Thứ Hai, 31 tháng 5, 2021

Xây dựng quân đội về chính trị: Bài học thực tiễn trong xây dựng, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam

Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp sáng lập, tổ chức, lãnh đạo và giáo dục, rèn luyện; là lực lượng vũ trang cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn kiên định nguyên tắc: lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân. Đó là một nguyên tắc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, là nguyên lý cơ bản nhất trong học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của giai cấp công nhân. Học thuyết Mác - Lê-nin chỉ ra rằng: Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là giành chính quyền. Giai cấp vô sản muốn giành chính quyền, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản thì phải tổ chức ra một quân đội kiểu mới, được xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: Con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh…; trong đó, chính trị - tinh thần là một yếu tố có ý nghĩa quyết định. Khi bàn về vấn đề này, V.I. Lênin nhấn mạnh: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”[1]. Thấm nhuần, vận dụng sáng tạo tư tưởng đó vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân (QĐND) là: “Người trước, súng sau”; nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị; “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”[2]. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Người chỉ rõ tính chất, nhiệm vụ của Đội là, “chính trị trọng hơn quân sự”[3]. Tư tưởng đó thống nhất với quan điểm của Đảng ta, trở thành đường lối, nguyên tắc chỉ đạo, phương châm hành động xây dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng. Xây dựng QĐND Việt Nam về chính trị thực chất là xây dựng và giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc, đảm bảo cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; là đội quân cách mạng của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Quán triệt tinh thần đó, 75 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quân đội ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, thực sự là đội quân cách mạng, của dân, do nhân dân và vì nhân dân; xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân đã trao tặng và lời khen ngợi của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[4]. Gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, quân đội ta đã vượt qua muôn vàn thử thách, hy sinh, cùng nhân dân cả nước lập nên những chiến công chói lọi: Tiến hành Cách mạng Tháng Tám -1945 thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á; đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tiếp đó, thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng; đánh thắng chiến tranh xâm lược biên giới ở hai đầu đất nước và tích cực tham gia sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, v.v... Bước vào thời kỳ đổi mới, để xây dựng quân đội ta vững mạnh về chính trị, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch và hướng dẫn nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Đặc biệt, qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá XI), ngày 16-01-2012 về xây dựng Đảng cho thấy, Đảng bộ Quân đội thực sự là một tập thể lãnh đạo đoàn kết, thống nhất, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu được phát huy. Những thành quả đó là cơ sở thực tiễn minh chứng cho việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong suốt 75 năm qua. Dù thời bình hay thời chiến, nhiệm vụ huấn luyện hay lao động sản xuất, việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị luôn được Đảng ta đặt lên hàng đầu. Bởi vậy, đã tạo cơ sở nền tảng vững chắc để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho quân đội ta luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Đảng ta chỉ rõ: “Tình hình chính trị, an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng,... tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực”[5]. Trên cơ sở đường lối bảo vệ Tổ quốc đã được thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XII, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về: “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; đồng thời tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa luận điểm giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với QĐND Việt Nam; phát huy nội lực là chính; kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, tiếp tục củng cố, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và cơ chế, luật pháp xây dựng quân đội. Đảng ta chỉ rõ: “Xây dựng QĐND, Công an nhân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đaị hóa một số quân, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”[6]. Chú trọng giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, kiên định, có ý chí tiến công cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong bối cảnh đó, yêu cầu xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị càng phải được coi trọng, trở thành vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách. Kế thừa và phát huy bài học kinh nghiệm 75 năm qua, trong tình hình hiện nay, xây dựng quân đội ta về chính trị, trước hết phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Đây là giải pháp then chốt có tính bao trùm, xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta. Bài học từ sự đổ vỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối những năm 80 đầu 90 của thế kỷ XX đã chứng minh điều đó. Vì thế, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc bất di bất dịch trong xây dựng quân đội cách mạng. Để làm được điều đó, toàn quân phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khoá IX), ngày 20-7-2005 về: “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam”. Các cấp ủy cần làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; gắn xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Trong đó, phải hết sức chú ý đề cao tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy và chỉ huy đơn vị; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; đổi mới cơ chế, chính sách; thực hiện nghiêm Quy chế dân chủ cơ sở; giải quyết hài hòa các mối quan hệ, nhất là quan hệ giữa người chỉ huy và chính ủy, chính trị viên. Cùng với đó, phải tiếp tục quán triệt và thực hiên Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” bằng việc làm cụ thể, thiết thực; gắn “xây” với “chống”, tích cực đẩy lùi tiêu cực, tạo nhiều nhân tố điển hình, cán bộ đủ “tâm” và “tầm”, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thực tiễn 75 năm qua xây dựng QĐND Việt Nam cho thấy, để nâng cao chất lượng xây dựng quân đội về chính trị, phải tạo được sự đồng thuận cao cả về nhận thức, tư tưởng và hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Giải pháp có ý nghĩa thiết thực là: Trước hết, phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội. Đây thực chất là định hướng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân của quân đội. Qua đó, làm cho cán bộ, chiến sĩ giác ngộ sâu sắc lý tưởng cách mạng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; có phẩm chất đạo đức trong sáng; kiên định, vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện được điều đó, trước mắt, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”; sớm hoàn thiện Quy chế giáo dục chính trị đi đôi với tích cực đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp sát với yêu cầu xây dựng quân đội về chính trị. Đặc biệt, phải gắn công tác đảng, công tác chính trị với định hướng tư tưởng để mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng tình hình, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội; nắm vững thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn; phân biệt rõ “đối tượng”, “đối tác” theo quan điểm của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác, xử lý tốt mọi tình huống không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Hai là, cần coi trọng phát huy vai trò và hiệu lực, hiệu quả của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, để công tác này thực sự là “linh hồn, mạch sống” của quân đội. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các mặt công tác: tư tưởng, tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận, chính sách, quần chúng; đề cao dân chủ, kỷ cương, kỷ luật; giữ vững đoàn kết nội bộ. Đồng thời, quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, nhất là Nghị quyết 769-NQ/QUTW, ngày 31-12-2012 của Quân uỷ Trung ương về: “Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở đó, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ quân sự địa phương tham gia tỉnh ủy, thành ủy; chuẩn bị tốt nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2021-2025, Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Toàn quân tập trung nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ; trọng tâm là nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, công tác quân sự, quốc phòng địa phương, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn và nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, v.v. Để thực hiện tốt điều đó, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải chăm lo xây dựng cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị vững mạnh về mọi mặt, nhất là khả năng tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng những vấn đề chiến lược, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng QĐND, xây dựng nền quốc phòng toàn dânvà thế trận quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Ba là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội. Đây vừa là định hướng cơ bản, vừa là một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Trước hết, các cấp ủy phải chăm lo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng bảo vệ tổ chức, con người trong sạch, vững mạnh, an toàn tuyệt đối về chính trị, chống sự xâm nhập, móc nối, cài cắm, lộ lọt thông tin. Đồng thời, chủ động đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các cơ quan, đơn vị, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Cùng với đó, phải chú trọng đấu tranh làm thất bại mọi thủ đoạn thâm độc của địch, kiên quyết, kiên trì bác bỏ những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch, tuyên truyền, kích động, gây tâm lý cho cán bộ, chiến sĩ, đồng thời phải chủ động bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu công cuộc đổi mới của Đảng. Về mặt nhận thức, cần thấy rõ đây là cuộc chiến không khoan nhượng, nhưng rất gay go, quyết liệt, bởi đó là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh về tư tưởng, lý luận. Cuộc chiến đó diễn ra thường xuyên, quyết liệt đối với Quân đội và ngay trong đời sống tinh thần của từng cán bộ, chiến sĩ. Do đó, các đơn vị, trước hết là đội ngũ cán bộ chính trị các cấp cần coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ sự nguy hiểm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; từ đó, nâng cao tinh thần cảnh giác, có giải pháp phòng, chống hiệu quả. Các cơ quan Báo chí quân đội phải thể hiện rõ vai trò nòng cốt, xung kích, tích cực, chủ động viết các bài có tính lý luận, tính chiến đấu cao, kịp thời phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Các đơn vị văn hóa - nghệ thuật quân đội cần tăng cường nghiên cứu, sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, tính chính trị cao, tôn vinh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cả trong thời kỳ chiến tranh cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Bốn là, nâng cao hiệu quả xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cần tích cực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm cơ sở đề ra giải pháp phù hợp. Suốt 75 xây dựng, chiến đấu và phát triển, trong đó có xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị. Chúng ta đã có rất nhiều bài học thực tiễn có giá trị cần được nghiên cứu, được rút ra để tiếp tục vận dụng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Ngày nay, sự nghiệp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn cần được tiếp tục nghiên cứu, luận giải thấu đáo, có cơ sở khoa học. Do đó, công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận càng phải được quan tâm đúng mức. Đó là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đối với toàn quân, trước hết của các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường quân đội, nhằm giúp cho Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị có cơ sở để xác định hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Từ những bài học rút ra qua 75 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và giành thắng lợi ve vang của quân đội ta cho thấy, bất luận trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị luôn là một nguyên tắc cơ bản, hàng đầu, phải được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Đây là cơ sở để Đảng, Nhà nước ta tiếp tục vận dụng vào xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong giai đoạn cách mạng mới, đảm bảo cho QĐND Việt Nam Việt Nam thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong tình hình mới./.

