Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

Lộ trình hơn 120 triệu liều vaccine Covid-19 về Việt Nam năm 2021

Theo Bộ Y tế, Việt Nam đã đàm phán thành công và sẽ có hơn 120 triệu liều vaccine Covid-19 trong năm 2021, từ các hãng AstraZeneca, Pfizer-BioNTech, Moderna, Nga và Cơ chế Covax. Trong đó, Covax tài trợ miễn phí 38,9 triệu liều vaccine. Việt Nam đã nhận hai lô, gồm 811.200 liều vào ngày 1/4 và 1.682.400 liều vào ngày 16/5, đều là vaccine AstraZeneca. Ngoài ra, Việt Nam đã đặt mua trực tiếp 30 triệu liều từ AstraZeneca, đã nhận hai lô gồm 117.600 liều vào ngày 24/2 và 288.100 liều vào ngày 25/5. Với vaccine Sputnik V của Nga, Bộ Y tế đã thỏa thuận mua 20 triệu liều trong năm 2021, tuy nhiên chưa rõ thời gian cung ứng. Với các hãng dược Moderna và Pfizer/BioNTech, Bộ Y tế vừa đàm phán thành công. Trong đó, Moderna ủy quyền cho Công ty Zuellig Pharma phân phối 5 triệu liều cho Việt Nam vào tháng 5. TP HCM đề nghị được mua số vaccine này. Tuy nhiên hiện số vaccine này chưa về Việt Nam. Bộ Y tế mới ký được hợp đồng mua vaccine Pfizer/BioNTech vào ngày 20/5. Hãng dự kiến cung ứng khoảng 31 triệu liều vào quý ba và bốn, mỗi quý 15,5 triệu liều. Hiện chưa rõ ngày về Việt Nam của số vaccine này. Theo Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long, Việt Nam dự kiến cần 150 triệu liều vaccine để tiêm cho 75% dân số Việt Nam trong năm nay. Bộ trưởng đánh giá số vaccine từ các nguồn cung Nga, Anh và Mỹ đang tiệm cận với mục tiêu này. Bên cạnh đó, Bộ Y tế cũng hướng tới hợp tác sản xuất, chuyển giao công nghệ vaccine. Trong đó, Công ty Vabiotech hợp tác với Nga, dự kiến đến tháng 7 sẽ tiến hành đóng ống, gia công Sputnik V tại Việt Nam, công suất dự kiến 5 triệu liều một tháng. Phía Nga có thể tiến hành chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine cho Việt Nam trong thời gian tới.

