Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

Đảng Cộng sản Việt Nam - lựa chọn tất yếu của lịch sử và của nhân dân

 


 

          Nhiều đảng phái chính trị ra đời nhưng đều bất lực trước đòi hỏi của dân tộc

          Lịch sử Việt Nam hơn 91 năm qua, nhìn bao quát, có thể nói là lịch sử của sự lựa chọn, khẳng định và thực thi mục tiêu phát triển gắn với sự lựa chọn đảng chính trị lãnh đạo đất nước, dẫn dắt dân tộc, vì mục tiêu đó. Ngay từ những thập niên đầu tiên tới những năm 50 của thế kỷ 20 đã và luôn là lịch sử thăng trầm của sự đào thải, sàng lọc, kiểm nghiệm và lựa chọn đó.  

          Năm 1930, qua hơn nửa thế kỷ, kể từ năm 1858, lúc bấy giờ, đất nước rên xiết trong vòng nô lệ của chủ nghĩa thực dân Pháp và chế độ phong kiến. Nhu cầu tất yếu dân tộc phải độc lập, nhân dân phải được tự do và dân chủ, hoàn toàn bế tắc, chưa thấy tương lai. Độc lập tự do hay là chết? Hàng loạt cuộc khởi nghĩa do giai cấp nông dân, các sĩ phu yêu nước Việt Nam ngõ hầu trả lời câu hỏi lịch sử đó, nhưng đều lần lượt thất bại. Các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội ở nước ta, lúc bấy giờ, nhảy ra tranh đoạt vũ đài chính trị dân tộc, cũng đông đúc chưa từng thấy. Ai cũng biết, từ đảng của giai cấp nông dân (Nghĩa hưng, năm 1907); đảng của giai cấp tư sản, địa chủ (Lập hiến, năm 1923)... tới đảng của tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức tiểu tư sản (Việt Nam nghĩa đoàn, Đảng Thanh niên, Đảng An Nam độc lập (năm 1927), Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927)... rồi đảng của bọn tay sai của đế quốc Pháp và phát xít Nhật, (Đại Việt quốc gia xã hội đảng, Đại Việt quốc dân đảng (những năm 1940 tới khi Việt Nam giành được độc lập bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945); chen chúc các đảng phản động (Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)... thật huyên náo, tới mức hỗn loạn chính trường. Trong số ấy, chỉ một số đảng mong chấn hưng đất nước nhưng “lực bất tòng tâm”, số còn lại những mưu toan tính biến đất nước thành nơi thử nghiệm những mưu đồ chính trị của giai cấp, tầng lớp họ.

          Nhưng rốt cuộc, tất cả những đảng đó đã lùi vào dĩ vãng của lịch sử và bị lịch sử dân tộc chôn vùi rất lặng lẽ trái với sự huyên náo đến mức hỗn loạn lúc các đảng này xuất hiện và khua chiêng gõ mõ trên chính trường Việt Nam lúc bấy giờ. Các đảng này hoặc tự phải diệt vong hoặc bị giải tán. Theo đó, các giai cấp, tầng lớp đại diện cho các đảng đó cũng cáo chung vai trò lãnh đạo dân tộc. Thách thức của lịch sử về vị trí, vai trò của đảng chính trị đối với vận mệnh cứu đất nước khỏi vòng nô lệ, nhân dân khỏi xiềng xích vong quốc nô vẫn đang bỏ ngỏ. Điều đó ai nấy đều rõ.

          Đảng Cộng sản Việt Nam mở ra trang sử mới cho dân tộc Việt Nam

          Trong thời gian ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời giữa “một rừng” đảng phái chính trị ở Việt Nam. Không ồn ào như các đảng trên ra đời từ sớm, mà trái lại, Đảng lặng lẽ hiện diện, thậm chí phải tạm lánh ở nước ngoài, vì Đảng “là con nòi” của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, được hun đúc bởi truyền thống yêu nước thương nòi Việt Nam, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nguyện chiến đấu và hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đảng Cộng sản bị kẻ thù vây bủa, đàn áp đẫm máu, bị các đảng khác đương thời chèn ép, tranh đoạt sự ảnh hưởng. Trong 15 năm đầu, bao lần Đảng bị thực dân Pháp vây ráp, khủng bố trắng, hàng nghìn đảng viên của Đảng bị tù đầy, chém giết, hàng vạn đồng bào bảo vệ Đảng bị bắt bớ, lưu đầy, chỉ riêng 31 Ủy viên Trung ương của Đảng đã bị thực dân Pháp “tặng” cho 221 năm tù khổ sai. Nhiều Tổng Bí thư của Đảng bị thực dân Pháp tử hình... Lịch sử của Đảng 15 năm đầu được viết bằng máu đào và xương trắng đảng viên, chiến sĩ, đồng bào cuộc đấu tranh song trùng: Giữa Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độ phong kiến bán nước của chúng và giữa các đảng chính trị Việt Nam trong việc giành vị thế cầm quyền đất nước... Tất cả được thử thách qua sự sàng lọc, lựa chọn và đào thải của lịch sử, của nhân dân. Đó là khí phách Việt Nam. Điều đó ai cũng đều thấy.

          Một đảng cộng sản như thế xứng đáng là một đảng gánh vác sứ mệnh lịch sử, đứng mũi chịu sào trước nhân dân, dẫn dắt dân tộc. Vì sự thật Đảng vốn là “đứa con nòi” phải thuộc về dân tộc, phải là của nhân dân và đảm đương sứ mệnh “phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”, dẫn dắt đất nước thực thi trọng trách nhân dân giao phó: Độc lập dân tộc và CNXH. Đảng Cộng sản Việt Nam là người kết tinh, chung đúc những tố chất của một đảng vô sản kiểu mới và thực tế đủ bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ lãnh nhiệm trọng trách ấy của đất nước đặt ra và được nhân dân tin theo và hy sinh vì nó. Và Đảng trở thành một đảng dẫn dắt dân tộc và sau nay trở thành một đảng cầm quyền. Không một lực lượng chính trị nào Việt Nam lúc bấy giờ và bây giờ đủ tầm nhìn chính trị, bản lĩnh chính trị có thể làm nổi, không một ai có đủ chính danh cho tới tận hôm nay để có thể, dù cả gan, dù bất chấp đạo lý và pháp lý, làm vấy bẩn nó.   

          Sinh ra trong lòng dân tộc và đồng hành cùng dân tộc bẻ gãy gông xiềng nô lệ quàng lên cổ đất nước, giành lại độc lập cho Tổ quốc, lập nên chính quyền của nhân dân, và Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Điều đó làm nên địa vị lịch sử một cách tự nhiên và địa vị pháp lý của Đảng một cách tất yếu. Vấn đề quan trọng hơn hết và quyết định tất thảy là, địa vị cầm quyền đó của Đảng đã được bảo đảm bởi năng lực cầm quyền và uy tín cầm quyền trên thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam suốt hơn 91 năm qua; và, vị thế nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hơn 76 năm qua, dưới ngọn cờ của Đảng, trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và trọng thị.

          Vì không có trọng trách gì nặng nề và vẻ vang hơn, dù trong hoàn cảnh nào, Đảng luôn là đội tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam-giai cấp đại biểu cho yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến. Đảng không có lợi ích nào cao hơn rằng, Đảng là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Mục tiêu phấn đấu của Đảng không có gì khác ngoài “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong vị thế vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành “Đảng ta”, “Đảng của chúng ta”, “Đảng của dân tộc chúng ta”... Đó là đạo lý Việt Nam. 

          Và đi trên con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) tới cái đích cao quý ấy được Đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra ngay lúc mới ra đời. Qua hơn 76 năm cầm quyền, Đảng cùng toàn dân tộc xây dựng nên một nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã và đang giữ một vị thế mới trên trường quốc tế mà bất cứ ai cũng thấy. Qua 35 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta càng trưởng thành toàn diện. Trước thềm Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016), dư luận quốc tế nhận định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là chính đảng duy nhất cầm quyền là một mô hình thành công đặc biệt và mô hình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các nước đang phát triển vì rất nhiều mô hình đã được thử nghiệm, nhưng chưa thấy mô hình nào thành công”.

          Trọng trách cầm quyền của Đảng, vinh dự được cầm quyền của Đảng trước nhân dân là do lịch sử dân tộc giao phó và được nhân dân Việt Nam thừa nhận, ủy thác và tin theo, chứ tuyệt đối không phải “từ trên trời rơi xuống” hay sự sắp xếp chủ quan của bất cứ ai, sự ngộ nhận của bất cứ giai cấp, tầng lớp nào.

