biểu là các bài viết và phát biểu chính luận sâu sắc của Thượng tướng Võ Tiến Trung, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, Trung tướng Ngô Quý Đức, Thiếu tướng Hoàng Kiền, Đại tá GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn, cựu chiến binh Phan Trung Can…

Cùng với đó, nhiều cựu chiến binh, nhà nghiên cứu lịch sử và nhà lý luận khác cũng đã thẳng thắn phân tích, chỉ rõ sự nguy hại của việc xuyên tạc, lật ngược bản chất cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; những thủ đoạn bôi nhọ, vu khống Quân đội nhân dân Việt Nam; cũng như hệ lụy lâu dài nếu các quan điểm sai trái này xâm nhập vào môi trường giáo dục và đời sống tinh thần xã hội.

Đây là những tiếng nói có trọng lượng, xuất phát từ những con người đã từng trực tiếp chiến đấu, chứng kiến sự hy sinh của đồng đội, chứ không phải từ những người đứng ngoài lịch sử, phán xét bằng cảm tính hoặc động cơ thiếu trong sáng.

Rõ ràng, đây không còn là vấn đề thuần túy văn học - nghệ thuật, mà là vấn đề liên quan trực tiếp đến an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa và an ninh chính trị. Việc dung túng, tiếp tay cho những quan điểm sai trái đó vô hình trung góp phần phục vụ cho chiến lược “diễn biến hòa bình”, làm xói mòn niềm tin và các giá trị nền tảng của xã hội.

Yêu cầu đặt ra: Không thể im lặng, không thể dung túng

Thực tiễn trên đặt ra yêu cầu cấp thiết: cần rà soát, xem xét rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc tham mưu, đề xuất trao giải và đưa những tác phẩm có nội dung lệch lạc vào môi trường giáo dục. Đồng thời, phải kiên quyết không để những người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng tiếp tục nắm giữ vai trò định hướng về văn hóa, lịch sử.

Hơn lúc nào hết, cần kiên định bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ giá trị chính nghĩa của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, cũng như hình ảnh cao đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam – lực lượng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ.

Thực tiễn hành động, lời khẳng định thuyết phục và đanh thép nhất

Trong khi các thế lực thù địch chỉ biết xuyên tạc bằng lời nói, con chữ và trên không gian mạng, thì Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn đáp lại bằng hành động thực tiễn, thiết thực và hiệu quả. Tiêu biểu là "Chiến dịch Quang Trung", được phát động từ ngày 1/12/2025 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ và Thủ tướng Phạm Minh Chính. Chiến dịch đã huy động sức mạnh tổng hợp của quân đội, công an và toàn xã hội, kịp thời giúp nhân dân khắc phục hậu quả bão lũ, xây dựng và sửa chữa nhà ở cho đồng bào miền Trung, Tây Nguyên, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.

Đó chính là minh chứng sinh động cho bản chất nhân văn, vì dân của chế độ ta; là biểu tượng cho tinh thần “Quân đội nhân dân Việt Nam - từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ”, không chỉ trong chiến tranh mà cả trong công cuộc dựng xây và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Đại hội Đảng, thời điểm củng cố, thanh lọc và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Đại hội Đảng sắp tới là dấu mốc đặc biệt quan trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm chính trị, kiên quyết củng cố và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần chủ động nhận diện, ngăn chặn và xử lý nghiêm những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, cơ hội, thỏa hiệp hoặc tiếp tay cho các luận điệu xuyên tạc, sai trái, làm tổn hại đến uy tín của Đảng và Nhà nước.

Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững bản chất cách mạng, đồng thời củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó cũng là cách thiết thực nhất để bảo vệ danh dự, uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, biểu tượng của ý chí, khát vọng và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.

Cuộc đấu tranh này đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần kiên định; không khoan nhượng với cái sai, không thỏa hiệp với tiêu cực, và càng không được phép lùi bước trên con đường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh - vì tương lai của đất nước và các thế hệ mai sau./.





Yêu nước!

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GDP NĂM 2025 TĂNG TRƯỞNG 8,02%!

     Chiều 5-1, Cục Thống kê, Bộ Tài chính tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025 . Theo đó, với mức tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV đạt 8,46% - cao nhất trong 15 năm, tăng trưởng năm 2025 đạt 8,02%, nền kinh tế Việt Nam có một năm bứt phá ấn tượng.

