Thứ Hai, 31 tháng 5, 2021

Sức mạnh đại doàn kết toàn dân đã tạo nên thành công của cuộc bầu cử


          Đến thời điểm này, có thể khẳng định rằng, cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công rất tốt đẹp. Tính đến 22 giờ ngày 23-5-2021, tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu rất cao, hơn 99%, khẳng định tinh thần yêu nước, ý thức chính trị và niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các địa phương, đơn vị, các tổ chức phụ trách bầu cử và các tổ chức liên quan đã thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các biện pháp phòng, chống dịch theo chỉ đạo của Trung ương; bảo đảm không để lây lan dịch bệnh trong thời gian tham gia bỏ phiếu. Kết quả của cuộc bầu cử một lần nữa khẳng định sự thành công của công tác lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chính phủ, Chủ tịch nước, HĐBCQG, các bộ, ban, ngành, UBBC các tỉnh và cấp ủy, chính quyền các cấp.

          Từ cuộc bầu cử, chúng ta có thể rút ra nhiều kinh nghiệm quý. Đó là kinh nghiệm về sức mạnh đại đoàn kết. Khi nhân dân cả nước cùng chung sức, đồng lòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng thì khó khăn nào chúng ta cũng vượt qua được. Đó là kinh nghiệm về sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời, quyết liệt, kịp thời, cách làm khoa học, bài bản, chi tiết

          Cử tri và nhân dân nhìn chung đều đánh giá, cuộc bầu cử thể hiện được sự dân chủ, đổi mới, đã thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân; cử tri đã ý thức và nêu cao trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong việc cân nhắc, lựa chọn những đại biểu xứng đáng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình để bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp; đồng thời tin tưởng vào thành công của cuộc bầu cử. Điều đó đã được thể hiện ở hầu hết các địa phương có tỷ lệ cử tri đi bầu cao.

          Các cơ quan thông tấn, báo chí nước ngoài cũng dành sự quan tâm tới cuộc bầu cử ở nước ta. Đa số đánh giá cao sự thành công của cuộc bầu cử trong bối cảnh khó khăn do dịch Covid-19 gây ra. Báo chí nước ngoài nhận xét: Cuộc bầu cử lần này “sôi nổi hơn khóa trước” mặc dù tình hình dịch Covid-19 đang lan nhanh; có “nhiều tín hiệu tích cực” khi thông tin cử tri được đăng tải rộng rãi trên mạng, nhân viên các điểm bầu cử giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình; tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu được cho là cao, có nhiều cử tri trẻ đi bầu cử hơn. Đặc biệt, dư luận báo chí nước ngoài cho rằng đây là cuộc bầu cử được trông đợi minh bạch, đề cao quyền của người dân.

         Kết quả trên đã đập tan mưu đồ chống phá của những kẻ phản động, bất mãn, trước ngày bầu cử đã liên tục tung tin bịa đặt “việc bầu cử là hình thức”, “kết quả đã được dàn xếp”, "nhiều cử tri không quan tâm bầu cử và sẽ không đi bầu", rồi xuyên tạc, nói xấu các ứng cử viên, kêu gọi, kích động cử tri “không biết, không bầu”, “bỏ hết, lấy cả”... Chúng đã tạo nên một “chiến dịch truyền thông bẩn" trên internet và mạng xã hội nhằm phá hoại cuộc bầu cử của nước ta.

          Nhưng những luận điệu thù địch, phản động đó đã được tuyệt đại đa số cử tri và nhân dân Việt Nam nhận rõ. Cử tri cả nước thuộc đủ các thành phần, vùng miền, dân tộc, tôn giáo đã đề cao trách nhiệm tham gia bỏ phiếu để bầu những người tiêu biểu nhất đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình. Với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu rất cao dù trong điều kiện phòng, chống dịch Covid-19, không khí ngày hội bầu cử vui tươi, sôi nổi, bảo đảm an toàn... đã một lần nữa vạch mặt những kẻ chống phá và các thế lực thù địch. Qua đó, nhân dân càng hiểu bộ mặt thật và âm mưu xấu bẩn của chúng hòng chống phá Việt Nam, làm nhiễu loạn xã hội và cuộc sống bình yên của nhân dân.

 

Gieo rắc sự hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng - Một thủ đoạn nguy hiểm

Cũng như trước mỗi sự kiện lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, thì các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị lại tung ra như “nấm độc sau mưa” những ý kiến - quan điểm bất mãn, sai trái, xuyên tạc nhằm gieo rắc sự hoài nghi, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Từ rất sớm, trong bài Những lời thấm thiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đối với sự lãnh đạo của Đảng - mỗi người chúng ta nhất là các nhân sĩ trong đảng phái dân chủ, nên kiên quyết tiếp thụ, phục tùng và nương tựa vào sự lãnh đạo của Đảng”(1). Đồng thời, nhằm chấn chỉnh tâm lý, tư tưởng hoài nghi dẫn đến xa rời sự lãnh đạo của Đảng, Người giải thích: “Về công tác, chúng ta không nên coi mình như là người khách, mà nên ra sức tham gia mọi công việc. Trong mọi công việc, chúng ta nên thật thà chịu sự lãnh đạo của Đảng, chứ không nên do dự, hoài nghi chút nào. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà xa rời sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, là một điều không thể tưởng tượng”(2). Như vậy, theo Hồ Chí Minh, một trong những phẩm chất quan trọng nhất của những người cách mạng - đảng viên chân chính, là phải có niềm tin “thật thà chịu sự lãnh đạo của Đảng” và “không nên do dự, hoài nghi chút nào”. Không dừng lại ở đó, Hồ Chí Minh còn suy rộng ra, các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới nếu vẫn hoài nghi về sự thắng lợi của phong đấu tranh cho hòa hình quốc tế thì hòa bình sẽ thất bại. Vì vậy, trong Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, tháng 8-1959, Người cảnh báo: “Về phong trào đấu tranh cho hòa bình, có người ngờ chiến tranh sẽ xảy ra, nhất là Mỹ vẫn cứ thử bom nguyên tử. Nếu không có phe xã hội chủ nghĩa vững chắc, không có phong trào hòa bình thế giới rộng lớn thì chiến tranh sẽ nổ hoặc thế giới lại trở lại như 41 năm về trước... Nếu 1 người hoài nghi, 100 người hoài nghi, hàng vạn người hoài nghi thì hoà bình sẽ thất bại”(3). Trước những thời khắc cam go của cách mạng, nhất là sau một số bất cập, sai sót liên quan đến cải cách ruộng đất, không ít người hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, một mặt, để phê bình những người đang hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, mặt khác, để khẳng định những thành tựu lớn lao của dân tộc có được dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hồ Chí Minh đặt câu hỏi: “Có người hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, có đúng không? Nếu Đảng lãnh đạo không đúng thì Cách mạng Tháng Tám có thành công không? Kháng chiến có thắng lợi không? Hơn 8 triệu nông dân miền Bắc có ruộng cày không?...”(4). Đồng thời, Người giải thích cặn kẽ: “Đảng là người, Đảng là cán bộ, là đảng viên, tất nhiên có sai lầm. Nhưng trong cải cách ruộng đất, thắng lợi vẫn là chủ yếu… vì có chủ nghĩa Mác - Lênin, có mục đích phục vụ nhân dân, có phê bình và tự phê bình, cho nên kiên quyết sửa chữa…”(5).

“BỔN CŨ SOẠN LẠI” CỦA NHỮNG KẺ GIEO RẮC “BỆNH HOÀI NGHI”

Không khó để nhận ra những thủ đoạn của những kẻ chống phá, bất mãn với những “bổn cũ soạn lại” như tìm mọi cách bôi nhọ, hạ thấp và tiến tới phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là từ khi Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đến nay. Chúng rêu rao: Thành tựu của đổi mới là do Đảng, Nhà nước Việt Nam “tự vẽ lên”, “tự mình khen mình”, “là ăn may”. Chúng còn nói xằng rằng, những thành tựu đổi mới nếu có cuối cùng cũng chỉ “chui vào túi của bọn độc tài”, còn nhân dân thì không được thụ hưởng điều gì... Chúng xảo quyệt “lập lờ đánh lận con đen” - đưa ra những hạn chế, khiếm khuyết liên quan đến quá trình lãnh đạo của Đảng, nêu ra những bất cập, khó khăn trong công cuộc đổi mới đất nước... để rồi quy kết, chụp mũ, la lối lên rằng tham nhũng là bản chất của chế độ ta, sự tồn tại của Đảng là căn nguyên dẫn đến mọi trì trệ, yếu kém, sai lầm; muốn đất nước phát triển thì phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng... Đặc biệt, trong bối cảnh toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang tích cực chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, với những chiêu trò lặp đi lặp lại “đến hẹn lại lên”, các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu xằng bậy, hằn học. Lợi dụng mạng xã hội, chúng lồng ghép “thêm râu thêm ria” bằng những thông tin, hình ảnh “nửa thật nửa giả”. Tuy nhiên, dù có “đổi mới” bằng hình thức này hay hình thức khác, dù có “cách tân” tinh vi, tiểu xảo đến đâu, thì những “ngụy lý luận” chúng đưa ra vẫn chỉ là những “bổn cũ” đã từng “diễn” trong bao nhiêu năm qua, như: Muốn thực sự có dân chủ cho người dân và xã hội phát triển phải thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; chỉ có “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mới triệt tiêu được căn nguyên gây ra tham nhũng, tiêu cực; “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết sứ mệnh lịch sử”, “không còn đủ khả năng để độc quyền lãnh đạo đất nước”; muốn đất nước phát triển thì phải bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa, đổi bổ sung năm 2013)…