Xây dựng “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Xây dựng “thế trận lòng dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm khơi dậy, quy tụ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, sự đồng thuận và ý chí quyết tâm cao của toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp, vững chắc để cùng với các nhân tố khác thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trọng yếu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình hiện nay, để xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần phải thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp sau: Một là, thường xuyên quan tâm, chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân bằng hệ thống các chính sách cụ thể, để nhân dân được ấm no, yên tâm và tin tưởng vào con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương cần tham gia, phối hợp chặt chẽ để tập trung phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và mức sống để nhân dân ổn định cuộc sống, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đặc biệt khó khăn. Quá trình thực hiện, cần có các cơ chế, chính sách phù hợp, ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn bằng những chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cụ thể, với khai thác tiềm năng, thế mạnh tại chỗ; đồng thời, tạo điều kiện cho các địa phương và nhân dân tiếp cận nguồn vốn và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Tiếp tục đẩy mạnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài; chăm lo sức khỏe cho nhân dân; chú trọng giải quyết các vấn đề bất bình đẳng về lợi ích, phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền; thường xuyên quan tâm giải quyết tốt những bức xúc, những vấn đề nổi cộm trong đời sống của nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, chăm lo bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; có cơ chế phù hợp để nhân dân được tham gia bàn bạc, giám sát, phản biện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo sự đồng thuận trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tư tưởng và hành động của toàn dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của “thế trận lòng dân”; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có cả những thuận lợi và khó khăn, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, càng phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để nhân dân thấy rõ thời cơ và thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, trong củng cố “thế trận lòng dân” nói riêng. Phải làm cho “ý Đảng, lòng dân” về “thế trận lòng dân” thấm sâu vào mỗi người dân, trở thành tư tưởng chủ đạo trong xây dựng “thế trận lòng dân” thời kỳ mới. Cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp cần thường xuyên nắm chắc tình hình, đặc điểm dân cư và yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân” trên từng địa bàn để có biện pháp tiến hành phù hợp, hiệu quả. Quá trình thực hiện, cần chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị của đất nước; phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, phương tiện thông tin, truyền thông và thiết chế văn hóa ở cơ sở. Đồng thời, cần đẩy mạnh phong trào thi đua nhằm tạo ra các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân”; từ đó, tổ chức học tập, rút kinh nghiệm và nhân rộng trên phạm vi cả nước. Ba là, chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp theo hướng gần dân, chăm lo cho dân, tạo sức mạnh và uy tín để củng cố niềm tin trong nhân dân. Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, gắn học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; làm cho từng tổ chức đảng và đảng viên thực sự trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo xây dựng “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Cùng với mở rộng dân chủ, cần tập trung xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; đồng thời, coi trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, đảm bảo mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, luôn đi đầu, đi trước, làm trước, làm có hiệu quả để nhân dân tin theo trong quá trình xây dựng “thế trận lòng dân” từ cơ sở. Chú trọng việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng và nhân dân trong tổ chức triển khai, thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, tạo sự tin tưởng, đồng thuận và ủng hộ của nhân dân đối với chủ trương, quyết sách của Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp. Bốn là, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thiết thực xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham ô, tham nhũng theo hướng tích cực phòng ngừa là chủ yếu, kết hợp với xử lý nghiêm các hành vi vi phạm cũng như các biểu hiện dung túng, bao che hoặc ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí dưới mọi hình thức. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng gắn với tự tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên; với coi trọng công tác quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên theo đúng quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước. Đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình thực chất kết hợp với mở rộng dân chủ, giữ vững kỷ cương, công khai minh bạch mọi vấn đề đối với từng cá nhân, tổ chức, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao như quản lý và sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, ngân hàng, tài chính, xây dựng cơ bản, mua sắm công,… đảm bảo đủ sức phòng ngừa, răn đe, trừng trị để các đối tượng không thể và không dám tham nhũng. Đề cao trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương và phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trong quá trình thực hiện, cần kiên quyết xử lý, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng; đồng thời, có chính sách khuyến khích, bảo vệ các tổ chức, cá nhân phát hiện, tố cáo tham nhũng, lãng phí. Chủ động và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ lợi dụng vấn nạn tham nhũng để kích động, xúi giục, chia rẽ đoàn kết nội bộ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Năm là, tăng cường hoạt động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng, chống và làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương, là giải pháp góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh. Theo đó, cần chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng về “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; đồng thời, luôn kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của Đảng và Nhà nước. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động và đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”. Gắn nhiệm vụ này với đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo điều kiện để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

