Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021

Không nhắm mắt phán liều như thế!

Chính phủ vừa tổ chức Lễ ra mắt Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19, thu được hàng nghìn tỷ đồng chỉ sau mấy giờ phát động, thế mà thật lạ lùng lại xuất hiện những luận điệu với lời lẽ nực cười, “chọc gậy bánh xe” xuyên tạc chủ trương, cách làm tốt đẹp và hiệu quả đó.

So sánh khập khiễng

Đài Á châu tự do với sự suy diễn thiển cận nêu ra quan điểm: Chính phủ nói không thiếu tiền sao phải huy động tiền dân mua vaccine? Họ còn dẫn lời một ông phó giáo sư với bình luận vu vơ, sợ góp quỹ rồi sẽ “hao hụt”. Tổ chức khủng bố và phản động Việt Tân thêm một lần nữa tấu lên tiếng loa rè, so sánh với một số nước và cho rằng phải tiêm vaccine miễn phí cho dân mới là chính quyền thực sự “lo cho dân”. Trên một số trang mạng còn nêu ý kiến không đúng sự thật từ nước ngoài rằng, Chính phủ gây “khó xử” đối với một số doanh nghiệp khi đóng góp cho quỹ vaccine…

Thật là những kẻ thiếu thiện chí, nhắm mắt phán liều!

Trước hết, cần khẳng định, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã có chủ trương tiêm vaccine miễn phí cho toàn dân từ rất sớm và coi đó là một giải pháp chiến lược để đẩy lùi dịch bệnh. Điều này thể hiện tinh thần nhất quán “lo cho dân” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Ðảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”.

Tại Đại hội XIII của Đảng, các đại biểu đã bàn thảo, quyết định và công bố trong phiên bế mạc: “Tập trung kiểm soát đại dịch Covid-19, tiêm chủng đại trà vaccine Covid-19 cho cộng đồng…”, coi đây là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung triển khai thực hiện ngay sau đại hội. Đó là một quyết định đúng đắn, mang tính lịch sử và đầy trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, nguồn lực hạn chế. Với quyết định đó, Việt Nam nằm trong danh sách không nhiều quốc gia trên thế giới sớm có chủ trương tiêm vaccine Covid-19 đại trà cho toàn dân.

Trong bối cảnh hiện nay, thực hiện chủ trương chiến lược và mục tiêu kép vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế-xã hội, Nhà nước Việt Nam đủ nguồn lực tài chính để bảo vệ sản xuất, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Song để sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn lực trong bối cảnh tiềm lực kinh tế đất nước còn khó khăn, rất cần sự chung tay của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong thực hiện “mục tiêu kép”. Việt Nam đã, đang và sẽ chống dịch Covid-19 hiệu quả bằng nguồn lực Việt Nam, cách làm Việt Nam, truyền thống Việt Nam, từng được cả thế giới ghi nhận, cảm phục với nhiều cách làm trở thành hình mẫu. Vì vậy, những sự so sánh với nước ngoài, với các nước phát triển có tiềm lực kinh tế và nền tảng khoa học công nghệ, có nguồn vaccine dồi dào hơn rồi suy diễn cho rằng Chính phủ phải làm như họ mới là “lo cho dân” là không đúng đắn.

Cần nguồn kinh phí rất lớn khi ngân sách còn hạn hẹp

Tiêm vaccine là giải pháp căn cơ, lâu dài, mang tính chiến lược để thoát khỏi đại dịch Covid-19. Song theo tính toán của các chuyên gia, để đạt được miễn dịch cộng đồng, Việt Nam cần khoảng 150 triệu liều vaccine phòng Covid-19 để tiêm cho khoảng 75 triệu người dân, với tổng nhu cầu kinh phí khoảng 25.000 tỷ đồng. Cùng với đó, dịch bệnh được dự báo chưa thể kết thúc sớm, “sống chung với dịch bệnh” trở thành yêu cầu thường trực, hiệu lực của vaccine lại không kéo dài, việc tiêm vaccine phải tiến hành định kỳ. Tất cả những điều này đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn trong khi Việt Nam còn nhiều khó khăn, ngân sách nhà nước hạn hẹp.

Đó là phân tích hết sức khoa học, qua đó cho thấy, việc huy động nguồn lực tài chính của quốc gia còn có thể bảo đảm cho lâu dài, phát sinh thêm nếu dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp với những biến thể mới khó lường. Ngân sách nhà nước cũng rất cần được sử dụng tổng lực, linh hoạt cho tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất phát triển chứ không chỉ tập trung cho chống dịch.

Phát biểu trong lễ ra mắt Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19 tối 5-6, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định: Lịch sử dựng nước và giữ nước đã chứng minh, khi đất nước ta gặp khó khăn, tinh thần đoàn kết, sức dân là vũ khí tối tân nhất, sắc bén nhất để chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù và viết nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc, như Bác Hồ kính yêu đã căn dặn: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Trong cuộc chiến chống Covid-19, sự đồng lòng của nhân dân là chìa khóa mở cánh cửa lớn để chúng ta thoát ra khỏi đại dịch và trở về cuộc sống bình thường, bình yên, an dân, an toàn. Truyền thống “Thương người như thể thương thân”, hay “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” đã hun đúc trong mỗi người con đất Việt và gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này. Truyền thống ấy càng tỏa sáng mỗi khi đất nước chúng ta gặp khó khăn như: Chiến tranh, thiên tai, bão lũ, dịch bệnh… Thủ tướng khẳng định, Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19 “là quỹ của sự nhân ái, của tinh thần đoàn kết, của niềm tin, của trái tim kết nối trái tim để chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn, góp phần tạo nên một Việt Nam chiến thắng, để một lần nữa chúng ta lại ghi danh, viết nên lịch sử chiến thắng vẻ vang của dân tộc-chiến thắng đại dịch Covid-19”.

Sức mạnh Việt Nam xa lạ với sự ích kỷ, tích toán

Việc kêu gọi mọi người chung tay đóng góp Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19 không phải là vì “thiếu tiền”, càng không phải là sự ép buộc mà chính là ý Đảng, lòng dân, là sự quy tụ không chỉ nguồn lực vật chất mà còn cả nguồn lực tinh thần. Qua sự ủng hộ quỹ, tạo nên một phong trào hành động nhân văn sôi nổi và rộng khắp, thành làn sóng mạnh mẽ đẩy lùi dịch bệnh.

Thực tiễn đã cho thấy, cũng như trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và thực tế qua 3 làn sóng Covid-19 từ đầu năm 2020 đến nay, Việt Nam từng chiến thắng các làn sóng Covid-19 trước đây không chỉ bằng sự tập trung nguồn lực vật chất mà còn nhờ sức mạnh tinh thần to lớn. Đó chính là nhân tố chính trị tinh thần, là sự đoàn kết toàn dân, là sức mạnh của kỷ luật Đảng hòa cùng sức mạnh của kỷ cương phép nước, sức mạnh của sự nêu gương “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, sức mạnh của tình đồng chí, nghĩa đồng bào “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”, sức mạnh của Quân đội nhân dân và các lực lượng tuyến đầu xả thân vì dân, vì nước, “trong tim là Tổ quốc, phía trước là nhân dân”; sức mạnh của Đoàn Thanh niên “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”; sức mạnh của các tổ Covid-19 cộng đồng đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người…

Sức mạnh ấy xa lạ với sự ích kỷ, bủn xỉn, thấy đồng tiền “to hơn cái trống” như lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phê phán. Sức mạnh ấy xa lạ với những tính toán nhỏ nhen, suy diễn tầm thường vì không ai bắt hay ép buộc bất kỳ tổ chức, cá nhân nào nếu họ cảm thấy băn khoăn, “khó xử” trước việc ủng hộ quỹ.

Chung tay xây dựng Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19 chính là lời hiệu triệu của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để nhân lên sức mạnh Việt Nam. Ai đưa ra những lời xuyên tạc, bóp méo sự thật về những hành động đúng đắn, nhân văn của chúng ta thì đáng xấu hổ cho lương tâm và tầm nhìn của họ.

NGUYỄN VĂN MINH

“Bia mạng”

 "Trăm năm bia đá cũng mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” là câu ca dao răn dạy con người hãy sống tốt, sống có ích, có trách nhiệm với xã hội để khi ra đi tiếng thơm sẽ lưu ngàn đời.