KHÔNG THỂ HOÀI NGHI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Dù có “lắm mưu nhiều kế” thế nào đi chăng nữa, thì các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị cũng không thể bác bỏ được một sự thật hiển nhiên là: Không ai hết, và hơn tất cả lực lượng chính trị nào khác, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài Kiểm điểm công việc của Đảng từ hơn 60 năm trước (tháng 1-1949) đã khẳng định: “... Đảng ta là Đảng duy nhất lãnh đạo phong trào cách mạng ở nước ta”(6). Nhân kỷ niệm 89 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2019) và mừng Xuân Kỷ Hợi, trong bài viết Đảng vững mạnh, Đất nước phát triển, Dân tộc trường tồn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng một lần nữa tiếp tục khẳng định: “Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 89 năm, từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, làm nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam; đồng thời, chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện, thử thách và không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân. Thực tế gần một thế kỷ qua cho thấy, ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang, giành được hết thắng lợi này đến thành công khác”(7). Một lần nữa, chúng ta phải khẳng định rằng, kể từ ngày ra đời đến nay, Đảng ta vẫn là một tổ chức lãnh đạo duy nhất được đại đa số nhân dân tuyệt đối tin tưởng. Vượt qua những khó khăn, thử thách, thẳng thắn chỉ ra và thật thà sửa chữa những khuyết điểm, hạn chế, quyết tâm một lòng vì dân vì nước, Đảng đã lãnh đạo đưa đất nước tiến lên, gặt hái nhiều thành tựu quan trọng. Những thành công bước đầu trong công cuộc đổi mới và hội nhập, sự ghi nhận, tôn trọng, khâm phục về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới đối với Việt Nam - một đất nước từng “không có tên trên bản đồ thế giới”, đời sống nhân dân có những phát triển vượt bậc cả về vật chất và tinh thần... là những minh chứng rõ nhất, đúng nhất, khách quan nhất về vai trò lãnh đạo sáng suốt và tất yếu của Đảng ta. Không phải các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị không biết hoặc thiếu thông tin về tình hình đất nước, về những việc mà Đảng Cộng sản Việt Nam làm được, mà chúng cố tình hiểu sai, cố tình bóp méo, “bôi đen”, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; cố tình nói xấu, vu khống, “thổi phồng”, “bơm căng” các khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm sai lệch những giá trị thực, tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực xây dựng. Điều nguy hiểm từ những luận điệu trên nằm ở chỗ, chúng làm cho một bộ phận nhân dân, nhất là giới trẻ và những người ở nước ngoài, vì mơ hồ và thiếu ý thức nên vô tình “tiếp tay” cho sự vu khống xuyên tạc, vì thiếu bản lĩnh và nhạy cảm chính trị nên dễ “a dua, a tòng”, đặc biệt, vì thiếu niềm tin và sức đề kháng nên dễ bị nhiễm “căn bệnh hoài nghi”... Về vấn đề này, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, đó là cách nhìn nhận, đánh giá thiếu khách quan, đầy thiên kiến: “Còn anh em ngoài Đảng nghi ngờ Đảng thì có một phần. Khuyết điểm là: thấy cây nhưng không thấy rừng”(8)

PHƯƠNG THUỐC KHẮC PHỤC “BỆNH HOÀI NGHI”

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; trước mắt là chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước bên cạnh mặt thuận lợi, thời cơ, cũng có nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Chúng ta đứng trước nhiều vấn đề mới phải xử lý, nhiều việc hết sức phức tạp phải giải quyết. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, hơn bao giờ hết, phải quán triệt và thực hiện tốt các vấn đề căn cốt sau: Thứ nhất, thường xuyên đổi mới để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; trong đó, tập trung quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm Chỉ thị Số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đặc biệt, phải nhận thức sâu sắc đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước, để mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng các cấp, đoàn kết, thống nhất cả về ý chí và hành động bên Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị; cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và cả hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi Chỉ thị Số 35-CT/TW của Bộ Chính trị. Thứ hai, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trước thềm đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Để tăng cường hơn nữa công tác này trong tình hình mới, đặc biệt khi chúng ta đang chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, trong đó có việc lựa chọn nhân sự bầu vào cấp ủy, cơ quan lãnh đạo các cấp, cần chú trọng hai vấn đề chủ yếu sau: Một là, tiếp tục quán triệt và nâng cao nhận thức cán bộ, đảng viên về quan điểm, nội dung, phương hướng, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Hai là, tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên ngay từ cơ sở gắn với thực hiện nghiêm trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong việc quản lý thông tin, tài liệu, giữ gìn bí mật quốc gia. Thứ ba, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên chấp hành Cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, quy định của Đảng và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với sai phạm. Kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng những sơ hở trong công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng đề chống phá. Thứ tư, tăng cường đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, nhất là âm mưu, thủ đoạn lôi kéo cán bộ, đảng viên và nhân dân để gieo rắc tâm lý, tư tưởng hoài nghi về vai trò và khả năng lãnh đạo của Đảng ta. Lãnh đạo, chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện tốt chức năng tuyên truyền, giáo dục, định hướng về tư tưởng chính trị, hướng dẫn hành động đúng. Từ nay đến năm 2020, trong quá trình chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các địa phương cần sàng lọc các đối tượng trên địa bàn, kể cả cán bộ, đảng viên sử dụng internet, mạng xã hội vi phạm Luật An ninh mạng, xử lý theo quy định của pháp luật. Khẩn trương thực hiện quy hoạch báo chí; ban hành quy định về tạp chí, thậm chí cấp lại giấy phép hoạt động; tổng kết 2 năm thực hiện Luật Báo chí; đề xuất sửa đổi những nội dung cần thiết... Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát huy những thành quả cách mạng đã đạt được; tuyệt đối không được chủ quan, tự mãn, không quá say sưa với thắng lợi, ngủ quên trên vòng nguyệt quế. Trước mắt, và coi đây là giải pháp chiến lược, chủ đạo nhất để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Với niềm phấn khởi, tự hào, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình, trong đó có nhiệm vụ chính trị, trung tâm và có ý nghĩa trọng đại trong thời gian tới là tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chung sức, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(9)./.