“THẾ TRẬN LÒNG DÂN" LÀ MỘT TRONG NHỮNG MẠCH NGUỒN SỨC MẠNH NỘI SINH CỦA QUỐC GIA - DÂN TỘC

Yếu tố “lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ với nhau; trong đó, “lòng dân” bao giờ cũng tồn tại một cách khách quan và là cơ sở, nền tảng chủ yếu để tạo nên “thế trận lòng dân”. “Thế trận lòng dân” được xây dựng vững chắc sẽ có tác động tích cực, làm cho yếu tố “lòng dân” phát triển hài hòa, lành mạnh và hướng tới thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Song, trên thực tế, yếu tố “lòng dân” không tự nhiên trở thành “thế trận lòng dân” và “thế trận lòng dân” có thể vững ở thời điểm này, giai đoạn này nhưng cũng có thể không vững ở thời điểm khác, giai đoạn khác và không phải cứ xây dựng vững mạnh rồi là xong, mà phải thường xuyên được củng cố trong hoạt động thực tiễn thông qua đường lối, chủ trương, chính sách hợp lòng dân, phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Đồng thời, thế trận này phải được đặt vào trạng thái được triển khai thống nhất trong các tầng lớp dân cư, trong mọi lứa tuổi, mọi giai tầng xã hội. Ngoài ra, môi trường chính trị - xã hội cũng là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự hình thành và phát triển của “thế trận lòng dân”. Xuyên suốt chiều dài lịch sử đất nước, không khó để nhận thấy việc “quy tụ lòng người” là bài học kinh nghiệm quý báu đóng vai trò quyết định đến thắng lợi trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. “Thế trận lòng dân” là loại hình thế trận đặc biệt, là một trong những mạch nguồn sức mạnh nội sinh của quốc gia - dân tộc và được biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Đó là nền tảng, tạo nên sức mạnh tổng hợp, quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của quốc gia, dân tộc, là thành lũy kiên cố nhất, vững chắc nhất để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó còn là cội nguồn sức mạnh sâu xa xuất phát từ bản sắc văn hóa Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc. Ngay từ buổi đầu của lịch sử, lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc luôn là chất kết dính muôn người và trở thành nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Đây chính là cơ sở, nền tảng và cội nguồn sâu xa để dân tộc ta huy động sức mạnh tiềm tàng, giành độc lập tự chủ sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Dưới thời nhà Trần, tư tưởng “chúng chí thành thành” và chủ trương “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” là nhân tố quyết định trong 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông, là nét nổi bật về nghệ thuật đánh giặc giữ nước mang đậm tính minh triết của dân tộc ta. Trái lại, dưới thời nhà Hồ, lòng dân ly tán, trước họa xâm lăng mà trăm vạn người trăm vạn lòng thì dù có quân đông tướng giỏi, thành cao hào sâu, nhưng Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng vẫn phải thốt lên “thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. Và đúng là “dân không theo” nên công cuộc giữ nước của nhà Hồ khi đó thất bại. Bằng mưu lược và trí tuệ của mình, Nguyễn Trãi đã khái quát cô đọng về sức mạnh của nhân dân, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, “lật thuyền mới biết sức dân như nước”, có dân là có tất cả, không được lòng dân là mất tất cả, để rút ra vấn đề căn cốt nhất, đó là “việc nhân nghĩa cốt để yên dân”. Nhờ đó, khởi nghĩa Lam Sơn đã nhanh chóng phát triển thành biển lửa kháng chiến của cả dân tộc và giành thắng lợi. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc”, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Người khẳng định: “Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa. Nhân hòa là thế nào? Nhân hòa là tất cả mọi người đều nhất trí”(1). Nhân hòa ở đây thực chất là tinh thần hòa hợp, đồng lòng của toàn dân, biểu hiện tập trung ở lòng yêu nước, sự đoàn kết toàn dân “muôn người như một”, được ví như “bức thành đồng” vững chắc, vô địch mà không có đội quân xâm lăng nào có thể công phá được. Đó cũng chính là sức mạnh của cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí, quyết tâm đánh giặc giữ nước. Không chỉ vậy, Đảng ta còn chú trọng giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong nhân dân, sáng tạo nhiều hình thức tổ chức, tập hợp, thu hút đông đảo quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng, làm cho sự đoàn kết, đồng lòng ấy không ngừng được tăng cường vững chắc, được bổ sung những yếu tố mới, độc đáo, hiệu quả, góp phần quan trọng, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đến Đại hội lần thứ X, Đảng lần đầu tiên sử dụng cụm từ “thế trận lòng dân” và xác định: Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt. Bổ sung và phát triển quan điểm này, Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc”(2). Để củng cố và tăng cường hơn nữa “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới, Đại hội XII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”(3) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”; đã ban hành nhiều chính sách sát thực tiễn, hợp lòng dân, đáp ứng nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước. Đồng thời, bảo đảm kinh tế phát triển nhanh và bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội; thực hiện mỗi bước phát triển kinh tế là một bước cải thiện đời sống nhân dân; đẩy mạnh thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, ưu đãi đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng; tạo việc làm cho người lao động, miễn giảm thuế nông nghiệp nhằm “an dân”, “dưỡng dân”. Nhờ đó, diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân “thay da đổi thịt”, mọi người dân “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như ước nguyện của Bác Hồ. Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành, sửa đổi, đồng bộ hệ thống pháp luật, Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; thực thi quyền con người, quyền công dân. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cải cách hành chính… được tăng cường và có bước chuyển biến tích cực. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thường xuyên được chú trọng, góp phần quan trọng vào việc quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân; trong đó, người Việt Nam ở nước ngoài cũng cùng chung tay, góp sức xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan, chủ quan, việc xây dựng “thế trận lòng dân” còn có mặt hạn chế. Lợi dụng những yếu kém trong quản lý, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động chống phá, làm xuất hiện những sai lệch về chuẩn mực giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống, trái với truyền thống của dân tộc và giá trị con người Việt Nam, ảnh hưởng đến sự đồng thuận, gắn kết trong xã hội, làm cho một bộ phận nhân dân thiếu niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ, ảnh hưởng không nhỏ đến xây dựng “thế trận lòng dân”. Từ thực trạng và những vấn đề đặt ra cho thấy, xây dựng “thế trận lòng dân” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần phải tăng cường đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương.

Người là tấm gương mẫu mực của sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa cộng sản

         Cách đây 110 năm (1911 - 2021), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài để thực hiện khát vọng đem lại quyền tự do cho đồng bào, cho dân tộc thoát khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân. Người là tấm gương mẫu mực của sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa cộng sản, sự gắn kết giữa lực lượng cách mạng trong nước với quốc tế, giữa phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Sự nỗ lực cống hiến của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cho cách mạng thế giới trong những năm tìm đường cứu nước có tầm ảnh hưởng to lớn đến cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ vì nền độc lập, tự do của con người và các dân tộc thuộc địa.

Những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc là khoảng thời gian có nhiều cống hiến quan trọng, có giá trị tạo ra bước ngoặt cho cách mạng Việt Nam, sự nghiệp giải phóng của các dân tộc thuộc địa và cho sự nghiệp cách mạng chung của thế giới. Người luôn trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận, nguyên lý, quy luật cách mạng chung, trong đó có quy luật thành lập đảng cộng sản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vào việc xây dựng, thành lập chính đảng đặc thù ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến là Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngoài việc sáng lập, rèn luyện Đảng ta, trong những chặng đường tiếp theo, Người luôn giải quyết tốt các mối quan hệ chính trị, như: Giữa sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản với việc lựa chọn con đường, mục tiêu, nhiệm vụ, lực lượng và phương thức tiến hành cách mạng ở Việt Nam; giữa sự nghiệp cách mạng chung của thế giới với sự nghiệp cách mạng riêng của Việt Nam…


Đất nước phát triển mạnh mẽ sau 35 năm đổi mới (Trong ảnh: Bến Nhà Rồng, Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay - từ đây năm xưa Người đã ra đi tìm đường cứu nước)

 Trong suốt chặng đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Người đã lựa chọn đúng con đường cứu nước, tổ chức và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi vẻ vang đó chứng minh rằng, một đảng cộng sản còn non trẻ ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, có đường lối lãnh đạo đúng đắn, có lãnh tụ thiên tài và biết phát huy sức mạnh thời đại với sức mạnh dân tộc thì tất yếu chiến thắng đế quốc thực dân lớn. Cách mạng Việt Nam là thắng lợi điển hình trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là cơ sở vững chắc bảo đảm vững chắc nền độc lập, tự do của dân tộc. Sự cống hiến vĩ đại của Người đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới là giương cao ngọn cờ đấu tranh giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, mở ra một thời đại mới mang tên “Thời đại Hồ Chí Minh”.

Khoảng thời gian ra nước ngoài tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là mốc son chói lọi, mang tính bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của Người, của dân tộc Việt Nam và của nhân loại tiến bộ. Thời gian càng lùi xa, càng cho chúng ta thấy sự vĩ đại của người chiến sĩ cộng sản kiên cường, kiên định với mục tiêu đã lựa chọn, cả cuộc đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Những cống hiến vĩ đại của Người đối với cách mạng Việt Nam và quốc tế trong thời kỳ bôn ba ra nước ngoài, mà đặc biệt là thời gian ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, là những trang sử hào hùng, để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho cách mạng Việt Nam, cũng như cách mạng thế giới. Nhân loại tiến bộ mãi ghi nhớ sự cống hiến vĩ đại của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, như nhà báo, nhà văn Cuba Luis Francisco Báez Hernández (1936 - 2015) đã từng viết: “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật phi thường của thời đại”./.

