Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

TRUY NÃ ĐẶC BIỆT BỊ CAN "DŨNG VOVA" PHÁT TÁN TÀI LIỆU CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC

Cơ quan An ninh điều tra, Công an TP Hà Nội ra quyết định truy nã đặc biệt bị can Dũng Vova về hành vi phát tán tài liệu chống phá Nhà nước.
Ngày 01/6, Cơ quan An ninh điều tra, Công an TP Hà Nội đã ra quyết định truy nã đặc biệt đối với bị can Dũng Vova với tội danh: Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự.
Bị can Lê Văn Dũng ( Lê Dũng Vova) sinh ngày 10/10/1970 tại Hà Nội, nghề nghiệp tự do, quê quán: Ứng Hòa, Hà Nội; nơi cư trú: Số 54B ngõ 2, Hà Trì 3, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội.
Quyết định truy nã nêu rõ: Bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người đang bị truy nã đến cơ quan Công an, Viện Kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất. Sau khi bắt hoặc tiếp nhận đối tượng truy nã báo ngay cho Cơ quan An ninh điều tra, CATP Hà Nội. Địa chỉ: 89 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội . Điện thoại: 069.219.4084, 038.533.2369.
Theo thông tin trên Báo Công an nhân dân, Lê Văn Dũng hay gọi là Dũng Vova sinh ra trong một gia đình công chức. Bản thân Dũng từng là sinh viên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội vào những năm 1987-1992.
Sau khi ra trường, Dũng làm kỹ sư Công ty cổ phần kỹ nghệ lạnh Đà Nẵng, ở đường Lê Trọng Tấn, TP Đà Nẵng. 2 năm sau, làm kỹ sư điện Công ty TNHH Tư vấn và quản lý xây dựng...
Lê Văn Dũng bắt đầu tham gia vào các hoạt động chống đối tụ tập, biểu tình gây rối an ninh trật tự từ năm 2011. Đối tượng đã lợi dụng các vấn đề phức tạp về chủ quyền biên giới, khiếu kiện đất đai tại một số địa bàn như Dương Nội (Đông Anh); Tiên Lãng (Hải Phòng) và Văn Giang (Hưng Yên); ô nhiễm môi trường (Formusa, chặt hạ cây xanh) hay lợi dụng danh nghĩa tưởng niệm các sự kiện lịch sử; việc bắt giữ, xử lý số đối tượng chống đối để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.
Lê Văn Dũng luôn giữ vai trò tích cực tham gia hàng trăm cuộc biểu tình, tụ tập gây rối an ninh trật tự tại các địa phương.
Ngoài ra, Lê Văn Dũng còn tham gia các hội nhóm chống đối như nhóm "No-U"; "Phong trào chấn hưng nước Việt"; tích cực tham gia các "phong trào" do số đối tượng chống đối trong và ngoài nước phát động.
Từ năm 2017, Lê Văn Dũng điều hành "Kênh 4" của "Phong trào chấn hưng nước Việt", sau đổi tên thành "Thông tấn xã vỉa hè", "Chấn hưng tivi", "CHTV VietNam"...
Dũng và các đối tượng tự xưng là phóng viên, tự làm giả thẻ phóng viên, sử dụng nhà riêng để lập "trường quay", móc nối, lôi kéo người dân khiếu kiện kéo dài ở nhiều địa phương để thực hiện livestream.
Đầu năm 2018, Lê Văn Dũng bắt đầu hoạt động trở lại, nổi lên với vai trò là người đứng đầu nhóm "Phong trào chấn hưng nước Việt" đã tạo lập nhiều tài khoản như "Lê Văn Dũng", "Le Dung vova", "Chấn hưng tivi Việt Nam"… lôi kéo 6 đối tượng ở các địa phương, công khai thành lập 1 kênh "Tiếng dân tivi", 1 kênh "Eva tivi", 5 kênh "Chấn hưng Tivi" trên Youtube, Facebook.
Hiện nay, để đối phó với Cơ quan An ninh, khi thực hiện các video, clip các đối tượng không lấy biểu tượng logo "Phong trào chấn hưng nước Việt" mà chuyển thành "CHTV".
Đến nay, Dũng đã thực hiện hàng nghìn video clip xuyên tạc các vấn đề nhạy cảm của xã hội đăng trên các facebook như "Le Dung VoVa"; "Chấn hưng TV Viet Nam"; "Viet Nguyen"…
Ngoài ra, Lê Văn Dũng còn cùng các đối tượng tích cực đi các địa phương tìm cách phát triển lực lượng chống đối, trong đó họ tập trung móc nối, lôi kéo số đầu đơn, khiếu kiện cực đoan tại các địa phương, thu thập thông tin về các vụ khiếu kiện, sau đó lồng ghép các nội dung xuyên tạc, bôi nhọ..., tán phát trên “Đài CHTV”./.
                                                   Nguồn Báo GT.
         Phạm Văn Vông

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn với quốc phòng an ninh

 


Về tăng cường lãnh đạo của Đảng

- Đảng phải luôn đổi mới tư duy, nâng cao năng lực trí tuệ đề ra đường lối, chính sách tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh đúng đắn, phù hợp với diễn biến phức tạp của tình hình tôn giáo và âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta.

- Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở, cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có đủ phẩm chất, năng lực theo yêu cầu phát triển của công tác tôn giáo ở thời kỳ mới.

- Quan tâm lãnh đạo việc điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với tôn giáo trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.

- Củng cố, kiện toàn tổ chức làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp; xác định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ chức quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp; xây dựng quy chế phối hợp hoạt động một cách cụ thể và hiệu quả giữa các tổ chức, cá nhân làm công tác tôn giáo ở các cấp.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời trấn chỉnh, bổ sung phát triển về chủ trương, chính sách nhất là giải pháp bảo đảm việc thực hiện tốt đường lối, chính sách tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh.

Về tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước. Với chức năng chính trị và pháp luật, Nhà nước thực hiện nguyên tắc: chỉ đặt ra vấn đề chính trị và pháp luật đối với tôn giáo, tuyệt nhiên Nhà nước không bao giờ tranh cãi với các tôn giáo về thần học, triết học, giáo lý… Trên cơ sở đó, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở nước ta hiện nay, cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

- Nhà nước tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đặc biệt quan tâm tới các vùng, địa bàn tôn giáo; các vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về tôn giáo, gắn tôn giáo với quốc phòng, an ninh nhằm tạo cơ sở chính trị - pháp lý cho quản lý và thực hiện hiệu quả gắn tôn giáo với quốc phòng và an ninh trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Tổ chức thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hướng dẫn các tín đồ đấu tranh, chống lại âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo để kịch động gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.

- Chủ động nắm chắc tình hình diễn biến của tôn giáo, kịp thời phát hiện và giải quyết hậu quả những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ tín đồ, trong quan hệ giữa tín đồ với các chức sắc và quan hệ giữa các tôn giáo.

- Khuyến khích tín đồ, chức sắc các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, giáo dục… phù hợp với nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật.

- Nhà nước thống nhất chủ trương xử lý vấn đề tranh chấp nhà, đất sử dụng vào mục đích tôn giáo hoặc liên quan đến tôn giáo trên cơ sở pháp luật để tạo sự đồng thuận xã hội; hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Đây là biện pháp có ý nghĩa quyết định thắng lợi đường lối, quan điểm, chính sách tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Vì vậy cần phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp luật; luôn đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức vận động đồng bào tín đồ phù hợp với đặc điểm sinh hoạt của từng tôn giáo cụ thể. Tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Phát huy tinh thần của đồng bào có đạo trong tự giác, phối hợp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo cùng với lợi dụng các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ gìn, củng cố an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

 

Tích cực, chủ động, xây dựng cơ sở chính trị ở các địa bàn có tôn giáo vững mạnh

 


Xây dựng tổ chức Đảng và chính quyền cơ sở.

Ở các địa bàn có đồng bào tôn giáo, cần trú trọng xây dựng chi bộ, xây dựng đảng viên và cán bộ làm công tác tôn giáo. Trong xây dựng Đảng ở địa bàn có đồng bào tôn giáo hiện nay, cần đặc biệt quan tâm lựa chọn những quần chúng ưu tú, có tín nhiệm trong cộng đồng các tín đồ tôn giáo để phát triển Đảng, đồng thời đẩy nhanh việc xóa các “vùng trắng” hiện còn tồn tại ở nhiều địa bàn có đồng bào dân tộc thiểu số theo tôn giáo như ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên… chưa có tổ chức Đảng và đảng viên.

Những năm qua hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa chưa được chú ý đúng mức về công tác tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và chế độ chính sách đãi ngộ. Do đó, ở nhiều nơi đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo nói riêng vừa thiếu, vừa yếu, hoạt động kém hiệu quả, có nơi hệ thống chính quyền cơ sở chưa nắm được dân, giải quyết vấn đề tôn giáo còn sơ hở, do yếu về kỹ năng nghiệp vụ, để kẻ địch lợi dụng tuyên truyền xuyên tạc, truyền đạo trái phép.