Thông tin tại cuộc họp, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê cho biết, GDP quý IV-2025 ước tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng cao nhất của quý IV các năm trong giai đoạn 2011-2025, duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 7,05%, quý II tăng 8,16%, quý III tăng 8,25%).

Tính chung GDP năm 2025 tăng trưởng khá với mức tăng ước đạt 8,02% so với năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025.

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm 2024 (476 tỷ USD).

GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD).

Dịch vụ vẫn là nhóm đóng góp nhiều nhất vào giá trị tăng thêm của nền kinh tế, trên 51,08%. Theo Cục Thống kê, giá trị tăng thêm khu vực này đạt 8,62% so với năm trước. Trong khi đó, công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62% vào giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Còn nông, lâm nghiệp và thủy sản góp 5,3% vào tăng trưởng.

Tính chung cả năm 2025, CPI tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra; lạm phát cơ bản tăng 3,21%.

GDP năm 2025 tăng trưởng 8,02%
 Quang cảnh cuộc họp báo.
Thông tin về các điểm sáng, bà Nguyễn Thị Hương cho biết, tính chung cả năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỉ USD, tăng 18,2% so với năm trước. Trong đó xuất khẩu tăng 17,0%; nhập khẩu tăng 19,4%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD.

Ngoài ra, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31-12-2025 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9,0% so với năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: MẠNG XÃ HỘI ĐANG NÓNG HƠN BAO GIỜ HẾT, NÓNG HƠN CẢ NĂM 2022 KHI BGD MUỐN “TỰ CHỌN” MÔN SỬ ĐẤY Ạ!

     Không tin các quan ngài Bộ Giáo dục và Đào tạo cứ vào ngay Page của BGD, Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) và các trang báo mạng có bài đăng đòi xử lý người dân phản đối SGK lớp 5 loại bỏ Vua Quang Trung & nhà Tây Sơn chống giặc giữ nước để tôn vinh nhà Nguyễn bán nước hại dân đấy xem Dân họ phản ứng thế nào.

GD mà có những kẻ cơ hội chính trị, phủ bụi lên lịch sử là nhân dân họ không để yên đâu quý ngài ạ!

Không phải tự nhiên mà Dân tộc này chiến thắng bọn thực dân, đế quốc đâu phải không quý ngài? Đó là tinh thần, là lý tưởng, là ý chí, sức mạnh đoàn kết và sự dũng cảm đấy quý ngài đã hiểu chưa?

Ông cha chúng tôi gặp cảnh binh đao, máu chảy, đầu rơi còn chưa biết nhụt chí thì nay đừng hòng mang CA ra mà hù doạ nhân dân. CAND không phải kẻ thù của nhân dân nhé thưa ngài dục!

Ai đang đi ngược lại tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng thì dân cũng nhìn rõ từ lâu & chắc chắn Bộ Công an cũng đã nắm đầy đủ.

Các vị hãy trả lời nhân dân!
1. Tại sao SGK lớp 5 trong mục “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” lại không có Vua Quang Trung và nhà Tây Sơn ?
 
2. Tại sao cũng trong mục “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” SGK lớp 5 lại đưa Nguyễn Ánh và cái vương triều hèn nhát, tối tăm, rước tây đô hộ gần trăm năm trường, một triều đại thối nát đã bị Chủ tịch Hồ Chí Minh LUẬN TỘI rõ ràng và đanh thép trong Diễn ca “Lịch sử nước ta” rồi thì tại sao quý ngài Bộ Giáo dục lại đưa vào tôn vinh ngay ở lớp 5 ? Đây có phải ÂM MƯU thay trắng đổi đen lịch sử không ? Có phải đã có chiến dịch tẩy trắng, rửa mặt, xoá tội cho bè lũ việt gian bán nước hay không ?

3. Ai cho phép các vị Biên soạn SGK hạ bệ Vua Quang Trung và Triều đại/ Nhà Tây Sơn xuống thành “phong trào Tây Sơn” trong SGK lớp 8 ?

5. Bộ Giáo dục & Đào tạo đã học và làm theo đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa ?

Đến nước này rồi thì mỗi người dân phải là 1 chiến sỹ trên mặt trận chống xét lại lịch sử. Việc cần làm ngay là đọc kỹ, soi kỹ nội dung trong SGK Lịch sử, Ngữ văn, Tiếng Việt các cấp học.

P/s: Bộ Công an cũng đã cảnh báo âm mưu phá hoại trong hợp tác GD rồi./.



Khuyết danh ST.