Cán bộ, đảng viên quân đội "nhân đôi" trách nhiệm nêu gương

Đã từ lâu, khi nói đến Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, đồng bào cả nước đã bày tỏ lòng khâm phục, ngưỡng mộ về đội quân cách mạng bách chiến bách thắng, giàu đức hy sinh, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nêu gương để lan tỏa hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng Đảng, lòng dân Sở dĩ Quân đội ta thu phục được tình cảm, niềm tin của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội và trở thành chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước là bởi quân đội đã chăm lo giáo dục, trui rèn, tôi luyện được một đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên, gương mẫu về mọi mặt. Không tạo ra sơ hở nội bộ để các thế lực thù địch chống phá quân đội QĐND Việt Nam sinh ra, chiến đấu, trưởng thành trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Từ khi thành lập đến nay, suốt 74 năm qua, Quân đội ta luôn gắn bó, đồng hành với những chặng đường xây dựng, phát triển của đất nước và gắn liền với sự chăm lo giáo dục, rèn luyện, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong sâu thẳm trái tim của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam, yêu Tổ quốc cũng là yêu Đảng, yêu nhân dân cũng là yêu đất nước, vì từ lâu “Ý Đảng, lòng dân, nghĩa nước” đã hòa quyện vào nhau, trở thành sức mạnh niềm tin thôi thúc lớp lớp Bộ đội Cụ Hồ sẵn sàng xả thân, cống hiến cho những mục tiêu cao cả của dân tộc. Sức mạnh của quân đội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố giữ vai trò quyết định, bảo đảm cho quân đội luôn giữ vững bản chất cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, Tổ quốc và nhân dân, đó là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Là lực lượng nòng cốt, trụ cột của quân đội, đội ngũ cán bộ, đảng viên đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, chỉ huy các cấp và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn quan trọng, chủ yếu trong các cơ quan, đơn vị. Do đó, quân đội có trưởng thành, vững mạnh và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ hay không trước hết phụ thuộc vào đội ngũ này. Nhận thức sâu sắc điều đó, những năm qua, hầu hết cán bộ, đảng viên trong quân đội đã nêu cao ý chí, trách nhiệm, nỗ lực rèn luyện, học tập, công tác, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ, đảng viên đã trở thành tấm gương sáng về lòng tận tụy, ý thức dấn thân, tinh thần xông pha vào những việc khó, nơi khó, miệt mài học tập, siêng năng rèn luyện, chăm chỉ lao động sáng tạo và giành được nhiều kết quả, thành tích cao trong công tác. Kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta, nhiều cán bộ, đảng viên đã chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, giữ gìn lối sống lành mạnh, giản dị, gần gũi với chiến sĩ, gắn bó với nhân dân, qua đó góp phần giữ vững và làm đẹp thêm hình ảnh cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Tuy nhiên, một phần do tác động từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường và xã hội giao lưu hội nhập, phần khác do thiếu ý thức rèn luyện, một số cán bộ, đảng viên quân đội tuy chưa bị phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, song cũng đã manh nha một số biểu hiện “tự diễn biến” rất đáng suy ngẫm. Những biểu hiện đó là chưa đề cao trách nhiệm nêu gương, còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, suy giảm ý chí phấn đấu. Cùng với việc một vài cấp ủy, tổ chức chỉ huy có biểu hiện đoàn kết hình thức, xuôi chiều, thì cũng có một số cán bộ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, áp đặt cá nhân, chưa tôn trọng dân chủ nội bộ và ý kiến đóng góp của cấp dưới. Đáng nói hơn, một số cán bộ, đảng viên ở một vài đơn vị, doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ công tác quản lý đất quốc phòng, quản lý tài sản công dẫn đến những vi phạm đáng tiếc, khiến các cơ quan có thẩm quyền phải xử lý kỷ luật, thậm chí có trường hợp bị xử lý hình sự. Mặc dù số cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm, vi phạm và bị xử lý kỷ luật chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, nhưng cũng ít nhiều làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín, danh dự của đơn vị và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Không những vậy, từ những sai sót, vi phạm này đã tạo cơ hội cho các thế lực thù địch, phản động, phần tử cực đoan lợi dụng suy diễn, quy chụp, thổi phồng khuyết điểm, làm phức tạp và nghiêm trọng hóa vấn đề hòng mưu đồ chống phá quân đội, gây hoài nghi niềm tin trong nhân dân đối với quân đội. Trong xã hội ta, ít có hình ảnh nào được người dân trân trọng, quý mến như hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Đó là tài sản vô giá, là “thương hiệu” tốt đẹp mà mọi quân nhân, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên quân đội phải có trách nhiệm giữ gìn, phát huy và lan tỏa hình ảnh tích cực này trong lòng Đảng, lòng dân. Là lực lượng xung kích đi đầu trong cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, do vậy, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng phải giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị; kiên trì rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh; kiên quyết tránh xa và không a dua làm theo những điều sai trái, tiêu cực, phương hại đến truyền thống quân đội và uy tín, danh dự Bộ đội Cụ Hồ. Muốn thực hiện sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc, giữ vững thể chế chính trị và muốn góp phần làm trong sạch hệ thống chính trị, làm trong sạch nội bộ thì bản thân mỗi cán bộ, đảng viên quân đội phải tự giác gương mẫu làm trong sạch chính mình, qua đó góp phần bảo đảm cho quân đội nói chung, mỗi đơn vị nói riêng trở thành “thành lũy” về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Nêu gương không chỉ là bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm của những người đứng trong hàng ngũ của Đảng, mà còn là một trong những đặc trưng cơ bản làm nên phẩm chất, giá trị nhân cách đích thực của cán bộ, đảng viên. Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng trong tình hình mới, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên quân đội càng phải đề cao trách nhiệm nêu gương để phát huy hình ảnh tích cực của mình trong hệ thống chính trị, trong xã hội. Khi cán bộ, đảng viên quân đội “nhân đôi” trách nhiệm nêu gương là thiết thực góp phần bảo vệ, giữ vững trận địa chính trị tư tưởng của Đảng trong quân đội. Vì Quân đội ta không chỉ có chức năng chiến đấu, tham gia lao động sản xuất xây dựng đất nước, mà còn đảm đương nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Để mỗi lời nói, việc làm của mình có tác động tích cực đến niềm tin của cấp ủy, chính quyền địa phương và các tầng lớp nhân dân, đội ngũ cán bộ, đảng viên quân đội càng phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” và quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng "Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” và Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng "Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Khi đội ngũ cán bộ, đảng viên quân đội thực hiện hiệu quả 7 nội dung nêu gương về “tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống, tác phong; tự phê bình, phê bình; quan hệ với nhân dân; công tác; ý thức tổ chức kỷ luật; đoàn kết nội bộ” theo Quy định số 101-QĐ/TW, thì không chỉ góp phần quyết định vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh tốt đẹp của mình trong toàn Đảng và toàn dân. Được hấp thụ truyền thống lịch sử quân sự vẻ vang mấy nghìn năm của dân tộc, được tôi luyện, bồi đắp, trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, được lớn lên trong tình cảm nuôi dưỡng, đùm bọc của nhân dân và dưới sự dẫn dắt, chỉ lối soi đường của Đảng Cộng sản Việt Nam, QĐND Việt Nam có đủ khả năng tạo ra “sức đề kháng” để phòng, chống mọi “vi-rút độc hại” có thể xâm nhập vào nội bộ quân đội. Tuy vậy, “sức đề kháng” đó sẽ trở nên mạnh mẽ, cường tráng hơn nếu chúng ta thường xuyên chăm lo xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quân đội trong sạch, vững mạnh và giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên kiên trung, mẫu mực về mọi mặt, thực sự là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc.