Cần phê phán một số quan điểm sai trái, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Trong bối cảnh hiện nay, cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại với mưu toan xuyên tạc bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa xã hội khoa học càng trở nên phức tạp và gay gắt hơn khi chủ nghĩa xã hội hiện thực chưa ra khỏi khủng hoảng, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trước đây. Chúng cho rằng: Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần bị phản bác; chủ nghĩa xã hội mà C.Mác nêu ra cũng chỉ là một thứ chủ nghĩa xã hội không tưởng mới, không có khả năng thực hiện Để làm rõ luận điểm sai lầm trên, cần dựa trên cả cơ sở lý luận và thực tiễn. Về cơ sở lý luận, chúng ta thấy rõ sự khác biệt căn bản giữa chủ nghĩa xã hội không tưởng và chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa xã hội không tưởng, đặc biệt là chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán đầu thế kỷ XIX ở Anh, Pháp có những giá trị nhân văn, nhân đạo, giá trị phê phán cũng như giá trị thức tỉnh phong trào công nhân quốc tế. Nhưng những hạn chế của nó đã khiến chủ nghĩa xã hội không tưởng không thể là lý luận tiền phong dẫn đường đưa phong trào công nhân đến thắng lợi. Chủ nghĩa xã hội không tưởng đã không phát hiện được quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, không khám phá ra bản chất của chủ nghĩa tư bản cũng như không tìm thấy được lực lượng có thể tiến hành cách mạng. Sự ra đời của ba phát kiến vĩ đại của C.Mác: chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết giá trị thặng dư và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã giúp khắc phục những hạn chế trên và đưa chủ nghĩa xã hội từ không tưởng thành khoa học. Trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển khẳng định, quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người là một quá trình phát triển lịch sử - tự nhiên, sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao. Từ đó, các ông dự báo: thay thế cho hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sẽ là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa với bản chất nhân văn cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng xã hội khỏi mọi sự áp bức, bóc lột. Học thuyết giá trị thặng dư đã “bóc trần bí mật của chủ nghĩa tư bản” và làm rõ bản chất bóc lột lao động làm thuê của chủ nghĩa tư bản. Bằng những thủ đoạn tinh vi, nhà tư bản chiếm đoạt ngày càng lớn “giá trị thặng dư” được sinh ra nhờ lao động không công của người công nhân. Chính đó là nguyên nhân cơ bản làm cho mâu thuẫn về kinh tế giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản tăng lên không thể dung hòa trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản. Từ hai phát kiến trên, các ông đã chứng minh được rằng, giai cấp lãnh đạo, tổ chức thắng lợi cuộc cách mạng XHCN ở mỗi nước để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xác lập xã hội mới - xã hội XHCN và tiến lên chủ nghĩa cộng sản chính là giai cấp công nhân. Sự khác biệt toàn diện trên cho thấy, không thể đồng nhất chủ nghĩa xã hội khoa học với chủ nghĩa xã hội không tưởng. Về cơ sở thực tiễn, trước hết, phải thấy rằng, chủ nghĩa xã hội đã là một hiện thực trong lịch sử và hiện vẫn đang là một hiện thực không thể phủ nhận. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã biến ước mơ ngàn đời của nhân loại thành sự thật. Và trong suốt hơn 70 năm tồn tại, Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn trên nhiều lĩnh vực. Trong 16 năm công nghiệp hóa (1925-1941), Liên Xô từ một nước tư bản chủ nghĩa loại trung bình (Nga) và hầu hết vùng Trung Á ở trình độ tiền tư bản trở thành nước công nghiệp hàng đầu châu Âu. Năm 1949, Liên Xô thử thành công bom nguyên tử. Năm 1957 là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo. Năm 1961, là nước đầu tiên đưa con người vào vũ trụ. Cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Liên Xô đã trở thành siêu cường thứ hai thế giới. Có thể nói, trong lịch sử nhân loại chưa bao giờ chứng kiến sự phát triển nhanh trong thời gian ngắn như vậy. Không chỉ không thua kém các nước tư bản chủ nghĩa trong kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ mà Liên Xô còn giải quyết thành công hơn hẳn về lĩnh vực xã hội. Ở Liên Xô, bốn lĩnh vực việc làm, nhà ở, y tế và giáo dục được quan tâm và miễn phí cho toàn dân. Cùng với đó có bốn đối tượng được ưu tiên là trẻ em, người già, phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số. Điều này đã tạo ra sự công bằng xã hội, giảm khoảng cách giàu nghèo, thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản. Cho đến nay, mặc dù hệ thống XHCN hiện thực thế giới đã tan rã nhưng không ai có thể phủ nhận sự tồn tại khách quan và tính ưu việt của nó. Đặc biệt là những thành công bước đầu nhưng hết sức quan trọng trong công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước XHCN như Trung Quốc, Việt Nam và tinh thần chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI ở các nước Mỹ Latinh... đang chứng minh cho lý tưởng xã hội XHCN vẫn có sức sống trường kỳ cùng nhân loại. Sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu có phải là sự thất bại của chủ nghĩa xã hội khoa học như các thế lực thù địch đang rêu rao: “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”, hay học thuyết của Mác là “viển vông”, “ảo tưởng” nên áp dụng vào thực tiễn chỉ có thể sinh ra những “quái thai lịch sử"? Trước hết, cần nhận thức rõ, đây là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực. Đi lên chủ nghĩa xã hội là một con đường dài, đầy khó khăn, nhiều bước quanh co, khúc khuỷu, có thể gặp những thất bại tạm thời. Các nhà kinh điển cũng đã từng dự báo điều này bởi xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng một chế độ hoàn toàn khác về chất so với những chế độ xã hội trước đó, một chế độ trong đó con người được giải phóng khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, không còn phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp. Chủ nghĩa tư bản để đạt được như ngày hôm nay, cũng phải trải qua không ít thăng trầm - đó là một quy luật tất yếu của lịch sử cho sự ra đời của một hình thái kinh tế - xã hội mới. Giai đoạn 1506-1609, cuộc cách mạng tư sản Hà Lan thắng lợi lật đổ ách thống trị của Tây Ban Nha, đã thành lập nhà nước tư sản đầu tiên trên thế giới. Năm 1640, cách mạng tư sản Anh thắng lợi đã mở đầu cho thời kỳ lịch sử cận đại toàn thế giới - thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, trong đó diễn ra các cuộc đấu tranh giai cấp trên toàn thế giới giữa phong kiến và tư sản. Vậy nhưng, phải đến những năm 80 của thế kỷ XIX, chế độ phong kiến bị lật đổ ở châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản thì chủ nghĩa tư bản mới được xác lập trên phạm vi rộng lớn, trở thành một hệ thống chính trị kinh tế trên thế giới. Trong suốt hơn 300 năm đó, chủ nghĩa tư bản cũng nhiều lần giành được chính quyền rồi lại bị giai cấp quý tộc phong kiến lật đổ. Vì vậy, không thể từ một bước lùi tạm thời của chủ nghĩa xã hội mà đã có thể kết luận rằng, chủ nghĩa xã hội đã thất bại hoàn toàn, không thể thành hiện thực hay là một “ảo tưởng” được. Bên cạnh đó, nguyên nhân của sự kiện năm 1991 ở Liên Xô và các nước Đông Âu chính là do những khuyết điểm, sai lầm tích tụ chậm được phát hiện và khắc phục, nhất là về những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng xã hội mới. Hai nguyên nhân cơ bản và liên quan trực tiếp, chặt chẽ với nhau bao gồm, một là, những sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị, về công tác xây dựng Đảng, công tác tư tưởng và công tác tổ chức - cán bộ trong quá trình cải tổ. Đây là nguyên nhân chính. Hai là, các thế lực thù địch, phản động thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tìm mọi cách tác động làm chệch hướng công cuộc cải tổ, cải cách ở Liên Xô, lợi dụng những sai lầm bên trong để thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ XHCN. Như vậy, nguyên nhân cho sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu không phải vì sai lầm của học thuyết Mác - Lênin mà vì những nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng đã xa rời hoặc nhận thức sai lầm những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tế cho thấy, trong quá trình cải tổ, cải cách, đổi mới, nước nào biết vận dụng sáng tạo những nguyên tắc, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, của chủ nghĩa xã hội khoa học thì hạn chế được những khuyết tật, giữ vững được chủ nghĩa xã hội, đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng xã hội mới. Một số quan điểm cho rằng chủ nghĩa xã hội chỉ là phương tiện cứu nước, giành độc lập dân tộc, khi đạt được mục đích cần phải thay đổi phương tiện. Những người này cho rằng, Việt Nam đi theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sai lầm!, “chủ nghĩa xã hội đã ở vào giờ thứ 25 trên toàn cầu”, “Việt Nam nên xoay trục để phát triển”. Họ lý giải rằng, thời kỳ phong kiến không cần chủ nghĩa xã hội mà vẫn có độc lập dân tộc; hay chủ nghĩa xã hội chỉ là phương tiện mà Hồ Chí Minh sử dụng để cứu nước mà thôi... Trước hết, cần khẳng định, không thể tán thành luận điểm cho rằng thời kỳ phong kiến chưa có chủ nghĩa xã hội nhưng vẫn có độc lập dân tộc. Thực tiễn lịch sử nước ta cho thấy, các triều đại phong kiến tiến bộ đại diện cho dân tộc lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập cho đất nước. Khi đó chưa có chủ nghĩa xã hội. Trên thế giới, chủ nghĩa xã hội được đặt ra về lý luận khi chủ nghĩa Mác ra đời và về thực tiễn khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi. Do đó, nếu đặt vấn đề về chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời đại phong kiến là phi lịch sử, và nếu dựa vào đó để phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hết sức phi lý. Thực tiễn thế giới và Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu, Bắc Mỹ mở rộng địa bàn thống trị thông qua các cuộc chiến tranh xâm lược nước khác. Việt Nam trở thành đối tượng xâm lược của chủ nghĩa thực dân Pháp. Sau những cuộc đàn áp đẫm máu phong trào yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đặt ách thống trị trên toàn cõi Đông Dương với cái tên mới “xứ Đông Dương thuộc Pháp” gồm năm kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên, cái tên Việt Nam cũng không còn nữa. Giai cấp tư sản thực dân Pháp đã từ chối hợp tác với phong trào Tây Du của Phan Châu Trinh; giai cấp tư sản quân phiệt Nhật từ chối hợp tác với phong trào Đông Du của Phan Bội Châu. Sự từ chối ấy bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là không thể có sự hợp tác bình đẳng giữa kẻ thống trị với người bị trị, giữa kẻ cướp nước với những người mất nước. Trong lịch sử thời kỳ này ở Việt Nam, giai cấp tư sản Việt Nam có hai bộ phận: bộ phận tư sản dân tộc có tinh thần yêu nước nhưng yếu kém cả về kinh tế, chính trị, dễ thỏa hiệp về tư tưởng; bộ phận tư sản mại bản thì cam tâm làm tay sai cho thực dân, đế quốc tư sản. Các phong trào cứu nước đi theo con đường phong kiến như phong trào đấu tranh của Trương Định, Nguyễn Trung Trực... ở miền Nam; Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng... ở miền Trung; Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Quang Bích... ở miền Bắc đều thất bại; các phong trào đi theo con đường tư sản như phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang phục hội... cũng thất bại. Thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng ở nước ta là: Nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam với tinh thần yêu nước chống ngoại xâm đã từng đánh bại những đế quốc lớn như đế chế Nguyên Mông, đế quốc Đại Minh mà ngày nay, sau hơn 70 năm (1858-1929) chống thực dân Pháp với tinh thần “khi nào người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam chống người Tây” lại liên tục thất bại. Người trả lời đúng câu hỏi trên chính là Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Sau 10 năm tìm đường cứu nước (1911-1920), Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm được con đường giải phóng dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản, đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong đó, độc lập dân tộc là mục tiêu trước tiên để thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội với ý nghĩa: nước chưa được độc lập thì lợi ích giai cấp vạn năm cũng không đòi được. Thực hiện các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là cơ sở củng cố vững chắc độc lập dân tộc và giá trị của độc lập dân tộc mới được thực hiện đầy đủ. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ". Như vậy, chỉ đi theo con đường chủ nghĩa xã hội mới làm cho độc lập dân tộc bền vững. Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn chủ nghĩa xã hội đang lâm vào khủng hoảng sau sự kiện năm 1991 vẫn giữ vững niềm tin với sự lựa chọn của mình: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(7). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển 2011) tiếp tục kiên định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Có thể nói, những luận điệu của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận và đi đến mục đích xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay ngày càng tinh vi, với nhiều giọng điệu dễ thuyết phục những người mơ hồ về lý luận, những kẻ bất mãn chế độ... Nhận diện rõ những luận điệu sai trái đó, thực hiện phản bác trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam là cách thức đấu tranh hiệu quả nhất để đập tan những âm mưu của các phần tử phản động này. Trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu to lớn. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhâp quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ XHCN được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên...; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Những thành tựu đó ngày càng khẳng định sự đúng đắn trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng khẳng định sự nhận thức và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những thành tựu tiêu biểu đó là tiền đề quan trọng để cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội; là cơ sở, nền tảng vững chắc để củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ - nhân tố quan trọng để xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Đây cũng chính là minh chứng đầy sức thuyết phục để bác bỏ những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Cần nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước trong mỗi giai đoạn lịch sử có những thay đổi về mô hình bộ máy, tuy nhiên, xuyên suốt mạch phát triển ấy đều dựa trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp 2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Xã hội XHCN là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng và đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của các mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do nhân dân và vì nhân dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trên con đường đi lên CNXH. Bài viết, Tổng Bí thư làm sâu sắc những quan điểm đã được thể hiện nhất quán trong các văn kiện của Đảng, vừa có những phát triển mới, vừa chỉ rõ vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay. Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ, chưa có trong tiền lệ của cách mạng XHCN trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Vì vậy, tư tưởng trong bài viết là những chỉ dẫn để tổ chức thực hiện trong thực tiễn, đòi hỏi phải có sự nhận thức lý luận khoa học, cách mạng, phát huy cao độ thái độ, trách nhiệm chính trị và hành động cách mạng đúng đắn, giữ vững định hướng XHCN trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Đồng thời, là cơ sở phòng ngừa những tư tưởng chủ quan, nóng vội, áp dụng một cách máy móc các mô hình nhà nước pháp quyền của các nước khác vào Việt Nam; đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng về Nhà nước pháp quyền XHCN và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. ------------