Rèn luyện bản lĩnh chính trị là yêu cầu vừa cấp bách vừa thường xuyên

Bản lĩnh chính trị là sự kiên định, khả năng độc lập suy nghĩ, quyết định và hành động, là đòi hỏi cơ bản và trực tiếp đối với mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, với cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng, giúp mỗi người kiên định lập trường, tư tưởng và bằng ý chí, năng lực của mình vượt qua khó khăn, thử thách, áp lực để quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của mình, của địa phương, cơ quan, đơn vị. bản lĩnh chính trị là sự tổng hợp biện chứng của lập trường chính trị, phẩm chất chính trị và năng lực chính trị; là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho mỗi cán bộ, đảng viên có định hướng chính trị đúng đắn, luôn làm chủ bản thân, làm chủ hoàn cảnh thực tiễn và kiểm soát được hành vi, thái độ của mình trong mọi tình huống. Đó chính là sự vững vàng, kiên định, chủ động trong cả suy nghĩ và hành động trước những khó khăn, thách thức của cuộc sống, đúng như V.I.Lênin từng nhấn mạnh: “Chỉ giai cấp nào đi theo con đường của mình mà không do dự, không chán nản và không sa vào tuyệt vọng trong những bước ngoặt khó khăn nhất, gay go nhất và nguy hiểm nhất, thì mới có thể lãnh đạo được những quần chúng lao động và bị bóc lột. Chúng ta không cần những sự hăm hở điên cuồng. Điều cần thiết cho chúng ta, chính là bước đi nhịp nhàng của những đoàn quân vững như gang thép của giai cấp vô sản”[1]. Bản lĩnh chính trị là phần cốt lõi, cơ bản nhất, là phẩm chất quan trọng cần phải có hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên; là sự cụ thể hóa bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang bản chất giai cấp công nhân, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người; là sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân; là tinh thần, ý chí, quyết tâm phấn đấu, vượt mọi gian khổ và không dao động trước thử thách, áp lực để hoàn thành nhiệm vụ. Đó còn là tinh thần chủ động trong đấu tranh vạch trần, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, góp phần làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động của chúng, phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… Theo Hồ Chí Minh, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là sự thể hiện tính giai cấp, “tính Đảng” trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm; là luôn “nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”[2]; là “phải quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đó là phẩm chất cao quý của người cách mạng, đó là đạo đức cách mạng, đó là tính Đảng, tính giai cấp, nó đảm bảo cho sự thắng lợi của Đảng, của giai cấp, của nhân dân”[3]. Do đó, rèn luyện bản lĩnh chính trị để mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng, “kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới”[4]; đồng thời, nỗ lực, sáng tạo và phát huy sức mạnh tiềm năng hoàn thành nhiệm vụ được giao phó là yêu cầu vừa thường xuyên, vừa bức thiết trong công tác xây dựng Đảng. Qua đó, không chỉ nhằm “xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, gần dân, sát dân, có trách nhiệm cao trong công việc, có phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng”[5], “nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả”[6] mà còn góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, thiết thực xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là một trong những yếu tố quan trọng hình thành bản lĩnh chính trị của Đảng. Bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng thể hiện ở những quyết định đúng đắn, kịp thời, phù hợp yêu cầu của thực tiễn, nhất là ở trong những thời khắc có ý nghĩa bước ngoặt. Nhờ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trong 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xuyên suốt và nhất quán trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Đảng luôn coi trọng việc rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên - nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng, trong mọi hoàn cảnh, thời điểm. Rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên là toàn bộ hoạt động của các cấp uỷ, tổ chức đảng và của chính cán bộ, đảng viên trên tinh thần quán triệt sâu sắc và theo đúng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng và xác định rõ các tiêu chí đánh giá bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên; được tiến hành đồng bộ: từ việc nâng cao nhận thức tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị đến nâng cao năng lực công tác, phương pháp làm việc, tác phong công tác; với sự tham gia, phối hợp của nhiều lực lượng và đi liền cùng đó là tạo điều kiện và môi trường thử thách để rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn liền với việc đề cao vai trò tự giác tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị của mỗi người. Rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng; khi mà một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, với những biểu hiện về sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, chạy theo danh lợi, tiền tài, địa vị, tham ô, tham nhũng, mư cầu lợi ích nhóm… Thực tế công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng những năm qua, đặc biệt là khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với Chỉ thị 03-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với những quy định về những điều đảng viên không được làm… đã cho thấy việc rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên đã được triển khai thực hiện nghiêm túc ở Trung ương và địa phương. Thông qua việc học tập, quán triệt, bồi dưỡng và tu dưỡng về mọi mặt, năng lực nhận thức, trình độ hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng của Đảng, sự kiên định mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội của đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Mỗi người trong mọi mặt công tác đã được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để có tư duy khoa học độc lập, năng lực tự định hướng và phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó; đã nâng cao năng lực tự rèn luyện, tu dưỡng trong thực tiễn về phẩm chất đạo đức, nhân cách, phương pháp công tác, kỹ năng làm việc và lãnh đạo gắn liền với việc tôi luyện ý chí, tinh thần kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, phản động, nhất là khả năng “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” với những cám dỗ vật chất, những tiêu cực từ cơ chế kinh tế thị trường, với những thủ đoạn, âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch… Cùng với việc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng, việc rèn luyện bản lĩnh chính trị thường xuyên, liên tục gắn với tu dưỡng đạo đức cách mạng, thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc của mỗi người, với công tác kiểm tra và giám sát nghiêm túc của mỗi cấp ủy sẽ khiến “phú quý không dụ dỗ được ta, nghèo khổ không lay động được ta, oai lực không dọa nạt được ta. Mà khó khăn gì chúng ta cũng vượt qua được, việc gì chúng ta cũng làm được”[7].

RÈN LUYỆN BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG SỰ SUY THOÁI

Bản lĩnh chính trị vững vàng là một phẩm chất quyết định sự sống còn và thành công của mỗi cán bộ, đảng viên và của Đảng, song đó là kết quả của một quá trình giáo dục, bồi dưỡng, học tập và rèn luyện thường xuyên, kiên trì, bền bỉ trong thực tiễn. Thực tế cho thấy, về cơ bản, đội ngũ cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực chuyên môn để làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Đặc biệt, nhiều cán bộ, đảng viên với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn “kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện”[8] đã năng động, sáng tạo, đi đầu trong mọi lĩnh vực, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm với những công việc khó, mới trong xu thế toàn cầu hóa. Đó có thể là những điều chưa có trong sách vở nhưng đang xảy ra trong thực tiễn và khi đã nghĩ “là đúng” thì phải dấn thân để làm, quyết tâm làm để đưa cái đúng vào cuộc sống; đồng thời, lấy kết quả cuối cùng để chứng minh và bảo vệ mình, tổ chức mình. Tuy nhiên, trước những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, những khó khăn, phức tạp nảy sinh trong quá trình hội nhập, đặc biệt là với các thủ đoạn tinh vi và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; lập trường tư tưởng không vững vàng nên hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài về lý tưởng cách mạng của người cộng sản, giảm sút ý chí, niềm tin về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; mang nặng chủ nghĩa cá nhân vị kỷ: độc đoán, chuyên quyền, lạm dụng quyền lực, chạy bằng cấp, chạy quy hoạch, chạy chức, chạy quyền và nhất là bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất nên đã vi phạm pháp luật, đã bị khai trừ khỏi đảng và vướng vòng lao lý, v.v.. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ rõ về sự suy thoái nêu trên; trong đó nhấn mạnh: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”... Cùng với đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì thế mà hoài nghi, thiếu tin tưởng và nhất là không thiết tha với việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bộ phận cán bộ, đảng viên này đã không chủ động, tự giác, tích cực kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động mà đôi khi và thậm chí còn cổ súy, phụ họa “té nước theo mưa” cho một số quan điểm sai trái, lệch lạc,v.v.. Nguy hiểm hơn là trong thực tế, đã có “không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””[9]. V.I.Lênin đã từng chỉ rõ, các thế lực thù địch không thể đánh đổ được những người cộng sản, trừ chính những sai lầm của chính mình và “không một ai trên thế giới này có thể làm mất được uy tín của những người Mácxít cách mạng nếu họ không tự làm mất uy tín của họ”[10]. Điều đó có nghĩa là, việc rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ có vai trò quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức mà còn có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng và của công tác cán bộ, công tác đảng viên nói chung. Vì thế, để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần thấm nhuần và thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau: Một là, mỗi cấp ủy không chỉ phải nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng của việc phải thường xuyên, liên tục rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên mà còn phải coi đó là yêu cầu vừa bức thiết vừa thường xuyên của công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Gắn việc rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị với việc phát huy tính tiền phong, gương mẫu, thống nhất giữa nói và làm của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng. Thông qua việc chú trọng “xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị”[11], từng bước đẩy lùi, ngăn chặn các nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng, góp phần nâng cao uy tín lãnh đạo của Đảng, năng lực và sức chiến đấu của Đảng nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng. Hai là, mỗi cấp ủy cần xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, sát thực tiễn để quán triệt, thực hiện tốt hơn nữa các nghị quyết, quy định của Đảng về học tập lý luận chính trị; trong đó, tập trung thực hiện Quy định số 54-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng; Quy định số 164-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý,v.v.. Theo đó, hệ thống các trường chính trị từ Trung ương đến địa phương cần tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị; trong đó, chú trọng xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng thiết thực, hiệu quả, phù hợp từng đối tượng, phù hợp điều kiện đặc thù của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ba là, việc đánh giá bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt nói riêng phải căn cứ vào đặc thù từng lĩnh vực, từng địa phương, cơ quan, đơn vị mà họ công tác. Do đó, cùng với việc đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp tiếp tục gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các Quy định về nêu gương là việc các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương phải xây dựng các tiêu chí để đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên phù hợp bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Khi xem xét, đánh giá phải dựa vào tiêu chí, nội dung đăng ký thực hiện và kết quả công tác của mỗi người; thống nhất giữa đánh giá bản lĩnh chính trị với kết quả thực thi nhiệm vụ, gắn đánh giá đạo đức công vụ với đánh giá kết quả thực thi công vụ, đảm bảo hiệu quả thực sự trong đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên hằng năm, khắc phục triệt để cách đánh giá cán bộ, đảng viên một cách chung chung, hình thức, dĩ hòa vi quý... Thông qua đó, tạo động lực để cán bộ, đảng viên phấn đấu vươn lên, rèn luyện bản lĩnh chính trị, kiên định, kiên trì và năng động, sáng tạo hoàn thành nhiệm vụ được giao. Bốn là, phát huy tính tích cực, tự giác trong rèn luyện bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên, trong đó cán bộ cấp càng cao càng phải gương mẫu rèn luyện bản lĩnh chính trị, nghiêm khắc với bản thân mình. Đồng thời, cấp ủy các cấp chú trọng xây dựng cơ chế để mỗi người đều phải nỗ lực rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Học lúc ra thực hành mới vững chắc, hăng hái, lúc gặp khó khăn mới kiên quyết, hy sinh để tu dưỡng đạo đức cách mạng: Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Học để tin tưởng: Tin tưởng vào Đoàn thể. Tin tưởng vào nhân dân. Tin tưởng vào tương lai của dân tộc. Tin tưởng vào tương lai của cách mạng”[12]. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện, môi trường, các phong trào thi đua, các cuộc vận động để cán bộ, đảng viên trải nghiệm, tự giác rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị. Qua đó, không chỉ giúp họ tự mình tu dưỡng, phấn đấu, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng mà còn góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Năm là, cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đội ngũ cán bộ của Đảng là việc thực hiện tốt quy trình, quy hoạch đội ngũ cán bộ và tạo môi trường cho cán bộ, đảng viên, đội ngũ lãnh đạo, quản lý chủ chốt được thử thách, rèn luyện bản lĩnh chính trị. Thực tế cho thấy, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên có điều kiện bộc lộ rõ khi được trải nghiệm trong môi trường thực tiễn nhiều thử thách, có độ phức tạp và nhạy cảm về chính trị, cho nên, cần thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ, đảng viên trong diện quy hoạch, nguồn quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, để đào tạo, bổ sung kiến thức lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn cho họ, nhất là trước các kỳ đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội của Đảng. Trong đó, chú trọng thực hiện “cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ” và “xây dựng kế hoạch cụ thể để luân chuyển, điều động giữ vị trí cấp trưởng, phù hợp với chức danh quy hoạch ở địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ” theo đúng tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” gắn liền với công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Đặc biệt, chú ý những địa bàn, lĩnh vực trọng yếu, nhiều khó khăn, thử thách, nhạy cảm và phức tạp để thông qua đó, rèn luyện những cán bộ trẻ có triển vọng phát triển, được quy hoạch và dự kiến bổ nhiệm giữ trọng trách cao, để kịp thời sàng lọc, loại bỏ những cán bộ “đẹp hồ sơ” nhưng lập trường chính trị, phẩm chất chính trị và năng lực chính trị không tương xứng./.