          Nhân đây, cần được nói thêm về một số ý kiến lưỡng lự hoặc công kích về chuyện một đảng hay đa đảng và vấn đề dân chủ ở Việt Nam. Rằng, từ những năm 40 tới những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, ở nước ta, còn có hai đảng là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời ngày 30-6-1944 và tự giải tán vào ngày 20-10-1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời ngày 22-7-1946 và tự giải tán tròn 42 năm sau đó, ngày 22-7-1988) đều thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng dân tộc Việt Nam tranh đấu vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng CNXH. Nghĩa là, Việt Nam đã từng và có một thời kỳ lịch sử không ngắn, ngót nửa thế kỷ, sau khi dân tộc giành lại nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân được hưởng nền tự do, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, đã từng có nhiều đảng chính trị khác hoạt động và tự giải tán, chứ đâu phải câu chuyện hão về “đảng toàn trị”, “độc đảng” hoặc đâu cần ai khuyến nghị “muốn có dân chủ, phải đa đảng”(!).

          Tới đây, lại nhớ và nhắc lại lời người xưa, rằng nếu như đem dục vọng, tạp niệm của mình lắng xuống, có đạo lý nào mà chúng ta không thể thông suốt? Rằng, nếu đem chí hướng của mình mạnh mẽ khơi dậy, có việc gì mà ta không thể làm? Mấy vị ngày nay ấy, danh chính gì mà luận chính danh hay chính pháp về Đảng, khi các vị chỉ biết ôm trong lòng sự kiêu ngạo vô lối mà quan sát sự tình, mang tinh thần uể oải sa sút, thậm chí đem con mắt hạt đậu mà định luận sự việc, chẳng qua cũng chỉ là hồ đồ sống hết cuộc đời mình. Chỉ thế mà thôi!

          Có thể nói gọn lại, lịch sử dân tộc Việt Nam sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam, đến lượt mình, Đảng đáp lại yêu cầu của lịch sử dân tộc, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về quy mô, tốc độ, chiều sâu của công cuộc phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. Đó là biện chứng phát triển tự nhiên và tất yếu của dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là nhu cầu phát triển tất yếu của đất nước hiện nay, trên con đường độc lập dân tộc và CNXH, dưới ngọn cờ của Đảng. Đó là tính tất yếu cầm quyền của Đảng, tính chính danh, chính pháp, bảo đảm tư cách pháp lý và đạo lý để Đảng cầm quyền.

 

Phòng ngừa, đấu tranh âm mưu lợi dụng “xã hội dân sự” tuyên truyền chống phá

1. Mưu đồ lợi dụng “xã hội dân sự” (XHDS) tuyên truyền chống phá

Thực tiễn ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Liên Xô và các cuộc “cách mạng màu” trên thế giới trong thời gian qua cho thấy vấn đề “XHDS”, tổ chức “XHDS” đã được Mỹ và phương Tây cùng với các lực lượng đối lập lợi dụng, sử dụng để tập hợp lực lượng cho các hoạt động chống đối chính quyền, từ “phản biện” hướng đến “phản đối” và cuối cùng thành tổ chức phản động, chống đối chính quyền, nơi tập trung lực lượng, xây dựng “ngọn cờ”, cung cấp vật chất để tổ chức xuống đường, biểu tình, bạo loạn chính trị. Nói cách khác, vấn đề “XHDS” đã được Mỹ và phương Tây sử dụng như một cách thức hiệu nghiệm thực hiện “diễn biến hòa bình”, “thúc đẩy dân chủ” ở các nước trên thế giới.

Các thế lực thù địch khai thác, sử dụng các khía cạnh về tư tưởng, chính trị, xã hội để tác động, thúc đẩy chuyển biến từ bên trong nội bộ hệ thống chính trị và xã hội Việt Nam, hình thành các tổ chức, phong trào “XHDS” đối lập, tạo tiền đề cho sự ra đời của lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua môi trường “XHDS” gây áp lực chuyển hóa thể chế chính trị, hòng làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hiệu lực quản lý của Nhà nước hướng đến mục tiêu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Được sự hậu thuẫn của Mỹ và phương Tây, các đối tượng phản động lưu vong triệt để lợi dụng danh nghĩa các NGO để lập các dự án “thúc đẩy dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam”, móc nối, lôi kéo người trong các hội, nhóm chống đối ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện về “XHDS”, “cách mạng màu”, nổi lên là VOICE (“Sáng kiến lương tâm của người Việt hải ngoại”, Tổ chức ngoại vi của “Việt Tân”) câu kết với các NGO về dân chủ, nhân quyền nước ngoài tổ chức các khóa huấn luyện về “XHDS” cho số chống đối trong nước. Các nội dung được chúng chú trọng như kỹ năng lập dự án “XHDS”, kỹ năng móc nối, phát triển lực lượng, hình thành các hội, nhóm trá hình, kích động biểu tình, gây rối an ninh, kiến thức luật pháp, và cả cách đối phó với cơ quan an ninh. Đáng chú ý, “Việt Tân” đã xây dựng kế hoạch hình thành, phát triển hội, nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập, âm mưu khi lực lượng đủ mạnh sẽ công khai hóa các hội, nhóm, thành lập các tổ chức chính trị đối lập.

Số chống đối trong nước triệt để lợi dụng danh xưng “XHDS” để hoạt động chống đối. Chúng đã lập ra 292 hội, nhóm trên không gian mạng dưới vỏ bọc “XHDS” với hơn 2.000 thành viên ở hầu hết các tỉnh, thành phố, phát triển hầu hết các giai tầng xã hội, như trí thức, văn nghệ sĩ (như “Văn đoàn độc lập Việt Nam”; “Hội nhà báo độc lập”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Liên danh vì công lý”…); cán bộ hưu trí, lão thành cách mạng (“Câu lạc bộ Trí thức”, “Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng”); thanh niên, sinh viên (“NO-U FC”, “Hoang Sa FC”, “Mạng lưới blogger Việt Nam”, “Diễn đàn sinh viên Việt Nam”…); công nhân, nông dân (“Công đoàn độc lập”, “Hội dân oan”, “Cứu lấy dân oan”); đối tượng chống đối (“Hội cựu tù nhân lương tâm”, “Hội những người bị cấm xuất cảnh”); giáo dân (“Cộng đoàn doanh trí Công giáo”, “Hội đồng liên tôn Việt Nam”, “Truyền thông Công giáo”…)… nhằm tranh giành quần chúng, lôi kéo công nhân, nông dân để tiến hành các hoạt động chống phá.

2. Hoạt động lợi dụng “XHDS” để tuyên truyền chống phá Việt Nam được tiến hành thông qua nhiều phương thức.

Các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là Internet, mạng xã hội để truyền bá vấn đề “XHDS” vào xã hội ta. Một số tổ chức quốc tế, NGO nước ngoài, các tổ chức phản động lưu vong mở các chuyên mục về “XHDS” trên các trang web của mình để tuyên truyền quảng bá về cái gọi là “XHDS”. Một số trang thông tin điện tử do các đối tượng chống đối ở trong nước thiết lập cũng không ngừng truyền bá đề cao, tuyệt đối hóa vấn đề “XHDS”, cổ vũ cho việc mở rộng, phát triển “XHDS”. Các thế lực thù địch bên ngoài câu kết với số đối tượng chống đối ở trong nước, số phần tử trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, đối lập thông qua hệ thống phương tiện thông tin đại chúng, lợi dụng các vấn đề xã hội phức tạp, vấn đề dư luận quan tâm để tuyên truyền kích động gây áp lực dư luận nhằm thay đổi chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, thay đổi pháp luật theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi định hướng xã hội chủ nghĩa, mở đường cho sự hình thành “XHDS” theo tiêu chí xã hội tư bản.

Thông qua hợp tác về giáo dục, đào tạo, các dự án truyền thông, các thế lực truyền bá mô hình “XHDS” tư bản phương Tây vào Việt Nam. Các lực lượng thiếu thiện chí ở Mỹ triệt để lợi dụng hợp tác song phương, mở rộng các chương trình, dự án, tài trợ học bổng… để thâm nhập, tác động chuyển hoá đội ngũ cán bộ trẻ, trí thức, thanh niên, học sinh, sinh viên nhằm truyền bá giá trị “dân chủ, nhân quyền”, “XHDS” theo tiêu chí của họ (như các chương trình học tập, tham quan, nghiên cứu mà Đại sứ quán Mỹ triển khai “Khách tham quan quốc tế” (IVP), “Khách tham quan tình nguyện” (VVP), “Viết văn quốc tế” (IWP), Humphey, Fulbright…).