Hải Dương bắt đầu đợt giãn cách xã hội mới

    Theo thông báo, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh đã tạm thời được kiểm soát, tuy nhiên, nguy cơ bùng phát vẫn rất cao do tình hình dịch bệnh trong cả nước và các tỉnh lân cận vẫn đang diễn biến rất phức tạp. Do đó, Hải Dương siết chặt thêm các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19. 
Hải Dương giãn cách 11 huyện, thị xã, thành phố
Khử khuẩn toàn bộ phương tiện ra vào tỉnh
    Hải Dương áp dụng biện pháp giãn cách xã hội đối với 11 huyện, thị xã, thành phố theo tinh thần Chỉ thị số 15 của Thủ tướng. Tất cả các dịch vụ ăn uống chỉ bán mang về, không phục vụ tại chỗ. Các dịch vụ vui chơi, giải trí, thể dục thể thao, hội họp đông người tạm ngừng hoạt động.
    Riêng TP Hải Dương sẽ phải thực hiện biện pháp chống dịch cao hơn Chỉ thị 15. Tại thành phố này chỉ cho phép tập trung không quá 2 người nơi công cộng, không quá 20 người tại các hội nghị, cuộc họp. Các dịch vụ như ăn uống, vui chơi, thể thao, giải trí …tạm ngừng hoạt động, kể cả mua bán mang về.
    