Thủ tướng Chính phủ gửi thư biểu dương, khích lệ đội ngũ y, bác sĩ chống dịch Covid-19

  Thân ái gửi: Các thầy thuốc, cán bộ, nhân viên ngành y tế

Covid-19 là đại dịch đặc biệt nguy hiểm với tốc độ lây lan nhanh, diễn biến khó lường đã và đang gây ra cuộc khủng hoảng y tế và những hậu quả về kinh tế - xã hội rất nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu, tác động mạnh đến hầu hết mọi mặt đời sống xã hội của nước ta. Ðợt dịch bùng phát ở nước ta từ cuối tháng 4-2021 đến nay với những biến chủng mới có tốc độ lây nhiễm nhanh hơn, mạnh hơn, khó kiểm soát và nguy hiểm hơn đã xuất hiện ở nhiều địa phương. Phát huy những bài học kinh nghiệm chống dịch trước đây, cùng với những biện pháp phù hợp, sáng tạo, kịp thời của các cấp lãnh đạo, của toàn dân,

"ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM" VÀ NHỮNG MÀN KỊCH VỤNG VỀ

Trong lịch sử nhân loại, “đánh tráo khái niệm” là một thủ đoạn được các thế lực chính trị sử dụng từ rất sớm để thoán đoạt quyền lực. Triệu Cao, thừa tướng và cũng là gian thần trứ danh của nước Tần bị sử sách Trung Quốc “lưu danh thiên cổ” với chiêu trò đánh tráo khái niệm “chỉ hươu thành ngựa”. Chuyện kể rằng, Triệu Cao khi làm thừa tướng nhà Tần có mưu đồ làm loạn, xưng vương nhưng sợ lòng người không phục nên nghĩ cách thử lòng quần thần. Ông tiến dâng Tần Nhị thế một con hươu nhưng lại bảo đó là con ngựa. Nhị thế cho rằng đó là con hươu nhưng đa số quần thần vì sợ Triệu Cao nên hùa theo khẳng định đó là con ngựa. Qua việc này, Triệu Cao kiếm cớ phao tin Nhị thế bị chứng loạn óc, cô lập nhà vua và thanh trừng những quần thần trung kiên, dám nói thật đó là con hươu… V.I. Lênin từng chiến đấu không biết mệt mỏi để chống lại các thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” của những người cơ hội chính trị. Ví dụ, khái niệm “bảo vệ Tổ quốc” một khái niệm tiến bộ trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định đã bị bọn cơ hội chủ nghĩa trong Quốc tế II lợi dụng để mị dân trong cuộc chiến tranh đế quốc 1914 - 1918 khi khẩu hiệu đó không phù hợp với hoàn cảnh nữa. Trong khi tố cáo sự phản bội của bọn xã hội sô-vanh, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng khái niệm bảo vệ Tổ quốc thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử. Khi chiến tranh là một công việc của nhóm đế quốc tham lam theo đuổi lợi ích của chính chúng thì khái niệm đó có nghĩa là bảo vệ lợi ích giai cấp tư sản “nước mình”, là sự phản bội quyền lợi của giai cấp công nhân. Trái lại khi nhân dân tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa chống kẻ thù ngoại xâm khi họ bảo vệ tự do của họ thì khái niệm đó lại biểu lộ lợi ích của những lực lượng tiến bộ. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống chủ nghĩa xã hội, “đánh tráo khái niệm” là thủ đoạn “át chủ bài” được họ sử dụng rất nhuần nhuyễn, thuần thục trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Sự “đánh tráo khái niệm” của họ dựa trên nguyên lý “khái niệm xuyên tạc, bịa đặt được tuyên truyền lặp đi, lặp lại hàng nghìn lần thì sẽ trở thành sự thật”. Biến không thành có, biến thiện thành ác, xâu chuỗi những hiện tượng đơn lẻ để vu khống thành bản chất… Nhiều học giả phương Tây đã nghiên cứu và khái quát các thủ đoạn tuyên truyền “đánh tráo khái niệm” thành các cấp độ sau: 1. Làm cho khái niệm không quan trọng trở nên quan trọng. 2. Biến những khái niệm vốn không liên quan gì đến nhau thành một chỉnh thể mà trên thực tế không hề có chỉnh thể này. 3. Dùng những khái niệm ám thị để thể hiện một sự việc chân thực. 4. Đưa ra những khái niệm miêu tả đặc trưng với mức độ đặc biệt nhằm tạo sự sợ hãi và lo lắng mơ hồ, vô căn cứ trong công chúng. Thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” từng được các thế lực thù địch sử dụng để lật đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu. Năm 1989, các đài phát thanh phương Tây đã đưa ra khái niệm “bãi thảm sát” ở thành phố Đimixêva thuộc Rumani. Đây là khái niệm bịa đặt trắng trợn nhưng được truyền thông phương Tây phát tán với mật độ dày đặc đã tạo nên sự kiện chính trị chấn động thế giới. Trong các ngày 23 và 24-12-1989, hầu hết các phương tiện truyền thông phương Tây dồn dập đưa tin về sự phát hiện một “bãi thảm sát” ở Rumani với những hình ảnh mà chúng tung hô là “chân thực” như ảnh một bà mẹ bị mổ bụng chết cùng đứa con, ảnh một người đàn ông trần truồng, hai chân bị trói bằng dây thép dường như chết vì bị hành hạ. Với công chúng không hiểu rõ sự thật thì thông tin về “bãi thảm sát” quả đã lừa được họ. Nhiều nơi trên thế giới lên án “Đảng Cộng sản Rumani thực hiện một nền thống trị phát-xít”, “tàn ác vô nhân đạo”. Tâm lý chống đối chế độ trong nước Rumani được dấy lên từ khái niệm “bãi thảm sát” đã góp phần thúc đẩy diễn biến chính trị dẫn đến sự sụp đổ của chế độ XHCN. Sau khi đã đạt được mục đích, cũng chính báo chí phương Tây đã khẳng định không có “bãi thảm sát” nào cả. Những hình ảnh về “bãi thảm sát” đều là những xác chết được đào lên từ một nghĩa địa của một bệnh viện trong thành phố Đimixêvara. Ảnh hai mẹ con bị giết được ghép bởi một bé gái chết vì bệnh với một phụ nữ bị chết bị bệnh xơ gan biến chứng, đã chết trước em bé một tháng và chẳng có liên hệ nào với em bé. Bức ảnh người đàn ông bị hành hạ đến chết cũng là ảnh giả. “Đánh tráo khái niệm” sau đó còn được áp dụng thành công ở nhiều màn kịch khác. Tháng 2-1994, tại một khu chợ ở Bosnia, các cơ quan truyền thông cũng tạo dựng nên những hố chôn người tập thể giả để tạo cớ cho NATO không kích chống lại người Serbia. Hay câu chuyện về “nạn diệt chủng” và “thảm họa nhân đạo” ở Kosovo thực chất là trò bịp bợm lớn về “đánh tráo khái niệm”, được một số cơ quan truyền thông phương Tây dàn dựng công phu, sau đó được nhiều cơ quan báo chí quốc tế phụ họa, khuếch trương hết cỡ đã gây phẫn nộ, bức xúc trong một bộ phận không nhỏ dư luận quốc tế về cái gọi là “các cuộc thanh lọc sắc tộc” và “các chiến dịch xua đuổi người gốc Anbani ở Kosovo của chế độ S.Milosevich”. Vì lẽ đó mà một bộ phận công chúng các nước phương Tây coi việc trừng phạt bằng vũ lực đối với Nam Tư là “điều cần thiết”. Trong những ngày Nam Tư bị không kích, một máy bay Mỹ ném bom nhầm vào đoàn xe của người tị nạn làm chết 75 người thì lập tức đã có tờ báo vu khống rằng “binh lính Xerbi nã súng vào đoàn người tị nạn rồi đổ vấy cho NATO để kích động lòng căm thù của người dân Nam Tư”. Có thể nói, “đánh tráo khái niệm” trong lần này đã đạt đến trình độ điêu luyện “vừa ăn cướp, vừa la làng”.