Các thế lực xấu truyền bá, lôi kéo một bộ phận quần chúng hình thành các phong trào xã hội, gây dựng tâm lý phản kháng mang màu sắc “XHDS” chính trị đối lập, hình thành “làn sóng chống đối ngầm” trong các tầng lớp xã hội, từ đó hướng đến phát triển, nhân rộng cái gọi là “phong trào dân chủ”, “phong trào bất đồng chính kiến”, kích động các hoạt động khiếu kiện, đình công, biểu tình. Hướng lái các hoạt động phản biện chính sách, phản biện xã hội nhằm hình thành các phong trào chống đối chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Lợi dụng các vấn đề chính trị, xã hội phức tạp, khoét sâu các mâu thuẫn xã hội kích động, tổ chức một bộ phận quần chúng biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, như nhóm kích động khiếu kiện Dương Nội do Cấn Thị Thêu cầm đầu, hậu thuẫn “Tổ đồng Thuận” do Lê Đình Kình cầm đầu, kích động số cực đoan trong tôn giáo hoặc các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, cơ sở thờ tự…

Một thực tế đáng chú ý, khái niệm “XHDS” gần như hoàn toàn bị các thế lực thù địch, số chống đối trong nước hướng lái theo cách hiểu thoát ly khỏi sự quản lý của nhà nước. Không ít người có những ngộ nhận sai lầm về bản chất của “XHDS”, chưa nhận thức một cách đầy đủ về âm mưu, hoạt động và tính chất thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch lợi dụng cái gọi là “XHDS” vào hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ.

3. Thời gian tới, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ triệt để lợi dụng những kẽ hở của luật pháp (Luật về hội, Luật về hoạt động trên không gian mạng), lợi dụng khoa học công nghệ và sự hậu thuẫn của chính giới Mỹ, các nước phương Tây để tiếp tục tuyên bố thành lập các hội, nhóm chống đối, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động tổ chức các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Việc đấu tranh, ngăn chặn âm mưu lợi dụng “XHDS” để hoạt động chống phá cần sự vào cuộc của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng xã hội. Hệ thống truyền thông, các cơ quan trong hệ thống chính trị cần thường xuyên truyền thông nâng cao nhận thức trước hết cho cán bộ, đảng viên đủ sức “đề kháng”, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nâng cao nhận thức kỹ năng nhận diện lợi dụng “XHDS” nhất là của cộng đồng trên mạng xã hội; thường xuyên vạch trần, phản bác các quan điểm xuyên tạc về bản chất “XHDS” của các thế lực thù địch, phản động. Các tổ chức chính trị – xã hội các cấp cần làm tốt công tác dân vận, đi sát đi sâu gắn bó với các giai tầng xã hội, thể hiện vai trò là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với các tầng lớp nhân dân, giúp người dân hiểu rõ các đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, có đủ kỹ năng nhận diện và góp phần làm thất bại các âm mưu lợi dụng “XHDS” hoạt động chống phá…/.

Đừng cố tình bóp méo vấn đề dân chủ ở Việt Nam!

Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên thời gian qua, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng công nghệ hiện đại và cơ chế lan truyền để tung ra các thông tin xuyên tạc, sai trái về vấn đề dân chủ ở Việt Nam, gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với đời sống xã hội, trong đó có quan điểm cho rằng “một Đảng lãnh đạo sẽ không thực sự có dân chủ!”.

Những luận điệu của các thế lực thù địch ngày càng bộc lộ đầy đủ nhất những ý đồ chính trị đen tối nhằm tạo cớ cho sự hình thành các tổ chức chính trị phản động đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình” với kịch bản gây bất ổn chính trị – xã hội đi đến bạo loạn, lật đổ. Chúng tập trung tuyên truyền chống phá vấn đề dân chủ về cả lý luận và thực tiễn.

Về lý luận, các luận điệu sai trái, thù địch phủ nhận quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lênin về dân chủ khi cho rằng, quan điểm Mác-Lênin về dân chủ là sai lầm ngay từ “gốc”, từ việc lựa chọn thế quan duy vật, dựa trên nguyên lý nhất nguyên trong triết học dẫn tới một đảng phái đại diện cho một giai cấp về thể chế chính trị, một đảng lãnh đạo nên không tạo ra cơ sở khách quan cho việc thực hành và phát huy dân chủ. Từ đó, chúng cho rằng Việt Nam chỉ có thể có dân chủ khi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập (!).

Về thực tiễn, chúng cho rằng, Việt Nam duy trì chế độ một đảng sẽ đồng nghĩa với độc tài, không có tiếng nói đối lập sẽ cản trở quá trình phát triển của đất nước, chỉ có thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì Việt Nam mới có dân chủ thực sự, xã hội Việt Nam mới sánh kịp được với các quốc gia khác trên thế giới, mới có thể phát triển (!).

Vậy, “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” có phải lựa chọn duy nhất để có dân chủ thực sự và phát triển xã hội ở Việt Nam hay không?

Thực tiễn lịch sử phát triển của các nước trên thế giới cho thấy, việc thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không đồng nghĩa với việc sẽ có dân chủ thực sự hay không có dân chủ thực sự.

Dân chủ là một phạm trù có tính lịch sử, xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và mỗi nền dân chủ đều gắn với nhà nước nhất định. Nó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong giai đoạn lịch sử tương ứng. Bởi “quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”[1]. Mỗi quốc gia có những đặc thù về trình độ phát triển, về kinh tế, về chính trị, về lịch sử…, do đó sẽ có những nền dân chủ khác nhau. Chính những điều kiện lịch sử đó quy định xu hướng dân chủ chứ không phải là cơ chế đa nguyên hay nhất nguyên, đa đảng hay một đảng quy định.

Vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là vấn đề mới, nó xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã bàn đến sự đa nguyên về sự khởi nguyên của thế giới, sau đó vấn đề này được các nhà tư tưởng vận dụng trong phân tích về đa nguyên trong chính trị. Đến thời kỳ cận đại, khi giai cấp tư sản lên cầm quyền, vấn đề đa nguyên chính trị được luận bàn một cách phổ biến. Thế giới quan của chủ nghĩa đa nguyên là phủ nhận tính thống nhất của thế giới vật chất, cho rằng thế giới là sự kết hợp của các nguyên thể, các yếu tố, nhưng đã được cường điệu, thổi phồng cái riêng. Chủ nghĩa đa nguyên dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và cho đó là mẫu hình các nước phải tuân theo. Họ chủ trương xây dựng và quản lý xã hội theo nguyên tắc đa lực lượng, đa đảng phái và các tổ chức này quan hệ với nhau theo nguyên tắc hiệp thương. Chính vì vậy, “Nếu chủ nghĩa đa nguyên được áp dụng vào chủ nghĩa xã hội thì sẽ dẫn đến nguy cơ phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản, hạ thấp đảng thành một tổ chức xã hội bình thường. Nó đối lập hoàn toàn với lý luận đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Trong thực tiễn, việc một quốc gia thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với việc quốc gia đó sẽ có dân chủ, sẽ phát triển. Điều này đã được chứng minh trên thực tế, có những quốc gia thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhưng vẫn thuộc nhóm nghèo nhất thế giới, chính trị xã hội thì bất ổn. Ngược lại, có những quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng vẫn là một nước phát triển về kinh tế, chính trị – xã hội ổn định, đời sống nhân dân được no ấm. Điều đó nói lên rằng: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là cứu cách, là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của đất nước như các luận điệu sai trái, xuyên tạc rêu rao. Thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không đồng nhất với việc đưa đất nước phát triển, đời sống nhân dân được no ấm. Mặc khác, việc lựa chọn chế độ chính trị và mô hình phát triển đất nước còn phụ thuộc vào thực tiễn lịch sử, điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia.

Mặc dù bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về Nhân dân, là quyền lựa chọn của Nhân dân, nhưng các thế lực thù địch lại cho rằng: “nền dân chủ tư sản được sản sinh ở Phương Tây được tạo ra là để áp dụng trên khắp thế giới”. Điều này cho thấy, chính họ rêu rao về dân chủ nhưng không hề tôn trọng những nguyên tắc sơ đẳng nhất của dân chủ.Lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy bắt đầu từ đó, nên các giá trị của dân chủ phải được hình thành từ thực tiễn lịch sử. Hơn nữa, thực tiễn luôn biến đổi nên không bao giờ có một giá trị vĩnh hằng, càng không có chân lý áp dụng cho mọi quốc gia. Một mặt họ rêu rao, truyền bá quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập với lí lẽ là để có tiếng nói đa dạng, có tính đối trọng kiềm chế lẫn nhau, nhưng mặt khác, chính họ lại tuyên truyền cho sự độc tôn, tuyệt đối của nền dân chủ tư sản, coi đó như một “khuôn mẫu lý tưởng” mà không muốn có sự hiện hữu của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chỉ riêng điều này đã cho thấy, sự tuyên truyền về dân chủ của các quan điểm sai trái, thù địch chỉ là giả hiệu với mục đích đen tối, không vì quyền dân chủ thực sự của nhân dân mà vì những toan tính, mưu đồ phá hoại, lật đổ!