Việc xây dựng phát triển nhân cốt trong các tín đồ chức sắc tôn giáo chưa được coi trọng. Vì vậy những năm tới cần có sự quan tâm đúng mức về tạo nguồn đào tạo, sắp xếp đội ngũ cán bộ đúng, đủ, mạnh ở các cơ sở, ưu tiên nguồn cán bộ tại chỗ; có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung, cán bộ làm công tác tôn giáo nói riêng.

Về xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội (Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…) ở cơ sở địa bàn có đồng bào tôn giáo cần được xây dựng, củng cố, kiện toàn cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng nói chung, nhiệm vụ công tác tôn giáo nói riêng trong tình hình mới. Đảng, Nhà nước cần quan tâm đầu tư, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở cả về phẩm chất và năng lực, nhất là năng lực tuyên truyền vận động, giáo dục, thuyết phục quần chúng tín đồ tôn giáo; tăng cường hơn nữa về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động và có chính sách đãi ngộ phù hợp để đội ngũ này hăng hái, tích cực làm việc, cống hiến hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ trong triển khai thực hiện đường lối quan điểm tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh ở thời kỳ mới.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, gắn với củng cố quốc phòng, an ninh ở các địa bàn có tôn giáo.

 


Nhà nước cần quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào tôn giáo còn gặp nhiều khó khăn; có chính sách ưu tiên về vốn để xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế, nâng cao kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; hướng dẫn đồng báo tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa phát triển sản xuất hàng hóa… để đồng bào nâng cao dần mức sống, tạo cơ sở kinh tế để nâng cao sức mạnh nội sinh từ cơ sở, địa bàn. Đồng thời làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện tốt chính sách định canh, định cư, có giải pháp phù hợp trong nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội như chương trình 135, các chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, giao thông miền núi…, hạn chế và dần chấm dứt di dân tự do, gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể ở từng cơ sở, địa bàn.

Đi đôi với đẩy mạnh phát triển kinh tế, phải tích cực xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là ở các làng bản…đồng bào dân tộc thiểu số có tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa và bảo đảm an sinh xã hội. Do vậy cần quan tâm đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế như trường học, trạm xá, nhà văn hóa thôn bản…để nâng cao dân trí, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Đổi mới hoàn thiện chính sách về định canh, định cư, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm, chính sách chăm lo cho những người có công, người có hoàn cảnh éo le, cơ nhỡ là tín đồ các tôn giáo. Mặt khác, để đồng bào tôn giáo phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo mình trong xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần tích cực phát động các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa phù hợp với đức tin, tâm lý, tập quán của đồng bào theo từng tôn giáo cụ thể phù hợp với đặc điểm vùng, miền khác nhau; qua đó, hạn chế đẩy lùi các tiêu cực, lạc hậu như mê tín dị đoan, cả tin đi theo các tà dạo, theo những kẻ xấu xúi giục thực hiện những hành vi phá rối an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội…

Cần có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về tình hình kinh tế - xã hội

Mặc dù thời gian qua, kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh, đời sống người dân ngày càng được cải thiện và nâng lên, thế nhưng trong xã hội, thậm chí một số cán bộ, đảng viên vẫn còn những người chưa hiểu rõ, chưa nhận thức đúng, có cái nhìn phiến diện, tỏ ý hoài nghi về sự phát triển theo hướng ngày càng bền vững và thực chất của kinh tế đất nước; về những giá trị mà phát triển kinh tế mang lại cho người dân. Thực tế này đòi hỏi cần tăng cường truyền đạt, phổ biến thông tin để mọi người có nhận thức và hành động đúng. Hiện nay, vẫn có những người tỏ ý nghi ngờ báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế-xã hội (KT-XH) Việt Nam, mà trong đó cho thấy những đánh giá lạc quan về bức tranh KT-XH đất nước. Thế nhưng, ngày 28-5 vừa qua, hãng tin Bloomberg nổi tiếng đã trích dẫn báo cáo của Ngân hàng DBS Bank dự báo rằng, kinh tế Việt Nam sẽ có tốc độ tăng trưởng 6-6,5% trong 10 năm tới. Với tốc độ tăng trưởng đó, theo DBS Bank thì trong 10 năm nữa, quy mô nền kinh tế Việt Nam sẽ lớn hơn quy mô nền kinh tế Singapore-một trong những nền kinh tế phát triển của châu Á và thế giới. Hiện nay, theo dữ liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), quy mô nền kinh tế Singapore vẫn gần gấp rưỡi quy mô nền kinh tế Việt Nam, khi GDP của Việt Nam dự kiến đạt 260,3 tỷ USD trong năm 2019, còn GDP của Singapore dự kiến đạt 372,8 tỷ USD. Theo báo cáo của Chính phủ tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XIV thì tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế Việt Nam năm 2018 là 7,08%, quý I-2019 là 6,79%, và mục tiêu năm 2019 là tăng trưởng 6,8%. Trong khi đó, nền kinh tế Singapore đang có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại do những khó khăn chung của kinh tế thế giới, từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung. Dự báo bi quan nhất, kinh tế Singapore có thể chỉ đạt tăng trưởng 1,5% trong năm 2019. Theo dự báo của IMF, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2019 cũng chỉ đạt 3,5%. Như vậy, nền kinh tế của Việt Nam có cơ hội rút ngắn, san bằng khoảng cách với nhiều nền kinh tế phát triển hơn mình trong thời gian tới. Không chỉ báo cáo của DBS Bank mà rất nhiều bài viết, những phát biểu, đánh giá của báo chí, nhà quản lý, chuyên gia quốc tế thời gian qua đều cho thấy cái nhìn lạc quan đối với sự tăng trưởng ổn định, dài hạn của kinh tế Việt Nam. Theo ông Irvin Seah-chuyên gia kinh tế của DBS Bank, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong tương lai sẽ được thúc đẩy bởi lợi thế về cơ cấu dân số, lực lượng lao động, cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện, nền chính trị ổn định, năng suất lao động tăng, tạo lực hút đối với dòng vốn nước ngoài. "Các nhà đầu tư nước ngoài đang xếp hàng mong muốn để trở thành một phần câu chuyện Việt Nam", ông Irvin Seah nhận định. Cũng mới đây, Cục Thống kê Hoa Kỳ công bố số liệu cho thấy, kim ngạch nhập khẩu vào Mỹ từ Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2019 tăng 40,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu tốc độ nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam vào Mỹ được duy trì như mức trên trong cả năm 2019 thì Việt Nam sẽ vượt qua Italy, Pháp, Anh và Ấn Độ, đứng vị trí thứ 7 trong danh sách những nước có kim ngạch xuất khẩu nhiều nhất vào Mỹ. Đánh giá khách quan của quốc tế đều cho thấy lực của nền kinh tế Việt Nam đang lên rất nhanh. Đây là kết quả của những chủ trương, định hướng đúng đắn của Đảng, những giải pháp của Chính phủ được thực hiện quyết liệt trong thời gian qua để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), phát triển kinh tế tư nhân, về doanh nghiệp nhà nước, về cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Việt Nam thực sự đang là điểm đến hấp dẫn của vốn, của công nghệ, của các nguồn lực kinh tế quốc tế. Tuy hiện nay diễn biến thương mại trên thế giới khá phức tạp do tư tưởng bảo hộ thị trường quay trở lại và tác động của căng thẳng thương mại Mỹ-Trung, nhưng nhìn về tổng thể thì Việt Nam đã mở được những cánh cửa rộng lớn để đưa sản phẩm của mình đến những thị trường lớn nhất thế giới, như: Mỹ, các nước tham gia Hiệp định CPTPP, Trung Quốc, EU... Tất nhiên, cơ hội luôn đi kèm với thách thức, thuận lợi luôn song hành cùng khó khăn, bên cạnh thành tựu thì luôn có những hạn chế. Điều này trong bất cứ nghị quyết nào của Đảng, của Quốc hội, báo cáo nào của Chính phủ liên quan tới KT-XH cũng đều chỉ ra. Đó là nền kinh tế Việt Nam hiện nay nhìn chung vẫn có năng suất lao động thấp; môi trường kinh doanh đã được cải thiện nhưng chưa thuận lợi; nạn tham nhũng vẫn tồn tại; các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân còn có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu; tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc không nhỏ vào các doanh nghiệp FDI; ý thức bảo vệ môi trường chưa tốt. Mặc dù Đảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu tiên, khuyến khích nhưng nhìn chung đời sống người dân vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn... Ở bất cứ quốc gia nào, hay trong bất cứ nền kinh tế nào đều tồn tại trong mình những vấn đề, mà trong đó, vấn đề nào cũng có tính hai mặt. Ví dụ, theo Tạp chí Nikkei của Nhật Bản thì Việt Nam đang trở thành một trong những nước thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất tại châu Á, chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu cũng đang đổ về Việt Nam. Nếu ai đó có góc nhìn bi quan thì sẽ thấy sự phụ thuộc của nền kinh tế Việt Nam đối với khối doanh nghiệp FDI sẽ càng ngày càng nhiều, do tổng lượng vốn FDI đổ vào nền kinh tế rất nhiều trong một thời gian ngắn, gây nên mất cân bằng giữa nguồn lực trong và ngoài nước. Thế nhưng thực tế thì trong làm ăn, trong kinh tế thì vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu. Vốn nhiều thì cơ hội làm ăn sẽ nhiều hơn, việc làm sẽ nhiều hơn. Tất cả các nền kinh tế lớn nhất trên thế giới đều nỗ lực thu hút vốn FDI. Việt Nam đang là điểm hút vốn của thế giới, chứng tỏ sức hấp dẫn của kinh tế Việt Nam từ cơ chế chính sách, cho tới sự ổn định. Chẳng ai dại gì ném tiền vào một nền kinh tế bất ổn, nhiều rủi ro. Càng nhiều doanh nghiệp FDI quan tâm thì chúng ta lại càng có cơ hội lựa chọn được những doanh nghiệp tốt nhất, có công nghệ tốt nhất, tránh được những công nghệ lạc hậu, những ngành sản xuất làm tổn hại môi trường. Vốn FDI, doanh nghiệp FDI đổ vào Việt Nam sẽ tạo ra sự sôi động và tạo ra môi trường tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Tất nhiên, việc chớp được cơ hội hay không lại là do nỗ lực của các cấp chính quyền, các doanh nghiệp và người dân. Có người nói rằng, kinh tế đất nước tăng trưởng tốt, nhưng cuộc sống của họ vẫn vậy, do mức độ tăng giá dịch vụ. Nhưng thực tế là thu nhập và mức sống của người dân Việt Nam đang ngày càng tốt hơn. Theo công bố vào tháng 3-2019 của Nielsen-một công ty nổi tiếng thế giới về nghiên cứu thị trường-Việt Nam xếp hạng 4 trong các nước lạc quan nhất thế giới về chỉ số niềm tin của người tiêu dùng. Bà Nguyễn Hương Quỳnh, Tổng giám đốc Nielsen Việt Nam cho hay, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng (CCI) của Việt Nam đạt 122 điểm, cao hơn nhiều so với mức trung bình của khu vực (117 điểm) và thế giới (107 điểm). Kết quả này cho thấy mức độ lạc quan của người tiêu dùng về kinh tế Việt Nam. Người Việt Nam có thu nhập ngày càng tốt hơn nên nhiều người sẵn sàng chi tiền mua ô tô, thiết bị điện tử đắt tiền, mua quần áo thời trang, các chuyến du lịch trong và ngoài nước, các hoạt động giải trí. Lại có người quá bi quan về nạn tham nhũng mà có cái nhìn không đúng về bản chất của chế độ. Thực tế, tham nhũng là vấn nạn của mọi quốc gia trên thế giới. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đẩy mạnh cuộc chiến chống tham nhũng. Cùng với việc hoàn thiện pháp luật, bịt các lỗ hổng pháp luật thì các vụ đại án tham nhũng đã được đưa ra xử lý nghiêm minh, các cá nhân sai phạm dù là cán bộ cấp cao cũng đã bị trừng phạt, không có vùng cấm. Điều này mang lại những kết quả bước đầu tích cực. Theo kết quả điều tra về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018, được công bố vào tháng 3-2019 đã cho thấy những phản ánh tích cực của cộng đồng doanh nghiệp về nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Theo đó, số doanh nghiệp phản ánh phải trả chi phí không chính thức đang có chiều hướng giảm (54,8%), mức thấp nhất trong 5 năm trở lại đây (năm 2015 là 66,3%). Cùng với đó, số doanh nghiệp phàn nàn về hiện tượng nhũng nhiễu của cán bộ cơ quan nhà nước tại địa phương cũng đang giảm (58,2% doanh nghiệp vào năm 2018, so với 65,6% doanh nghiệp vào năm 2014)... Nền kinh tế nước ta đang trong hành trình phát triển và dự báo sẽ "hóa rồng". Nhưng hành trình đi lên ấy có thể không phải chỉ là đường thẳng, bên cạnh những mặt được, bên cạnh sự phát triển thì có cả những hạn chế, thiếu sót, yếu kém. Chính vì vậy, mỗi người dân, nhất là cán bộ, đảng viên cần có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về tình hình KT-XH của đất nước, nhận thức đúng bản chất của vấn đề, thực hiện đúng nghị quyết của Đảng; cần phải tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho gia đình, đồng nghiệp, đồng đội, bạn bè, từ đó nỗ lực lao động, làm việc, thực hiện nhiệm vụ, tu dưỡng bản thân để nâng cao thu nhập, đời sống của mình, đóng góp vào sự phát triển của đơn vị, cơ quan, tổ chức, địa phương và đất nước.