KHI "TRÒ CŨ" ĐƯỢC SOẠN LẠI

Đối với Việt Nam, kể từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp Đổi mới, các thế lực thù địch càng ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”. Trong đó, thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” được họ sử dụng với tần suất dày đặc hơn. Lợi dụng sự phát triển của Internet và mạng xã hội ở Việt Nam, họ coi đây là phương tiện thuận lợi nhất để “đánh tráo khái niệm” với giá thành rẻ nhất mà lại đạt được hiệu quả. Nội dung “đánh tráo khái niệm” của họ vẫn là những luận điệu lâu nay các “nhà tư tưởng” chống cộng đã từng nói và đã từng nhiều lần bị chúng ta vạch trần, phê phán, bác bỏ. Những khái niệm dù được che chắn dưới những vỏ bọc mới nhưng rốt cục vẫn là phủ nhận thành tựu của cách mạng; thổi phồng khuyết điểm, tồn tại của Việt Nam, bôi đen hiện thực, gieo rắc hoài nghi, phá rã niềm tin của nhân dân và cán bộ, quy kết là do đường lối sai, sự lãnh đạo, quản lý yếu kém của Đảng và Nhà nước. Phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định con đường xã hội chủ nghĩa, định hướng xã hội chủ nghĩa; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, phê phán, đổ lỗi cho Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng. Kích động chia rẽ nội bộ, tung ra những luận điệu trong Đảng, trong Trung ương, Bộ Chính trị có phe này, phái kia; bịa đặt, xuyên tạc lịch sử; vu cáo, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, kể cả Bác Hồ, tìm mọi cách "hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh"... Với thủ đoạn “đánh tráo khái niệm”, các thế lực thù địch đã kích động một số người dân biểu tình, gây rối ở Bình Thuận Với thủ đoạn “đánh tráo khái niệm”, các thế lực thù địch đã kích động một số người dân biểu tình, gây rối ở Bình Thuận Những luận điệu của các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị nói trên tuy không có gì mới, nhưng nó được tung ra, truyền bá vào từng thời điểm cụ thể, đánh trúng tâm lý một bộ phận nhân dân nên hết sức độc hại, nguy hiểm, gieo rắc hoang mang, nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong nội bộ ta, tác động hòng làm đội ngũ ta "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Ví dụ như mỗi khi Đảng ta chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc, họ tung tin trên mạng xã hội với tần suất dày đặc rằng nội bộ Trung ương cũng có phái “bảo thủ” và phái “cấp tiến”, phe “thân Tàu” và phe “thân Mỹ”; thậm chí dựng đứng những chuyện không thể tin nổi như “đồng chí này lên thì toàn dân phải học tiếng Trung, đồng chí kia lên thì Mỹ sẽ bảo vệ Việt Nam”.v.v. Hoặc như thời gian vừa qua, nhân việc Quốc hội khóa XIV đưa ra thảo luận, cho ý kiến dự thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt. Đánh vào lòng yêu nước chân chính của mỗi người dân Việt Nam, các thế lực thù địch đã xoáy vào một số nội dung, khái niệm còn tranh cãi được đề cập trong dự án luật để thổi phồng, xuyên tạc. Như việc chúng liên tục tung tin “cộng sản lập đặc khu hay nhượng địa” để “đánh tráo khái niệm” từ chủ trương thành lập “Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt” của Đảng thành chủ trương “bán đất cho Trung Quốc”. Thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” này đã kích động một số người dân biểu tình, gây rối ở Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh và một và địa phương khác.

DÙNG VŨ KHÍ SẮC BÉN ĐỂ CHỐNG LẠI TRÒ YÊU THUẬT

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần lưu ý những người làm công tác tuyên giáo rằng, kẻ thù luôn "kích động vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là bốn đòn đột phá khẩu, bốn mũi xung kích để chọc thủng mặt trận tư tưởng chính trị". Có thể khẳng định, “bốn đòn đột phá khẩu” này cũng là bốn nội dung mà các thế lực thù địch áp dụng thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” nhiều nhất. Với vấn đề dân chủ, họ không ngừng rêu rao, xuyên tạc về chế độ ta là “độc tài, toàn trị” và cho rằng, còn Đảng Cộng sản thì Việt Nam còn mất dân chủ trầm trọng. Với vấn đề nhân quyền thì họ ra sức tuyên truyền cho luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để kêu gọi các thế lực bên ngoài can thiệp nội bộ Việt Nam. Với vấn đề dân tộc thì họ ra sức kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động ly khai, xây dựng các “nhà nước độc lập” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với vấn đề tôn giáo thì họ dựng chuyện vu khống Việt Nam “đàn áp tôn giáo”… Một số đối tượng phản động vi phạm pháp luật Việt Nam rất rõ ràng, khi bị cơ quan chức năng khởi tố, điều tra thì lập tức họ lu loa rằng Việt Nam “đàn áp người bất đồng chính kiến” và gọi những kẻ phạm pháp là “tù nhân lương tâm”..v.v. Hàng nghìn khái niệm đã và đang bị họ đánh tráo một cách trơ trẽn nhưng hằng ngày, hằng giờ vẫn xuất hiện trên mạng xã hội, trên những trang web, trang blog giả danh, ngụy tạo có máy chủ đặt ở nước ngoài và tác động vào một bộ phận không nhỏ công chúng, bạn đọc trong nước, thậm chí tác động cả vào một số cán bộ, đảng viên. Hiểu rõ bản chất, đặc điểm của thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” là yêu cầu cần thiết đối với mỗi công dân Việt Nam, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên trong việc phòng ngừa nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Những khái niệm bị kẻ xấu đánh tráo, dù có thiên biến vạn hóa, dù núp trong vỏ bọc mỹ miều của ngôn từ cũng không thể giấu được bản chất của nó là không mang “đặc trưng chung, chủ yếu của các sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan”. Vì lẽ đó, chỉ cần sử dụng thế giới quan, phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin; nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng là coi như nắm được “kính chiếu yêu”, luôn cảnh giác, thận trọng và nhận ra chân tướng của những khái niệm bị đánh tráo dù nó “yêu tinh” đến mức nào. Những năm gần đây, nhờ sự phát triển của công tác lý luận, qua mỗi kỳ đại hội hay qua các hội nghị Trung ương quan trọng, các cơ quan của Đảng thường xuyên cung cấp sách, tài liệu đến cán bộ, đảng viên để phổ biến, cập nhật những khái niệm, thuật ngữ mới. Đây cũng là cơ sở rất quan trọng mà mỗi cấp ủy, chi bộ cần quan tâm phổ biến, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh, nhận thức để nhận diện, phân biệt và chiến thắng thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” của các thế lực thù địch.

Dân chủ và đoàn kết để thống nhất trong ý chí và hành động

Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng, để có thể đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi tới thắng lợi hoàn toàn, Đảng Cộng sản Việt Nam phải được “tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là, tất cả mọi công việc của Đảng đều được toàn thể các đảng viên, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời tất cả những người có trách nhiệm trong Đảng, tất cả các ban lãnh đạo của Đảng, tất cả các cơ quan của Đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn”[1]. Vì vậy, Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam đã không chỉ có ý thức về đoàn kết, luôn mang trong mình truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc và đoàn kết được coi là một phẩm chất đạo đức quan trọng của người đảng viên mà còn thường xuyên thực hiện dân chủ trong Đảng để xây dựng và củng cố khối đoàn kết, thống nhất, phát huy vai trò Đảng là trung tâm đoàn kết của toàn dân tộc để Đảng ngày một phát triển vững mạnh. Ngay từ khi mới ra đời, những văn kiện lịch sử Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo được thông qua tại Hội nghị (hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng), đã không chỉ vạch rõ tổ chức, nhiệm vụ, đối tượng của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam còn khẳng định sẽ lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[2]. Cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, đặc biệt là đã luôn thực hiện dân chủ trong Đảng; “thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng” và xây dựng khối đoàn kết, thống nhất; đồng thời, "không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác”[3], Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò độc tôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam của mình trong tiến trình lãnh đạo cách mạng. Trong những năm lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), dù có những khúc ngoặt và cả những tổn thất, song với bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính được lý luận Mác - Lênin dẫn đường, những người cộng sản Việt Nam đã luôn quán triệt hai nguyên tắc: 1) Bình đẳng là tiền đề của dân chủ và dân chủ là tiền đề của đoàn kết, thống nhất trong Đảng. 2) Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong xây dựng Đảng có ý nghĩa quan trọng, nhằm phát huy dân chủ, thống nhất ý chí và hành động để kiên định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong đó, việc tuân thủ, thực hiện tập trung dân chủ không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, hoạt động và sinh hoạt Đảng mà còn là điều kiện bảo đảm để phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Mùa xuân năm 1941, trở về nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước, Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941); quyết định thực hiện sự chuyển hướng chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và tập trung cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Từ nhận thức sâu sắc về nguồn sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết, Người đã không chỉ phát huy và nhân nguồn sức mạnh của tinh thần dân chủ và sự đoàn kết thống nhất trong Đảng mà còn khơi dậy và tổ chức thành công sức mạnh “dời non, lấp biển” của khối toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh để lãnh đạo nhân dân đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật, “thành lập một Chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”. Một nước Việt Nam mới giành được độc lập, tự do sau hơn 80 năm trời nô lệ đang đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, bởi thù trong và giặc ngoài. Trong tình thế đất nước đang “ngàn cân treo sợi tóc” đó, cũng vẫn là Hồ Chí Minh - trung tâm ngọn cờ đoàn kết, thống nhất trong Đảng, linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân đã sớm tiên liệu, đặc biệt lưu tâm đến sự trong sạch, vững mạnh của một Đảng cầm quyền. Theo Người, tình hình và nhiệm vụ mới càng đòi hỏi Đảng phải xây dựng sự đoàn kết thống nhất và thực hiện dân chủ, phát huy dân chủ để củng cố và nhân nguồn sức mạnh nội lực của Đảng, để đưa sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc đi đến thành công. Vì vậy, để ngăn ngừa những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân như tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cậy quyền, ỷ thế, lên mặt làm quan cách mạng, v.v.. đã xuất hiện trong một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, Hồ Chí Minh đã không chỉ yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải sửa đổi lối làm việc, phong cách công tác mà còn đồng thời chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân chính là nguy cơ dẫn đến sự thoái hóa, biến chất của Đảng, gây mất dân chủ và đoàn kết trong Đảng.