Cần phải khẳng định rằng, dù các thế lực thù địch sử dụng mạng xã hội hòngáp đặt, vu khống đến đâu thì cũng không thể phủ nhận một thực tế rõ ràng là: Việt Nam “thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân”[2]. Điều này được thể hiện ngay trong hệ thống quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và từ thực tiễn đời sống xã hội.

Do đó, một nền dân chủ thực sự chỉ được quyết định bởi “bản chất cách mạng của đảng cầm quyền”, đảng đó đại diện cho lợi ích của ai và có nhận được sự ủng hộ của số đông dân chúng đối với sự cầm quyền ấy hay không,sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế !


[1]C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 1995, t.19, tr.36.

[2]Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 2021, tr.38.

Anh Đặng

VIỆT NAM KHÔNG CHẤP NHẬN LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ, CHIA RẼ DÂN TỘC!

Việc lợi dụng tôn giáo phục vụ các hoạt động chính trị, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, chia rẽ khối đại đoàn kết thì không một quốc gia nào chấp nhận, chứ không chỉ ở Việt Nam.

Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2020 của Bộ Ngoại giao Mỹ công bố mới đây đã vấp phải sự phản đối của Việt Nam bởi lẽ, bên cạnh việc đề cập đến những nỗ lực của Việt Nam trong trong việc đảm bảo và thúc đẩy đời sống tôn giáo, tín ngưỡng, báo cáo đã đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam. Một trong những điều phi lý là báo cáo tiếp tục cho rằng, "pháp luật Việt Nam kiểm soát đáng kể các hoạt động tôn giáo". Từ đó, hối thúc Chính phủ Việt Nam “cho phép tất cả các nhóm tôn giáo hoạt động một cách tự do”.

Báo cáo viện dẫn một trường hợp cụ thể là ông Rah Lan Hip (SN 1981, trú tại, xã Ia Băng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai) bị tuyên phạt 7 năm tù vào tháng 8/2019 "chỉ vì ông này khích lệ các tín đồ đạo Tin lành Đề Ga người dân tộc thiểu số chống lại việc chính quyền gây sức ép buộc họ phải bỏ đạo”.

Sự thật hoàn toàn khác. Theo cáo trạng của TAND tỉnh Gia Lai, Rah Lan Hip được sự hậu thuẫn của các đối tượng FULRO sống lưu vong ở Mỹ đã sử dụng facebook chia sẻ nhiều bài biết về “Tin Lành Đê Ga”. Ông này cũng nhóm họp để tuyên truyền cho những người dân tộc thiểu số không được từ bỏ “Tin lành Đề Ga” bởi ở Mỹ đã có “Nhà thờ Đê Ga”, có cờ của “Nhà nước Đê Ga” và tiếp tục tin tưởng, cầu nguyện cho “Nhà nước Đê Ga” sớm thành công. Rah Lan Hip được các đối tượng phản động ở Mỹ gửi tiền về để thực hiện các hành vi trên, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị ở địa phương, gây chia rẽ giữa người dân tộc thiểu số với người Kinh, gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Do dó, có đủ căn cứ để kết luận Rah Lan Hip phạm tội “Phá hoại chính sách đoàn kết”..

Tin lành Đề Ga không được công nhận ở Việt Nam. Tin lành Đề Ga được coi là công cụ để tập hợp lực lượng cho Nhà nước Đề Ga độc lập ở bên ngoài nhằm chia tách Tây Nguyên- vùng đất có vị trí chiến lược về an ninh-quốc phòng khỏi đất nước Việt Nam, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Báo cáo Tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng nêu vụ việc, công an địa phương tại xã Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã giải tán hàng chục tín đồ tại một nhà thờ tư gia của Hội thánh Tin lành do các thành viên Hội thánh hoạt động chính trị. Báo cáo này cho biết: “Nhiều thành viên của Giáo hội đã tham dự khóa đào tạo xã hội dân sự ở Thái Lan và gặp gỡ đại diện các cơ quan Liên hợp quốc và các nhà ngoại giao nước ngoài - những người mà họ bày tỏ quan ngại về tình hình nhân quyền ở Việt Nam”.

Rõ ràng, việc lợi dụng tôn giáo cho các hoạt động chính trị, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, chia rẽ khối đại đoàn kết thì không một quốc gia nào chấp nhận, chứ không chỉ ở Việt Nam. Vì vậy, việc hối thúc chính phủ Việt Nam “cấp phép cho tất cả các nhóm tôn giáo hoạt động một cách tự do”, kể cả các nhóm tôn giáo có hoạt động chống phá là sự can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Tin lành, tôn giáo được đề cập nhiều trong báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2020 của Bộ Ngoại giao Mỹ là một trong số các tôn giáo có tốc độ phát triển tín đồ nhanh nhất tại Việt Nam do quá trình mở cửa hội nhập và giao lưu văn hóa. Hiện tôn giáo này có hơn 1,1 triệu tín đồ, trong đó phần lớn thuộc các dân tộc thiểu số như Mông, Êđê, Jrai, K’ho, S’Tiêng… Tuy nhiên, trong số hơn 80 tổ chức Tin lành đang hoạt động, chỉ có 10 Tổ chức Tin lành có pháp nhân, 3 tổ chức được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo. Còn lại, khoảng 70 tổ chức, nhóm Tin lành (gần 200.000 tín đồ) chưa được cấp đăng ký hoạt động. Phần lớn các tổ chức Tin lành du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam, không có cơ sở thờ tự, chức sắc chủ yếu do tự phong và khác nhau về tiêu chuẩn. Một số  tổ chức Tin lành có hệ thống giáo lý không đúng Kinh thánh, lễ nghi và tín lý trái với văn hóa truyền thống của Việt Nam, có biểu hiện mê tín dị đoan, gây chia rẽ gia đình, xã hội, xung đột với các hội thánh Tin lành truyền thông, làm phức tạp tình hình an ninh, trật tự…


Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với hơn 26,5 triệu tín đồ có đạo, 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Những tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận phải hoạt động liên tục tối thiểu trong 5 năm kể từ ngày được cấp “đăng ký sinh hoạt tôn giáo”. Tổ chức tôn giáo đó phải có hiến chương và điều lệ hợp pháp, ban lãnh đạo là người Việt Nam, sinh sống tại Việt Nam, không có án tích, tự chủ trong quản lý tài sản và thực hiện các giao dịch….

Những quy định trên nhằm đảm bảo cho các tổ chức tôn giáo hoạt động một cách ổn định, đồng thời cũng ngăn chặn việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác, hoạt động mê tín dị đoan hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác….

Ngày 13/5, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước Báo cáo Tự do tôn giáo Quốc tế của Mỹ năm 2020, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định: Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi thẳng thắn, cởi mở và trên tinh thần xây dựng với Mỹ về những vấn đề còn có sự khác biệt để tăng cường hiểu biết và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước"./.

Dịch “dân chủ” cũng nguy hiểm không kém COVID-19


 

“Đại dịch Vũ Hán: thảm hoạ cho dân nghèo khi thành Hồ bị phong toả”, “Nếu cột điện có chân, giờ nó chạy đi đâu”, “Chậm mua vắc – xin: Việt Nam ngủ quên trong chiến thắng”, “Việt Nam có nên vận dụng “mục tiêu kép” trong lúc này”… là những bài viết đang được giới “dân chủ” ra sức lan truyền trên mạng xã hội trong những ngày qua… Có thể thấy, dù sử dụng hàng loạt các bài viết thiếu trung thực và sai sự thật, chung quy lại, những đối tượng này ra sức xuyên tạc 3 vấn đề chủ đạo trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam một lòng vững tin theo Đảng



Trên trang mạng xã hội vừa qua đăng bài “Khi đất nước không còn là chốn an toàn” của Hoàng Hoành Sơn. Bài viết thổi phồng một số tiêu cực trong xã hội, cổ súy cho những hành vi chống phá Nhà nước, phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước từ đó hòng kích động chia rẽ truyền thống đoàn kết máu thịt giữa Đảng với nhân dân, gây nên thái độ ngộ nhận, tâm trạng hoang mang, hoài nghi, dao động, mất lòng tin ở một bộ phận nhân dân. Song, niềm tin của nhân dân đối với Đảng không hề bị lung lạc, bởi lẽ:

Đau đáu lời dặn "Trước hết nói về Đảng" trong Di chúc

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong. Trước khi đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Hồ Chí Minh đã dành để “trước hết nói về Đảng” (1) và “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân" (2). Từ rất sớm, từ tiên liệu về sự vận động của Đảng trong quá trình phát triển và sự biến động của tình hình, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, song không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ngợi ca nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là tất yếu khách quan, là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Qua đó, góp phần phòng và chống bệnh choáng ngợp, tự mãn, quan liêu, ngày càng rời xa nhân dân của người đang nắm giữ vai trò lãnh đạo, quản lý trong Đảng và các cơ quan công quyền - những người mà theo Hồ Chí Minh, “trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, nhưng đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác mà biến thành người có tội với cách mạng”… Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng chỉ có thể chắc chắn, vững mạnh, trở thành đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, chỉ giành và giữ được vai trò lãnh đạo cách mạng khi thường xuyên tiến hành xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Để xứng đáng là vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, Đảng phải tự xây dựng thành “một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để” và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải “suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đầy tớ tận tuỵ của nhân dân”. Đó là trách nhiệm kép, vừa vinh dự vừa khó khăn mà muốn hoàn thành, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải vừa ra sức nâng cao năng lực trí tuệ ngang tầm nhiệm vụ lịch sử vừa phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết, thống nhất; nghiêm túc thực hiện chế độ tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, trau dồi đạo đức cách mạng và gắn bó mật thiết với nhân dân, để nhân nguồn sức mạnh của Đảng. Vì thế, từ khi chuẩn bị đến sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã luôn chú trọng xây dựng và chỉnh đốn Đảng để Đảng Cộng sản Việt Nam vững mạnh, trở thành Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam; không ngừng nâng cao bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của Đảng trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc xây dựng một chính đảng Mácxit chân chính; đồng thời, coi đó là một quy luật tất yếu, là sự vận động và phát triển của Đảng trong tiến trình phát triển của cách mạng do Đảng lãnh đạo. Và không phải ngẫu nhiên, trong Di chúc, Hồ Chí Minh lại căn dặn, để Đảng trong sạch, chân chính, vững mạnh, “các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là vì: Một là, đoàn kết được coi là nguyên tắc cơ bản trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là bảo đảm đầu tiên và thường xuyên cho sự vững mạnh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng; tạo nên sức mạnh thống nhất trong ý chí và hành động để chiến thắng kẻ thù xâm lược, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Vì đoàn kết là “một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”, nên mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối, chủ trương và những nguyên tắc sinh hoạt Đảng; được thể hiện trong nhận thức và hành động, trong mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, nhất quán giữa lời nói và việc làm. Hai là, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi", vì dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu và động lực của sự tiến bộ và phát triển xã hội. Dân chủ trong Đảng là phát huy quyền làm chủ của đảng viên trong tất cả các hoạt động của Đảng, để mọi đảng viên được bày tỏ hết ý kiến của mình, vì thế, mỗi đảng viên ở bất cứ địa vị nào cũng phải gương mẫu thực hành dân chủ. Song dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật của Đảng và kỷ luật chính là phương tiện để bảo vệ dân chủ, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ; thực hành dân chủ có tác dụng giải phóng, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân; do đó, cán bộ, đảng viên phải lãnh đạo nhân dân một cách dân chủ, phải phát huy vai trò của nhân dân trong mọi lĩnh vực và đó là "cái chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn". Tuy nhiên, thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của đảng viên, của nhân dân phải dưới sự lãnh đạo của Đảng, để bảo đảm cho quá trình thực hiện dân chủ được đúng hướng; để vừa loại bỏ được tình trạng độc đoán, chuyên quyền trong lãnh đạo vừa tránh rơi vào hiện tượng vì "sợ" mất dân chủ mà theo đuôi quần chúng, hoặc dân chủ quá trớn. Ba là, thường xuyên, nghiêm chỉnh "tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng". Nguyên tắc quan trọng này phải được thực thi thường xuyên, liên tục, nghiêm túc, thực chất để phát huy vai trò, khả năng sáng tạo, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo đó, để bảo đảm dân chủ, công khai, bình đẳng trong sinh hoạt Đảng, trong tự phê bình và phê bình: một mặt, cấp trên và cán bộ lãnh đạo phải tự phê bình nghiêm túc, phải chân thành tiếp thu ý kiến phê bình của đồng chí mình và cấp dưới; mặt khác, phải động viên cấp dưới và quần chúng phê bình tổ chức đảng và đảng viên chân thành, triệt để trên "tình đồng chí thương yêu lẫn nhau". Bốn là, thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để Đảng thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" (3). Khẳng định vai trò nền tảng, ý nghĩa quyết định của đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là cơ sở nền tảng của một đảng cầm quyền "là đạo đức, là văn minh", Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng là “quyết tâm suốt đời” đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, “ra sức làm việc” cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng; thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân mình; “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”, vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc; ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác để cùng tiến bộ... Với Hồ Chí Minh, làm cách mạng là để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, đó là một sự nghiệp rất vẻ vang song vô cùng khó khăn, gian khổ, do vậy “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải "thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" theo lời Người dặn chính là để rèn mình, chống thói hư tật xấu trong mình như tham ô, lãng phí, quan liêu, tham nhũng, cá nhân chủ nghĩa,v.v.. để xứng đáng với vai trò tiền phong. Thực hiện được 4 điều Hồ Chí Minh trăn trở, căn dặn trong Di chúc chính là góp phần “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”, “xứng đáng là người lãnh đạo”, “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mẫu mực về tấm gương đạo đức cách mạng và tầm cao năng lực trí tuệ nhằm quy tụ, lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước bền vững. Không chỉ chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; thường xuyên yêu cầu cán bộ, đảng viên phải rèn luyện đạo đức cách mạng, gắn bó mật thiết với nhân dân,v.v.. Hồ Chí Minh còn luôn là một tấm gương mẫu mẫu mực về rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, luôn thống nhất giữa nói và làm. Một Hồ Chí Minh hết lòng yêu thương nhân dân, luôn vui niềm vui của đồng bào, đồng chí, buồn nỗi buồn của áp bức, bất công; chỉ vui trọn vẹn khi không còn chiến tuyến, khi không còn chiến tranh đã luôn làm ấm lòng những người xung quanh mình. Hồ Chí Minh - con người và nhân cách vĩ đại đã từng được suy tôn là “một hiền nhân” là người đã thực hiện trọn vẹn những điều vốn là khát vọng lâu đời được nêu trong sách Luận ngữ: “Đem lại sự nghỉ ngơi cho người già, đem lại lòng tin cậy cho bầu bạn, đem lại tình thương yêu cho trẻ nhỏ”(4) - không chỉ thuộc về hiện tại mà Người còn thuộc về tương lai cả trong ý nghĩ, tầm nhìn chiến lược và những quyết sách, hành động. Quán triệt những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh: "Chúng ta cần những Đảng có liên hệ thực tế thường xuyên với quần chúng và biết lãnh đạo những quần chúng đó”(5) và “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, trong 89 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thành tựu về mọi mặt, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập. Đất nước đã vượt qua khó khăn, thách thức; đã đạt được những thành tựu to lớn, giữ vững ổn định chính trị; phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường quốc phòng - an ninh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày càng khẳng định được vị thế trong khu vực và trên trường quốc tế. Cùng với đó, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả.Đảng đã khẳng định được vị thế là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, xã hội và đó chính là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng vẫn còn những hạn chế cần phải khắc phục. Sự thật là, bên cạnh những cán bộ, đảng viên kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, chuyên quyền, địa phương chủ nghĩa, tham nhũng, vô kỷ luật, coi thường phép nước, tham nhũng, lãng phí, kèn cựa địa vị, bè phái, chạy chức, chạy quyền, độc đoán, vi phạm kỷ luật, hối lộ và các loại tiêu cực khác không những chưa bị chặn đứng mà biểu hiện ngày càng nghiêm trọng hơn… Bộ phận "mọt dân" đó đã trở thành “phụ mẫu” của nhân dân, làm mất uy tín, danh dự của Đảng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên; làm mục ruỗng bộ máy Đảng, Nhà nước từ bên trong, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và các cơ quan công quyền. Đảng là đội tiên phong, đại biểu cho ý chí, quyền lợi của giai cấp công nhân và của toàn thể nhân dân, dân tộc Việt Nam, cho nên xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ là công việc nội bộ của Đảng mà còn là trách nhiệm của nhân dân. Khi nhân dân đã tin yêu giao phó vị trí lãnh đạo độc tôn cho Đảng, khi mà sự mạnh hay yếu, mất hay còn của Đảng có quan hệ đến vận mệnh của đất nước, của nhân dân, thì ở mọi nơi, mọi lúc, mọi thời điểm, Đảng đều cần phải dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn mình để luôn mạnh khỏe, chắc chắn, cách mạng. Nhân dân là nguồn sức mạnh của Đảng, là chỗ dựa vững chắc của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu của Đảng và nhân dân có trọng trách xây dựng Đảng của mình trong sạch, vững mạnh. Vì thế, gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng luôn là nguyên tắc xây dựng Đảng, được khẳng định trong các Cương lĩnh và nghị quyết của Đảng. Để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, để những trăn trở, tâm nguyện của Hồ Chí Minh trong Di chúc được thực hiện sinh động trong thực tiễn, trong thời gian tới, cấp ủy các cấp cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thường xuyên, liên tục phải chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đồng thời, nghiêm túc, quyết liệt gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với quy định về những điều đảng viên không được làm, với các quy định nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là Quy định 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, để phòng và chống nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Coi đó là giải pháp đột phá, là điều kiện tiên quyết để làm trong sạch Đảng, nâng cao sức chiến đấu của Đảng. Thứ hai, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong mỗi tổ chức cơ sở Đảng, trong sinh hoạt Đảng, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng. Khắc phục tình trạng trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng"; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Thứ ba, phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để giám sát cán bộ, đảng viên, để thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Thực hiện di huấn của Hồ Chí Minh "phải thực hành dân chủ rộng rãi", bảo đảm dân chủ từ trong Đảng đến dân chủ xã hội được thực hiện ở các cấp, các ngành, các địa bàn, các lĩnh vực; để mỗi người dân là chủ, làm chủ trong mọi lĩnh vực cuộc sống. Theo đó, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Trong đó, "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" và phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát" phải được thực hiện nghiêm túc, triệt để để nhân dân thực hiện tốt hơn quyền dân chủ của mình. Hướng về cơ sở, khắc phục tình trạng "quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân". Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân; khắc phục biểu hiện suy thoái "không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao". Đặc biệt, đẩy mạnh phòng và chống tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ, tham vọng chức quyền, tìm mọi cách để tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân không lành mạnh; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích. Đồng thời, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những con "sâu mọt" tham ô, tham nhũng... gây thất thoát tiền bạc và tài sản của nhân dân. Thứ năm, tăng cường công tác tuyên truyền, đổi mới và làm phong phú các chuyên trang, chuyên mục, các giải thưởng liên quan đến công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đến việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh từ Trung ương xuống đến địa bàn cơ sở. Đồng thời, lựa chọn, xây dựng và nhân rộng các gương điển hình trong cán bộ, đảng viên, trong nhân dân về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhân những hạt giống đỏ trong vườn hoa việc tốt, để tạo sức lan tỏa, lôi cuốn từ những tấm gương người thực việc thực giản dị trong cuộc sống đời thường mà ý nghĩa nhân văn lớn lao, để thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng như Hồ Chí Minh đã căn dặn./.

TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM TRONG PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19

 

Nhà chúng ta là nơi an toàn nhất, hãy ở nhà cơm áo gạo tiền không quan trọng nữa đâu ạ vì nếu như ta bị lây cả gia đình ta tiêu tan, đất nước ta tiêu tan... trong thời gian rất ngắn.

NÊN:

1. Hãy kêu gọi mọi người không tụ tập đông người, không ra đường nếu không thực sự cần thiết. Hãy thả phẫn nộ vào những status kêu gọi tụ tập ăn chơi hay những hình ảnh họp nhóm đông người để bày tỏ thái độ của bạn!

2. Hãy nhắc nhở bạn bè của bạn ra đường bắt buộc phải đeo khẩu trang. Ở Ấn Độ người ta phạt roi những ai không đeo khẩu trang. Ở Việt Nam, nghị định xử phạt hành chính từ 100k đến 300k với các trường hợp không đeo khẩu trang khi ra nơi công cộng. Đáng tiếc rằng cho đến lúc này trên báo chưa ghi nhận ai bị phạt và có quá nhiều kẻ quên não khi không đeo khẩu trang ra đường.

3. Đừng kỳ thị những người đang tự cách ly. Họ là những người tuân thủ tự giác rồi. Với gần 50.000 người đang tự cách ly, họ có thể là bạn bè người thân của bạn. Hãy động viên họ. Hãy chỉ lên án những kẻ trốn cách ly.

4. Hãy nhắc bạn bè rửa tay thường xuyên và giữ khoảng cách tối thiểu 1 mét đến 2 mét khi đi chợ, xếp hàng.

5. Khai báo y tế, kêu gọi bạn bè khai báo y tế với các trường hợp nhập cảnh từ 8/3 đến nay.

6. Đừng đi đâu cả. Hãy ở yên trong nhà tránh làm xáo trộn nỗ lực chống dịch của chính phủ và bộ y tế.

7. Hãy kêu gọi đóng góp tài chính cho cuộc chiến này. Hiện tại nguồn tài chính quyên góp được đã lên tới 500 tỷ. Hãy cảm ơn những mạnh thường quân bằng việc sử dụng các sản phẩm của họ.

8. Đừng share những tin tức gây hoang mang dư luận khiến chính những người thân của bạn cũng âu lo theo.

9. Đừng nghi ngờ bất kể sự tử tế nào hay những người đóng góp cho cuộc chiến. Bất kể thế nào họ cũng đang HÀNH ĐỘNG chứ không phải chỉ nói suông.

10. Giữ cho chính bản thân bạn sự BÌNH TĨNH vì bạn bình tĩnh bạn sẽ mạnh mẽ để người thân của bạn yên tâm hơn./. St

 