Tăng cường công tác vận động quần chúng, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta

 


Để thực hiện giải pháp này, chúng ta cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

- Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức công tác vận động quần chúng, tín đồ các tôn giáo; biết vận dụng khai thác các điểm tốt trong các giáo lý, đạo đức tôn giáo; chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch để đồng bào các tôn giáo nhận diện và đấu tranh.

- Căn cứ vào đặc điểm của mỗi tôn giáo, tình hình cụ thể của mỗi địa phương, nhất là những nơi có đông đồng bào tôn giáo để có hình thức, biện pháp vận động, tuyên truyền. Thực hiện tốt phương châm: kiên trì, khéo léo, tế nhị, tự tin trong tuyên truyền vận động quần chúng tín đồ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thành phần thích hợp trong tiến hành công tác vận động quần chúng, tranh thủ tối đa sự ủng hộ giúp đỡ của các chức sắc, nhà tu hành trong tuyên truyền vận động tín đồ các tôn giáo. Vì vậy, phải có cơ chế, phương thức phối hợp và kế hoạch cụ thể trong công tác vận động quần chúng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động các chức sắc và tín đồ tôn giáo vẫn giữ nguyên giá trị. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu, học tập và vận dụng điều kiện mới. Phương pháp vận động quần chúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đạt được ba yêu cầu: “hợp thời, hợp lòng dân và chu đáo”[1] Muốn làm tốt công tác vận động các chức sắc và đồng bào tín đồ tôn giáo trong điều kiện hiện nay, theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần làm tốt các biện pháp sau:

Đối với các chức sắc, chức việc tôn giáo: chúng ta luôn chủ động, tranh thủ, tiếp cận, thuyết phục giác ngộ họ, kéo họ về với sự nghiệp chung của toàn dân tộc. Sự giác ngộ về lợi ích quốc gia dân tộc của các chức sắc tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tập hợp tín đồ trong mái nhà chung của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vì tiếng nói của họ có sức mạnh to lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Vì vậy Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương cần trú trọng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho đối tượng là các chức sắc, chức việc của các tôn giáo, để qua họ tác động đến đông đảo tín đồ nâng cao nhận thức, hành động vì sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước.

Đối với đồng bào tín đồ tôn giáo: chúng ta cần tuyên truyền, giải thích cho đồng bào hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Muốn làm cho đồng bào tin thì cán bộ tuyên truyền nói phải đi đôi với làm, chính sách phải đem lại kết quả thiết thực. Chúng ta cần học tập các cha cố truyeèn đạo về tính kiên nhẫn, bền bỉ, không nóng vội. Điều quan trọng là không được mắc sai lầm dẫn đến mất lòng tin của đồng bào và để kẻ thù lợi dụng bôi xấu cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Lực lượng của chúng (của kẻ thù) gồm có: một là, lực lượng của bản thân chúng; hai là: khuyết điểm của cán bộ ta. Những khuyết điểm mà cán bộ ta phạm phải là đồng minh đắc lực của địch”[2]. Để nâng cao hiệu quả vận động quần chúng tín đồ, đòi hỏi chúng ta khi tuyên truyền phải khéo léo, tinh tế, biết kết hợp giữa giá trị các tôn giáo với giá trị của cách mạng trong tuyên truyền, giáo dục; đồng thời cần làm cho đồng bào nhận rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm của địch lợi dụng tôn giáo, làm phương hại đến sự đoàn kết dân tộc và đời sống đồng bào, để đồng bào tín đồ đứng lên đấu tranh vạch mặt kẻ dịch.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8. Nxb CTQG, H. 1996, tr 77