GIẢI PHÁP PHÒNG VÀ CHỐNG TỆ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Để phòng, chống tệ cơ hội chính trị hiện nay có hiệu quả đòi hỏi phải thực hiện kiên quyết và đồng bộ nhiều giải pháp. Một là, nhận thức đúng những biểu hiện của tệ cơ hội chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống tệ cơ hội chính trị hiện nay. Thực tế, tệ cơ hội chính trị đang diễn ra ở nước ta hiện nay là một trong những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó cũng là biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cơ hội mà những kẻ cơ hội chính trị lại rất tinh vi và xảo quyệt, bằng trực quan chúng ta không thể xét đoán được bộ phận nào trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đúng như V.I. Lênin đã nhận định: “Đặc điểm của tất cả chủ nghĩa cơ hội hiện đại trong mọi lĩnh vực là nó mang tính chất không rõ ràng, lờ mờ và không thể hiểu được... Phái cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng và rứt khoát, bao giờ nó cũng tìm con đường chung dung, nó quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau”(3). Nhận dạng đúng những biểu hiện của tệ cơ hội chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhận thức đúng tính chất phức tạp, khó khăn, lâu dài, quyết liệt của cuộc đấu tranh phòng, chống tệ cơ hội chính trị hiện nay chính là để tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Từ đó, chủ động, kịp thời, kiên quyết thực hiện những biện pháp, bước đi thích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, không thỏa hiệp với những tư tưởng, biểu hiện của tệ cơ hội chính trị ở mọi nơi, mọi lúc. Đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, kinh tế, văn hóa, xã hội, không cho chúng có cơ hội trở thành một trào lưu, một lực lượng ảnh hưởng tới sự nghiệp cách mạng, góp phần vào việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc tiến lên. Quá trình đó cần gắn với đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và cuộc đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Một điều có tính nguyên tắc là luôn phải giữ vững tính đảng trong cuộc đấu tranh này, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hai là, tăng cường sức chiến đấu và hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận và công tác tổ chức. Cần phải làm cho công tác tư tưởng luôn chủ động, kịp thời, sắc bén, có tính thuyết phục cao, góp phần củng cố sự đoàn kết thống nhất về chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân. Đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp gắn với đẩy mạnh thực hiện học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Kiên quyết, kịp thời đấu tranh chống những quan điểm sai trái, những biểu hiện cơ hội chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong công tác tổ chức phải tăng cường kiểm tra, kiểm soát, thực hiện chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội... như Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ ra, cho dù họ ở bất cứ cương vị nào. Đặc biệt phải thực hiện nghiêm Quy định số 205-QĐ/TW của Bộ Chính trị về “Việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Trong đó, kiên quyết xử lý nghiêm, không có vùng cấm đối với các hành vi chạy chức, chạy quyền và hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền theo Điều 10 và Điều 11 của Quy định này. Quá trình đó, chúng ta phải chấp nhận chịu “đau xót” cần thiết để loại bỏ những phần tử cơ hội chính trị ra khỏi đội ngũ của Đảng. Cần kiên quyết thực hiện điều V.I.Lênin đã nhắc nhở những người cộng sản: “Điều rất cần thiết hiện nay là, về mặt tổ chức, phải hoàn toàn tách hẳn những phần tử cơ hội chủ nghĩa ấy ra khỏi các đảng công nhân”(4), dù cho bản thân Đảng có “phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa”(5). Ba là, đẩy mạnh đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ một số cán bộ, đảng viên “do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(6). Do chủ nghĩa cá nhân mà phạm nhiều sai lầm và sinh ra nhiều chứng bệnh, mỗi chứng bệnh là một kẻ địch hết sức nguy hiểm, vì nó phá hoại từ trong nội bộ Đảng phá ra. Từ đó, làm cho tệ cơ hội chính trị càng diễn biến phức tạp, làm suy yếu sức mạnh của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gây ra thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Chính vì thế, để phòng và chống tệ cơ hội chính trị, đòi hỏi toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức, có quyền phải đặt lợi ích của nhân dân, của cách mạng, của Đảng lên trên hết. Phải kiên quyết đấu tranh “quét sạch” chủ nghĩa cá nhân, nêu cao tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Thường xuyên cảnh giác đấu tranh ngăn ngừa và đẩy lùi tệ cơ hội chính trị trong Đảng. Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo của các tổ chức đảng, phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và của Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể quần chúng nhân dân. Để phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi tệ cơ hội chính trị, đòi hỏi cấp bách hiện nay và trong các năm tới là phải tăng cường sự lãnh đạo của các tổ chức đảng, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, quyết định nhất, bởi các cấp ủy đảng có chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối mọi hoạt động của tất cả các tổ chức, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong phạm vi phân cấp quản lý. Đi liền với đó, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm cao nhất trước cấp ủy và cấp trên việc quản lý, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Theo đó, trong thời gian tới cần nâng cao nhận thức, xác định rõ vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng, chống tệ cơ hội chính trị. Thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp và xây dựng đội ngũ người đứng đầu có phẩm chất, năng lực, trình độ tương xứng, thực sự là tấm gương tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức, lối sống. Tổ chức đảng và người đứng đầu phải lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhưng cần chú trọng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Muốn loại trừ tệ cơ hội chính trị, vừa phải đấu tranh mạnh mẽ vừa phải đi sâu, sát quần chúng để tìm hiểu rõ, hiểu đúng từng loại cơ hội chính trị. V.I. Lênin đã nhắc nhở: “Bổn phận của chúng ta, nếu chúng ta vẫn muốn còn là những người xã hội chủ nghĩa, là phải đi sâu, đi sát hơn vào quần chúng thật sự, đấy là toàn bộ ý nghĩa của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và toàn bộ nội dung cuộc đấu tranh đó”(7). Theo đó, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan dân cử thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình để phát hiện hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay chạy chức, chạy quyền và kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kiểm tra, xử lý; đồng thời, giám sát việc thực hiện kiến nghị theo quy định. Cùng với đó, cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm phát hiện và lắng nghe ý kiến của nhân dân để phản ánh, tố cáo, cung cấp thông tin cho các cơ quan có thẩm quyền về hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Đấu tranh phòng, chống tệ cơ hội chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng sẽ tiếp tục diễn ra quyết liệt, phức tạp và lâu dài. Thành bại của cuộc đấu tranh này hoàn toàn phụ thuộc vào sự đồng tâm, hiệp lực và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị. Do đó, phải luôn luôn đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phải coi trọng ngăn chặn, đẩy lùi tệ cơ hội chính trị. Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta... Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”(8) để từ đó không ngừng đấu tranh phòng, chống tệ cơ hội chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức./.