Chống chủ nghĩa cá nhân để thực hiện dân chủ và đoàn kết trong Đảng

Không chỉ khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng; đề cao yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh còn đồng thời nhấn mạnh: Muốn phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, “đánh thắng lòng tà và kẻ thù trong mình”, mỗi người phải tự mình cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nhất là phải kiên quyết “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Cùng đó, Người cũng khẳng định, để đoàn kết, thống nhất trong nhận thức và hành động, điều cần thiết nhất là trong Đảng phải thực hành dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; trong đó, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới và ngược lại, cấp dưới cũng phải thường xuyên phê bình cấp trên. Mỗi cán bộ, đảng viên trong sinh hoạt Đảng: khi tự phê bình cũng như được góp ý phê bình phải dũng cảm thừa nhận, đề ra biện pháp và kịp thời sửa chữa khuyết điểm theo tinh thần của Lênin: “Bị một phen thất bại không nguy hiểm bằng không dám thừa nhận thất bại, không dám rút ra ở đây tất cả những kết luận”[4] và Hồ Chí Minh, đó là phải “có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó”[5]… Không chỉ luôn mẫu mực trong rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện tự phê bình và phê bình thường xuyên, liên tục trên cơ sở có lý, có tình, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh: Trong khi nêu cao và kiên quyết thực hiện dân chủ và đoàn kết trong nội bộ Đảng, cấp ủy các cấp cần thấu triệt rằng, dân chủ trong nội bộ Đảng phải thật sự, phải đúng nguyên tắc chứ dân chủ theo kiểu bị cắt xén, dân chủ nửa vời không đầy đủ sẽ dẫn đến mất đoàn kết và đoàn kết “theo kiểu bằng mặt không bằng lòng”, đoàn kết hình thức,v.v.. sẽ nhanh chóng dẫn đến cục diện bè cánh, phe phái, lợi ích nhóm và hơn thế nữa, đó là lý thuyết “dân chủ”, là “đoàn kết” nhưng thực tế “áp đặt”, “quan chủ”, là “rạn vỡ”, “tan rã”. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc rằng: Đảng trong sạch, vững mạnh chính là ở đạo đức, lối sống và sự gương mẫu hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ của cán bộ, đảng viên; ở sức mạnh đoàn kết nhất trí, tính tổ chức kỷ luật và nhất là phải tự giác thực hiện nguyên tắc then chốt nhất - đó là tập trung dân chủ; ở việc thực hiện nghiêm túc quy luật phát triển Đảng - đó là tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình; ở mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; ở sự vững mạnh của các tổ chức cơ sở Đảng,v.v.. Do đó, nếu không thực hiện được dân chủ và đoàn kết thật sự trong Đảng thì sức mạnh nội lực của Đảng sẽ không còn, niềm tin của nhân dân vào Đảng cũng vì thế mà xói mòn. Song cũng theo Người, muốn thực hiện được dân chủ, thực hiện được tập trung dân chủ và đoàn kết trong nội bộ để Đảng luôn “là đạo đức, là văn minh” thì phương thuốc đặc hiệu là tự phê bình và phê bình: mạnh dạn phê bình, hoan nghênh phê bình triệt để, ráo riết, chân thành như rửa mặt hằng ngày dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Đó phải là tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung, để kịp thời có biện pháp phù hợp và kiên quyết để sửa chữa khuyết điểm với tinh thần cầu thị, cầu tiến bộ. Điều này vừa có ý nghĩa đòi hỏi lãnh đạo tập thể phải đi liền với trách nhiệm cá nhân; đồng thời, chống được sự chuyên quyền, độc đoán, chống dân chủ hình thức và chống cả tư tưởng dựa dẫm, ỷ lại của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, người lãnh đạo, quản lý nói riêng. Chỉ có làm được như vậy và phải làm thường xuyên, nghiêm túc, liên tục thì trong Đảng mới thực sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, mới phòng và chống được sự suy thoái, nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và Đảng mới luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong. Xây dựng và phát triển, thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ và củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng; luôn gắn bó mật thiết với nhân dân..., dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và thực hiện di huấn của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Suốt gần 9 thập niên qua, từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đến những văn kiện của Đảng qua 12 kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đều khẳng định rõ mục đích, tôn chỉ, nhiệm vụ giành độc lập tự do cho dân tộc, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu đó đã không chỉ làm nức lòng hàng triệu triệu trái tim, khối óc những con dân đất Việt mà còn khẳng định con đường đi hợp quy luật thời đại của dân tộc ta do Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn. Trong hành trình ấy, luôn thấm nhuần những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về dân chủ và đoàn kết, trong mọi thời điểm lịch sử và ở vào những khúc ngoặt cam go nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam - “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người” đã luôn thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, ý chí và hành động; đã quy tụ, phát huy và nhân nguồn sức mạnh tổng hợp của con người, của dân tộc, của thời đại để biết đánh và biết thắng từng bước, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng phát triển giàu mạnh.