[2] Hồ Chí Minh: Sđd, tr.77

Tăng cường năng lực phòng, chống tấn công mạng

Trong xu thế bùng nổ của internet và các thiết bị kết nối mạng, nguy cơ về mất an toàn thông tin ngày càng trở thành mối quan tâm, lo lắng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, nhiều năm qua, Việt Nam luôn nằm trong danh sách 10 quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất trên thế giới. Theo thống kê của Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT), năm 2018 đã xảy ra khoảng 10.200 cuộc tấn công mạng vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam. Quý I/2019, có tới 79 triệu sự kiện mất an toàn thông tin. Đáng lo ngại là đa số các vụ tấn công đều ở mức độ nguy hiểm cao và nguy hiểm trung bình. Theo ông Nguyễn Trọng Đường, Giám đốc Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam, hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước đang là một trong những mục tiêu tấn công của tin tặc. Theo thống kê của Cục An toàn Thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông, quý I/2019 có 1,8 triệu địa chỉ IP (Internet Protocol – giao thức internet) của Việt Nam nằm trong các mạng máy tính ma (mạng máy tính nhiễm virus). Tấn công vào các thiết bị kết nối internet của các tổ chức tài chính, ngân hàng và cơ quan Nhà nước đang là xu hướng của tin tặc. Theo chuyên gia tư vấn bảo mật Lê Minh Nghĩa, Công ty Trends Micro, khi mọi thiết bị đều trở nên thông minh và việc kết nối ngày càng gia tăng về tốc độ, số lượng, xu hướng tấn công của tin tặc sẽ nhằm vào các thiết bị kết nối internet. Phần mềm gián điệp khi được cài vào hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước đã vượt qua các phần mềm diệt virus, lây lan và nhiễm virus cho các máy tính của cán bộ công tác tại các vị trí trọng yếu. Các chuyên gia an ninh mạng cho biết, 70% nguyên nhân gây mất an toàn cho hệ thống thông tin tại các cơ quan nhà nước xuất phát từ phía người sử dụng. Nhiều cơ quan, tổ chức nhà nước đang để nhân viên sử dụng mạng internet bên ngoài công sở, hoặc sử dụng thiết bị cá nhân truy cập vào mạng nội bộ… Đây được coi một trong những hành động gián tiếp gây ra các vụ mất an toàn thông tin. Ngoài ra, việc kết nối các thiết bị rời vào máy tính như thẻ nhớ, các thiết bị kỹ thuật… cũng làm gia tăng khả năng lây nhiễm virus. Để phòng, chống các tấn công trên mạng internet, cần sự kết hợp của 3 yếu tố: Trang thiết bị, phần mềm phòng chống virus và nhân sự. Nhiều cơ quan nhà nước khi đầu tư hệ thống công nghệ thông tin, do nguồn kinh phí có hạn nên chỉ đầu tư vào trang thiết bị máy tính. Việc mua sắm phần mềm diệt virus, xây dựng tường lửa để phòng tránh tấn công và lọt lộ thông tin chưa được đầu tư hợp lý. Ngoài ra, an toàn thông tin là lĩnh vực chuyên sâu, yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ cao, trong khi nguồn nhân lực cho an toàn thông tin còn rất hạn chế. Phần lớn nguồn nhân lực an toàn thông tin có chất lượng, trình độ cao đều đang làm việc tại các doanh nghiệp, không công tác trong các cơ quan nhà nước. Điểm đáng lưu ý là hệ thống thông tin của rất nhiều cơ quan nhà nước hiện chưa được các tổ chức, doanh nghiệp công nghệ thông tin chuyên nghiệp tham gia giám sát bảo vệ. Do đó, khi tấn công mạng, bộ phận công nghệ thông tin của các cơ quan nhà nước không nhận biết được việc bị tấn công. Đồng thời việc xử lý bị chậm trễ, nhiều lúng túng dẫn đến gia tăng mức độ lây lan. Vì vậy, hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước tồn tại nhiều lỗ hổng, là đích nhắm đến của tin tặc. * Đầu tư cho hệ thống an toàn thông tin Ông Hoàng Minh Tiến, Phó Cục trưởng Cục An toàn Thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông chia sẻ: Cảnh báo sớm và đầu tư hệ thống giám sát cũng như nâng cao nhận thức cho người sử dụng trong các cơ quan Nhà nước là điều cần thiết nhất để tăng cường khả năng an toàn cho hệ thống thông tin. Đồng thời, ông Tiến cũng cho biết, trong tháng 6/2019, Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành chính thức Chỉ thị về tăng cường đảm bảo an toàn, an ninh mạng nhằm nâng cao chỉ số an toàn, an ninh thông tin toàn cầu của Việt Nam theo xếp hạng của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU). Chỉ thị này quy định, cơ quan nhà nước khi lập kế hoạch về công nghệ thông tin theo quý, năm… buộc phải chi 10% cho vấn đề bảo vệ an toàn thông tin. Ngoài ra, Chỉ thị cũng yêu cầu các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương phải có một đơn vị chuyên trách đứng ra đảm bảo về an toàn thông tin. Các chuyên gia công nghệ cho rằng, trong khi các cơ quan nhà nước không thể nhanh chóng cải thiện điều kiện vật chất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực an toàn thông tin, cần lựa chọn việc thuê giải pháp an toàn thông tin từ các công ty, đơn vị chuyên sâu về công nghệ. Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng khẳng định cần đẩy mạnh thuê giải pháp an toàn thông tin của các doanh nghiệp trong nước đối với khối cơ quan nhà nước để nâng cao khả năng đảm bảo an toàn thông tin cho các cơ quan, đơn vị. Hiện trên thị trường có 6 nhóm giải pháp an toàn thông tin do doanh nghiệp trong nước làm chủ công nghệ gồm: Bộ sản phẩm chống phần mềm độc hại; giải pháp phòng chống tấn công có chủ đích; giải pháp đảm bảo an toàn thông tin cho ứng dụng trong thông tin điện tử; giải pháp phòng chống xâm nhập; giải pháp đảm bảo an toàn thông tin cho thư điện tử; giải pháp quản lý truy cập. Thời gian qua, cục An toàn thông tin đã phối hợp với các đơn vị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, mở các chiến dịch xử lý mã độc. Nhờ đó, công tác đảm bảo an toàn thông tin đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Cụ thể, trong 3 tháng đầu năm 2019, đã có 1,534 cuộc tấn công mạng nhằm vào các hệ thống thông tin ở Việt Nam, giảm 21,7% so với quý IV/2018 và giảm 49,8% so với cùng kỳ quý I/2018. Theo Báo cáo xếp hạng an toàn, an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2018 của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Việt Nam hiện xếp thứ 50 trong 194 quốc gia, vùng lãnh thổ được xếp hạng. Trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 11 và khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 5. Kết quả đánh giá, xếp hạng an toàn thông tin mạng đối với 90 cơ quan nhà nước tại Việt Nam (gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố thuôc Trung ương trừ Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng), năm 2018 được Bộ Thông tin và Truyền thông công bố cho thấy: Trung tuần tháng 4/2017, không có đơn vị nào xếp loại A – quan tâm triển khai an toàn thông tin ở mức tốt, chỉ có gần 17% đơn vị xếp loại B – đã quan tâm triển khai an toàn thông tin ở mức khá, còn lại khoảng hơn 70% ở mức trung bình. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, từ năm 2019, việc đánh giá, công bố mức độ đảm bảo an toàn thông tin mạng trong các cơ quan nhà nước sẽ được Bộ thực hiện định kỳ hàng năm, tiến tới đánh giá an toàn thông tin cho các doanh nghiệp và tổ chức khác trong xã hội. Bộ thông tin và Truyền thông khuyến nghị, để tăng cường khả năng an toàn thông tin mạng của các cơ quan, tổ chức nhà nước, các đơn vị cần đảm bảo an toàn thông tin theo nguyên tắc “4 tại chỗ” là chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, thiết bị tại chỗ và hậu cần tại chỗ./.

Nângcao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật về tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh trong tình hình mới là nhiệm vụ cấp bách hiện nay

 


Đây là giải pháp cơ bản, tạo cơ sở để thực hiện hiệu quả đường lối quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh. Để thực hiện giải pháp này, cần tiến hành tốt các biện pháp chủ yếu sau:

- Tập trung nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trước âm mưu thủ đoạn mới của địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay

Lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng là âm mưu cố hữu không thay đổi của các thế lực thù địch. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để nhằm mục tiêu cơ bản là xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân, xóa bỏ CNXH. Hiện nay âm mưu của các thế lực lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta tập trung vào các vấn đề cơ bản là: phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động đồng bào tôn giáo chống lại đường lối quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đối lập quần chúng tôn giáo với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; làm chệch hướng XHCN của sự phát triển đất nước.

Để thực hiện mưu đồ trên, chúng sử dụng nhiều thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt và luôn thay đổi theo từng thời kỳ, hoàn cảnh cụ thể. Trong tình hình mới hiện nay, chúng đang thực hiện các thủ đoạn như: kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai mà trước đây các tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước, chia rẽ đồng bào có đạo, tiến hành truyền đạo trái phép; ủng hộ giúp đỡ vật chất, tinh thần cho các đối tượng cực đoan, quá khích trong các tôn giáo hoạt động chống chính quyền, chống luật pháp; kích động tư tưởng ly khai, tự trị, thực hiện âm mưu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối lập với Đảng; lợi dụng sơ hở, thiếu sót của ta trong thực hiện chính sách tôn giáo để kích động tư tưởng chống đối, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tạo ra những nhân tố mất ổn định, gây rối, bạo loạn, biến vấn đề tôn giáo thành vấn đề chính trị, tạo cơ hội dựng “ngọn cờ” kêu gọi bên ngoài can thiệp vào nước ta… Những âm mưu, thủ đoạn mới lợi dụng vấn đề tôn giáo của địch, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân cần nhận diện rõ ràng, để luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, xây dựng ý chí kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng.

- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về đường lối, quan điểm tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh trong thời kỳ cách mạng mới.

Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, bởi thực hiện đường lối, quan điểm tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh sẽ góp phần to lớn vào xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng thế trận lòng dân - cơ sở để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Để thực hiện biện pháp này, chúng ta cần phải:

+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các quan điểm, chính sách về tôn giáo của Đảng, Nhà nước tới mọi cán bộ, Đảng viên, nhân dân, nhất là các tín đồ, chức sắc các tôn giáo. Trong đó cần tập trung phổ biến sâu rộng Nghị quyết Trung ương Bảy khóa IX của Đảng về vấn đề tôn giáo; chỉ thi 18 Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới; Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016…

+ Tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, biển đảo của Tổ quốc cho mọi tín đồ tôn giáo, làm cho tôn giáo gắn bó với dân tộc, với Tổ quốc và CNXH, hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

+ Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân; tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thông qua đó tăng cường sự đồng thuận giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo, giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đấu tranh chống tà đạo, mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân.

Thực hiện tốt vấn đề theo đạo và truyền đạo ở nước ta

 


Theo luật tín ngưỡng tôn giáo, mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách, giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của páhp luật. Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, không được lợi dụng tôn giáo truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị

 


- Về trách nhiệm của Đảng và Nhà nước: Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn giáo. Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện, bảo đảm tôn trọng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc.Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Về trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo.

Đảng ta xác định: nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng


Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, bởi lẽ:

+ Từ nguồn gốc ra đời của tôn giáo và sự khác biệt về thế giới quan tôn giáo và chủ nghĩa Mác- Lênin

+ Đồng bào các tôn giáo là nhân dân lao động, là quần chúng của Đảng, là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam có hơn 24 triệu tín đồ các tôn giáo. Đó là lực lượng to lớn, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Phải làm cho đồng bào các tôn giáo nhận thức đúng, tin và làm đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và BVTQ 

Cộng đồng quốc tế đánh giá cao bản chất chế độ xã hội và vị thế chính trị của Việt Nam