Hải Dương yêu cầu các cấp tập trung cao độ công tác phòng, chống dịch tại các phân xưởng, nhà máy, các chợ dân sinh, siêu thị, bệnh viện. Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp nhằm ngăn chặn các nguy cơ xâm nhập dịch bệnh từ bên ngoài.
    Sở Y tế được yêu cầu khẩn trương hoàn thành lắp đặt máy phun khử khuẩn tự động, bổ sung đầy đủ trang thiết bị vật tư y tế tại các chốt .
Hải Dương giãn cách 11 huyện, thị xã, thành phố
Kiểm soát chặt để tránh dịch bệnh từ ngoài tỉnh vào
    Đối với người từ ngoài tỉnh trở về từ vùng dịch hiện đang thực hiện cách ly theo Chỉ thị số 16 thì phải cách ly tập trung; những người trở về từ vùng dịch hiện đang thực hiện cách ly theo Chỉ thị số 15 thì yêu cầu cách ly tại nhà 14 ngày và phải lấy mẫu xét nghiệm theo quy định. 
Hải Dương giãn cách 11 huyện, thị xã, thành phố
Lãnh đạo tỉnh liên tục kiểm tra các nhà máy để giám sát việc thực hiện mục tiêu kép
    Tiếp tục tổ chức lấy mẫu xét nghiệm trên diện rộng để tầm soát dịch bệnh; tổ chức cách ly và lấy mẫu xét nghiệm theo quy định đối với những người trở về từ vùng dịch. Siết chặt quản lý và tăng cường kiểm soát dịch bệnh tại các chợ dân sinh trên địa bàn, đồng thời chỉ đạo rà soát, bổ sung và thực hiện nghiêm quy định về phòng, chống dịch tại các chợ dân sinh.

Việt Nam phấn đấu đạt miễn dịch cộng đồng vào cuối năm 2021 đầu năm 2022


Theo GS.TS Nguyễn Thanh Long - bộ trưởng Bộ Y tế, dự kiến trong năm 2021, Việt Nam sẽ có hơn 120 triệu liều vắc xin phòng COVID-19. Trong đó ngoài nguồn của Chương trình COVAX Facility, AstraZeneca, Việt Nam đã đàm phán để có thêm các nguồn vắc xin khác. Cụ thể, hôm qua 2-6, Bộ Y tế đã đạt được thỏa thuận mua 20 triệu liều vắc xin Sputnik V của Nga. Trước đó, tháng 5-2021, Moderna đã ủy quyền cho một công ty phân phối 5 triệu liều cho Việt Nam. TP.HCM đề nghị được mua vắc xin này. 

Bộ Y tế cũng cho biết từ tháng 3-2021, bộ đã đàm phán trực tiếp với hãng này, tuy nhiên hãng cho biết không có vắc xin cung cấp trong năm 2021. Ngoài ra, với vắc xin của Pfizer/BioNTech, Bộ Y tế cho biết đã làm việc với hãng về việc mua 31 triệu liều ngay từ tháng 10-2020, khi vắc xin đang thử nghiệm lâm sàng. Ngày 20-5, bộ đã ký hợp đồng vắc xin. Số vắc xin này sẽ được cung ứng trong quý 3, 4 của năm 2021 theo tiến độ quý 3: 15,5 triệu liều; quý 4: 15,5 triệu liều.

Trước đó, Bộ Y tế đã đàm phán thành công 38,9 triệu liều vắc xin COVID-19 qua nguồn COVAX, trong đó lô thứ nhất với 811.200 liều đã về Việt Nam vào ngày 1-4, lô thứ 2 có hơn 1,682 triệu liều đã về ngày 16-5. Bộ Y tế cũng đã đăng ký với COVAX để mua thêm vắc xin phòng COVID-19 theo cơ chế cùng chia sẻ chi phí. Đồng thời có 30 triệu liều vắc xin AstraZeneca. Trong đó, lô đầu tiên có 117.600 liều về Việt Nam vào ngày 24-2, lô thứ 2 về vào ngày 25-5 với 288.100 liều.

Theo GS.TS Nguyễn Thanh Long - bộ trưởng Bộ Y tế, ngay từ tháng 5-2020, Bộ Y tế và các bộ ngành liên quan đã tích cực đàm phán, tiếp cận tất cả các nguồn vắc xin phòng COVID-19. Bộ Y tế đang nỗ lực cao nhất để có thêm vắc xin phòng COVID-19, đưa cuộc sống trở lại bình thường.

Bên cạnh nguồn vắc xin của Nga, Bộ Y tế đã nỗ lực đàm phán, tiếp cận với các nguồn vắc xin khác như COVAX; Astra Zeneca; Pfizer, Moderna, Johnson & Johnson… Như vậy, đối với nguồn cung ứng của Nga, của Mỹ và của Anh, có thể nói rằng chúng ta đã dần dần hướng tới mục tiêu mua đủ 150 triệu liều vắc xin phòng COVID-19 trong năm 2021 để tiêm chủng cho người dân" - Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long nhấn mạnh.GS.TS Nguyễn Thanh Long cũng cho biết thêm Bộ Y tế vẫn đang tích cực đàm phán tiếp tục để tăng thêm nguồn cung ứng vắc xin cho Việt Nam, nhằm giúp Việt Nam đạt miễn dịch cộng đồng vào cuối năm 2021 đầu năm 2022.