Phòng và chống tệ cơ hội chính trị hiện nay

Để phòng, chống tệ cơ hội chính trị hiện nay có hiệu quả đòi hỏi phải thực hiện kiên quyết và đồng bộ nhiều giải pháp Đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội đã trở thành một quy luật vận động và phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đó là cuộc đấu tranh lâu dài và hết sức quyết liệt, khó khăn phức tạp diễn ra ngay từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin tổ chức tiến hành để bảo vệ sự trong sáng, tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giải phóng nhân loại khỏi áp bức, bất công. Ở Việt Nam, trong gần 90 năm Đảng lãnh đạo cách mạng đã trải qua nhiều thời kỳ, mặc dù chủ nghĩa cơ hội không xuất hiện với tư cách một học thuyết về lý luận và một trào lưu hoạt động trong thực tiễn, nhưng những biểu hiện của nó thì ở thời kỳ nào cũng có. Vì thế, cùng với quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải không ngừng đấu tranh để phòng và chống những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, trong đó nổi bật là phòng và chống tệ cơ hội chính trị nhằm loại bỏ những phần tử cơ hội trong đội ngũ, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong Đảng. Thực chất của tệ cơ hội chính trị là một bộ phận không nhỏ những kẻ cơ hội, thiếu lý tưởng cộng sản, tìm cách chui vào Đảng, mang danh cán bộ, đảng viên cộng sản để tìm cơ hội “thăng quan tiến chức”. Bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân, họ tìm cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc cốt để “vinh thân phì gia”. Họ say mê quyền lực, địa vị, coi như một thứ có thể mua bán, tiến thân, từ đó mà khéo luồn lách, nịnh bợ lấy lòng cấp trên, để tranh thủ lá phiếu trước mỗi đợt bầu cử. Họ kéo bè kết cánh, móc ngoặc trên dưới, trong ngoài, dựa vào những lợi thế là “hậu duệ”, “quan hệ”, “tiền tệ” với những cán bộ cấp trên để tìm mọi cách chạy chức, chạy quyền, chạy danh, chạy lợi, chạy chỗ, chạy bằng cấp, chạy tuổi... khi bị phát hiện thì tiếp tục chạy tội. Họ lợi dụng việc tuyển chọn, đánh giá, luân chuyển cán bộ để trục lợi cá nhân, tìm mọi cách đưa người “cùng cánh” vào nắm những chức vụ trong cơ quan mà không chịu chọn những người có đủ đức, tài, gây mất đoàn kết nội bộ. Từ đó, họ dần từ bỏ trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, không còn là “công bộc” của dân, trở thành những “ông quan” cách mạng đục khoét tiền bạc, của cải của nước, của dân. Hình ảnh và hành động của họ làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, làm suy yếu sức mạnh của Đảng. Trong những năm đổi mới đất nước và tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ở Việt Nam, bên cạnh những thành tựu trong xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức thì dưới tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” đã dẫn tới một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ đó, đã tiếp tục nảy sinh tệ cơ hội chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, đe dọa tới sự sống còn của Đảng, của chế độ. Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã chỉ rõ: “Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó, không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh... tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích... Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen biết lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”(1). Trước thực trạng đó, Đảng ta đã đẩy mạnh công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống tham nhũng và phòng, chống những biểu hiện của tệ cơ hội chính trị. Chỉ tính từ sau Đại hội XII đến nay (1-2016 đến 10-2019), đã có hơn 70 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý và hơn 53.000 cán bộ các cấp khác bị kỷ luật, trong đó có cả người từng giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị, gần 20 Ủy viên Trung ương và nguyên Ủy viên Trung ương; 1 nguyên Phó Thủ tướng và nhiều Bộ trưởng, nguyên Bộ trưởng, cùng nhiều Bí thư tỉnh uỷ và gần 20 tướng lĩnh... “Thật đau xót, nhưng không thể không làm, không có cách nào khác! Tất cả là vì sự nghiệp chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân”(2). Mặc dù vậy, điều đáng chú ý là trong thời gian gần đây, khi toàn Đảng triển khai công tác chuẩn bị đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, đã xuất hiện tình trạng như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cảnh báo trong các Hội nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương Đảng là vẫn còn một số cán bộ, đảng viên có chức có quyền đã không tập trung vào thực hiện nhiệm vụ chính trị, chăm lo phát triển kinh tế - xã hội ở cơ quan, địa phương mình, mà chỉ lo chạy chức, chạy quyền để có những vị trí cao ở nhiệm kỳ tới. Điều này đặt ra đòi hỏi toàn Đảng phải chú trọng tiếp tục đẩy mạnh phòng và chống tệ cơ hội chính trị, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ năng lực phẩm chất, thực sự là “công bộc” của nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - Giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng

Thực tiễn những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rằng: Nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng chính là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại. Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, hành trình bôn ba tìm đường cứu nước đã đưa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước đúng đắn khi được đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin và khẳng định: 1) “Hỡi đồng bào bị đọa đầy, đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”[1]; 2) “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[2]; 3) Cách mệnh “trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[3]; 4) “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt” và “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[4]; 5) “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng4) (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”[5] và Người đã nỗ lực hoạt động, xúc tiến, chuẩn bị về mọi mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam mùa xuân năm 1930. Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo đã cho thấy, trên nền tảng những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo, phù hợp điều kiện của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Trước Đại hội VII của Đảng, văn kiện các kỳ Đại hội và Điều lệ Đảng đều khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Song từ quá trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của tiến trình cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, không chỉ giải quyết vấn đề thuộc về tư duy lý luận mà cao hơn, đó là tư duy hành động, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn cách mạng Việt Nam đòi hỏi. Tư tưởng của Người được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những tư tưởng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam; tiếp thu, tiếp biến và vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại: văn hóa phương Đông, phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin mà hạt nhân lý luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành độc lập dân tộc; đã nỗ lực xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, với một Đảng phụng sự và liêm chính, Chính phủ liêm kiết và sáng tạo, đội ngũ cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại...; là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”[6]. Vì thế, tại Đại hội VI (12/1986), Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”[7]. Đến Đại hội VII (6/1991), Đảng bổ sung điểm mới: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”[8]; đồng thời, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991); trong đó, khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”[9]. Đây là bước phát triển lớn trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng; thể hiện rõ quan điểm nhất quán về mặt tư tưởng: cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng trong Cương lĩnh năm 91 không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cùng với thời gian, Đảng đã nhận thức đầy đủ, sâu sắc giá trị to lớn, toàn diện cống hiến vô giá về lý luận, tư tưởng của Người được thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX chứng thực và khẳng định tại Đại hội IX rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”[10]. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động… Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”[11]. Thực tiễn những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rằng: Nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng chính là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.

ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, PHÒNG VÀ CHỐNG SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

Việt Nam đang đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước diễn biến khó lường cùng những khó khăn, phức tạp trong đời sống xã hội, nhất là sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hoang mang, dao động, giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội... Trong khi đó, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa. Thế giới có thể đổi thay, nhưng hơn bao giờ hết, thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải: “Chú trọng xây dựng Đảng về chính trị. Kiên định[12] (là vững vàng, không dao động, thay đổi lập trường, ý chí trước mọi trở ngại) chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường luố đổi mới”[13] - coi đó là một nguyên tắc cơ bản để giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Cụ thể là, toàn Đảng nói chung, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải: 1) Chú trọng học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để hiểu sâu sắc bản chất và tin tưởng vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng, lãnh đạo; để mỗi người không chỉ nói, viết và làm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công tác, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó. 2) Thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phòng và chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo lức, lối sống như phai nhạt mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào xu thế khách quan của lịch sử và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chạy theo lối sống thực dụng, vị kỷ… Đồng thời, chủ động phòng, chống và đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và chống phá Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước… bằng những việc làm cụ thể phù hợp chức năng, nhiệm vụ mình đảm nhiệm. Tuy nhiên, trong thực tế, đã có “không ít cán bộ, đảng viên có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”[14] như văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nhận định. Không chỉ có vậy, bộ phận suy thoái về tư tưởng chính trị đó đã thật sai lầm khi: Một là, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX chứ không phải là ở thế kỷ XXI - thời đại của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, của nền kinh tế tri thức; chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của Việt Nam mà du nhập từ phương Tây, nên không phù hợp với điều kiện Việt Nam; đòi sửa đổi Cương lĩnh của Đảng theo hướng đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng mà chỉ giữ lại “học thuyết Hồ Chí Minh”, chỉ giữ lại mục tiêu độc lập dân tộc mà bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội... Đây là những nhận thức sai lầm của những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện về chính trị, tư tưởng, nên đã không thấy hoặc cố tình không thấy rằng, Hồ Chí Minh đã khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là cái “cẩm nang thần kỳ”, là “mặt trời chói lọi” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Nhân thức sâu sắc rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết mở, trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đổi mới về tư duy lý luận và nhận thức, đã ngày càng khẳng định sức sống, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin; tăng cường tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, khắc phục bệnh giáo điều, bảo thủ cũng như loại bỏ những nhận thức ấu trĩ, giáo điều, duy ý chí về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội,v.v.. để vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện lịch sử của Việt Nam. Hai là, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh như: “Hồ Chí Minh du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam”; “Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin”; “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều”; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, bởi thế, cần từ bỏ nó để “kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi” - con đường tư bản chủ nghĩa. Thậm chí, có người muốn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin hoặc tìm mọi cách đả kích, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức cách mạng của Người để “hạ bệ thần tượng”; lung lạc những người nhẹ dạ, cả tin và phủ nhận những giá trị cơ bản, đúng đắn trong tư tưởng của Người, nhằm phá hoại và làm thay đổi nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… Những quan niệm sai lầm này cho thấy sự thiển cận của những người không hiểu và cố tình không hiểu rằng, chỉ khi tìm thấy và lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh mới tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại, để lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngày càng phát triển phồn vinh. Hệ thống quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về mục tiêu, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới ở Việt Nam là cơ sở cho đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt 90 xây dựng và phát triển. Ba là, đề cao “cực đoan” tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng ở Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ mà không cần chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí coi tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam. Đây là quan điểm sai trái, bởi, thực tế lịch sử đã chứng minh, Hồ Chí Minh là người lựa chọn, tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, song điều đó không có nghĩa cách mạng Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ… Loại ý kiến đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh này thực chất là xuyên tạc và nhằm hạ thấp sự cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam và thế giới, hạ thấp tư tưởng của Người, bởi chỉnh thể làm nên hệ tư tưởng của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chứ không phải chỉ duy nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh. Bốn là, “hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, “lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, “phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” chỉ ra. Những người dao động về nền tảng tư tưởng, ý thức hệ của Đảng này không hiểu được rằng: “Có học tập lý luận Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm được tốt công tác Đảng giao phó cho mình”[15], nhất là “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”[16]. Những biểu hiện suy thoái này có thể dẫn đến sự phản bội lại mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, xa rời nền tảng tư tưởng của Đảng, do đó cần phải được nhận thức, cảnh giác sâu sắc trong toàn Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Thứ nhất, trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh đều phải kiên định, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với bối cảnh mới của tình hình thế giới và trong nước theo Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; coi đó “là nội dung quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về mặt tư tưởng, vừa có vai trò nền tảng, vừa có vị trí then chốt trong tình hình hiện nay” gắn với Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 để triển khai nghiên cứu lý luận” gắn và Quy định số 285-QĐ/TW ngày 25/4/2015 của Bộ Chính trị khóa XI về dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan Đảng, nhà nước; tạo môi trường khuyến khích sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị và tôn trọng, tiếp thu và sử dụng kết quả tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Tăng cường và đổi mới việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, để không chỉ nhận thức sâu sắc mà quan trọng hơn là bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, gắn với tổng kết thực tiễn và vận dụng vào thực tiễn, phù hợp điều kiện của Việt Nam. Thứ hai, chú trọng công tác tư tưởng, gắn thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; triển khai toàn diện, sâu rộng Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam; trước hết, trong xây dựng đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của toàn hệ thống chính trị… Đồng thời, tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Đảng và trong xã hội. Trong đó, việc đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền về giá trị, những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với Việt Nam và xu thế thời đại; việc phát huy sức mạnh tổng hợp của báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng và các kênh thông tin khác gắn với nâng cao tính thuyết phục, tính chiến đấu và tính hấp dẫn của công tác tư tưởng trên báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội có vai trò quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị về chương trình, giáo trình, nội dung và phương pháp giảng dạy trong hệ thống các trường chính trị, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và hệ thống giáo dục quốc dân. Trong đó, xây dựng các chương trình, nội dung đào tạo lý luận chính trị phù hợp với đối tượng và cấp học, có tính liên thông để khắc phục sự chồng chéo, trùng lặp, chưa bám sát thực tiễn gắn với việc nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học các bộ môn lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ. Đồng thời, chú trọng giáo dục lý luận chính trị cho thế hệ trẻ, “góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội; bảo đảm thế hệ trẻ Việt Nam luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và với chế độ”. Thứ tư, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và đấu tranh phản bác có hiệu quả, kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch, với các hình thức đa dạng, phong phú để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Tăng cường thực hiện cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin, chủ động nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị; chủ động xây dựng kế hoạch, luận cứ đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc và tạo sự thống nhất trong phối hợp giữa các cơ quan, ngành có liên quan trên cả ba lĩnh vực lý luận chính trị, tư tưởng - văn hóa và văn học - nghệ thuật. Trong đó, các cơ quan thông tấn, báo chí từ Trung ương đến địa phương tiếp tục xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; phòng và chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”; phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”… Thông qua đó, nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết phải học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận diện và kiên quyết phòng, chống và ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chỉ rõ và vạch trần thủ đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội của các thế lực thù địch, phản động nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân để tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội. Thứ tư, xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có năng lực nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn từ cử nhân, thạc sĩ đến tiến sĩ thuộc tất cả các chuyên ngành: triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa cộng sản khoa học; tư tưởng Hồ Chí Minh; lịch sử Đảng; xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam; chính trị học và một số bộ môn khác nghiên cứu chuyên sâu về đường lối, chủ trương, chiến lược của Đảng. Trong đó, chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sáng tạo và trình độ lý luận cao, am hiểu tình hình thế giới và trong nước, có năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn; gắn lý luận với thực tiễn, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn tốt để không chỉ chứng minh tính đúng đắn, khoa học của chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thứ năm, mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục học tập nâng cao trình độ về mọi mặt để có đủ năng lực nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống những di sản tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao về nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy… Thông qua đó, giúp mỗi người không chỉ hiểu đúng, sâu sắc và tin tưởng vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng vào quá trình công tác và thực tiễn cuộc sống để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó mà còn góp phần trong tuyên truyền và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh với các luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch, cơ hội để thống nhất cao về ý chí, hành động, siết chặt đội ngũ, bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng./.