Đề cao dân chủ và đoàn kết để phòng và chống suy thoái

Dân chủ và đoàn kết thống nhất trong Đảng là sức mạnh vô địch, là một truyền thống quý báu của Đảng và nhân dân ta; được thực hiện trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa vào Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng. Trong hành trình đó, các tổ chức cơ sở Đảng từ Trung ương đến địa phương đã không ngừng củng cố, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; gắn bó mật thiết với nhân dân... Các cấp uỷ, tổ chức cơ sở Đảng đã thể hiện rõ vai trò lãnh đạo toàn diện tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế làm việc của cấp uỷ nghiêm túc, đúng Điều lệ, quy định của Đảng. Cấp ủy các cấp đã hướng về cơ sở, bám sát địa bàn, gắn bó với nhân dân, tăng cường đối thoại với nhân dân, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những đề xuất, kiến nghị của nhân dân để tham mưu, đề xuất với các cấp ủy, chính quyền xây dựng các các chủ trương, chính sách phù hợp liên quan trực tiếp đến đời sống người dân. Cùng với đó, việc phát huy tập trung dân chủ trong tự phê bình và phê bình, trong công tác lãnh đạo, kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng được tiến hành theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, góp phần tăng cường sự thống nhất trong ý chí và hành động. Những bất cập, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn đều được giải quyết thông qua quá trình phát huy dân chủ, thảo luận với tinh thần xây dựng, tạo sự đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động tại mỗi cấp ủy, góp phần tăng cường và củng cố khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ trên tình thương yêu đồng chí lẫn nhau. Việc xử lý có lý có tình đối với các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết và các hành vi vi phạm khác của cán bộ, đảng viên, làm trong sạch tổ chức Đảng các cấp cũng được chú trọng thực hiện, thiết thwucj xây dựng và chỉnh đốn Đảng… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tại một số cấp ủy và chi bộ, nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng chưa được tôn trọng. Vẫn còn tồn tại tình trạng đảng viên và tổ chức đảng vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm ảnh hưởng tới việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tình trạng thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thiếu tinh thần trách nhiệm, coi thường kỷ luật Đảng và luật pháp của người đứng đầu trong sinh hoạt và công tác vẫn có nơi, có lúc làm cho việc thực hiện quy chế làm việc không nghiêm, mất dân chủ. Việc tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức, ngại va chạm, chưa thực sự sâu sát thực tế. Trong khi đó, tình trạng quan liêu, độc đoán, cục bộ địa phương, kèn cựa địa vị, cá nhân chủ nghĩa,v.v.. dẫn đến mất đoàn kết ở nhiều cơ quan, đơn vị vẫn còn. Cùng với đó, trong thực tế cũng vẫn có không ít chủ trương, nghị quyết của ban thường vụ, cấp ủy đã không được bàn bạc, thảo luận thấu đáo ở mọi khía cạnh, cho nên khi ban hành và triển khai vào cuộc sống hoặc bị “nhóm lợi ích” chi phối dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa phù hợp, chưa phát huy tác dụng, hiệu quả như mong muốn... Trong thực tế, ở một số cấp ủy vẫn còn tình trạng 1) Tập trung không trên cơ sở dân chủ, thể hiện ở việc cấp trên có quyền ra lệnh cho cấp dưới, cấp dưới phải tuân theo cấp trên, song những mệnh lệnh của cấp trên lại là quyết định của một nhóm người, thậm chí là của một người nên dân chủ chỉ là hình thức. Vì thế, đó không phải là tập trung mà là quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, là gây hậu quả nghiêm trọng. 2) Dân chủ không trong khuôn khổ tập trung, biểu hiện ở việc dân chủ được mở rộng, trong khi lại buông lỏng tập trung, không nghiêm chỉnh chấp hành quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 3) Dân chủ hình thức, để nhằm hợp thức hóa ý kiến của lãnh đạo hoặc người chủ trì công việc mà thực chất là bảo thủ; không chỉ dẫn đến kìm hãm, làm thui chột tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn dẫn đến nguy cơ né tránh sự thật, “im lặng là vàng”, “dĩ hòa vi quý”, “ngại nêu ý kiến trái chiều”… phát triển, phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất của tổ chức đảng, gây mất lòng tin trong nhân dân. Trong thời gian tới, để thực hiện tốt dân chủ và đoàn kết trong Đảng, thiết thực phòng và chống suy thoái trong nội bộ để Đảng luôn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, các cấp ủy Đảng cần phải thấm nhuần sâu sắc những cảnh báo, những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và tập trung thực hiện tốt những yêu cầu sau: Một là, cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt nghiêm túc công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; trong đó chú trọng phát huy dân chủ, tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ gắn với đấu tranh phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đi đôi với phát huy, mở rộng dân chủ phải giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật; đề cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mỗi cán bộ, đảng viên gắn với “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, góp ý, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trên cơ sở có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau để đảm bảo và nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong bất kỳ thời điểm lịch sử nào. Hai là, thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, chú trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong mọi mặt công tác để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng từ Trung ương xuống đến địa bàn cơ sở. Theo đó, mở rộng dân chủ nội bộ đi đôi với dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội là phương thuốc đặc hiệu góp phần chống lại nguy cơ suy thoái chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của Đảng cầm quyền, giữ gìn bản chất cách mạng tốt đẹp của Đảng và Nhà nước ta. Ba là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, tinh thần đoàn kết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thông qua việc học tập nghiêm túc chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng.Tiếp tục triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; nhất là trong thực hiện Chỉ thị 05- CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Nghị quyết trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng bằng nhiều hình thức khác nhau; thường xuyên trao đổi, thảo luận để thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên về tác dụng và bản chất của phát huy dân chủ trong sinh hoạt chi bộ. Gắn nội dung sinh hoạt Đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị thông qua các chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hằng năm, hằng quý tại sinh hoạt chi bộ. Đồng thời, trên cơ sở hiểu rõ tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, coi công tác kiểm tra, giám sát là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng ở từng Đảng bộ, từng chi bộ cơ sở và nghiêm túc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát gắn với việc phát huy vai trò giám sát của nhân dân. Qua đó, kịp thời phát hiện những vi phạm của cán bộ, đảng viên; uốn nắn, sửa chữa những sai phạm và đưa ra khỏi Đảng những kẻ xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ và đoàn kết, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thiết thực xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức cơ sở Đảng. Năm là, tiếp tục xây dựng, bồi dưỡng và nhân rộng những gương cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác, nhất là theo chủ đề năm 2019 về “Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Trong mọi mặt công tác, lấy kết quả việc rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và và thực hiện Điều lệ, quy định của Đảng làm chuẩn mực đạo đức, lối sống; làm mục tiêu phấn đấu, rèn luyện; làm phương châm hành động, biện pháp công tác gắn với việc tự soi mình của mỗi cán bộ, đảng viên qua 27 biểu hiện suy thoái (chi tiết thành 82 biểu hiện) theo đúng yêu cầu, để đánh giá kết quả công tác và tiến hành khen thưởng, kỷ luật hằng năm đối với mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng.

Quá khứ tặng chúng ta món quà vô giá!