    Bên cạnh đó, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long cũng thông tin Việt Nam mong muốn tham gia vào chuỗi cung ứng vắc xin của toàn cầu. Việt Nam đã đặt vấn đề với COVAX về việc này. Chúng ta thúc đẩy mua công nghệ, chuyển giao công nghệ để làm sao sớm sản xuất được vắc xin trong nước. Song song đó, Bộ Y tế cũng thúc đẩy các doanh nghiệp, đơn vị trong nước nghiên cứu và chuẩn bị sản xuất vắc xin để đảm bảo vắc xin trong tương lai, đảm bảo an ninh y tế./. NTM

 

 

Bầu cử diễn ra thành công, đúng quy định của pháp luật

    Ngày 23-5-2021 ghi một dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Hơn 69 triệu cử tri đã thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, bỏ phiếu bầu những người đại diện cho mình tại Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
    Tính đến 22 giờ ngày 23-5, cả nước có 99,16% cử tri đi bầu cử, trong đó nhiều địa phương có tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu rất cao, như Hậu Giang (99,99%); Trà Vinh (99,98%); Lào Cai (99,98%)...
    Theo đánh giá, cuộc bầu cử đã diễn ra hết sức thành công và đúng quy định của pháp luật và đây là một cuộc bầu cử thành công toàn diện, đảm bảo dân chủ, bình đẳng, đúng quy định và đúng pháp luật. Không khí Ngày Bầu cử thực sự là ngày hội lớn của toàn dân.
Bản tin 35 Online: Bầu cử thành công khẳng định sức mạnh của lòng dân tin Đảng
            Cử tri buôn Ako Dhong, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột bỏ phiếu bầu cử.
    Cuộc bầu cử cũng thu hút sự quan tâm lớn của truyền thông và dư luận quốc tế. Đa số đánh giá cao sự thành công của cuộc bầu cử trong bối cảnh khó khăn do dịch Covid-19 gây ra.  
    Những thông tin trên một lần nữa bác bỏ các bài viết, ý kiến, luận điệu phiến diện, xuyên tạc bầu cử ở nước ta của các thế lực thù địch.
    Bình luận về vấn đề này, trang Facebook Vững tin theo Đảng viết: Dù các tổ chức chống phá Việt Nam vẫn tìm mọi cách để xuyên tạc cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhưng thực tế những gì diễn ra đã minh chứng cho sự ưu việt của nền dân chủ ở Việt Nam, đó là nền dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.  
    Theo trang Facebook Việt Nam mến yêu: Qua kỳ bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp lần này, một lần nữa chúng ta có thể thấy ý thức chính trị trong mỗi người dân lớn đến nhường nào. Đó chính là niềm tin của người dân, lòng dân đối với chế độ, đối với Đảng, Nhà nước, trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Việt Nam là nước duy nhất được 3 tổ chức nâng triển vọng lên “Tích cực”

     Ngày 21-5, tổ chức xếp hạng tín nhiệm STANDARD & POORS Global Ratings (S&P) thông báo về việc giữ nguyên hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, nâng triển vọng từ Ổn định lên Tích cực. S&P đánh giá rằng với mức tăng trưởng GDP năm 2020 thuộc nhóm cao nhất trên toàn cầu, Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì ở trạng thái tốt để phục hồi vững chắc trong vòng một đến hai năm tiếp theo nhờ vào các giải pháp hiệu quả cao của chính phủ để kiềm chế dịch trong nước.   

Bản tin 35 Online: Bầu cử thành công khẳng định sức mạnh của lòng dân tin Đảng

      Sau 35 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam không ngừng tăng trưởng, đất nước vững bước tiến lên. 

    Đồng thời, Việt Nam có vị thế điểm đến hàng đầu trong Đông Nam Á về thu hút FDI, xuất khẩu tăng trưởng ổn định, nhu cầu nội địa mạnh mẽ và vị thế đối ngoại vững chắc. S&P ghi nhận kết quả tài khóa, nợ công tiếp tục giữ vững tính hiệu quả và linh hoạt, góp phần hỗ trợ kiểm soát đại dịch.
    Như vậy, cùng với xếp hạng của Moody’s (tháng 3), Fitch Ratings (tháng 4), Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới được cả ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm gồm Moody’s, S&P và Fitch đồng loạt nâng triển vọng lên “tích cực”.
    Thông tin trên khẳng định sự đánh giá cao của các tổ chức xếp hạng đối với thành công của Chính phủ Việt Nam trong việc quyết tâm cao, điều hành quyết liệt để thực hiện “mục tiêu kép”; đồng thời bác bỏ những luận điệu xuyên tạc về nền kinh tế của Việt Nam.

Tăng cường quản lý, xử lý nghiêm thông tin vi phạm trên mạng xã hội.