Vai trò của báo chí trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Những năm qua, các thế lực thù địch không ngừng ra sức chống phá Đảng và Nhà nước ta, sử dụng các công cụ truyền thông để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, công tác điều hành của Nhà nước. Chúng xác định việc phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng là một mục tiêu trọng điểm, nhằm tiến tới phủ nhận hoàn toàn Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và sâu xa hơn là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thủ tiêu chế độ XHCN ở Việt Nam... Nâng cao tính chiến đấu trong phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địchChủ động, kịp thời, chính xác, thuyết phục trong phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, đề ra nhiều giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm. Đặc biệt ngày 22-10-2018, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị "Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới", trong đó nhấn mạnh “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Trong những năm qua, báo chí cả nước đã thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; nỗ lực, tích cực, sáng tạo trong tuyên truyền những vấn đề lớn, quan trọng của đất nước; định hướng văn hóa, thẩm mỹ cho bạn đọc; tích cực thông tin, tuyên truyền phản ánh thực tiễn đời sống xã hội, góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng; quảng bá hình ảnh, uy tín của đất nước, con người Việt Nam. Báo chí tham gia tích cực, tiên phong trong công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bao vệ uy tín, vị thế của Đảng, Nhà nước, và sự nghiệp cách mạng của toàn dân. Báo chí phát hiện, giới thiệu những cách làm hay, những mô hình tốt, những điển hình tiên tiến trong thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước; thể hiện rõ vai trò đi đầu trong công tác tuyên truyền giáo dục lý tưởng cách mạng, giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống văn hóa cho nhân dân, qua đó nâng cao khả năng đề kháng của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ trước những âm mưu, thủ đoạn đầu độc tư tưởng, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với nhận diện, đấu tranh kiên quyết, trực diện chống lại các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn phá nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch, nhiều cơ quan báo chí đã có các bài viết phân tích, luận giải, làm rõ những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền định hướng dư luận, đấu tranh ngăn chặn, phản bác từ sớm, từ xa các luận điệu sai trái, xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta... * Năm 2020 là năm có nhiều sự kiện, ngày kỷ niệm quan trọng, đặc biệt là năm tiến hành đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Đây cũng là thời điểm mà các thế lực thù địch ra sức chống phá với các biện pháp tinh vi, quyết liệt. Chúng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tăng cường các hoạt động lợi dụng đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, Nhà nước ta để tiến hành các hoạt động tình báo, gián điệp, nhằm phá hoại ta từ bên trong và kết hợp với bên ngoài. Chúng thường dùng luận điệu “phản biện xã hội”, đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, xây dựng “xã hội dân sự”, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ,… để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ thù địch. Để phát huy, làm tốt vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong thời gian tới, công tác chỉ đạo, quản lý báo chí, công tác báo chí cần tập trung vào một số nội dung sau: Thứ nhất, nhất quán nguyên tắc hoạt động báo chí đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, luôn luôn đi đầu trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng, có trách nhiệm hình thành dư luận xã hội lành mạnh góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị và tinh thần trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc khác. Tích cực biểu dương nhân tố mới, điển hình tiên tiến, tham gia đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội, góp phần làm lành mạnh xã hội, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp bản sắc và tinh hoa văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; thông tin truyên truyền trên báo chí phải kết hợp tốt giữa xây và chống; lấy cái đẹp để dẹp cái xấu, lấy tích cực để đẩy lùi tiêu cực. Người hoạt động báo chí phải theo định hướng của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tính chiến đấu cao, phẩm chất đạo đức trong sáng, kiến thức rộng, trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ ngày một cao, luôn gắn bó với thực tiễn đất nước. Thứ hai, cần tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức cho lãnh đạo các cơ quan báo chí về vị trí vai trò, tầm quan trọng và yêu cầu nhiệm vụ tuyên truyền việc biểu dương, cổ vũ điển hình tiêu biểu; tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống âm mưu và hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa. Thứ ba, cần chú trọng biểu dương, cổ vũ điển hình tiên tiến. Đây là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng và định hướng hành động. Mục đích là thông qua việc nêu gương đề định hướng tư tưởng, dẫn dắt, lôi kéo, tạo ảnh hưởng lan tỏa, hiệu ứng xã hội sâu rộng đến mọi người trong xã hội, giúp mọi người nhận thấy giá trị của hành động tốt đẹp mà tiếp tục phấn đấu, cổ vũ thành phong trào quần chúng rộng lớn để những việc tốt, hành động tốt ngày càng nhiều lên, dầy lên trong xã hội; hành vi tiệc cực, việc làm xấu ngày càng bị đẩy lùi, thu hẹp. Không chỉ dừng lại ở phát hiện, cổ vũ, mà báo chí cần phải có trách nhiệm bảo vệ nhân tố mới, điển hình tiên tiến để chúng được nuôi dưỡng, phát triển mạnh mẽ. Chủ động tìm tòi đối mới, sáng tạo cách thể hiện chủ đề này để những tấm gương điển hình tiên tiến được đề cập không chỉ mang tính phản ánh mà mục đích cuối cùng là lan tỏa, cổ vũ động viên mọi người noi theo. Các bài viết phản ánh, cổ vũ, biểu dương nhân tố mới, điển hình tiên tiến cần thể hiện một cách chân thật, khách quan, không tô hồng, cường điệu hóa; thể hiện rõ cái tâm của người cầm bút, không bị chi phối bởi lợi ích kinh tế mà tô hồng nhân vật, không “lăng xê”, “đánh bóng tên tuổi” cho doanh nghiệp hay cá nhân nào. Tăng cường xây dựng chuyên trang, chuyên mục, chương trình, thời lượng thông tin tuyên truyền cổ vũ, biểu dương điển hình tiên tiến; đấu tranh phản bác, vạch rõ tính chất phản động, phản khoa học của các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước và nhân dân… Làm tốt việc biểu dương gương điển hình tiên tiến cũng chính là cách đáp trả xác đáng nhất đối với những thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc về tình hình đất nước của các phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch. Thứ tư, triển khai đồng bộ các giải pháp, cả về tổ chức, lực lượng, nội dung, hình thức, phương tiện để nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, coi đây nhiệm vụ chính trị cần đặc biệt coi trọng. Nội dung các tuyến bài viết, chương trình cần chú trọng tập trung vào những vấn đề “nóng” mà các thế lực thù địch thường lợi dụng để xuyên tạc, chống phá: nhân quyền, tự do ngôn luận, vai trò lãnh đạo của Đảng, chủ quyền quốc gia, quan hệ của Việt Nam với các nước láng giềng, các nước lớn… với các luận điểm sắc sảo, có tính chiến đấu cao, có cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục. Thứ năm, chủ động tìm tòi, nghiên cứu để đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền, tạo sức mạnh tổng hợp trong tuyên truyền gương điển hình tiên tiến, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Huy động sự tham gia thống nhất, hiệp đồng tác chiến của các loại hình báo chí. Bám sát các sự kiện, nắm bắt thủ đoạn chống phá của các thế lực địch để có bài viết cung cấp thông tin chính xác, định hướng dư luận. Tăng cường xây dựng chuyên trang, chuyên mục, chương trình, thời lượng thông tin tuyên truyền cổ vũ, biểu dương điển hình tiên tiến; đấu tranh phản bác, vạch rõ tính chất phản động, phản khoa học của các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước và nhân dân của các thế lực thù địch, phản động. Thứ sáu, quan tâm đến việc tuyên truyền nhằm xây dựng nền tảng tinh thần của con người và xã hội, trong đó phải làm tết việc giáo dục truyền thống, định hướng hệ giá trị, bồi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho thế hệ trẻ, truyền bá hệ tư tưởng Mác-Lênin, Hồ Chí Minh một cách thiết thực, sâu rộng, có tính thuyết phục cao; ngăn chặn xu hướng lai căng, pha tạp về văn hóa, coi thường các giá trị nhân văn; phê phán lối sống buông thả qua đó nâng cao khả năng đề kháng và phản bác của người dân trước những thông tin sai trái, thù địch. Thứ bảy, chú trọng xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ người làm báo có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, cũng cần quan tâm đầu tư trang thiết bị phương tiện để những người làm báo tiếp cận được công nghệ làm báo hiện đại, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặt ra trong tình hình mới./.

Quốc hội Việt Nam không “thảo luận cho vui”

Lập luận thứ hai mà những người đả kích Quốc hội Việt Nam đưa ra là "Quốc hội Việt Nam chỉ thảo luận, thông qua những nội dung theo quyết định của Đảng, việc thảo luận chỉ để “cho vui”, mang tính hình thức". Luận điệu cũ rích này khó có thể thuyết phục được những người quan tâm, theo dõi hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong suốt thời gian qua. Thực tế, các nội dung được Quốc hội thảo luận đều thuộc phạm vi chức năng, quyền hạn của Quốc hội theo Hiến pháp và pháp luật. Không phủ nhận, những vấn đề quan trọng mà Quốc hội bàn thảo đều có dấu ấn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này là bình thường, bởi theo Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, cũng theo Hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về quyết định của mình. Mọi hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều hướng tới nhân dân, vì nhân dân. Bởi vậy, việc Quốc hội Việt Nam thảo luận về những vấn đề do Đảng lãnh đạo là đúng Hiến pháp, hướng tới nhân dân, vì nhân dân, đáp ứng đúng nguyện vọng của cử tri và nhân dân. Mọi vấn đề đưa ra nghị trường đều được Quốc hội thảo luận, tranh luận một cách dân chủ, thẳng thắn. Những nội dung không thuộc bí mật quốc gia đều được công bố công khai, minh bạch cả về tài liệu lẫn các ý kiến thảo luận. Thậm chí, những phiên họp liên quan tới các vấn đề lớn của đất nước, được đông đảo cử tri và nhân dân quan tâm đều được phát thanh, truyền hình trực tiếp để cử tri, nhân dân theo dõi, giám sát. Mỗi vấn đề được Quốc hội thảo luận đều có những ý kiến đồng tình, ý kiến phản bác. Tất cả ý kiến dù đồng tình hay phản bác đều được trân trọng, tiếp thu, giải trình đầy đủ và Quốc hội chỉ quyết định theo đa số. Tính dân chủ thể hiện rất rõ ở tỷ lệ thông qua các dự án luật, dự thảo nghị quyết, thậm chí là quyết định công tác nhân sự, tuyệt đại đa số đều không đạt tỷ lệ ủng hộ tuyệt đối, bởi không đại biểu nào bị ép buộc phải nhấn nút biểu quyết đồng ý nếu bản thân chưa nhất trí. Nếu ai theo dõi hoạt động của Quốc hội thường xuyên sẽ thấy, có những nội dung được Quốc hội thông qua chỉ với khoảng 70% ĐBQH nhấn nút đồng ý, trong khi tỷ lệ ĐBQH khóa XIV là người ngoài Đảng chiếm 4,2% tổng số ĐBQH. Như vậy, trong số những đại biểu nhấn nút không đồng ý, chắc chắn có đại biểu là đảng viên. Do đó, không thể có chuyện ĐBQH là đảng viên đều phải nhấn nút biểu quyết đồng ý theo “chỉ đạo”. Thực tế cũng có những nội dung sau khi thảo luận, tranh luận đã bị Quốc hội bác bỏ, chẳng hạn việc Quốc hội chưa đồng ý thành lập Tòa án Nhân dân khu vực, Viện Kiểm sát Nhân dân khu vực khi thông qua các luật tổ chức liên quan tới hai ngành này. Hay nổi bật hơn là việc Quốc hội bác bỏ chủ trương xây dựng đường sắt cao tốc vào năm 2010. Gần đây nhất, tại Kỳ họp thứ tám, cơ quan soạn thảo đề xuất mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ. Tuy nhiên, sau khi các đại biểu Quốc hội nhận được ý kiến của cử tri đã thảo luận rất sôi nổi về vấn đề này. Có đại biểu đồng ý, có đại biểu không đồng ý. Kết quả biểu quyết cho thấy, đa số đại biểu Quốc hội không nhất trí mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ. Đó là những minh chứng rõ ràng nhất để khẳng định: Quốc hội Việt Nam không “thảo luận cho vui” mà thảo luận, tranh luận một cách thực sự, mang tính dân chủ cao, quyết định theo đa số, theo ý nguyện của cử tri và nhân dân. Bởi vậy, những luận điệu cũ rích nhằm đả kích, làm giảm sút niềm tin, sự tín nhiệm của cử tri, nhân dân với Quốc hội chẳng thể làm thay đổi được thực tế: Quốc hội Việt Nam thực sự là Quốc hội dân chủ, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; cử tri, nhân dân đã, đang và vẫn sẽ luôn tin cậy, dành sự tín nhiệm cao cho Quốc hội cũng như dành sự quan tâm rất lớn tới các hoạt động của Quốc hội…