Tăng cường công tác phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay

Nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với nước ta, trong những năm qua, các thế lực thù địch triệt để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, những thông tin xấu, độc hại, bịa đặt, vu cáo hòng chống phá Việt Nam. Thông qua đó, hòng xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, từng bước thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Chúng coi đó là một mũi tấn công quan trọng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT-TTATXH). Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin, coi Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản. Chúng cho rằng, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam là sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước. Chúng triệt để lợi dụng, khoét sâu những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, lợi dụng các vụ việc phức tạp xảy ra ở trong nước để xuyên tạc rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, cho rằng Việt Nam nên thay đổi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản để “phù hợp với xu thế phát triển”. Chúng ra sức đẩy mạnh tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ súy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, cho rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là xã hội áp bức, bóc lột. Thông qua đó, nhằm làm một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về thành tựu đổi mới của đất nước, về mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam; kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ổn định chính trị, xã hội ở nước ta. Để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch với nước ta, các thế lực thù địch đã xuất bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu như: Các báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội các nước (như Mỹ, Australia, Anh…); các văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO) như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: Sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt, như: BBC, VOA, RFA, RFI… Trong đó, các thế lực thù địch đã lập hàng nghìn trang web, blog, hàng trăm tạp chí, báo, nhà xuất bản, hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, tổ chức hàng chục cuộc hội thảo, tọa đàm hàng năm hoặc qua tiếp xúc, làm việc trực tiếp với các cá nhân, cơ quan trong nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng, phủ nhận thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ANCT-TTATXH; qua đó nhằm hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Chúng triệt để lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội… hoặc xảy ra các vụ việc phức tạp để đẩy mạnh các chiến dịch phá hoại tư tưởng nhằm tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc, thù địch đối với nước ta. Điển hình như, vào các thời điểm đoàn Việt Nam bảo vệ Báo cáo quốc gia theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, các đối tượng phản động lưu vong tập trung biểu tình, rải tờ rơi xuyên tạc chính sách, thành tựu nhân quyền ở trong nước, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Hoặc khi chính quyền tổ chức cưỡng chế giải tỏa chùa Liên Trì (TP Hồ Chí Minh), các đối tượng đã tán phát tài liệu vu cáo Nhà nước ta đàn áp chức sắc, tín đồ, vi phạm quyền tự do tôn giáo của người dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này, như: Nghị quyết số 16/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới; Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 17-4-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, khóa X về tăng cường công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; nghị quyết Đại hội Đảng qua các thời kỳ… Trong đó, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã khẳng định: "Đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Ðảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc". Trên cơ sở thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, như: Luật An ninh mạng 2018, Luật Báo chí 2016, Luật Xuất bản 2012… làm cơ sở pháp lý quan trọng trong phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch. Chính vì vậy, những năm qua, chúng ta đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các hoạt động tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch; xử lý nghiêm trước pháp luật các đối tượng tuyên truyền, xuyên tạc chống phá nước ta. Các cơ quan chức năng đã tăng cường quản lý báo chí, internet, hoạt động xuất bản, yêu cầu các tập đoàn truyền thông, như: Google, Youtube… gỡ bỏ các clip, tài khoản có nội dung xấu, độc hại. Thông qua các kênh hợp tác song phương, đa phương… các cơ quan chức năng đã chuyển tải chính sách, thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quyền con người tới cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài, góp phần giải tỏa các thông tin sai lệch và đấu tranh, phản bác các luận điệu phản động, thù địch đối với nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đấu tranh trên lĩnh vực này trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, bất cập, như: Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như tác hại của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác này. Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, phương thức và tác hại của các quan điểm sai trái, thù địch còn ở mức khiêm tốn. Việc đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch còn nặng về hình thức, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao. Một bộ phận cán bộ, đảng viên còn biểu hiện quan liêu, tham nhũng, cửa quyền hách dịch; việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch với nước ta. Trong những năm tới, nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” với Việt Nam, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch với nước ta bằng nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Nhằm phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hiệu quả hoạt động này, cần tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chú trọng một số giải pháp trọng tâm như sau: Một là, công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch luôn phải được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác này một cách thực chất, thường xuyên, liên tục với quyết tâm chính trị lớn, có sức thuyết phục cao, sức lan tỏa sâu rộng. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với nước ta. Hai là, tiếp tục tăng cường công tác nắm tình hình, nghiên cứu dự báo, phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, đặc biệt là các phương thức hoạt động mới của các thế lực thù địch để tuyên truyền các luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch; dự báo thời điểm các thế lực thù địch đẩy mạnh các chiến dịch phá hoại tư tưởng để kịp thời triển khai biện pháp đấu tranh, ngăn chặn. Trong đó, đặc biệt chú trọng nắm tình hình từ xa, nắm tình hình ngay từ trung tâm phá hoại tư tưởng ở bên ngoài để chủ động triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, khẳng định vị thế, vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối xây dựng và phát triển đất nước; làm cho hệ tư tưởng này có sức sống mãnh liệt và giữ vai trò chủ đạo trong đời sống của xã hội ta. Qua đó nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho cuộc đấu tranh, phê phán quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch chống phá Việt Nam. Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ hệ tư tưởng của xã hội ta với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tuyên truyền và tư tưởng, lý luận; gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong công tác này nhằm tạo ra sức tự đề kháng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân về bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng minh chứng cụ thể từ những thắng lợi trong lịch sử dân tộc và trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước hiện nay; về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng; về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm tuyên truyền, xuyên tạc hệ tư tưởng của xã hội ta... để từ đó thúc đẩy mọi người tự giác tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh. Làm cho cán bộ, đảng viên và người dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên thấy rõ tác hại của các thông tin phản động, xuyên tạc; có khả năng nhận diện và “miễn dịch” các nội dung thông tin xấu độc, nguy hại đối với xã hội. Năm là, tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Đó là minh chứng sinh động nhất nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đập tan luận điệu tuyên truyền sai trái, thù địch chống phá nước ta. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện, các vụ đình công, lãn công… ngay từ cơ sở, không để hình thành “điểm nóng”, không để kẻ địch lợi dụng chống phá. Trong xử lý các vấn đề nhạy cảm phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, đảm bảo các yêu cầu đặt ra theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong và ngoài nước, kiên quyết không để sơ hở để kẻ địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc. Sáu là, tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí, truyền thông, internet và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực này. Qua đó chủ động phát hiện những hành vi sai phạm, xu hướng lệch lạc của một số phóng viên, nhà báo thoái hóa, biến chất; phát hiện các tài liệu, bài viết tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc, thù địch để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời. Chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các trang mạng độc hại, các blog “đen” thường đăng tải các tin, bài, phim ảnh có nội dung xấu, độc hại, trái ngược với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực thông tin, truyền thông, quản lý internet, cần xác định những quan hệ xã hội nảy sinh trên lĩnh vực này chưa được pháp luật điều chỉnh để kiến nghị cơ quan chức năng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Có thể thấy, phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc, thù địch chống phá nước ta là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta và với những thành tựu đã đạt được trong công tác này những năm qua, chúng ta tin tưởng rằng, những năm tới, nước ta sẽ thực hiện thành công công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, thù địch đối với đất nước.

Đập tan âm mưu lợi dụng chính sách đối với người có công của các thế lực thù địch

Trong thời gian qua, đã xuất hiện một số cá nhân lợi dụng chủ trương của Đảng, Nhà nước về chính sách đối với người có công, mạo danh, lợi dụng tên tuổi của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội để thành lập “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” hoạt động trái phép và tìm cách phát triển tổ chức, tuyên truyền, lôi kéo người tham gia, trong đó có cả cựu sỹ quan, tướng lĩnh quân đội, cán bộ cấp cao đã nghỉ hưu, trí thức, hội viên các hội quần chúng… Cựu Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Luận thường xuyên tự xưng là giáo sư, tiến sĩ đã bị cơ quan công an triệu tập làm rõ động cơ lập "Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam". (Ảnh do Cục Bảo vệ An ninh Quân đội cung cấp) Với tính chất hoạt động phức tạp, tinh vi của “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” (Ban liên lạc) do ông Nguyễn Ngọc Luận, sinh năm 1942, là Thượng sỹ quân đội, nguyên giáo viên quân sự Trường Cao cấp nghiệp vụ ngân hàng đã nghỉ hưu nhưng tự xưng là Giáo sư, Tiến sỹ, Đại tá quân đội, đã đứng ra thành lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội đầu năm 2018. Ban liên lạc có ý đồ mở rộng phạm vi hoạt động ra các địa phương trên cả nước nên đã ra văn bản số 01/BLL gửi tới các Tỉnh ủy, Thành ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với nội dung giới thiệu về tôn chỉ, mục đích hoạt động về đề nghị tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ để triển khai thành lập các “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Kèm theo văn bản này là một số tài liệu, trong đó đáng chú ý có nội dung: “Năm 2018, Thường trực Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam tiếp tục hướng dẫn để người có công trên toàn quốc đăng ký hội viên sáng lập Hội người có công Việt Nam, ra mắt Ban liên lạc người có công trên toàn quốc…”. Tại Hà Nội đã xuất hiện “Ban liên lạc Thành phố Hà Nội” và một số “Ban liên lạc” tại quận Hai Bà Trưng, huyện Thanh Oai, Đông Anh, Sóc Sơn. Hoạt động của một số kẻ cầm đầu “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” có nhiều dấu hiệu lừa đảo, tính chất phức tạp nhằm trục lợi, lợi dụng tên tuổi của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội để hoạt động. Ngày 6/1/2018, “Ban liên lạc” ra văn bản có nội dung “Tôn vinh đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng là trưởng ban liên lạc danh dự” và công bố danh sách 89 người tham gia, trong đó có Thượng tướng Nguyễn Thế Trị, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Quốc Phòng; Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu IV; Thiếu tướng Nguyễn Thành Định, nguyên Phó Tư lệnh, Bộ Tư lệnh Công binh; ông Dương Minh Đỗ, nguyên Phó Cục trưởng Cục người có công, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, thực tế, các đồng chí trên đều không biết và không tham gia “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam”. Qua đấu tranh, cơ quan công an đã làm rõ cơ cấu tổ chức, tính chất hoạt động của “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” là tổ chức tự xưng, chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Thành Luân đã thừa nhận hành vi sai trái của mình và của “Ban liên lạc” để tuyên bố giải tán, chấm dứt hoạt động của “Ban liên lạc” ở các cấp, xóa bỏ các chức danh tự phong, giao nộp con dấu của “Ban liên lạc” cho cơ quan công an. Đến nay, tổ chức của “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã bị phá rã, không thực hiện được ý đồ mở rộng phạm vi hoạt động, thành lập các tổ chức tại các địa phương khác trên cả nước./.