    Thời gian gần đây, xuất hiện hiện tượng, một số đối tượng đã lợi dụng các tính năng của mạng xã hội như phát sóng trực tuyến, chia sẻ hình ảnh, video-clip, trao đổi theo nhóm… để đăng tải những nội dung vi phạm pháp luật, trong đó chủ yếu là xúc phạm danh dự, nhân phẩm của các tổ chức, cá nhân khác; sử dụng ngôn ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục, tung tin giả, tin sai sự thật, quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép… gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
    Bộ TT-TT đề nghị tăng cường rà quét, phát hiện kịp thời những nội dung vi phạm pháp luật trên không gian mạng, đặc biệt là mạng xã hội, chủ động xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.
    Trước đó, đã có nhiều trường hợp vi phạm bị xử lý nghiêm như kênh YouTube Hoàng Anh - Timmy, kênh Hưng Vlog, kênh Thơ Nguyễn… Đồng thời, Bộ cũng đã yêu cầu Google đóng nhiều kênh Youtube khác có nội dung vi phạm.
    Ngày 20-5, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trần Ngọc Sơn, sinh năm 1965 ở xã Nghĩa Hưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, về tội "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân". 
Bản tin 35 Online: Bầu cử thành công khẳng định sức mạnh của lòng dân tin Đảng

                                      Đối tượng Trần Ngọc Sơn tại cơ quan công an.

    Từ tháng 9-2020, Trần Ngọc Sơn đã sử dụng facebook có tên "Trần Giảm" đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung đả kích, xuyên tạc, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyền tại địa phương và cơ quan, tổ chức của Đảng. Việc làm của Sơn đã tác động tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh liên quan cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Hàng triệu công chức, viên chức sẽ giảm gánh nặng chứng chỉ

 

Hàng triệu công chức, viên chức sẽ giảm gánh nặng chứng chỉ

Trao đổi với VietNamNet, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà khẳng định quyết tâm cắt bỏ những chứng chỉ không phù hợp, để giảm gánh nặng đối với công chức, viên chức. 

Học thật, thi thật

Dư luận, đội ngũ công chức, viên chức (nhất là các thầy cô giáo) rất phấn khởi và đặc biệt ủng hộ đề xuất của Bộ Nội vụ về việc giảm 17 chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức và 87 chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức. Lý do nào Bộ lại mạnh dạn đưa ra đề xuất táo bạo như vậy, thưa Bộ trưởng?

Thời gian qua, báo chí phản ánh nhiều “tiếng kêu” của viên chức về những vướng mắc, bất cập của quy định sử dụng chứng chỉ bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và các chứng chỉ bồi dưỡng khác đối với viên chức, nhất là đối với đội ngũ giáo viên tại các cơ sở đào tạo công lập khi thi thăng hạng, bổ nhiệm vào hạng chức danh nghề nghiệp viên chức.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cần thiết phải đổi mới việc quản lý, sử dụng, đặc biệt là việc đổi mới nội dung và hình thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Nội vụ phối hợp với các Bộ quản lý chuyên ngành tổng hợp, rà soát toàn bộ quy định về chứng chỉ đối với đội ngũ công chức, viên chức.

Qua tổng hợp, đánh giá chung của các Bộ, ngành và ý kiến của dư luận xã hội, Bộ Nội vụ nhận thấy có một số hạn chế, bất cập. Chẳng hạn, có sự chồng chéo, trùng lắp về nội dung, chương trình bồi dưỡng đối với đội ngũ giáo viên do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

Về việc này, mới đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định về chứng chỉ bồi dưỡng đối với đội ngũ giáo viên theo hướng giảm thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ và không tạo ra áp lực cho giáo viên.

Việc rà soát, đề xuất giảm các chứng chỉ bồi dưỡng được thực hiện đối với tất cả các chuyên ngành. Đối với khối viên chức được đề xuất giảm nhiều hơn vì yêu cầu tính chất hoạt động nghề nghiệp giữa các hạng chức danh nghề nghiệp trong cùng chuyên ngành là tương đồng.

Theo đó, Bộ Nội vụ đề xuất giảm 17 chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức và 87 chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức.

Khi Bộ báo cáo các đề xuất này lên Thủ tướng Chính phủ, Bộ nhận được sự phản hồi như thế nào từ người đứng đầu Chính phủ cũng như ý kiến của các thành viên Chính phủ?

Quan điểm của Thủ tướng Chính phủ trong giáo dục, đào tạo là phải “học thật, thi thật, nhân tài thật”; cán bộ, công chức phải làm việc thực chất, chống bệnh hình thức, tránh phô trương, không chủ quan, thỏa mãn. Vì vậy, người đứng đầu Chính phủ rất quan tâm đến nội dung này và yêu cầu Bộ rà soát, mạnh dạn đưa ra đề xuất.

Tuy nhiên, việc tổng hợp, rà soát tất cả các loại chứng chỉ đối với đội ngũ công chức, viên chức trong toàn hệ thống là khối lượng công việc lớn, đòi hỏi cẩn trọng và khách quan trong việc phân tích, đánh giá, nhận định để đưa ra đề xuất.