Nhạt phai lý tưởng cách mạng - “đường gần” dẫn đến suy thoái

Trong thời khắc thiêng liêng của buổi lễ kết nạp Đảng, lời nói đầu tiên của mỗi đảng viên vang lên tha thiết, xúc động từ trái tim mình là: “Trước Quốc kỳ, Đảng kỳ và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tôi xin thề “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng…”. Lời thề đó được nhiều thế hệ đảng viên cộng sản khắc cốt ghi tâm trong suốt cuộc đời, nhưng cũng có người để cho lý tưởng cách mạng của Đảng “buông trôi”, nhạt nhòa theo năm tháng, thậm chí đi ngược lại lý tưởng mình hằng theo đuổi, tôn thờ. Từng có ý kiến cho rằng, thời buổi kinh tế thị trường mà nói đến lý tưởng cách mạng nghe có vẻ cũ kỹ, sáo mòn, khô khan, không hợp thời, khó hội nhập với thế giới. Thậm chí có ý kiến khuyến nghị: Cứ tập trung chăm lo phát triển kinh tế, làm giàu đi, khi mọi người, mọi nhà đều sung túc, của cải xã hội dồi dào, thì đương nhiên là hiện thực hóa lý tưởng rồi. Thoạt nghe thì tưởng đúng, nhưng sự thật đó là thái độ cổ xúy cho tư tưởng cấp tiến, dễ làm những người cộng sản rơi vào tâm thế dao động, thiếu lập trường kiên định, mất phương hướng rèn luyện, phấn đấu để thực hiện những mục đích cao cả mà sự nghiệp cách mạng đã đặt ra. Nhạt phai lý tưởng cách mạng - “đường gần” dẫn đến suy thoái Thời nào cũng vậy, lý tưởng cách mạng chính là “chiếc la bàn” dẫn dắt niềm tin, định hướng đường đi nước bước đúng đắn để mỗi đảng viên không đi xa, đi chệch khỏi quỹ đạo mà Đảng đã vạch ra. Đề cao lý tưởng cách mạng là tiền đề, cơ sở để những người cộng sản có thái độ, hành vi ứng xử phù hợp với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và nhân dân. Trong thời chiến, dù muôn vàn gian khổ, nhưng Đảng ta tự hào đã rèn luyện được một đội ngũ đảng viên tràn đầy lý tưởng cách mạng và giàu tinh thần cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc. Theo lịch sử ghi lại, chỉ tính hai năm 1931-1932, trong cuộc “khủng bố trắng” của thực dân Pháp đã có hàng vạn cán bộ, đảng viên và chiến sĩ yêu nước bị giam cầm, tù đày, giết hại. Những trại giam, như: Côn Đảo, Phú Quốc, Lao Bảo, Sơn La, Hỏa Lò… được ví như địa ngục trần gian, lò tra tấn thời trung cổ, khiến hàng nghìn người con ưu tú của Đảng bị hành hạ dã man và rất nhiều người không còn cơ hội để tiếp tục thực hiện lý tưởng đấu tranh cách mạng cao đẹp của mình. Gần 16 vạn đảng viên anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc trở thành gần 16 vạn đóa hoa bất tử về sự dâng hiến, hy sinh và làm sáng ngời những trang sử vàng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó cũng là bằng chứng sinh động về sự kiên trung, bất khuất và một lòng một dạ son sắt thủy chung của đảng viên đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Thời nay, trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc và mặt trái kinh tế thị trường phần nào làm nhạt phai lý tưởng cách mạng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Sự nhạt phai đó biểu hiện dưới nhiều khía cạnh chệch choạc. Thay vì đề cao lý tưởng “Tổ quốc là trên hết”, nhiều người chỉ nhăm nhăm chăm lo quyền lợi cá nhân, bảo kê lợi ích nhóm, bất chấp pháp luật, chà đạp đạo lý để co kéo lợi ích tối đa về bản thân, gia đình và bộ phận nhỏ nhoi của mình. Thay vì nguyên tắc làm việc “dĩ công vi thượng” (lấy việc công trên hết), nhiều người đã lợi dụng cương vị, chức trách, quyền hạn của mình để làm việc vì động cơ cá nhân, vụ lợi, thiếu chú trọng hoặc không thường xuyên tìm tòi, nghiên cứu, đề ra các giải pháp sáng tạo nhằm làm chuyển biến tiến bộ, toàn diện các mặt công tác của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Thay vì đề cao quan điểm “dĩ dân vi bản” (lấy dân làm gốc), một bộ phận cán bộ do tham nhũng, vơ vét mà sa đà vào lối sống vinh thân phì gia, xa hoa, cách biệt với người dân, không quan tâm đến cuộc sống vất vả của biết bao người lao động và dân nghèo. Thay vì thực hiện phương châm “sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tìm mọi kẽ hở của cơ chế, “khe hổng” của chính sách, luật pháp để bòn rút của công, gây nhiễu nhương, phiền hà doanh nghiệp và người dân mà thực chất là muốn người khác phải lót tay cho mình thì mới giải quyết công việc hanh thông. Thay vì “nói đi đôi với làm”, “nói đúng quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng”, thì một bộ phận cán bộ, đảng viên lại nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo, phát ngôn vô tổ chức, vô ý thức kỷ luật, gây tổn hại đến uy tín, danh dự của Đảng, tác động xấu đến dư luận xã hội. Rồi tình trạng một số cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao khi đăng đàn, viết báo, viết sách thì lên mặt “đức cao vọng trọng” để khuyên răn, chỉ bảo, giáo huấn cấp dưới và nhân dân phải đề cao lý tưởng, coi trọng đạo đức, nâng tầm văn hóa, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng phía sau những lời hay ý đẹp, mỹ từ ấy là một tâm địa ích kỷ, nhỏ nhen, ham hố tầm thường của chính người trong cuộc. Có một sự thật xót xa là trong số hơn 70 cán bộ cao cấp bị xử lý kỷ luật từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, nhiều người từng một thời không thiếu nhiệt huyết, lý tưởng cách mạng, nhưng khi “leo lên” những vị trí quan trọng, được kẻ tung người hứng nên sinh ra chủ quan, tự mãn, say sưa với quyền lực, đắm chìm vào lợi ích và lại thiếu rèn luyện bản lĩnh cách mạng, thiếu tu dưỡng, thiếu nghiêm khắc với chính bản thân và không thủy chung với lý tưởng mình đã lựa chọn, cho nên “ngã ngựa giữa đường” và trả giá rất đắt. Thật ra, lý tưởng cách mạng không phải là cái gì đó xa xôi, trừu tượng, khó hiểu, khó thực hiện, mà đó chính là nhận thức đúng Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong từng thời kỳ cách mạng; nắm vững, vận dụng nhuần nhuyễn và thực hiện hiệu quả nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành, gắn rèn luyện phẩm đạo đức với nâng cao năng lực công tác, trong đó lấy việc giữ đức làm gốc. Nếu như trước đây, lý tưởng cách mạng của Đảng đòi hỏi người đảng viên có tinh thần dấn thân, xông pha vào nơi gian khổ, hiểm nguy, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc; thì thời nay, lý tưởng cách mạng của Đảng mong muốn, yêu cầu cán bộ, đảng viên cần đề cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; biết giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, trong đó phải lấy lợi ích xã hội, lợi ích tập thể làm trọng; biết xử lý đúng mực, hợp lý, hợp tình mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ; biết gắn kết chặt chẽ và thực hiện giữa nói và làm, trong đó cần coi trọng làm đến nơi đến chốn, làm thực chất, làm hiệu quả, làm vì sự trưởng thành của bản thân và sự vững mạnh, tiến bộ của tập thể. Không ai sinh ra đã hoàn hảo. Không người nào tự thân lớn lên, trưởng thành được nếu không có sự kiên trì rèn luyện, tu dưỡng ở mọi lúc, mọi nơi. Sinh thời, Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nói, “lý tưởng, phẩm chất cách mạng chỉ có thể được hình thành trong quá trình đấu tranh cách mạng, trong sản xuất, chiến đấu và tu dưỡng”. Vì vậy, để lý tưởng cách mạng trong mỗi cán bộ, đảng viên không bị nhạt phai, mỗi chúng ta phải thường xuyên nung nấu ý chí, bền bỉ tu thân tích đức, tự nhắc lòng mình không bao giờ được phép xa rời con đường đã chọn, đi ngược mục tiêu mình đã tôn thờ, làm trái lương tâm đạo đức của chiến sĩ cách mạng, buông bỏ phẩm chất tiên phong, gương mẫu của người cộng sản. Nếu cứ để một chút lơ là, một chút lơi lả, một chút dễ dãi, một chút “thỏa hiệp” với chính mình thì theo ngày tháng, “một chút” đó sẽ lớn dần lên thành “mụn nhọt”, thậm chí thành “ung thư” thì phẩm chất, nhân cách, tư cách của cán bộ, đảng viên sẽ rơi vào tình trạng “chết lâm sàng”. Từ đó, lý tưởng cách mạng không phải là nhạt phai, mà đã thoái hóa rồi biến người cộng sản thành “bóng ma” của chính mình!

Nhận diện âm mưu tuyên truyền của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta

Thời gian gần đây, nhất là khi chúng ta chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đẩy mạnh tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam, bằng mọi âm mưu, thủ đoạn chúng tăng cường xuất bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu như: Các báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước phương Tây; các văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt, … Trong đó, họ đã lập hàng nghìn trang web, blog, hàng trăm loại báo chí, nhà xuất bản và các đài phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm làm việc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động trong và ngoài nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta. Qua đó, chúng phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong các cuộc chiến tranh đã qua và trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội; nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

Tư duy mới về bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Ðảng

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm bảo vệ đường lối, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ngày 22-10-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan báo chí tuyên truyền các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Nghị quyết nêu bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trọng tâm là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, những năm qua, các cấp uỷ, tổ chức đảng luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân luôn kiên định nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả. Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này, như nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng, trong đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”[1]. Đảng ta yêu cầu: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”[2]. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta chỉ rõ: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” nhấn mạnh: Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù đich, cơ hội chính trị chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài. Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước trên không gian mạng và các trang mạng Internet, mạng xã hội. Các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nhất là những khó khăn, hạn chế, yếu kém của ta trong phát triển kinh tế xã hội, tệ nạn tham ô, tham nhũng để tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; lôi kéo tập hợp lực lượng và kích động tư tưởng chống đối; chia rẽ nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa’ trong nội bộ, gây mất ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, văn hoá sẽ gặp nhiều thách thức mới.

Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trước hết, thường xuyên bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị (khoá XII) đối với công tác đấu tranh phòng chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao. Hai là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền phá chống phá cách mạng Việt Nam; phát hiện những bất cập, hạn chế của các biện pháp, công tác nghiệp vụ đã và đang được triển khai... Để nắm tình hình có hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan báo chí cách mạng cần sử dụng tổng hợp các lực lượng, phương tiện, biện pháp; thường xuyên rà quét, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung phức tạp, các đối tượng viết bài trên những trang mạng này (có thể là tên thật hoặc nickname, bút danh); khai thác thông tin trên các trang web, blog để xác định được đối tượng sở hữu, quản lý bài viết và đề xuất biện pháp kịp thời xử lý. Ba là, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Trong tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị. Các cơ quan báo chí cần phát huy vai trò nòng cốt đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bốn là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, rút kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ; được trang bị đầy đủ, vững chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với nước ta. Năm là, tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, tính toán sử dụng các giải pháp về công nghệ để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu độc trên các trang mạng. Đặc biệt, phải chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội, sau đó xóa dữ liệu, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Kinh nghiệm cho thấy, đấu tranh, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước ta, với những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới và trong phòng chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Chúng ta tin tưởng rằng, cuộc đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước sẽ được bảo vệ vững chắc. Đó là những nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị; của các bộ, ban, ngành và từng địa phương, cơ quan, đơn vị; của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu./.

Quân đội gắn bó keo sơn với nhân dân "như cá với nước"

Trên chặng đường lịch sử xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, mỗi chiến công, mỗi bài học kinh nghiệm của đội quân cách mạng đều gắn liền với nguồn sức mạnh của sự gắn bó keo sơn thắm thiết quân dân. Là quân đội của nhân dân, gắn bó và yêu thương, kính trọng nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, đó là bản chất của quân đội cách mạng, đó cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp về chính trị, tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, tài thao lược của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh. Để tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, việc xây dựng lực lượng chính trị của cách mạng là điều cơ bản nhất, là việc phải làm đầu tiên, rồi mới xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang. Đó chính là quan điểm “người trước súng sau”, là xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng để trên nền tảng đó xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiến hành khởi nghĩa vũ trang, đánh đuổi kẻ thù, giành lấy chính quyền, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là luôn tăng cường và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động. Trên tinh thần đó, vấn đề “tổ chức ra quân đội công nông”[1] đã được khẳng định trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam mùa Xuân năm 1930). Tiếp đó, khởi đầu từ những Đội tự vệ đỏ trong phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, đến đội vũ trang Cao Bằng, du kích Nam Kỳ, Bắc Sơn (sau đổi thành Cứu quốc quân), Ba Tơ,… cùng với sự phát triển của tiến trình cách mạng, thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã được thành lập ngày 22/12/1944. Với thắng lợi ban đầu (hạ đồn Phai Khắt, Nà Ngần) và từ 34 chiến sĩ đầu tiên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã ngày càng mở rộng địa bàn hoạt động, đã phát triển từ đội thành đại đội, rồi đại đội chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiền đồ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân rất vẻ vang, “nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”[2]. Từ buổi đầu thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đội quân đó từ nhân dân mà ra nên phải dựa vào dân, luôn gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu để được dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc và chở che. Vì chỗ dựa vững chắc nhất của quân đội là lòng dân, cho nên “trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ”[3] và “phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân”[4]. Đồng thời, thấm nhuần chỉ dẫn của Người: “Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kỳ việc gì khó cũng làm được và nhất định thắng lợi”[5], trong mọi hoàn cảnh, quân đội “phải tăng cường công tác chính trị, luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội”, phải làm cho “mỗi người binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều. Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước”[6]… Đây chính là sức mạnh của quân đội cách mạng, thể hiện sâu sắc tư tưởng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời, cho thấy sự khác biệt với quan điểm quân sự tư sản, lấy vai trò của chỉ huy với một đội quân nhà nghề cùng súng ống, vũ khí và trang bị kỹ thuật làm sức mạnh. Đó luôn là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và sản xuất, thực hiện tốt nhiệm vụ vừa tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng chính là đội quân luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động, luôn thực hiện mối quan hệ quân dân gắn bó “như cá với nước” và nhận được sự góp sức người, sức của từ nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam giải phóng quân (do Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp lại) đã cùng toàn dân vùng lên đấu tranh, giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trong toàn quốc, thấu triệt quan điểm: 1) Mục đích của cuộc kháng chiến là đánh thực dân phản động Pháp, giành độc lập thống nhất. 2) Tính chất cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ. 3) Chính sách kháng chiến là đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, v.v..4) Tiến hành kháng chiến toàn diện, kết hợp các mặt trận và các hình thức đấu tranh; trong đó, đấu tranh quân sự là chủ chốt, Quân đội nhân dân Việt Nam (với các tên gọi Việt Nam giải phóng quân, Vệ quốc quân, Quân đội quốc gia Việt Nam và cuối cùng là Quân đội nhân dân Việt Nam) đã ngày một phát triển về số lượng và nâng cao trình độ tác chiến, tài thao lược trên các chiến trường. Quân đội luôn được “tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo”[7] thường xuyên, liên tục để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu; đội ngũ cán bộ - “những người tướng giỏi của đoàn thể” và chiến sĩ quân đội luôn được chú trọng đào tạo và bồi dưỡng đã xuất phát từ thực tiễn và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đánh giặc của tổ tiên “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu chống mạnh”,v.v.. để từng bước chuyển từ thế phòng ngự sang thế tiến công; đã kiên cường, mưu trí và kiên trì, sáng tạo giành thắng lợi to lớn trong trận Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tuy nhiên chiến tranh chưa kết thúc, không chỉ giúp thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương, khi Pháp bại trận, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ, can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam, nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam đã trở thành một cuộc đụng đầu lịch sử. Quyết tâm đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ, cả nước đã tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân với tinh thần đoàn kết “triệu người như một”, với niềm tin chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và ý chí “đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập và thống nhất thực sự”. Tiếp tục phát huy truyền thống “cả nước đánh giặc” của cha ông trong lịch sử, thấm nhuần lời dạy của Lênin, khi có chiến tranh phải “biến cả nước thành một dinh luỹ cách mạng”, lực lượng vũ trang cách mạng bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được xây dựng và ngày càng phát triển, hình thành thế trận bao vây và tiêu diệt địch. Để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, xuất phát từ thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà”[8]. Để thực hiện lời Người, đồng thời để có đủ sức mạnh chiến thắng kẻ thù, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra sức rèn luyện, học tập nâng cao trình độ tác chiến trên chiến trường, phối hợp với quân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu, tạo thành nguồn sức mạnh tổng hợp nhằm đưa cách mạng tiến lên bằng những bước nhảy vọt. Cuối cùng, không chỉ phát triển về mọi mặt, không chỉ luôn rèn luyện và ngày một trưởng thành mà quân đội ta còn chớp đúng thời cơ và “thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa” để giành thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc Tổng tấn công mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đát nước.