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội vẫn có những cái nhìn phiến diện, những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt về thành tựu của cách mạng, nhất là trong công tác đối ngoại và về vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhưng việc chúng ta được bầu với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193), trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) một lần nữa khẳng định khả năng, tầm vóc và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, sự kiện quan trọng ấy còn là minh chứng hùng hồn phản bác mọi giọng điệu đang cố tình xuyên tạc đường lối, phủ nhận thành tựu đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Kết quả bầu cử tại Khóa họp thứ 73 Đại hội đồng LHQ công bố tối 7-6 cho thấy, cộng đồng quốc tế đánh giá cao bản chất chế độ xã hội và vị thế chính trị của Việt Nam. Mặt khác, đây cũng là trách nhiệm nặng nề đối với Việt Nam. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có những nỗ lực lớn hơn nữa trong thực hiện đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại và tiếp tục có những đóng góp cụ thể cho HĐBA tại LHQ. Nhiệm vụ quan trọng nhất là góp phần xây dựng chương trình nghị sự, tham gia định hình chính sách của LHQ. Cách đây hơn 4 thập kỷ, ngày 20-9-1977, Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của LHQ. Kể từ đó, Việt Nam luôn là thành viên tích cực của tổ chức chính trị đa phương lớn nhất hành tinh này. Những đóng góp của Việt Nam là toàn diện, đặc biệt là trên 3 trụ cột: Hòa bình và an ninh quốc tế; phát triển kinh tế-xã hội; quyền con người. Những kết quả hoạt động trên 3 lĩnh vực này không chỉ thể hiện ở những đóng góp của Việt Nam tại LHQ mà còn ở việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị xã hội tại Việt Nam. Trên lĩnh vực kinh tế-xã hội, xuất phát điểm từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp lúa nước lạc hậu, đất nước lại bị chiến tranh tàn phá suốt mấy chục năm, đến nay Việt Nam đã trở thành một nước có mức thu nhập trung bình của thế giới. Quy mô nền kinh tế Việt Nam ngày càng được mở rộng nhờ duy trì tốc độ tăng trưởng khá. GDP năm 2018 đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng, gấp hai lần quy mô GDP năm 2011. GDP bình quân đầu người năm 2018 ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587USD, tăng 198USD so với năm 2017... Mức sống người dân không ngừng được nâng cao, không phải quốc gia nào lâm vào hoàn cảnh như Việt Nam cũng có được kết quả như vậy. Trong dịp tham dự Hội nghị Thượng đỉnh APEC cuối năm 2017 tại Đà Nẵng, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phải thốt lên rằng “Việt Nam là điều kỳ diệu của thế giới”. Cũng trong dịp dự Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần hai tại Hà Nội (ngày 26-2-2019) Tổng thống Mỹ Donald Trump lại đưa ra thêm một nhận xét: “Việt Nam đang là một trong những nơi phát triển hiếm có trên Trái Đất”. Là thành viên có trách nhiệm của LHQ, Việt Nam đã đi đầu trong thực hiện chiến lược của LHQ, trong đó có mục tiêu thiên niên kỷ (MDG). Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành MDG về xóa nghèo. Như vậy, Việt Nam đã về đích mục tiêu này trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015). Xóa đói, giảm nghèo luôn là một nhiệm vụ chính trị lớn được Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Trong năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 1%-1,5%/năm. Riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3%-4% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020. Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho rằng: “Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn trong việc giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người. Tỷ lệ nghèo trong các dân tộc thiểu số tiếp tục giảm mạnh...”. Về đường lối đối ngoại, an ninh, quốc phòng, quan điểm, đường lối, chính sách của Việt Nam là nhất quán và có nguyên tắc. Đó là: (1) Đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết; (2) Kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển; (3) Tôn trọng Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế. Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) xác định rõ mục tiêu, phương châm, quan điểm chỉ đạo và nội dung, giải pháp để thực hiện chiến lược trong tình hình mới. Trong chiến lược nói trên, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ đối tác và đối tượng của cách mạng Việt Nam: “Những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta” Quan điểm của Việt Nam về vấn đề chủ quyền và quyền chủ quyền biển, đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là giữ vững nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, vừa kiên trì, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, vừa giữ vững môi trường hòa bình và hợp tác để phát triển. Việt Nam sẽ đón nhận nhiệm vụ Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ trong bối cảnh châu Á vừa là tâm điểm phát triển kinh tế, vừa là điểm nóng cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn. Đây là một vấn đề được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm. Về mặt địa chính trị, Việt Nam và Biển Đông có một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là tuyến đường bộ đi từ các quốc gia phương Bắc xuống các quốc gia Đông Nam Á-một thị trường lớn, giàu tài nguyên, đang phát triển mạnh mẽ; đó cũng là tuyến đường biển thuận lợi nhất cho các quốc gia đi từ Đại Tây Dương qua Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương. Việt Nam, với vị trí địa chính trị và địa chiến lược cả trên đất liền, trên biển đảo... luôn là một địa bàn quan tâm của nhiều nước lớn. Với vị trí Ủy viên không thường trực HĐBA, Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn không chỉ trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của LHQ mà còn trong xử lý những vấn đề chính trị ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có vấn đề chủ quyền biển, đảo và đường hàng không, hàng hải quốc tế qua Biển Đông. Vị trí này còn giúp Việt Nam thực hiện vai trò Chủ tịch Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 2020. Liên quan đến những vấn đề địa chính trị của Việt Nam và Biển Đông với vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ, TS Alexey Muraviev, Phó giáo sư Viện Nghiên cứu chiến lược an ninh quốc gia Đại học Curtin (Úc), một nhà nghiên cứu về khu vực, cho rằng: “Việc được bầu làm Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ sẽ tiếp tục nâng cao tiếng nói, sức nặng của Việt Nam xét về địa chính trị, như một nhân tố quan trọng và có tầm ảnh hưởng tại khu vực đang phát triển như Đông Nam Á cũng như xa hơn”. Về việc Việt Nam tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của LHQ, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cho biết: “Đội công binh Việt Nam gồm 290 cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ đã cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị về tổ chức biên chế, trang thiết bị, trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn và sẵn sàng tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình LHQ từ năm 2020”. Nhiệm vụ an ninh, quốc phòng, đối ngoại là một chủ đề của Hội nghị Trung ương 10, khóa XII. Tại phiên bế mạc (ngày 18-5), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường trên thế giới, trong khu vực, cần quan tâm đặc biệt, coi bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên… có chính sách, biện pháp phù hợp, bảo đảm thực hiện thắng lợi nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.” Một trong những mục tiêu của chiến lược an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới là tiếp tục nâng cao vị thế chính trị của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, thực hiện tốt nhất vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ. TS CAO ĐỨC THÁI Nhưng việc chúng ta được bầu với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193), trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) một lần nữa khẳng định khả năng, tầm vóc và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, sự kiện quan trọng ấy còn là minh chứng hùng hồn phản bác mọi giọng điệu đang cố tình xuyên tạc đường lối, phủ nhận thành tựu đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Kết quả bầu cử tại Khóa họp thứ 73 Đại hội đồng LHQ công bố tối 7-6 cho thấy, cộng đồng quốc tế đánh giá cao bản chất chế độ xã hội và vị thế chính trị của Việt Nam. Mặt khác, đây cũng là trách nhiệm nặng nề đối với Việt Nam. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có những nỗ lực lớn hơn nữa trong thực hiện đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại và tiếp tục có những đóng góp cụ thể cho HĐBA tại LHQ. Nhiệm vụ quan trọng nhất là góp phần xây dựng chương trình nghị sự, tham gia định hình chính sách của LHQ. Cách đây hơn 4 thập kỷ, ngày 20-9-1977, Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của LHQ. Kể từ đó, Việt Nam luôn là thành viên tích cực của tổ chức chính trị đa phương lớn nhất hành tinh này. Những đóng góp của Việt Nam là toàn diện, đặc biệt là trên 3 trụ cột: Hòa bình và an ninh quốc tế; phát triển kinh tế-xã hội; quyền con người. Những kết quả hoạt động trên 3 lĩnh vực này không chỉ thể hiện ở những đóng góp của Việt Nam tại LHQ mà còn ở việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị xã hội tại Việt Nam. Trên lĩnh vực kinh tế-xã hội, xuất phát điểm từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp lúa nước lạc hậu, đất nước lại bị chiến tranh tàn phá suốt mấy chục năm, đến nay Việt Nam đã trở thành một nước có mức thu nhập trung bình của thế giới. Quy mô nền kinh tế Việt Nam ngày càng được mở rộng nhờ duy trì tốc độ tăng trưởng khá. GDP năm 2018 đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng, gấp hai lần quy mô GDP năm 2011. GDP bình quân đầu người năm 2018 ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587USD, tăng 198USD so với năm 2017... Mức sống người dân không ngừng được nâng cao, không phải quốc gia nào lâm vào hoàn cảnh như Việt Nam cũng có được kết quả như vậy. Trong dịp tham dự Hội nghị Thượng đỉnh APEC cuối năm 2017 tại Đà Nẵng, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phải thốt lên rằng “Việt Nam là điều kỳ diệu của thế giới”. Cũng trong dịp dự Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần hai tại Hà Nội (ngày 26-2-2019) Tổng thống Mỹ Donald Trump lại đưa ra thêm một nhận xét: “Việt Nam đang là một trong những nơi phát triển hiếm có trên Trái Đất”. Là thành viên có trách nhiệm của LHQ, Việt Nam đã đi đầu trong thực hiện chiến lược của LHQ, trong đó có mục tiêu thiên niên kỷ (MDG). Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành MDG về xóa nghèo. Như vậy, Việt Nam đã về đích mục tiêu này trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015). Xóa đói, giảm nghèo luôn là một nhiệm vụ chính trị lớn được Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Trong năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 1%-1,5%/năm. Riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3%-4% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020. Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho rằng: “Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn trong việc giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người. Tỷ lệ nghèo trong các dân tộc thiểu số tiếp tục giảm mạnh...”. Về đường lối đối ngoại, an ninh, quốc phòng, quan điểm, đường lối, chính sách của Việt Nam là nhất quán và có nguyên tắc. Đó là: (1) Đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết; (2) Kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển; (3) Tôn trọng Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế. Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) xác định rõ mục tiêu, phương châm, quan điểm chỉ đạo và nội dung, giải pháp để thực hiện chiến lược trong tình hình mới. Trong chiến lược nói trên, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ đối tác và đối tượng của cách mạng Việt Nam: “Những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta” Quan điểm của Việt Nam về vấn đề chủ quyền và quyền chủ quyền biển, đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là giữ vững nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, vừa kiên trì, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, vừa giữ vững môi trường hòa bình và hợp tác để phát triển. Việt Nam sẽ đón nhận nhiệm vụ Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ trong bối cảnh châu Á vừa là tâm điểm phát triển kinh tế, vừa là điểm nóng cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn. Đây là một vấn đề được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm. Về mặt địa chính trị, Việt Nam và Biển Đông có một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là tuyến đường bộ đi từ các quốc gia phương Bắc xuống các quốc gia Đông Nam Á-một thị trường lớn, giàu tài nguyên, đang phát triển mạnh mẽ; đó cũng là tuyến đường biển thuận lợi nhất cho các quốc gia đi từ Đại Tây Dương qua Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương. Việt Nam, với vị trí địa chính trị và địa chiến lược cả trên đất liền, trên biển đảo... luôn là một địa bàn quan tâm của nhiều nước lớn. Với vị trí Ủy viên không thường trực HĐBA, Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn không chỉ trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của LHQ mà còn trong xử lý những vấn đề chính trị ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có vấn đề chủ quyền biển, đảo và đường hàng không, hàng hải quốc tế qua Biển Đông. Vị trí này còn giúp Việt Nam thực hiện vai trò Chủ tịch Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 2020. Liên quan đến những vấn đề địa chính trị của Việt Nam và Biển Đông với vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ, TS Alexey Muraviev, Phó giáo sư Viện Nghiên cứu chiến lược an ninh quốc gia Đại học Curtin (Úc), một nhà nghiên cứu về khu vực, cho rằng: “Việc được bầu làm Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ sẽ tiếp tục nâng cao tiếng nói, sức nặng của Việt Nam xét về địa chính trị, như một nhân tố quan trọng và có tầm ảnh hưởng tại khu vực đang phát triển như Đông Nam Á cũng như xa hơn”. Về việc Việt Nam tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của LHQ, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cho biết: “Đội công binh Việt Nam gồm 290 cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ đã cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị về tổ chức biên chế, trang thiết bị, trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn và sẵn sàng tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình LHQ từ năm 2020”. Nhiệm vụ an ninh, quốc phòng, đối ngoại là một chủ đề của Hội nghị Trung ương 10, khóa XII. Tại phiên bế mạc (ngày 18-5), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường trên thế giới, trong khu vực, cần quan tâm đặc biệt, coi bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên… có chính sách, biện pháp phù hợp, bảo đảm thực hiện thắng lợi nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.” Một trong những mục tiêu của chiến lược an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới là tiếp tục nâng cao vị thế chính trị của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, thực hiện tốt nhất vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ.

Đảng, Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc

 


 Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của dân tộc, bởi lẽ:

Một là, đồng bào các  tôn giáo trước hết là người Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Mặt khác, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Hai là, trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

 Thực hiện đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Cơ sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[1].

 Kiên quyết đấu tranh chống những hành động gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn kết, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc

Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong quan điểm về công tác tôn giáo và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.



[1]  Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 239- 240.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẬP TAN ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA BỌN GIẶC KHI CHÚNG ĐANG “CẮN VÀO LỊCH SỬ”

 


Tất cả những vấn đề nêu trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, ở nước ta đang có sự hình thành Chủ nghĩa xét lại trong ngành lịch sử, một nguy cơ hiện hữu nếu chúng ta không nhận diện rõ âm mưu thủ đoạn đó thì hậu quả của nó là khó lường. Tất cả mọi cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang nhân dân… đặc biệt là các cựu chiến binh, những người đã vào sinh ra tử năm xưa hãy lên tiếng để đánh trả bọn lật sử, bọn cổ súy cho lật sử và bọn đang hà hơi tiếp sức cho chúng bằng những đòn đánh trực diện, những đòn đánh mang tinh thần và khí phách của Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng, không để chúng đổi trắng thay đen, không để chúng cắn vào lịch sử. Hãy loại bỏ và đánh gục tư tưởng “cố thủ thành trì”, bảo vệ cái ghế của mình của cán bộ, đảng viên; những người thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; các cơ quan có thẩm quyền phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục CBĐV tham gia đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của giặc. Phải định hướng và khơi dậy lòng yêu nước, cho họ thấm thía vì sao phải bảo vệ thành quả cách mạng, phê phán và đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn hạ thấp thành quả cách mạng, xuyên tạc lịch sử để họ tự giác bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ những chiến công, thành quả của cách mạng như những điều thiêng liêng nhất. Với những người là cán bộ, đảng viên đang tham gia “trào lưu” lật sử, cổ súy cho lật sử, nói và viết xuyên tạc lịch sử thì phải kịp thời “thổi còi” vì đó chính là những biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Phải xem những hiện tượng xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lịch sử là hành vi phá hoại, như đào phá vào nền móng, chân tường của ngôi nhà hòa bình, độc lập của Tổ quốc. ngăn chặn kịp thời những dòng tiền chảy từ hải ngoại về để nuôi dưỡng cho đám giặc nội xâm đang tiếp tay cho địch; không để đồng tiền làm hoa mắt, chuyển tâm, trở cờ theo giặc để xuyên tạc lịch sử Việt Nam. Bảo vệ không chỉ bằng làm tốt việc giáo dục lịch sử, giáo dục truyền thống mà còn phải gắn liền với bảo vệ cuộc sống hòa bình, ổn định, phát triển đất nước, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất-tinh thần của nhân dân. Thế hệ đi sau trên những thành quả của những người đi trước phải trân trọng, vun đắp và phát huy để những thành quả ấy ngày càng đơm hoa, kết trái; để lại cho lịch sử như một tấm gương soi, giúp cho thế hệ mai sau soi vào quá khứ, hiện tại và tương lai với sự trân trọng, biết ơn, rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá.