Ở miền bắc trước năm 1975 và trên cả nước từ tháng 5-1975 đến năm 1986, Việt Nam đã trải qua một thời kỳ lịch sử thường được gọi là thời bao cấp. Nhiều thế hệ đã trải qua thời kỳ này và vẫn nhắc lại kỷ niệm vui buồn về một thời gian khổ. Tuy nhiên, trong khi mọi người tự hào và khẳng định về việc cả dân tộc đã dồn sức, nỗ lực vượt qua muôn vàn khó khăn để từng bước phát triển, thì một số người lại có xu hướng xuyên tạc, bôi đen thời bao cấp. Từ đó tìm cách bôi đen, vu cáo chế độ, phủ nhận, xúc phạm các thế hệ đã nỗ lực và sáng tạo để đưa đất nước bước vào thời kỳ hòa bình và phát triển. Đến hôm nay, các thế hệ người Việt Nam đã sống ở miền bắc từ khoảng năm 1960 đến 1975, và trên cả nước từ năm 1975 đến 1986, vẫn chưa quên những tháng, ngày gắn liền với một thời kỳ lịch sử gọi là thời bao cấp. Trong tâm trí của rất nhiều người vẫn còn lưu giữ hình ảnh hàng người xếp hàng chen chúc trước cửa hàng lương thực, chất đốt, thực phẩm, bách hóa,… Cùng với đó là tem phiếu mua vải vóc, thực phẩm, chất đốt, phụ tùng xe đạp,… luôn được mọi gia đình cất giữ cẩn thận, vì nếu để mất có thể đẩy gia đình vào cảnh thiếu thốn trong một thời gian. Đó là lý do để một thời “mất sổ gạo” tồn tại như thành ngữ dùng chỉ người có vẻ mặt buồn bã, “mì chính cánh” được coi như biểu thị cho đắt đỏ, hiếm hoi, còn “bữa tươi” là niềm vui không dễ có của không ít gia đình… Thời bao cấp qua đi, đất nước không ngừng đổi mới, phát triển, cuộc sống toàn dân được cải thiện, nâng cao. Trong bối cảnh đó, các bức ảnh, thước phim, bài báo, tài liệu, hiện vật,... thời bao cấp trở lại như lẽ tự nhiên, vì dẫu thế nào, dù đời sống vật chất, tinh thần đã thay đổi thì một thời dù khó khăn, vất vả vẫn luôn là những ký ức, kỷ niệm không thể phai mờ trong đời sống tinh thần của những người đã từng sống, làm việc và cống hiến trong giai đoạn đó. Trong nhiều gia đình, người lớn tuổi vẫn vui vẻ kể cho con cháu nghe về những câu chuyện, kỷ niệm của thời bao cấp. Còn khi đứng trước những hiện vật được trưng bày trong một số triển lãm, bảo tàng, họ bùi ngùi nhớ về một thời vất vả, phải nỗ lực như thế nào để vượt qua. Đặc biệt, có một sự thật mà hậu thế phải suy nghĩ là bất kỳ người nào từng trải qua thời bao cấp cũng đều khẳng định, đánh giá là tuy kham khổ, thiếu thốn trăm bề song mọi người thời đó vẫn giữ được lối sống thẳng thắn, trung thực, làm việc hết mình, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, sẵn sàng đùm bọc, san sẻ với người thiếu thốn hơn mình. Nói cách khác, tình người giữ vai trò như là một trong các yếu tố cơ bản, quan trọng góp phần để các thế hệ đi trước đồng lòng vượt qua khó khăn. Nhìn từ lịch sử, phải nói rằng sau khi hòa bình lập lại ở miền bắc vào năm 1954, từ tro tàn của chiến tranh, từ một nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ lại kiệt quệ vì chiến tranh chưa có khả năng nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của con người, trong khi sự giúp đỡ từ bên ngoài hầu như không có, Đảng, Nhà nước đã lãnh đạo nhân dân miền bắc nỗ lực quên mình để tổ chức xã hội, hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi và tổ chức lại nền kinh tế, Vừa từng bước tích lũy cơ sở vật chất, tinh thần xây dựng xã hội mới, vừa ủng hộ sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của đồng bào miền nam. Nhưng sau chưa đầy 10 năm, khi chúng ta vừa đạt được một số thành tựu kinh tế - xã hội thì đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền bắc, từ đó miền bắc bước vào thời kỳ mà “tự lực cánh sinh” là tất yếu, “tất cả vì miền nam ruột thịt” là nghĩa vụ thiêng liêng. Trong bối cảnh nền kinh tế có sức sản xuất thấp, không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội thì sử dụng tem phiếu phân phối lương thực, thực phẩm theo đầu người là phương án khả dĩ có thể giải quyết những vấn đề liên quan nhu cầu vật chất cơ bản của xã hội, con người. Trong hơn 30 năm chiến tranh, nhân dân miền bắc và đồng bào ở khu giải phóng miền nam luôn đồng tâm hiệp lực, chắt chiu, đồng cam cộng khổ cùng Đảng và Nhà nước vượt muôn ngàn gian khổ để bảo vệ miền bắc, giải phóng miền nam. Năm 1975, đất nước thống nhất, việc phân phối hàng hóa thiết yếu trong xã hội theo chế độ tem phiếu tiếp tục tồn tại trên phạm vi cả nước, phần do điểm xuất phát về kinh tế thấp, sức sản xuất hạn chế, Nhà nước vẫn vận hành theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Mọi vùng miền đất nước đều bị tàn phá, trong chiến tranh, hàng triệu nạn nhân chiến tranh cần được hỗ trợ, phần là do chúng ta phải chịu sự tác động nghiệt ngã phi lý từ chính sách cấm vận của Mỹ, lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới tây nam và biên giới phía bắc, trong khi đó sự giúp đỡ của các nước anh em, bè bạn cũng không còn như trước... Hơn 10 năm sau ngày đất nước thống nhất thật sự là thời gian thử thách bản lĩnh, trí tuệ, năng lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trong giai đoạn khó khăn đó, nhiều giải pháp đã được đề xuất, áp dụng,… nhưng để giải quyết một cách đồng bộ, có hiệu quả, tạo đà cho sự phát triển cần phải có một bước chuyển trong nhận thức, cần đổi mới tư duy, tìm ra phương thức giải quyết các vấn đề trực tiếp liên quan tới vận mệnh đất nước, tới cuộc sống của nhân dân. Nhận thức đó đã thể hiện cụ thể trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V) trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) khi nhấn mạnh “điều quan trọng là phân tích sâu sắc các nguyên nhân chủ quan, nêu rõ các sai lầm, khuyết điểm trong hoạt động của Đảng và Nhà nước”. Với sự tiếp cận khách quan, phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đảng đã chỉ ra được những hạn chế, khuyết điểm, sai lầm, từ đó có bước đột phá để mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước. Từ năm 1986 đến nay, trên cơ sở đổi mới tư duy chính trị và kinh tế, Đảng và Nhà nước cùng toàn dân thực hiện sự nghiệp đổi mới, kết hợp hài hòa giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng hướng đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sau hơn 30 năm, diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân đã có sự phát triển vượt bậc, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, sức mạnh mọi mặt của đất nước được nâng lên… Hôm nay, cái ăn, cái mặc đã không còn là nỗi lo của hầu hết gia đình Việt Nam. Bát cơm độn ngô, sắn, hạt bo bo… thiếu thịt cá đã trở thành hình ảnh của quá khứ rất xa. Từ thành thị tới nông thôn, nhà tranh vách đất được thay thế bằng nhà mái ngói, nhà xây kiên cố. Hàng chục triệu xe máy, ô-tô lưu thông trên mọi nẻo đường cũng đồng thời “soán ngôi” của xe đạp một thời. Tiện nghi hiện đại không còn là tài sản riêng của đô thị, mà lan tỏa đến mọi miền đất nước. Từ thành thị tới nông thôn tràn đầy hàng hóa tiêu dùng từ bình dân đến cao cấp. Và nhiều năm qua mỗi khi Tết đến, thay cho thói quen tích trữ, lo chuẩn bị “túi hàng Tết” bảo đảm sinh hoạt cả gia đình suốt mấy ngày, nhiều gia đình bận bịu tới tận ngày giáp Tết vẫn có thể ghé qua siêu thị mua đủ thực phẩm, hàng hóa, hoa quả, bánh trái… Chuyện thiết thực, cụ thể hằng ngày đó trở nên bình thường đến mức làm nhiều người trẻ tuổi sinh ra và lớn lên khi đất nước đã phát triển lại ngỡ cuộc sống vốn như vậy. Để rồi khi biết về khó khăn, vất vả cha ông đã phải chịu đựng trong quá khứ, một số người đã thiếu sự chia sẻ, đồng cảm và biết ơn thế hệ đi trước. Một số người thì tò mò, nghi ngờ về những gì được kể lại, nghi ngờ cả sự cố gắng, nỗ lực của một thế hệ, không tin cuộc sống đã từng như thế. Thậm chí, từ đó đã đi đến chỗ giễu cợt, mỉa mai, coi thời bao cấp là “bất bình thường, không thể chấp nhận”. Chưa kể, với những kẻ thiếu thiện chí, trong đó có người từng trải qua, còn đi xa hơn khi xưng xưng thời bao cấp là “bản chất của chế độ, đày đọa, đẩy nhân dân cảnh đói nghèo”, cố tình xuyên tạc, “bôi đen” quá khứ nhằm lèo lái, dẫn dắt nhận thức của người tiếp nhận theo hướng mơ hồ, tiêu cực... Với mỗi con người, dù dồn hết tâm sức cho hiện tại cũng không thể chối bỏ quá khứ. Và đối với mỗi dân tộc, mọi mất mát, hy sinh trong quá khứ luôn có ý nghĩa nền tảng cho hiện tại - tương lai. Do đó, khắc ghi tấm gương hy sinh của hàng triệu chiến sĩ và đồng bào, nhớ về tổn thất vô cùng to lớn của toàn dân trên hai miền nam - bắc trong quá khứ, cũng phải khắc ghi, phải nhớ về gương của hàng triệu con người từ trẻ đến già đã tự giác, đã thầm lặng hạn chế và hy sinh các nhu cầu chính đáng của bản thân mình vì sự nghiệp lớn. Chính vì thế, những ai đang muốn chối bỏ, giễu cợt, phê phán thời bao cấp, muốn chối bỏ, giễu cợt, phê phán quá khứ của dân tộc cần suy nghĩ nghiêm túc xem lại mình. Về vấn đề này, một bạn trẻ đã từng viết và công bố cách đây chưa lâu: “Cách tốt nhất để đánh giá những gì mình có trong hiện tại là bằng cách nhìn lại quá khứ. Không chỉ quá khứ của chính mình, mà cả quá khứ, hoàn cảnh của gia đình, xã hội và rộng hơn là của đất nước mình… Nếu như bạn nhìn thấy những hình ảnh chết chóc, mất mát, đau thương trong chiến tranh, bạn sẽ cảm thấy cuộc sống của chúng ta ở hiện tại quá tuyệt vời, cho dù nó không hoàn hảo hoặc vẫn còn “thiếu thốn” đối với bạn. Bạn được sống, được học hành, bạn không sợ bị đói, bạn có nhà để ở, có cơ hội để làm việc có thu nhập… Cuộc sống tốt đẹp hiện tại bạn có chính là nhờ sự cố gắng của những người đi trước, của thế hệ ông bà, bố mẹ, những người đã nỗ lực bằng mọi giá để tặng cho bạn món quà cuộc sống vô giá của ngày hôm nay. Chúng ta luôn nên cảm thấy biết ơn về điều đó. Nếu như ý thức được điều đó một cách sâu sắc, có thể bạn sẽ bớt đi những suy nghĩ ích kỷ mà nghĩ nhiều cho những người chung quanh hơn, cố gắng đầu tư vào bản thân để đóng góp nhiều hơn sao cho cuộc sống hôm nay và ngày mai còn tốt hơn nữa cho tất cả mọi người để sự tồn tại của bạn không trở nên vô nghĩa”.