MÃI XỨNG DANH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

Là quân đội của nhân dân, với sự nỗ lực đoàn kết của toàn quân, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế, Quân đội nhân dân Việt Nam - công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của Đảng, Nhà nước và nhân dân đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc. Đối lập về bản chất với quân đội của giai cấp bóc lột và quân đội xâm lược của các nước đế quốc, thực dân, Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức và xây dựng theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Đối với nhân dân, nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”[9], “quân đội nhân dân, từ nhân dân tổ chức ra, được nhân dân nuôi nấng, giúp đỡ, vì nhân dân mà chiến đấu”[10]. Luôn ghi nhớ “dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết” và “muốn giết địch, thắng trận thì phải có đồng bào giúp mọi mặt. Muốn được đồng bào vui lòng giúp, thì phải giúp đỡ đồng bào, kính trọng đồng bào. Đó là con đường thắng lợi”[11], mỗi quân nhân cách mạng đều thấm nhuần và tuân theo "Mười điều kỷ luật" do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và yêu cầu cán bộ, chiến sĩ thực hiện: 1/Phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên. 2/Không được lấy cái kim sợi chỉ của dân. 3/Mua bán với dân phải công bằng. 4/Không được lấy của công làm của riêng. 5/Nói năng với dân phải lễ phép. 6/Phải giữ gìn sạch sẽ nhà cửa, vườn tược của dân nơi đóng quân. 7/Mượn cái gì của dân dùng xong phải đem trả. 8/Làm hư hại cái gì của dân phải bồi thường. 9/Không tắm rửa trước phụ nữ. 10/Không rượu chè, cờ bạc, hút thuốc phiện Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chứng minh rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam “mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và kỷ luật nghiêm” và “quân đội ta có sức mạnh vô địch vì nó là quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”[12]. Đó cũng chính là quá trình trang bị và giáo dục cho những người quân nhân cách mạng về lý tưởng, mục tiêu, đường lối của Đảng, về nhiệm vụ cách mạng, thể hiện từ nhận thức trở thành bản lĩnh chính trị, thành niềm tin, thành ý chí và quyết tâm hành động. Quân đội nhân dân Việt Nam là tập hợp đông đảo những người công nhân, nông dân, trí thức dũng cảm vốn xuất thân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” đã luôn dựa vào nhân dân như “cá với nước”; có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Mỗi cán bộ, chiến sĩ dù ở cấp bậc nào cũng luôn rèn luyện và gương mẫu về đạo đức, lối sống trong chiến đấu cũng như trong cuộc sống đời thường; luôn nỗ lực học tập để nâng cao năng lực toàn diện, sẵn sàng tác chiến trong thời chiến cũng như thời bình; đều sẵn sàng vượt qua cực khổ, khó khăn, chống lại những vinh hoa, phú quý không chính đáng; luôn thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, đồng cam cộng khổ cùng nhau trên cơ sở thực sự phát huy dân chủ. Là quân đội của nhân dân, gắn bó và yêu thương, kính trọng nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, đó là bản chất của quân đội cách mạng, đó cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp về chính trị, tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, tài thao lược của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh. Là quân đội của nhân dân, những người lính “bộ đội Cụ Hồ" không chỉ đánh giặc giỏi mà còn là những người sẵn sàng giúp dân về mọi mặt, tham gia chống thiên tai, bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân, nhưng quyết “không động đến cái kim và sợi chỉ của nhân dân”, để “làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc”. 75 năm xây dựng, rèn luyện và ngày một trưởng thành, là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, của chế độ, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[13]. Trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, trước cả thuận lợi và khó khăn, thách thức của thời kỳ mới, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động bất ngờ… càng đặt ra cho Quân đội nhân dân Việt Nam trọng trách lớn lao. Nhận rõ sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam chính là sức mạnh chính trị, là từ sự lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch, phản động ngày càng tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, đòi “phi chính trị hóa” quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, âm mưu muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội. Chúng không ngừng kích động gây mâu thuẫn giữa quân đội với nhân dân, với công an; cán bộ đảng, chính quyền với cán bộ, chiến sĩ trong quân đội; giữa cán bộ với chiến sĩ, hòng phá hoạt sự đoàn kết, thống nhất nội bộ, làm mai một truyền thống quân dân "như cá với nước” và sự đoàn kết hợp đồng các lực lượng trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa của quân đội ta. Chúng còn cổ súy tâm lý “tự do”, ngại kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh trong quân đội, lối sống thực dụng, buông thả, vị kỷ để không chỉ nhằm kích động tư tưởng công thần, địa vị, bè phái, cục bộ, đòi hưởng thụ đãi ngộ của các "bậc công thần"; kêu gọi quân đội liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại, trở thành quân đội “nhà nghề” như quân đội các nước tư bản mà còn thúc đẩy sự tha hóa, biến chất, “tự diễn biến” trong nội bộ quân đội theo ý đồ của chúng. Tuy nhiên, càng nhiều cam go, thử thách, yêu cầu và đòi hỏi phải xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam xứng đáng là “lực lượng trụ cột” của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam càng trở nên bức thiết. Càng phải đối phó với những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tăng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, thù địch, càng phải xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam xứng đáng là lực lượng nòng cốt của sức mạnh quốc phòng toàn dân; là lực lượng chiến đấu trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trên tinh thần đó, phải tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia về cả tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận lòng dân, an ninh nhân dân gắn với xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” như Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định, kết hợp với sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo thành tựu khoa học kỹ thuật của nền kinh tế tri thức. Trong “từng bước hiện đại hoá” quân đội, tư tưởng “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được thấm nhuần trong từng quyết sách, để giải quyết đúng đắn mối quan hệ con người và vũ khí, trong đó con người có vai trò quyết định. Để phát huy truyền thống “bộ đội Cụ Hồ” và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam phát triển vững mạnh, toàn diện, cần tập trung thực hiện một số giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm sau: Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện, thường xuyên của Đảng đối với quân đội: trong công tác Đảng, công tác chính trị, xác định nhiệm vụ chính trị, quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đường lối xây dựng thế trận lòng dân, nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân gắn với xây dựng, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; xây dựng, phát triển nền khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, chính sách hậu phương quân đội; xây dựng cơ sở vật chất, khí tài… Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại"; trong đó, chú trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn lực lượng. Cụ thể, chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị; nâng cao ý chí, quyết tâm bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân trong tình hình mới; tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc gắn với truyền thống lịch sử của quân đội, đơn vị... Hai là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; làm cho bản chất cách mạng, truyền thống “bộ đội Cụ Hồ” thấm sâu vào mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội. Đồng thời, tăng cường đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, chia rẽ quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Xây dựng và củng cố mối quan hệ trong quân đội và giữa quân đội với các thành tố trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với bạn bè quốc tế gắn với không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng môi trường văn hoá quân sự lành mạnh. Qua đó, tạo sự “miễn dịch”, tăng sức “đề kháng” phòng ngừa sự tác động, xâm nhập từ mặt trái xã hội vào môi trường quân đội, góp phần phòng, chống, ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Ba là, tiếp tục đẩy mạnh giáo dục về bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội, bản chất, truyền thống mối quan hệ đoàn kết quân dân gắn bó như “cá với nước” cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân gắn với tăng cường giáo dục, quán triệt trong toàn lực lượng đường lối, quan điểm của Đảng về công tác dân vận, Quy chế dân chủ cơ sở, về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh... Bồi đắp, xây dựng lòng tự hào, ý thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, chiến sĩ để tiếp tục vun đắp, củng cố, phát huy, phát triển mối quan hệ gắn bó giữa quân đội với nhân dân trong giai đoạn hiện nay trên tinh thần: Gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với nhân dân, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân để được nhân dân chăm lo, giáo dục và cùng nhân dân phối hợp chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng là đội quân công tác, góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mỗi cán bộ, chiễn sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ thường xuyên tuyên truyền, vận động, giúp đỡ và bảo vệ nhân dân mà còn thiết thực tiết kiệm của cải cho nhân dân, kết hợp với tăng gia sản xuất để giảm việc đóng góp của nhân dân, góp phần nâng cao đời sống nhân dân. Bốn là, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, tu dưỡng đạo đức người quân nhân cách mạng, năng lực lãnh đạo, chỉ huy, tác chiến, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ và sức mạnh chiến đấu toàn diện để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quân đội; đồng thời, thực hiện đoàn kết chặt chẽ trong nội bộ, đoàn kết trong nước và quốc tế. Trong mọi thời điểm, phải giữ nghiêm kỷ luật, chân thành giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở đường lối, chủ trương, nguyên tắc của Đảng, lợi ích của nhân dân và chức năng, nhiệm vụ của quân đội; trên cơ sở kỷ luật quân đội, tình thương yêu giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới để kết thành một khối thống nhất, vững chắc. Trong bất luận hoàn cảnh nào, thực hiện nhiệm vụ gì “cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau”[14], cũng luôn dũng cảm, tận tụy, mưu trí và sáng tạo, đem hết tinh thần, sức lực, trí tuệ, tài năng, kiên quyết hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trong chiến đấu và mọi mặt công tác như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn./.

Nhận thức đúng về đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng ta

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quan điểm, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD) vững mạnh là nội dung được Đảng ta xác định có vị trí quan trọng hàng đầu. Tuy cách thể hiện có khác nhau, nhưng qua từng thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định, muốn hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, chúng ta phải phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân. Yếu tố cốt lõi để tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc đó chính là nền QPTD vững mạnh. Cơ sở để Đảng ta xác định và nhất quán thực hiện quan điểm, đường lối ấy chính là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm thực tiễn từ lịch sử dựng nước, giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa giữ nước của nhân loại vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”. Xuất phát từ luận điểm ấy, ngay sau cách mạng Tháng Mười Nga thành công, để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ V.I.Lê-nin đã yêu cầu: "phải có một thái độ nghiêm túc đối với vấn đề khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chiến đấu của nhà nước"(1). Theo tư tưởng, quan điểm của V.I. Lênin sức mạnh bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước là sức mạnh tổng hợp, trong đó vai trò của quần chúng nhân dân rất quan trọng. Trong các tác phẩm đề cập đến vấn đề này, V.I Lê nin đều thống nhất quan điểm: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người làm nên lịch sử”. Sức mạnh QPTD theo tư tưởng của V.V. Lênin không phải là chiến lược chung chung, trừu tượng mà bao hàm những thành tố rất cụ thể, sức mạnh quốc phòng là sức mạnh tổng hợp, sức mạnh toàn diện trong đó quân đội giữ vai trò nòng cốt. Nói về tăng cường sức mạnh của nền QPTD, VI.Lê nin chỉ rõ rằng phải xây dựng được quân đội mạnh làm nòng cốt. VI.Lê nin khẳng định: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông... chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ... Có Hồng quân mạnh, chúng ta sẽ vô địch”... Kế thừa và phát triển truyền thống mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, đồng thời vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành nên tư tưởng quân sự. Chính bằng tư tưởng quân sự ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dẫn đường, chỉ lối quân và dân ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Nội dung cốt lõi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh chính là xây dựng nền QPTD vững mạnh. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn, do đó để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng và duy trì, phát triển hoạt động của chính quyền chuyên chính vô sản, không có con đường nào khác là phải bằng sức mạnh tổng hợp của nền QPTD. Ngay trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tư tưởng ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: " Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy". Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: chúng ta phải xây dựng nền QPTD, toàn diện. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền QPTD phải là nền quốc phòng mang tính chất nhân dân, nền quốc phòng của dân, do dân xây dựng nên, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng. Mặt khác theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh xây dựng nền QPTD phải gắn liền với thế trận chiến tranh nhân dân phải có lực lượng vũ trang với ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích) làm nòng cốt, có hậu phương vững mạnh. Cùng với đó Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền quốc phòng hiện đại, xây dựng nền QPTD phải gắn liền với xây dựng nền an ninh nhân dân . Quán triệt và thực hiện quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ xây dựng nền QPTD mà Đảng ta đã xác định những năm qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện, thiết thực. Tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước được tăng cường, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tuy nhiên, trên thực tế còn không ít những vấn đề đặt ra, đáng chú ý là bên cạnh sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, ngay trong nội bộ cũng có những quan điểm chưa đúng, những nhận thức lệch lạc về sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc; về đường lối xây dựng nền QPTD... Do nhận thức lệch lạc, chưa đầy đủ và hiểu chưa đúng nên quá trình thực hiện đường lối xây dựng nền QPTD còn nhiều tồn tại, hạn chế. Đáng chú ý là trong thực hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với xây dựng, củng cố quốc phòng – an ninh, nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chỉ nhấn mạnh hiệu quả kinh tế mà xem nhẹ yếu tố quốc phòng – an ninh. Do quá trình triển khai cơ quan chức năng, chủ đầu tư và các tổ chức, cá nhân có liên quan không chú ý tới những tác động đến bảo đảm quốc phòng – an ninh và an toàn cộng đồng, nên không ít công trình, dự án phải đình chỉ. Đặc biệt, nhiều khu rừng, cánh rừng từng “che bộ đội”, “vây quân thù” trong kháng chiến, tạo vành đai xanh bảo vệ biên giới trong hòa bình, nay đang bị tàn phá không thương tiếc... Thực trạng ấy Đảng và Nhà nước ta đã thấy rõ, chỉ ra và có nhiều giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt đấu tranh ngăn chặn, khắc phục. Đặc biệt, sau khi thẳng thắn đánh giá thực trạng, phân tích cụ thể nguyên nhân, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đã chỉ rõ những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Một trong những biểu hiện được Ban Chấp hành Trung ương chỉ ra là: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hóa" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối QPTD và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an”. Để đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với biểu hiện ấy, Ban Chấp hành Trung ương xác định tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, toàn diện, có hiệu quả nhiều giải pháp. Một trong những giải pháp quan trọng, phải làm thường xuyên là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng cho nhân dân, trước hết là cán bộ, đảng viên hiểu đúng, nhận thức đầy đủ về xây dựng nền QPTD. Cùng với tuyên truyền làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của đường lối, cần phân tích làm cho nhân dân hiểu rằng xây dựng nền QPTD vững mạnh là yêu cầu khách quan của sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN chứ không phải do ý muốn chủ quan của cá nhân hay tổ chức nào. Đây là một chủ trương chiến lược của Đảng ta, đồng thời cũng là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Do đó, cần làm cho nhân dân, trước hết là cán bộ, đảng viên thấu suốt quan điểm, muốn hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, chúng ta phải biết phát huy sức mạnh tổng hợp và một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp là phải xây dựng nền QPTD và an ninh nhân dân vững mạnh. Điều đó chỉ có được khi mọi công dân, mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi cấp, mọi ngành nhận thức đúng, ý thức đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với việc xây dựng nền QPTD, an ninh nhân dân. Để huy động được mọi nguồn lực, phát huy trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức, mọi lực lượng cùng tham gia xây dựng nền QPTD, chúng ta phải làm cho nhân dân hiểu rõ nền QPTD mà Đảng ta chủ trương xây dựng đó là nền quốc phòng mang tính chất “vì dân, do dân, của dân”, phát triển theo phương hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hòa bình, ổn định của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Xây dựng nền QPTD gắn với xây dựng nền an ninh nhân dân vững mạnh là tạo ra sức mạnh để ngăn ngừa, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu, hành động xâm hại, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Việc xây dựng nền QPTD, an ninh nhân dân của Việt Nam không nhằm mục đích nào khác là tự vệ chính đáng, là để chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ XHCN và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Đây chính là thể hiện sự khác biệt về bản chất trong xây dựng nền QPTD, an ninh nhân dân của Việt Nam cũng như các quốc gia có độc lập, chủ quyền đi theo con đường XHCN với các quốc gia khác. Sức mạnh của nền QPTD, an ninh nhân dân của Việt Nam là sức mạnh tổng hợp được tạo nên bằng nhiều yếu tố như: chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, khoa học, đối ngoại, quân sự, an ninh,... cả ở trong nước, ngoài nước, cả của dân tộc và của thời đại, trong đó những yếu tố bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Chỉ có thông qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục làm cho nhân dân, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên hiểu đúng, nhận thức đầy đủ những vấn đề cơ bản đó, chúng ta mới góp phần xây dựng niềm tin, nâng cao trách nhiệm và ý chí, quyết tâm trong xây dựng nền QPTD, an ninh nhân dân. Đây cũng là biện pháp quan trọng để chúng ta phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; huy động mọi nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng, củng cố nền QPTD gắn với nền an ninh nhân dân nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ

Hiện nay, “tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới to lớn, phức tạp hơn đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải quyết tâm, nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn”(8). Trong tình hình đó, các thế lực thù địch tiếp tục không ngừng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, với một trong các thủ đoạn là đòi hỏi “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị”. Để làm tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị phải tiếp tục được coi trọng đặc biệt, xứng đáng với vị trí là nguyên tắc cơ bản hàng đầu trong xây dựng quân đội cách mạng, cụ thể là: Một là, giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, xây dựng các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội trong sạch, vững mạnh. Thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức và đạo đức; đấu tranh chống mọi tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; miễn dịch trước sự tấn công, xâm nhập của những khuynh hướng, quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch. Ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm hạ thấp và xóa bỏ vai trò lãnh của Đảng đối với quân đội. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy, gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam” và các Nghị quyết Trung ương khóa XII của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Chú trọng việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị; trong đó, cần quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, sáng tạo Nghị quyết 769-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ chính ủy, chính trị viên gương mẫu về mọi mặt, thực sự là hạt nhân đoàn kết, tổ chức lãnh đạo đơn vị chấp hành nghiêm đường lối của Đảng và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Hai là, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, chiến sĩ về bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định con đường cách mạng - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước, bồi dưỡng tình cảm đối với quê hương, đất nước, con người Việt Nam cho mỗi người quân nhân trong quân đội. Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Hình thành, phát triển ở mỗi cán bộ, chiến sĩ ý chí quyết tâm cao, nhạy bén, sắc sảo về chính trị, có năng lực hoạt động thực tiễn và phương pháp tác phong công tác tốt, lối sống trung thực, giản dị, không bị cám dỗ bởi lối sống cá nhân chủ nghĩa, thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường. Không ngại khó, ngại khổ, ngại học, ngại rèn, thường xuyên nâng cao trình độ năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị phải làm cho bản chất cách mạng của quân đội tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong tư tưởng, tình cảm, ý chí và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Ba là, coi trọng xây dựng môi trường văn hóa ở các cơ quan, đơn vị quân đội trong sạch, lành mạnh, xây dựng đạo đức, lối sống, nhân cách người quân nhân cách mạng. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội”, kết hợp chặt chẽ với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Coi trọng gắn kết giữa thực hiện các chuẩn mực con người Việt Nam mới, “Đơn vị văn hóa” với đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng, xây dựng điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt”. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, nhất là đoàn viên, thanh niên làm nòng cốt đẩy lùi các tệ nạn xã hội, giảm thiểu vụ việc vi phạm kỷ luật. Thường xuyên phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội địa phương đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước và quân đội về công tác quản lý, kiểm tra, thẩm định biên tập, in ấn, phát hành, lưu hành, sử dụng các phương tiện nghe nhìn, thiết bị điện tử kết nối internet,… Phát huy dân chủ cơ sở gắn với tích cực đấu tranh với mọi biểu hiện ứng xử thiếu văn hóa, tạo môi trường và điều kiện tốt nhất cho bộ đội tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ. Bốn là, tăng cường đấu tranh trên mặt trận lý luận - tư tưởng, vạch trần âm mưu của các thế lực thù địch muốn làm cho quân đội ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo khuynh hướng “phi chính trị hóa”. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng theo Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Chủ động bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới, về bản chất cách mạng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội. Đấu tranh trực diện, vạch trần bản chất chính trị phản động, phản khoa học của âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Nêu cao tinh thần cảnh giác, tích cực xây dựng nội bộ đơn vị, tổ chức vững mạnh toàn diện, tạo khả năng “miễn dịch” trước những thủ đoạn tấn công bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Phát huy vai trò của hệ thống báo chí và các đơn vị văn hóa nghệ thuật quân đội, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với hệ thống truyền thông, văn hóa nghệ thuật của cả nước để làm thất bại mọi thủ đoạn phá hoại của kẻ thù. Chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lý luận có đủ phẩm chất và năng lực, nhanh nhạy, sắc bén trong đấu tranh và tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng này tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, chống “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị” là một nguyên tắc cơ bản, quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội cách mạng. Đó là một quá trình liên tục, xuyên suốt sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội cách mạng, đòi hỏi phải thực hiện tổng hợp các biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách… trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định rõ nguyên tắc căn bản đó và hiện nay vẫn đang tiếp tục được coi trọng làm nền tảng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

SỰ PHI LÝ CỦA LUẬN ĐIỂM "QUÂN ĐỘI TRUNG LẬP", "ĐỨNG NGOÀI CHÍNH TRỊ"