Báo chí điện tử phát huy vai trò trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta, báo chí nói chung, báo chí điện tử nói riêng đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, từng bước đổi mới nội dung và phương thức, thích ứng với xu thế phát triển của nền báo chí hiện đại. Báo chí ngày càng đóng góp tích cực vào mọi mặt đời sống, xã hội, nhất là trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 1. Theo số liệu đưa ra tại Hội nghị báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020, tính đến tháng 11-2019, cả nước có 850 cơ quan báo chí, trong đó, có 116 báo có hoạt động báo điện tử, 52 tạp chí có hoạt động tạp chí điện tử, 23 cơ quan báo chí điện tử độc lập, bao gồm 16 báo điện tử và 7 tạp chí điện tử. Báo cáo đưa ra tại Hội nghị đã nhận định, các cơ quan báo chí điện tử đã thực hiện nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thông tin của Đảng, Nhà nước, bám sát mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, sự đồng thuận của xã hội và niềm tin của nhân dân đối với Đảng”. Đặc biệt, hệ thống báo chí điện tử đã từng bước trở thành lực lượng nòng cốt, chủ lực của hệ thống báo chí, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác để xây dựng và phát triển đất nước. Báo chí điện tử đã phát huy ưu thế, lãnh sứ mạng đấu tranh trực tiếp và gián tiếp với những luận điệu sai trái, xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch. Báo chí điện tử trở thành công cụ, phương tiện, vũ khí sắc bén hơn hẳn các loại hình báo chí khác, tuyên truyền, đấu tranh, phản bác, đáp trả nhanh nhạy, kịp thời; đồng thời, là diễn đàn huy động được đông đảo lực lượng tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bằng sự tương tác đa chiều rõ rệt với bạn đọc. Có thể nói, trên mặt trận đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, báo chí điện tử đã phát huy thế mạnh nổi trội, và ngày càng xứng đáng với sự tin cậy của Đảng và nhân dân. Tuy nhiên, trên phương diện thực hiện chức năng, nhiệm vụ của báo chí nói chung và trên mặt trận chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm, thông tin sai trái, thù địch nói riêng, báo chí điện tử vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa thật sự tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ và đòi hỏi của tình hình thực tiễn, nhất là trong những sự kiện “nóng” hoặc những vấn đề “nhạy cảm”. Vẫn còn không ít các cơ quan báo chí điện tử còn chưa thực sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo trong đấu tranh, phản bác những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Một số sự việc bị kẻ xấu lợi dụng, lan truyền trên mạng xã hội và một số tờ báo phản động đặt ở nước ngoài, nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Chưa có nhiều tác phẩm báo chí có chiều sâu về lý luận và thực tiễn để đấu tranh trực diện với những luận điệu xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch. Vì thế, ở một số sự kiện, tính định hướng và sức lan tỏa từ các báo và tạp chí điện tử chưa cao. Bên cạnh đó, một số nhà báo và cơ quan báo chí điện tử có biểu hiện thờ ơ chính trị, thiếu quan tâm đến mảng đề tài này, cho rằng đây là mảng đề tài khó và đã có nhiều tờ báo của các cơ quan Đảng lo liệu, nên để “trống” chuyên trang, chuyên mục, hoặc nếu có cũng chỉ là cầm chừng. Trong tình hình hiện nay, nhất là giai đoạn trước thềm Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch và những phần tử xấu sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng những tiện ích trên không gian mạng để đẩy mạnh âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, chống phá cách mạng nước ta. Điều này đòi hỏi báo chí nói chung và báo chí điện tử nói riêng nêu cao tinh thần trách nhiệm, thường xuyên củng cố, xây dựng lực lượng đủ phẩm chất, trí tuệ và bản lĩnh chính trị, tận dụng những ưu thế vượt trội để có những tác phẩm báo chí sắc bén, kịp thời vạch trần những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, đi ngược lại với lợi ích dân tộc và sự phát triển của cách mạng. 2. Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết 35 nhấn mạnh: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Để báo chí nói chung, báo chí điện tử nói riêng thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh phản bác thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp trọng tâm sau: Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, ban biên tập đối với công tác đấu tranh phản bác các quan điểm, thông tin sai trái, thù địch trên báo chí điện tử. Thực tiễn chỉ ra, khi nào, ở đâu cán bộ lãnh đạo, ban, bộ biên tập nhận thức toàn diện, đầy đủ vai trò, vị trí quan trọng của công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch thì mảng đề tài này mới được quan tâm đúng mức và mới có thể nâng cao chất lượng, hiệu quả từ các sản phẩm báo chí. Do vậy, cấp ủy, ban biên tập, tổng biên tập các báo cần tiếp tục tăng cường tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về đấu tranh, phòng, chống “diễn biễn hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm, thông tin sai trái, thù địch; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nghiêm các quy định về siết chặt kỷ luật, kỷ cương báo chí; quản lý và sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ, phóng viên nhằm phát huy tối đa sức mạnh của đội ngũ cán bộ, phóng viên trong công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; quan tâm tạo điều kiện phát huy tiềm năng của đội ngũ trí thức có kinh nghiệm, kết hợp có hiệu quả tính năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, phóng viên trẻ, ứng phó kịp thời với các thủ đoạn của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, thường xuyên tổ chức các diễn đàn, hội thảo khoa học, để mỗi cán bộ, phóng viên, nhất là các cán bộ, phóng viên trẻ có điều kiện, cơ hội nhận thức đầy đủ hơn về âm mưu “diễn biến hòa bình”; tích lũy thêm tri thức, trau dồi bản lĩnh chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, phát hiện sớm hoạt động chống phá, tung thông tin sai trái của các thế lực thù địch để đấu tranh ngăn chặn kịp thời. Hai là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí điện tử, xây dựng khả năng đấu tranh, phản bác các quan điểm, thông tin sai trái của các thế lực thù địch Đội ngũ cán bộ, phóng viên là những nhân tố quyết định đến hiệu quả trong các sản phẩm báo chí, góp phần quan trọng trong phát huy vai trò đấu tranh, phản bác của báo chí chống lại các quan điểm, thông tin sai trái, thù địch. Do vậy, báo chí điện tử cần thành lập các bộ phận thường trực phản ứng nhanh, kịp thời đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm, thông tin sai trái, thù địch; tổ chức phân công nhiệm vụ rõ ràng, chuyên sâu theo các lĩnh vực, chuyên đề. Tập trung xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, phóng viên chuyên nghiệp mảng đề tài bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm, sai trái thù địch đảm bảo theo hướng tinh gọn, chất lượng, đủ mạnh để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Đồng thời, phát huy cao nhất vai trò trách nhiệm của người đứng đầu các báo, tạp chí sẵn sàng “xông pha” nơi trận địa khó khăn nhất. Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân cơ bản hạn chế việc phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, phóng viên trong mặt trận này, chính là sự thiếu hụt những cây viết có đủ bản lĩnh, trí tuệ và phẩm chất trong đội ngũ cán bộ, phóng viên, nhất là đội ngũ trong ban biên tập. Đó là những vấn đề không dễ nhưng cần sớm được khắc phục. Ba là, đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trước sự phát triển đa dạng, đầy biến động của “cư dân mạng” Theo đó, một mặt, cần đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, cần chủ động đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn; vận dụng các hình thức tuyên truyền để định hướng, lôi kéo “cư dân mạng” đấu tranh, phản bác có hiệu quả. Đa dạng hóa các thể loại báo chí từ bình luận, chuyên luận tới phỏng vấn, ghi nhanh, phiếm chỉ... Tận dụng ưu thế không gian mạng để tăng tính tương tác, góp phần lan tỏa các bài viết hay, có giá trị định hướng dư luận xã hội. Các tạp chí điện tử cần tăng cường các bài viết chuyên sâu, phân tích, tổng hợp. Tăng cường liên kết, phối hợp thông tin, làm sâu sắc các chủ đề, vấn đề theo từng lĩnh vực, “mảng miếng”… giữa các cơ quan báo chí điện tử trong phê phán, phản bác, các quan điểm, sai trái, thù địch tạo thành sức mạnh tổng hợp, hiệu quả. Bốn là, quan tâm hỗ trợ chế độ, chính sách đãi ngộ hợp lý cho lực lượng tham gia đấu tranh phản bác thông tin, quan điểm sai trái, thù địch trên báo chí điện tử Trên thực tế, đây là mảng đề tài khó. Để tăng cường động viên, “giữ chân” người viết và kể cả những người tham gia tương tác trên “trận địa” này, các báo, tạp chí điện tử nhất thiết cần phải có các chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp với thực tiễn hiện nay. Ngoài ra, các báo cần chủ động có các hình thức khen thưởng đối với cán bộ, phóng viên có các bài viết chất lượng trong phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để động viên, khích lệ họ tích cực tham gia viết bài trên lĩnh vực này./.