Không gian mạng là một chiến trường không có tiếng súng nhưng vô cùng khốc liệt; hiện nay các tổ chức phản động nước ngoài đang dồn sức, bơm tiền vào nước ta để nuôi dưỡng bọn có trí thức nhưng trở cờ, bọn lười lao động nên làm tay sai cho giặc để kiếm tiền để ăn chơi trác táng ; trên không gian mạng ngày càng xuất hiện nhiều hội, nhóm, facebook cá nhân đang muốn “cạo lông, rửa mặt, bôi son” cho địch, chúng ca ngợi lũ ngụy tặc hết lời; bôi nhọ, phủ định chế độ XHCN ở nước ta. Vì vậy mỗi cán bộ,giảng viên, viên chức Quốc phòng, HSQ, BS, đảng viên phải thường xuyên nghiên cứu và đấu tranh, phản bác và lột trần bộ mặt thật của chúng. Đồng thời phải luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, trên dưới một lòng để kiên quyết đấu tranh với chúng đến cùng.

 

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 


Đây là quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò tôn giáo trong thời kỳ quá độ.

Một là, Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, bởi lẽ: Tôn giáo đã có lịch sử từ lâu đời trong xã hội loài người, trở thành nhu cầu tinh thần (nhu cầu giải toả tâm lý) của một bộ phận quần chúng nhân dân. Nhiều giá trị đạo đức tôn giáo hướng con người đến những giá trị chân, thiện, mỹ, nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng CNXH. Mọi sự nóng vội, chủ quan trong giải quyết vấn đề tôn giáo đều trái với quan điểm trên, gây chia rẽ, mất đoàn kết, cản trở quá trình xây dựng CNXH

Hai là, Tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Cụ thể là:

- Công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.

-Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý

Ba là, phải quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các tôn giáo

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp vĩ đại nhằm giải phóng quần chúng nhân dân khỏi mọi sự áp bức, nô dịch cả về vật chất và tinh thần. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào theo tôn giáo là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn của Đảng và Nhà nước ta trong cách mạng XHCN.

Nhận diện và đấu tranh với âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá Đảng, Nhà nước, hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam

Những năm gần đây, khái niệm “xã hội dân sự” xuất hiện trên các diễn đàn, báo chí, truyền thông xã hội với tần suất ngày càng nhiều hơn. Sở dĩ được thảo luận nhiều, vì trong vòng hơn hai thập niên qua, “xã hội dân sự” được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước ta. Hiện nay, vấn đề “xã hội dân sự” (XHDS) đã và đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Sau thất bại trong hoạt động chống phá Việt Nam ở các giai đoạn trước, hiện nay, các thế lực thù địch xem việc củng cố, thúc đẩy “XHDS” theo mô hình phương Tây là một hướng đi mới, là một trong những phương thức tác động cơ bản của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” là tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, hình thành “XHDS độc lập về chính trị” là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, buộc Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ra sức cổ vũ cho hình thành ở Việt Nam một mô hình “XHDS độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. Hòng thực hiện âm mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị, xã hội phức tạp của “XHDS” để tác động vào hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng, cường điệu hóa vai trò của XHDS, cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động đến gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ đối ngoại. Các đối tượng chống đối nhân danh chiêu bài “XHDS”, “dân chủ”, “nhân quyền”... để tập hợp lực lượng, lập hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích dễ gây “ấn tượng” với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”,... Thủ đoạn mà các đối tượng chống đối sử dụng phổ biến hiện nay là thông qua các trang web, diễn đàn trực tuyến, nhất là mạng xã hội để công khai tổ chức, tuyên truyền, lừa bịp, lôi kéo quần chúng tham gia; sử dụng các phần mềm bảo mật để liên lạc, tổ chức huấn luyện, đào tạo trực tuyến cho thành viên; công khai viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập đảng chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quy định pháp luật, đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự... Ngoài ra, các đối tượng này còn tìm cách chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, lợi dụng các khuyết điểm trong quản lý đất đai, môi trường... để kích động khiếu kiện, tụ tập đông người, biểu tình, xuyên tạc tình hình, hạ uy tín cán bộ; thông qua các hoạt động này để tập hợp lực lượng, gây thanh thế, từng bước nhen nhóm và thành lập tổ chức chính trị đối lập... Tại các địa bàn chiến lược, các đối tượng chống đối đẩy mạnh xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo; kích động tư tưởng ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khơi gợi, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tuyên truyền phát triển các tổ chức tôn giáo phi pháp, tụ tập “xưng vua”... Bên cạnh đó, dưới danh nghĩa đại diện các tổ chức “XHDS”, một số đối tượng chống đối đã tham gia các buổi điều trần ở nước ngoài, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đề nghị can thiệp trả tự do cho các đối tượng chống đối trong nước bị bắt do vi phạm pháp luật... Đặc biệt, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận đảng viên, tình trạng yếu kém, sai phạm của một số cán bộ để thổi phồng, cường điệu hóa khuyết điểm, “hạ bệ” uy tín chính trị của Đảng, lôi kéo người dân tham gia các tổ chức mang danh nghĩa “XHDS” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, một số tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài rất quan tâm đến các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội ở nước ta và tìm cách xâm nhập, tác động, hướng lái hoạt động, chuyển hóa dần các tổ chức này khi chưa đủ điều kiện, thời cơ thành lập tổ chức đối lập. Thông qua các hoạt động, như triển khai dự án, tài trợ tài chính, tổ chức hội thảo với các NGO Việt Nam, một số tổ chức nước ngoài đã đi sâu xâm nhập, tìm hiểu nội bộ, xu hướng quan điểm của các NGO Việt Nam, kích động các tổ chức này thoát ly vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước, cổ vũ quyền “tự do lập hội” theo tiêu chí phương Tây. Ngoài ra, một số tổ chức nước ngoài còn hỗ trợ tài chính cho một số NGO Việt Nam để xuất bản, phát hành tài liệu nghiên cứu, văn bản luật nước ngoài nhằm tuyên truyền quan điểm, pháp luật phương Tây đến với công chúng Việt Nam một cách công khai. Các tổ chức phản động nước ngoài cũng tìm cách thúc đẩy hình thành “XHDS” tại Việt Nam với mục đích chống phá từ bên trong. Tổ chức “Bảo vệ người lao động” (tại Ba Lan) gia tăng hoạt động với ý đồ chuyển hướng xâm nhập vào trong nước, thúc đẩy hình thành các tổ chức “công đoàn tự do”. Tổ chức “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” đã tiến hành “Đại hội thanh niên sinh viên Việt Nam trên thế giới lần thứ V” vào tháng 1-2008 tại Ma-lai-xi-a. Tại “đại hội” này, các đối tượng tham gia cho rằng để tiến hành “cuộc cách mạng hòa bình” tại Việt Nam thì phải xây dựng được một “XHDS bền vững” và muốn thay đổi xã hội thì không chỉ trên phương diện chính trị, mà còn trên các phương diện kinh tế, luật pháp, trong mỗi cộng đồng dân cư. Qua đây cho thấy, các thế lực thù địch bên ngoài đặc biệt quan tâm đến việc lợi dụng “XHDS” để thực hiện âm mưu lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ðáng chú ý là, một số đối tượng cơ hội chính trị có quan điểm cực đoan đã lợi dụng một số tổ chức quần chúng hợp pháp để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn có nội dung đòi “trưng cầu ý dân” về Ðiều 4 của Hiến pháp cũng như sửa đổi toàn bộ Hiến pháp, thúc đẩy hình thành “XHDS” và thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí, lập hội theo tiêu chí phương Tây, tư hữu hóa đất đai... Ðây là phương thức chống đối công khai rất nguy hiểm, nếu thiếu cảnh giác có thể tạo môi trường để các thế lực thù địch lợi dụng các tổ chức “XHDS” đưa ra những kiến nghị thay đổi thể chế, chuyển đổi hệ thống luật pháp XHCN bằng luật pháp tư sản.