K.Clausewitz - nhà lý luận quân sự tư sản của nước Phổ đã khái quát luận điểm: Chiến tranh là sự kế tục của chính trị, được thừa nhận như là một chân lý cả trong khoa học quân sự tư sản lẫn trong khoa học quân sự vô sản. Một khi đã thừa nhận “chiến tranh là sự kế tục của chính trị” thì tất yếu phải thừa nhận: không bao giờ và không ở đâu có thứ quân đội “đứng ngoài chính trị”, hoặc “không dính đến chính trị”. Bởi vì, bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng có mục tiêu chính trị, thể hiện lập trường chính trị của các bên tham chiến, quân đội của các bên tham chiến đều được lực lượng chính trị cầm quyền tổ chức, giáo dục để thực hiện mục tiêu chính trị đó. Do vậy, bất cứ quân đội nào cũng đều được chú ý xây dựng về chính trị. Vấn đề khác nhau là ở chỗ, một mặt, vấn đề xây dựng về chính trị được đặt ở vị trí nào trong quá trình xây dựng quân đội, nhất là so với quá trình hiện đại hóa vũ khí trang bị của mỗi quân đội; mặt khác, là ở mức độ công khai hóa bản chất chính trị, cũng như nội dung xây dựng về chính trị trong mỗi loại hình quân đội. Đối với quân đội do giai cấp tư sản chi phối, do được xây dựng trên nền tảng thuyết “vũ khí luận”, vấn đề xây dựng về chính trị xếp sau việc không ngừng hiện đại hóa vũ khí trang bị. Nhưng không vì thế mà họ không chú ý đến xây dựng về chính trị cho quân đội. Chính trị được truyền bá vào quân đội của họ là hệ tư tưởng tư sản, là công tác tổ chức và lối sống, đạo đức theo quan điểm của giai cấp tư sản. Đối với quân đội do giai cấp công nhân xây dựng, lãnh đạo và giáo dục, vấn đề chăm lo xây dựng về chính trị cho quân đội được đặt ở vị trí quan trọng bậc nhất. Điều đó xuất phát từ sự nhận thức đúng đắn về tính chất giai cấp của quân đội và mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố con người với vũ khí trang bị. Những người cộng sản chưa bao giờ xem nhẹ vai trò của vũ khí trang bị, nhưng luôn coi con người là yếu tố quyết định thắng lợi: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”(1). Đây là nội dung then chốt, căn bản nhất thể hiện nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới về chính trị của giai cấp công nhân. Đối với mỗi quốc gia dân tộc, tổ chức và hoạt động của quân đội có những đặc điểm riêng gắn với điều kiện lịch sử cụ thể, song đều tuân theo quy luật “quân sự phục tùng chính trị”; đều do quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội quyết định. Không có và không bao giờ có “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị”. Trong bất cứ xã hội nào, với tính cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, một tổ chức của nhà nước, quân đội đều phụ thuộc vào đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền: “Bản chất giai cấp và nội dung của nhà nước như thế nào thì quân đội - người bảo vệ lợi ích của nó như thế ấy”(2). Đồng thời, các lực lượng chính trị cầm quyền luôn tìm mọi cách để nắm chắc quân đội thông qua nhiều biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách đãi ngộ. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, một nhà nước nhất định. Do đó, bản chất giai cấp của quân đội là bản chất của giai cấp, nhà nước tổ chức ra nó: “Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, quân đội sẽ không bao giờ có thể trung lập được”(3). Quân đội chỉ mang bản chất của một giai cấp - giai cấp thống trị chi phối quyền lực nhà nước và tổ chức, nuôi dưỡng sử dụng quân đội đó. V.I.Lênin đã đề ra những nguyên tắc căn bản về xây dựng quân đội kiểu mới, trong đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc quan trọng nhất và quyết định: “Hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của Hồng quân như chăm lo đến con ngươi trong mắt mình”(4). Vận dụng sáng tạo lý luận của V.I.Lênin về quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra quân đội kiểu mới của dân tộc Việt Nam. Người đặc biệt coi trọng nhân tố chính trị trong xây dựng quân đội: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự”(5). Người đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng quân đội về chính trị: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(6). Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(7). Sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam là sức mạnh tổng hợp, trong đó, yếu tố con người với trình độ giác ngộ chính trị cao giữ vai trò quyết định. Chính trị có vai trò định hướng toàn bộ hoạt động của quân đội phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử. Chính trị còn có khả năng thẩm thấu, liên kết chặt chẽ các yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu tổng hợp của quân đội ta.

THỰC CHẤT LUẬN ĐIỂM "QUÂN ĐỘI TRUNG LẬP", "ĐỨNG NGOÀI CHÍNH TRỊ"

Chính trị của quân đội, thực chất là vấn đề bản chất giai cấp của quân đội, nó trả lời cho câu hỏi: Quân đội đó do giai cấp nào tổ chức, nuôi dưỡng, sử dụng và lãnh đạo? Nó phục vụ cho giai cấp nào, bảo vệ quyền lợi của ai? Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội ấy cho ai, vì ai? Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng, trong xây dựng quân đội của bất kỳ quốc gia, dân tộc nào, bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, vấn đề chính trị luôn được đặt lên vị trí cao nhất, chiếm “ngôi đầu”; là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự tồn tại, phát triển của quân đội ấy, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ chính trị - xã hội và vận mệnh của quốc gia dân tộc. Xét về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực, phục vụ cho mục đích chính trị của một giai cấp, nhà nước nhất định. Tính chất chính trị của quân đội thể hiện tập trung và rõ nét ở mục tiêu chiến đấu, tổ chức lực lượng, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ của quân đội; phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội. Hiện nay, thông qua cái gọi là “bức thư tâm huyết,” “kiến nghị của công dân”,… một số người đã lên tiếng “kiến nghị” rằng “các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị”, “lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và Nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức chính trị nào, đảng phái nào”, “quân đội chỉ cần tuân theo pháp luật”, “quân đội cần đứng ngoài chính trị”... Trắng trợn hơn, có kẻ còn viết bài đặt câu hỏi với cán bộ, chiến sĩ quân đội rằng: “Các anh còn ngủ đến bao giờ?”… Bản chất của những luận điệu trên là nhằm “phi đảng hóa”, “phi chính trị hóa”, tách quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vô hiệu hóa vai trò của quân đội nhân dân. Luận điểm “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị”, “trả quân đội về cho nhà nước”,... thực chất là một mũi tiến công chủ yếu nhằm làm cho quân đội xã hội chủ nghĩa mất phương hướng, rơi vào quỹ đạo chính trị phản động mà các thế lực tư bản, đế quốc đã thực hiện đối với quân đội các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trước đây. Trong thế giới đương đại, quan điểm “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị” thường xuất hiện ở các nước có cấu trúc đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị. Ở Thái Lan, chính phủ và các đảng phái chính trị đều ra sức tranh thủ sự ủng hộ, hậu thuẫn về chính trị của quân đội. Trong nền chính trị với cấu trúc lưỡng đảng ở Mỹ, quân đội Mỹ không hề đứng ngoài chính trị. Chỉ tính từ năm 1990 đến nay, quân đội Mỹ đã liên tục can dự vào đời sống chính trị của nhiều nước, ở nhiều khu vực, kể cả tiến hành chiến tranh để can thiệp vào tình hình chính trị, kích động làn sóng “Mùa xuân Ả Rập”… Sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là do việc xóa bỏ quy định của Hiến pháp về vai trò lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội, lãnh đạo quân đội của Đảng Cộng sản. Thực tiễn cho thấy, ở những nước có sự tồn tại của nhiều đảng phái chính trị, việc thực hiện cái gọi là “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị” đã dẫn tới tình trạng mâu thuẫn, xung đột, mất đoàn kết nội bộ và bất ổn chính trị - xã hội.

Sự nham hiểm của kiến nghị “xây dựng quân đội chuyên nghiệp”

Mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam đã được Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Hiến pháp năm 2013 xác định là “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Nhưng gần đây, có một vài “nhà dân chủ” kiến nghị nên viết gọn lại thành “chuyên nghiệp, tinh nhuệ, hiện đại”. Kiến nghị này rất nham hiểm, vì thực chất họ muốn “phi chính trị hóa Quân đội”, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng... Nội hàm của khái niệm “cách mạng” đòi hỏi quân đội phải “trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân”. Những người nhẹ dạ, ít am hiểu lý luận sẽ thấy mục tiêu xây dựng Quân đội “chuyên nghiệp, tinh nhuệ, hiện đại” nghe có vẻ hợp thời và ngắn gọn hơn, cắt bớt yếu tố “cách mạng” và chuyển từ “từng bước hiện đại” sang “hiện đại” nghe thích hơn, oai hơn. Nhưng sự kiến nghị thêm bớt câu từ này lại nhằm phục vụ một mục đích không thay đổi của các thế lực thù địch, đó là bỏ yếu tố “cách mạng” thì đồng nghĩa với việc xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đó là sai lầm khủng khiếp mà Đảng Cộng sản Liên Xô đã từng làm dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991. Sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần nhận được câu hỏi của các tướng lĩnh và giới nghiên cứu quân sự thế giới: “Vì sao Quân đội nhân dân Việt Nam, từ không một tấc sắt trong tay lại đánh thắng hai đế quốc to trong những cuộc chiến tranh không cân sức?”. Đại tướng khẳng định: “Sẽ không tìm được câu trả lời nếu không nhìn vào chiều dày lịch sử dân tộc và đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, giáo dục, rèn luyện; quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Quân đội ta luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta là nhằm thực hiện thắng lợi mục đích, lý tưởng của Đảng: “Xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Bản chất cách mạng luôn thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều 65 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”. Nhiệm vụ bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam là tất yếu, bắt nguồn từ nhu cầu tự thân của Quân đội và nguyện vọng chính đáng trên nền tảng nhận thức khoa học đã được thực tiễn lịch sử kiểm nghiệm của nhân dân Việt Nam.

Phòng, chống khuynh hướng “phi chính trị hóa quân đội”,

Để giúp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam cứ sức đề kháng, đứng vững trước luận điệu nham hiểm về “quân đội chuyên nghiệp”, theo chúng tôi, cần tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau: Thứ nhất, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật cơ bản trong việc xây dựng quân đội “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Thứ hai, tăng cường đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng làm Quân đội nhân dân Việt Nam “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” theo khuynh hướng “phi chính trị hóa”; đẩy mạnh hiện thực hóa các mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại như Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đặt ra. Thứ ba, tăng cường xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, chăm lo xây dựng quân đội, củng cố và tăng cường sức mạnh đoàn kết quân dân, góp phần giữ gìn và phát huy hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong xã hội, trong nhân dân. Thứ tư, thường xuyên đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam, tạo những chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần, khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, góp phần phát huy những phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta luôn giữ vững bản chất cách mạng, tinh thần chiến đấu, tuyệt đối “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”, phát huy vai trò nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Hiện nay, sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những vấn đề mới, với những thời cơ, thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch đẩy mạnh âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với mưu đồ ngày càng tinh vi, xảo quyệt; tác động mặt trái kinh tế thị trường, những hiện tượng tiêu cực bên ngoài xã hội đối với quân đội ngày càng phức tạp, chi phối đến nhận thức, tư tưởng, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ, v.v. Điều đó có ảnh hưởng không nhỏ đến bản chất, truyền thống, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của dân. Bởi vậy, việc tăng cường phê phán sự nham hiểm, thâm độc của luận điệu đòi “chuyên nghiệp hóa” quân đội mà thực chất là tầm thường hóa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội là việc làm cần thiết cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, rộng khắp trong bộ đội và trong nhân dân.