Mệnh lệnh của trái tim: “Đảng là đầy tớ của dân”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên về nâng cao ý thức “Đảng là người đày tớ của dân”. Đó luôn là một mệnh lệnh, một tiêu chí bắt buộc, một phẩm chất, lý tưởng cao đẹp trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và trong mỗi cán bộ Đảng viên. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chúc Tết người dân trong dịp Tết Kỷ Hợi 2019 Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển, luôn rất chú trọng xây dựng Đảng trên cả hai phương diện: vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ (người phục vụ) trung thành của nhân dân. Đây là hai nội dung có nội hàm khác nhau về mặt bản chất, nhưng đối với Đảng ta, do ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, được nhân dân ủy thác sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, nên giữa hai nội dung đó có mối liên hệ thống nhất, gắn bó, bổ trợ và có tầm ảnh hưởng lẫn nhau. Trong quan điểm Hồ Chí Minh và Đảng ta, đây là một luận điểm vừa thể hiện quan điểm cách mạng vô sản vừa có ý nghĩa cơ bản và sâu sắc về quan hệ giữa cơ quan lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Nếu không đồng thời làm trọn cả hai nội dung này thì Đảng sẽ thất bại và ắt sẽ bị thời đại và nhân dân đào thải. Ở bài viết này, xin không bàn về vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của công tác lãnh đạo, chỉ xin đề cập một nội dung liên quan đến việc nâng cao ý thức “Đảng là người đày tớ của dân” mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng giáo dục và thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”(1). Với tầm nhìn chiến lược và lo xa công việc của Đảng, ngay từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám 1945 mới thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài huấn thị “Chính phủ là công bộc của dân” đăng trên báo Cứu quốc số 46 ngày 19-9-1945, chỉ rõ: “Các công việc Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên, Chính phủ bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy”(2). Tiếp ngay sau đó, Người gửi thư cho Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, nêu rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân...”(3) và Người khẳng định: “Dân là chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng”(4). Đây chính là một luận điểm được phát triển sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối với học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng mác xít ở nước ta; đồng thời, thể hiện rõ sự khác biệt về bản chất của Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong Thời đại Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó, trở thành phương châm, đạo lý và tôn chỉ hành động trong công tác của Đảng, giúp Đảng ta bước lên vũ đài chính trị với tinh thần cách mạng và nhân văn cao cả. Năm 1951, trong bài phát biểu tại lễ ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”(5). Như một sự cam kết với dân tộc, với nhân dân, Hồ Chí Minh suốt cả cuộc đời đã vất vả, chăm lo cho sự nghiệp cách mạng theo tinh thần đó. Hằng ngày, hằng giờ, Người là biểu tượng mẫu mực, nêu tấm gương cao quý ấy. Khi coi Đảng cũng như bản thân mình là đày tớ, là công bộc của nhân dân, Hồ Chí Minh đã không làm mất đi vị thế lãnh đạo mà còn để lại một sự nghiệp, một tư tưởng, đặc biệt là một nhân cách lớn - Nhân cách Hồ Chí Minh không lẫn vào ai - một nhân cách cao cả, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội của dân tộc, của đồng bào Việt Nam và của sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Nhân cách ấy thấm sâu trong hệ tư tưởng của Đảng, làm sâu sắc thêm tính tiên phong, cách mạng, dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thực tiễn gần 90 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng đã chứng minh, sự toàn tâm toàn ý xây dựng Đảng ta vì lợi ích của nhân dân. Ngoài lợi ích cao cả đó, Đảng không có lợi ích nào khác. Trong mọi hoàn cảnh, Đảng luôn coi sứ mệnh phục vụ nhân dân là tôn chỉ hoạt động cơ bản của Đảng. Tất cả vì nhân dân, tất cả dựa vào dân là đường lối số một trong hoạt động của Đảng. Từ nhân dân mà ra, hòa mình vào nhân dân là phương pháp cơ bản nhất của Đảng. Sự tín nhiệm và ủng hộ của quần chúng nhân dân là thước đo tối cao đánh giá tất cả giá trị các mặt công tác của Đảng. Những phương châm cơ bản ấy, đã giúp cho Đảng ta đứng vững trên vũ đài chính trị mà không có một lực lượng nào hòng có thể thay thế. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trên thực tế, có nhiều lúc, nhiều nơi chúng ta làm chưa tốt công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên nêu cao ý thức là công bộc, là đày tớ của dân, dẫn đến một bộ phận không nhỏ cán bộ trong Đảng, nhất là những người có chức, có quyền đã quên mất vị trí, vai trò của mình, tạo nên sự “đổi ngôi” chủ - tớ, tự cho mình cái quyền đứng trên dân, gây nên nhiều hậu quả trong Đảng. Trong điều kiện lịch sử mới, đổi mới, hội nhập và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khác nhiều so với trước đây trong chiến tranh, Đảng phải lãnh đạo một khối lượng công việc khổng lồ để cải biến xã hội. Theo đó, cán bộ đảng viên cũng được giao nhiều trọng trách, nắm giữ, thực thi nhiều chính sách và quản lý, thu chi khối lượng lớn tài nguyên, tài sản xã hội nếu không có ý thức là công bộc, là đày tớ của dân, không có thái độ làm việc vì nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm trên hết thì rất dễ bị tha hóa, đổ gục trước những cám dỗ về danh lợi, vật chất. Trên thực tế, điều đó đã xảy ra, là bài học rất đau xót, gây nên nhiều hậu quả trong Đảng và trong xã hội Chúng ta cũng không khỏi lo lắng khi biết rằng, số cán bộ, đảng viên bị phát hiện, xử lý kỷ luật ngày càng tăng. Theo Báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi kỷ luật hơn 490 tổ chức đảng, xử lý kỷ luật 53.107 cán bộ, đảng viên, hàng chục ngàn đảng viên bị khai trừ khỏi Đảng. Trong số các bị cáo bị các cơ quan chức năng điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về tham nhũng, kinh tế có hơn 60 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 13 ủy viên Trung ương, nguyên là ủy viên Trung ương bị thi hành kỷ luật; một ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị bị khai trừ đảng. Những con số nêu trên cùng với nhiều vụ việc khác từ những hoạt động của các “nhóm lợi ích” không chỉ trong kinh tế mà cả trong công tác cán bộ, đào tạo; cùng với hơn 30% cán bộ, công chức, viên chức làm việc không có chất lượng, hiệu quả đang gây nhiều hậu quả trong Đảng và trong xã hội, có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chắc chắn đều có chung một nguyên nhân sâu xa từ sự đánh mất ý thức trách nhiệm là “người đày tớ trung thành của nhân dân”. Có thể thấy, công tác xây dựng Đảng có nhiều nội dung, nhưng gọn lại trọng tâm nằm ở tổ chức Đảng và mấu chốt nằm ở con người, ở cán bộ, đảng viên. Sau khi đường lối chính trị được xác định, cán bộ, đảng viên chính là nhân tố quyết định thực hiện thành công đường lối đó. Nếu chỉ có đường lối đúng mà không có một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giàu phẩm chất đạo đức, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng làm “trâu ngựa của dân”, phục vụ nhân dân hết lòng hết sức, thì không thể thực hiện được mục tiêu to lớn của Đảng. Ý thức đó cần phải được tất cả cán bộ, đảng viên, nhất là những người có trách nhiệm từ trên xuống dưới trong bộ máy của Đảng và của Nhà nước nêu cao. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện công cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đồng thời gắn với triển khai thực hiện Quy định nêu gương mới được Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa XII ban hành. Những công việc đó đã và đang tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong nội bộ của Đảng. Hơn lúc nào hết, ý thức “Đảng là người đầy tớ của dân” phải được sốc lại như một mệnh lệnh, một tiêu chí bắt buộc, một phẩm chất, lý tưởng cao đẹp trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và trong mỗi cán bộ, đảng viên. Làm đúng vai trò ấy, thì tinh thần nêu gương sẽ trở nên dễ dàng, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi cán bộ, đảng viên, và cũng mới có thể thực hiện được trọn vẹn di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc thiêng liêng, bất hủ của Người: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(7). Đây là công việc lâu dài, khó khăn, phức tạp nhưng là trách nhiệm, bổn phận và đạo lý của người cán bộ, đảng viên. Nhìn rộng ra, nó còn là một phương thức lãnh đạo của Đảng, một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cũng như mong đợi của nhân dân. Nếu thực hiện tốt cả hai vế: Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân thì hiệu quả vô cùng to lớn, bởi nó không chỉ đưa con tàu cách mạng đi đúng hướng mà còn thuyết phục quần chúng bằng sức mạnh của niềm tin, sự yêu mến và tinh thần cảm phục. Ngược lại, chỉ thiếu một trong hai vế đó, thì hậu quả vô cùng nguy hại đối với Đảng, với dân tộc. Với tinh thần kiên quyết, kiên trì xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cùng với ý thức tu dưỡng, rèn luyện của đa số cán bộ, đảng viên, nhất định cái xấu, các ác sẽ dần bị loại trừ, Đảng sẽ giành được những thành quả to lớn trong công cuộc đổi mới, phát triển theo nhịp bước của thời đại./.