VÌ SAO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ GIA TĂNG HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ?

Một số học giả trên thế giới có quan điểm chống cộng rất đề cao vai trò của “XHDS” trong các cuộc “cách mạng sắc màu” lật đổ chế độ XHCN. Giữa những năm 80 của thế kỷ XX, ngay sau khi khởi xướng cải tổ với việc M. Goóc-ba-chốp chủ trương “công khai hóa” và “dân chủ hóa”, các tổ chức đoàn thể phi chính thức và các ấn phẩm tuyên truyền cho tự do hóa tư sản dưới nhiều hình thức đã mọc lên “như nấm sau mưa” ở Liên Xô. Ngày 28-12-1987, xã luận đăng trên báo Sự thật cho biết, Liên Xô khi đó đã có hơn 30.000 tổ chức, đoàn thể phi chính thức. Do thái độ ủng hộ của M. Goóc-ba-chốp, ngày càng có nhiều tổ chức đoàn thể xã hội chống đối Đảng, chính quyền Xô-viết được công khai hóa, hợp pháp hóa. M. Goóc-ba-chốp không những cho phép các đoàn thể phi chính thức tồn tại mà còn cổ vũ thành lập các đảng phái, từng bước thực hiện chế độ đa đảng. Các đảng đối lập ra đời và sau đó đã giành được chính quyền tại một loạt địa phương dưới cái gọi là “bầu cử tự do” là hệ quả trực tiếp của chính sách nêu trên. Những tổ chức này trắng trợn xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, hạ bệ các nhà lãnh đạo Liên Xô trước đây, phủ nhận thành tựu của chủ nghĩa xã hội, ngang nhiên hô hào chống chế độ và Nhà nước Xô-viết. Đây là một trong những nhân tố trực tiếp dẫn đến sự tan rã của Liên Xô. Tại Ðông Âu ngay từ những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ở một số nước đã hình thành các công đoàn, hội có xu hướng tách khỏi quản lý của nhà nước, đối lập với chính quyền, hoạt động với danh nghĩa là “tổ chức XHDS” nhân danh bảo vệ công nhân, bảo vệ các quyền dân sự. Thông qua việc lôi kéo quần chúng, với sự hỗ trợ từ nước ngoài, một số tổ chức Công giáo, được kích hoạt thêm bởi các chính sách “công khai hóa”, “dân chủ hóa” và chính sách đối ngoại với đồng minh của M. Goóc-ba-chốp, những tổ chức này nhanh chóng chuyển hóa thành tổ chức chính trị đối lập, đóng vai trò trọng yếu trong việc hạ bệ uy tín của nhà nước, thúc đẩy hình thành chế độ đa đảng và giành chính quyền thông qua cái gọi là “bầu cử dân chủ”. Các cuộc “cách mạng đường phố” tại các nước khu vực Trung Ðông - Bắc Phi hay “cách mạng nhung”, “cách mạng màu” ở một số nước thuộc không gian hậu Xô-viết thời gian qua cũng cho thấy vai trò của các cơ quan đặc biệt nước ngoài, các NGO trong việc hỗ trợ các tổ chức XHDS trong nước lôi kéo, kích động quần chúng lật đổ các chính thể hợp pháp, gây nên tình trạng khủng hoảng chính trị, thậm chí có nước còn lâm vào cảnh chia rẽ, xung đột triền miên, lãnh thổ bị chia cắt lâu dài. Chúng ta không phủ nhận vai trò nhất định của các tổ chức xã hội, hiệp hội, quỹ, diễn đàn,... nhất là khả năng tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội tại cộng đồng hay nhóm xã hội cụ thể; tập hợp nguyện vọng đa dạng của các tầng lớp trong xã hội phản ánh đến Đảng và Nhà nước; trực tiếp đứng ra cung ứng một số dịch vụ xã hội do Nhà nước ủy quyền, hoạt động trong khuôn khổ quy định pháp luật. Trên thực tế, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng thiết lập các tổ chức xã hội đa dạng theo ngành nghề, lợi ích, nhu cầu, nhân đạo, hữu nghị, sở thích... và không ngừng hoàn thiện quy định pháp luật để phát huy vai trò của các tổ chức này thật sự có ích cho xã hội, cho người dân. Các tổ chức NGO nước ngoài hoạt động tại nước ta thật sự có đóng góp cho cộng đồng, phát triển xã hội, tôn trọng pháp luật Việt Nam đều được tôn trọng, khuyến khích. Nhưng cần thấy rõ rằng, ở nhiều quốc gia, nhất là những nước đang phát triển, sự hình thành các tổ chức của “XHDS” thường chịu sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó có các lực lượng chính trị từ bên ngoài thông qua nhiều hình thức và con đường khác nhau. Vậy chúng ta cần nhận thức về “XHDS” như thế nào? Cùng với thực tế tồn tại và phát triển ngày càng phong phú của các tổ chức hội quần chúng, thuật ngữ “XHDS”, “tổ chức XHDS” được thảo luận, bàn luận khá sôi nổi ở nước ta. Tuy nhiên, đây là vấn đề chính trị, xã hội rất phức tạp, còn nhiều nhận thức khác biệt, thậm chí đối lập nhau, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận. Hiện nay, đang tồn tại hai khuynh hướng nhận thức phổ biến về vấn đề XHDS: Một là, tuyệt đối hóa, đề cao quá mức vai trò của “XHDS”, cho rằng cần đẩy nhanh sự phát triển của “XHDS” ở Việt Nam, đồng nhất quá trình này với thực hiện dân chủ hóa, xem đây là “liều thuốc vạn năng” cho khắc phục những giới hạn của quản lý nhà nước và giải quyết tiêu cực trong đời sống xã hội phát sinh từ cơ chế thị trường; hai là, coi “XHDS” mang tính tiêu cực, “đối lập” với Nhà nước XHCN, là vấn đề nhạy cảm, nên né tránh, ngại đề cập và không khuyến khích nghiên cứu, tìm hiểu, thậm chí dựa vào các tổ chức xã hội hoạt động theo kiểu “bất tuân dân sự”, gây nên tình trạng vô chính phủ, bất ổn chính trị - xã hội ở nhiều nước trên thế giới rồi bài xích, phủ nhận sạch trơn vai trò các hội, quỹ, diễn đàn trong tham gia quản lý phát triển xã hội. Việc chưa thống nhất nhận thức khiến cho cách tiếp cận, ứng xử đối với vấn đề XHDS hiện nay của các cơ quan chức năng đang khá lúng túng.

Một số kinh nghiệm đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta

 


Qua thực tiễn đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta, có thể rút ra một số kinh nghiệm:

Một là, coi trọng tuyên truyền giáo dục làm cho đồng bào tôn giáo thấu suốt quan điểm, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm nâng cao nhận thức, lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch bên ngoài cấu kết với lực lượng phản động bên trong lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào tôn giáo, đi ngược lại đạo pháp và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, phương pháp công tác tôn giáo cần tuân theo bốn quy cách: có lý, đúng luật, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ; thống nhất đồng bộ giữa ba bộ phận (Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng là các tín đồ, chức sắc và tổ chức giáo hội)

Ba là, trong xử lý vấn đề lợi dụng tôn giáo hoạt động trái pháp luật, phải bình tĩnh, nắm chắc tình hình, không định kiến, nóng vội, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục; cần tránh hai khuynh hướng: hữu khuynh lừng chừng để kẻ địch có cơ hội lôi kéo, lừa gạt quần chúng hoặc tả khuynh tuyên chiến với tôn giáo, đánh nhầm vào quần chúng tín đồ tốt. Ở những nơi thường xảy ra diễn biến phức tạp cần thành lập các tổ công tác hoặc ban chỉ đạo, những nơi chưa xảy ra phức tạp, phải chủ động ngăn ngừa, ngăn chặn, giải quyết ngay từ cơ sở không để lây lan, kéo dài.

Bốn là, chủ động sâu sát cơ sở địa bàn có tôn giáo để nắm chắc tình hình, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa; thực hiện tốt ba cùng: cùng ở, cùng làm, cùng sinh hoạt với dân; phải thường xuyên nắm chắc âm mưu, hoạt động của kẻ xấu để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn. Khi xảy ra “điểm nóng” cần phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy, chính quyền địa phương với Ban Chỉ đạo Trung ương ở ttừng khu vực để giải quyêt dứt điểm, không để lan sang các vùng khác và phải tuyệt đối tránh tiếp xúc với người nước ngoài.

Năm là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với vấn đề dân tộc. Đó là, phải chăm lo giải quyết vấn đề đời sống, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc ít người. Công tác tôn giáo phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược quốc phòng an ninh, thực hiện chính sách định canh, định cư, chống di dịch cư tự do trong đồng bào các dân tộc ít người, theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Vì vừa qua, kẻ địch đã triệt để lợi dụng tập quán này để truyền đạo trái phép rất phức tạp.