Thực tế vừa qua, một số bộ, ngành cũng đã tiến hành rà soát, đề xuất giảm các chứng chỉ chuyên ngành như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 18/2020, trong đó không quy định chứng chỉ ngoại ngữ, tin học.  Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đang lấy ý kiến sửa đổi quy định về nội dung, hình thức thi và xét thăng hạng đối với đội ngũ biên tập viên, phóng viên...

Bộ Nội vụ chúng tôi cũng đang xây dựng Thông tư quy định tiêu chuẩn, điều kiện, nội dung và hình thức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Lưu trữ cũng theo hướng cắt giảm nhiều chứng chỉ.

Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự chỉ đạo thực sự sâu sát và quyết liệt của người đứng đầu Chính phủ vì mục tiêu chung là xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức và các đề xuất của Bộ Nội vụ đều xuất phát từ yêu cầu thực tiễn thì các Bộ, ngành sẽ tích cực ủng hộ.

Người này, người kia tâm tư là chuyện khó tránh khỏi

Nói đến loại bỏ, cắt giảm chứng chỉ là một câu chuyện dài động chạm đến lợi ích của nhiều phía. Vậy trong quá trình rà soát để đưa ra đề xuất này, bộ có gặp khó khăn, rào cản nào không, thưa Bộ trưởng? 

Bộ Nội vụ không gặp khó khăn và rào cản nào khi đưa ra các đề xuất, thậm chí còn nhận được sự quan tâm, động viên của các đồng chí lãnh đạo, đặc biệt là của Thủ tướng Chính phủ.

Còn về lợi ích, thẳng thắn mà nói là có ảnh hưởng đến nguồn thu của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cấp các loại văn bằng, chứng chỉ. Vì vậy, việc có người này, người kia tâm tư là chuyện khó tránh khỏi.

Nhưng đây là vấn đề tác động trực tiếp đến hàng triệu người và liên quan đến phương thức quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, chúng ta phải quyết tâm cắt giảm những chứng chỉ không phù hợp, để một mặt vừa giảm “gánh nặng” đối với công chức, viên chức; một mặt đổi mới phương thức quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức đi vào thực chất, khoa học hơn.

Tuy nhiên, tôi cho rằng cũng không quá phải lo lắng nếu các đơn vị này tự thay đổi, chuyển mình, hướng tới chất lượng, nhu cầu của người được đào tạo, bồi dưỡng.

Hay nói cách khác sẽ không có chuyện người học bắt buộc phải học các loại chứng chỉ mà các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng phải tự tìm hiểu xem các cơ quan, tổ chức đang cần những cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng được yêu cầu như thế nào; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đang cần kiến thức, kỹ năng gì để đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm.

Theo tôi, các cơ sở đào tạo phải có hình thức cung cấp các dịch vụ, xây dựng chương trình bồi dưỡng thích hợp. Phải để việc học và cấp các chứng chỉ là nhu cầu tự thân của mỗi viên chức để đáp ứng các yêu cầu trong công việc của họ. Như vậy mới phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với quy luật cung – cầu.

Cũng chính vì đây là một vấn đề động chạm nên nhiều ý kiến cho rằng nếu loại bỏ, cắt giảm được các chứng chỉ như Bộ Nội vụ đề xuất thì đây không chỉ là một bước đột phá trong cải cách thủ tục hành chính mà còn là sự thay đổi quan trọng trong phương thức quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức. Bộ trưởng suy nghĩ sao về nhận định này?

Từ khi nhận nhiệm vụ Bộ trưởng, tôi luôn ý thức kế thừa và phát huy những thành quả của các thế hệ tiền nhiệm. Những gì các đời Bộ trưởng khác đã làm tốt thì tiếp tục gìn giữ và phát huy, những gì đang làm dang dở thì tiếp tục thực hiện, những công việc mới phát sinh thì nỗ lực hoàn thành.

Việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm thủ tục về văn bằng, chứng chỉ là nhiệm vụ chung của các Bộ, ngành, địa phương.

Tuy nhiên, với trách nhiệm là cơ quan thường trực của Chính phủ về cải cách hành chính và thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Bộ Nội vụ sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có những giải pháp đột phá về cơ chế, phương thức quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức.

Những việc này nhằm một mục đích chung là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phải khẳng định là việc cắt giảm một số loại chứng chỉ không đồng nghĩa với việc giảm yêu cầu về nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ mà đặt ra yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình, hình thức đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức, viên chức phải thực chất hơn, phục vụ trực tiếp công việc, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm.

Việc này cũng không có nghĩa là không thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức, viên chức nữa.

Vì vậy, vấn đề ở đây là các đơn vị sự nghiệp công lập được giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của các Bộ, ngành cần kịp thời đổi mới về phương thức tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.