NHỮNG GIỌNG ĐIỆU XUYÊN TẠC NGUY HIỂM

Tại Hội nghị lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung ương tập trung bàn về công tác quy hoạch cán bộ cho nhiệm kỳ Đại hội XIII và một số nội dung quan trọng khác. Lợi dụng những yếu kém, bất cập của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị càng gia tăng chống phá với những giọng điệu bịa đặt, bóp méo, xuyên tạc nguy hiểm. Chúng cho rằng nguyên nhân dẫn đến tình trạng thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ thời gian qua là do sai lầm trong công tác cán bộ của Đảng. Trước việc Đảng ta kiên quyết, xử lý nghiêm minh các sai phạm của hàng loạt cán bộ từ Trung ương đến cơ sở thời gian qua, chúng bóp méo, xuyên tạc rằng đó chỉ là các "phe cánh triệt tiêu nhau". Chúng trắng trợn xuyên tạc rằng, bản chất công tác cán bộ của Đảng ta là không dân chủ, thiếu minh bạch, làm theo kiểu “áo gấm đi đêm”, việc quy hoạch, sắp xếp cán bộ chỉ nhằm “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”, “lợi ích nhóm”... Đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng, khoét sâu những bức xúc của nhân dân trước tình trạng một bộ phận cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, chính quyền các cấp tham nhũng, tiêu cực; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... để tung ra những bài viết mang tính chủ quan, phiến diện một chiều, quy chụp mọi sai lầm, khuyết điểm, yếu kém trong các lĩnh vực của đời sống xã hội cho đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng. Nguy hiểm hơn, chúng cho rằng mục đích của quy hoạch cán bộ không vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích nhân dân mà chỉ là phục vụ "lợi ích nhóm", là bước chuẩn bị để các cán bộ đương chức “hạ cánh an toàn", chuẩn bị cho con em, "vây cánh" tiến thân... Từ đó chúng trắng trợn bịa đặt rằng, trong việc quy hoạch bố trí, sắp xếp cán bộ có sự "thương lượng", "thỏa hiệp" giữa các "phe cánh". Lại có kẻ lên mặt khuyên rằng: “Đảng tốt hay xấu, quan chức tốt hay xấu, người dân đều rõ cả. Do vậy, thay vì chống "luận điệu xuyên tạc"... thì Đảng nên tôn trọng các giá trị dân chủ-nhân quyền-pháp quyền và chứng minh Đảng trong sạch...”... Những giọng điệu thâm hiểm ấy ít nhiều đã tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng, lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng ta. Trước tình hình ấy, hơn lúc nào hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần nhận thức rõ vấn đề, từ đó đề cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc bịa đặt, sai trái của các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội.

THỰC TIỄN KHẲNG ĐỊNH RÕ VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ

Đề cập về vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ, trong nhiều bài viết, bài nói V.I.Lênin đã khẳng định, cách mạng muốn thành công thì phải coi trọng việc tuyển chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ, vì cán bộ có ý nghĩa quyết định thành bại của cách mạng. Thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga đã chứng minh rõ điều ấy. Nói về vai trò của công tác cán bộ, V.I.Lênin cũng chỉ rất rõ: “Nhiệm vụ tổ chức của chúng ta chính là ở chỗ tìm ra những nhà lãnh đạo và những nhà tổ chức trong quần chúng nhân dân”(1)... Nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những tư tưởng của V.I.Lênin, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Đề cập đến vai trò của cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"(2). "Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(3). Nói về vai trò của công tác tổ chức cán bộ, Người cũng chỉ rõ: “Tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng để có thể sử dụng tốt đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là điều kiện cơ bản cho bộ máy tổ chức Đảng và các cơ quan công quyền vận hành tốt, có hiệu quả và ít bệnh tật”(4). Quan điểm, tư tưởng ấy của Người luôn được Đảng ta quán triệt, vận dụng linh hoạt khi tiến hành công tác cán bộ. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, chứ không có chuyện "áo gấm đi đêm", “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ” hay vì “lợi ích nhóm”... như giọng điệu thâm hiểm mà các thế lực thù địch, phản động rêu rao. Nhờ đó mà Đảng ta đã xây dựng được đội ngũ cán bộ ngày càng trưởng thành, lớn mạnh. Cần khẳng định rõ rằng, đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mặc dù số lượng không đông nhưng nhờ giáo dục, bồi dưỡng, tôi luyện được đội ngũ cán bộ có chất lượng, luôn vững vàng trước mọi gian khó, hiểm nguy, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng, luôn đi tiên phong trên mọi mặt trận nên Đảng ta đã đoàn kết, động viên, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh thắng kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Sau giải phóng, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới, đội ngũ cán bộ của ta đã có sự phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nhờ phát huy tốt vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sau 20 năm thực hiện “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng ta đã có bước trưởng thành, phát triển cả về phẩm chất đạo đức và trình độ năng lực, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, bắt nhịp tốt với xu thế hội nhập, có trình độ ngoại ngữ và khả năng ứng dụng công nghệ tốt, đáp ứng kịp yêu cầu làm việc trong môi trường quốc tế. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín. Cán bộ cấp chiến lược vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân thực hiện. Hầu hết cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang được tôi luyện, thử thách qua thực tiễn, trung thành với Đảng, với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân...

KHÔNG VÌ "CON SÂU LÀM RẦU NỒI CANH" MÀ PHỦ NHẬN VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ

Đúng như đánh giá của Ban Chấp hành Trung ương tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 (khóa XII), bên cạnh những ưu điểm là cơ bản, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ của ta đông nhưng chưa mạnh. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp... Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc cầm chừng, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ, nhất là cán bộ quản lý doanh nghiệp Nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật Đảng và xử lý theo pháp luật. Chỉ tính trong hai năm gần đây, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra làm rõ nhiều sai phạm đặc biệt nghiêm trọng, quyết định kỷ luật và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật đối với 59 cán bộ diện Trung ương quản lý, 13 cán bộ Ủy viên Trung ương và nguyên Ủy viên Trung ương; một Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên vi phạm... Công tác cán bộ vẫn còn những hạn chế, bất cập, như: Việc thực hiện một số nội dung có nơi còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất... Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương... Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Luân chuyển cán bộ và thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh không phải là người địa phương, trong đó có bí thư cấp ủy các cấp còn bất cập, chưa đạt yêu cầu. Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, "cánh hẩu" xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách phù hợp. Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ... Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình, còn tập trung nhiều ở cấp trên... Việc kiểm tra, giám sát thiếu chủ động, chưa thường xuyên, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa theo kịp tình hình... Đầu tư xây dựng đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ... Tuy nhiên, cần phải thấy rằng những khuyết điểm, sai phạm của một số tập thể, cá nhân nói trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh”. Chúng ta không thể chỉ "thấy cây mà không thấy rừng", không thể lấy cái cá thể để suy diễn, quy chụp lên cái tổng thể. Không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Có thể khẳng định rằng, sự trưởng thành, lớn mạnh của đội ngũ cán bộ những năm qua là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong điều kiện mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ. Dư luận đồng tình với quan điểm của Đảng ta được thể hiện trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: “Phải coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”(5). Đặc biệt đối với việc chuẩn bị nhân sự cán bộ cho nhiệm kỳ tới, tại Hội nghị Trung ương 9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục chỉ đạo: “Trong quá trình thực hiện phải hết sức thận trọng, bảo đảm đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định của Đảng về công tác cán bộ, phải thật sự công tâm, khách quan, tuyệt đối không được thiên vị, cá nhân, không để lọt vào quy hoạch những người không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có quan điểm lệch lạc, mất đoàn kết, tham nhũng, tiêu cực”. Những giọng điệu tuyên truyền xuyên tạc về vai trò cán bộ và công tác cán bộ, nhất là nội dung Hội nghị Trung ương 9 là chiêu trò hết sức lố bịch, đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đảng ta càng tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ thì các thế lực thù địch, phản động càng gia tăng sự xuyên tạc chống phá. Những kết quả đạt được, những bài học rút ra từ thực tiễn càng tiếp thêm ý chí, quyết tâm để chúng ta tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị; phát huy được trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong xây dựng đội ngũ cán bộ. Mặt khác, toàn xã hội cần đề cao cảnh giác, nhận diện, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta./.

Bảo toàn danh dự đảng viên - điều cao quý, thiêng liêng

Danh dự được ví như một thứ nước hoa. Giữ được danh dự đảng viên không chỉ giữ được danh thơm cho cả gia đình, người thân, bạn bè, dòng họ, mà còn góp phần làm lan tỏa tiếng tốt của mình trong tập thể, cấp ủy, tổ chức đảng và rộng hơn là trong toàn Đảng, toàn xã hội. Nhưng danh dự lại được ví như một que diêm, khi đã cháy một lần là hết ngay. Nói thế để thấy, xây dựng được danh dự đã khó, để bảo toàn được danh dự lâu dài còn khó hơn nhiều. Trong cuộc đời, ai cũng từng mang nặng một lời thề nào đó. Lời thề luôn khởi nguồn từ những điều thiêng liêng, sâu kín nhất từ trong trái tim con người. Thuở xưa, nhiều người là đồng niên, đồng môn, đồng nghiệp muốn gắn bó lâu bền với nhau đã cùng uống chén rượu thề trước trời đất chứng giám cho tình bằng hữu được keo sơn gắn bó. Trong ngày lễ thành hôn, một trong những việc hệ trọng nhất của cuộc đời, tình nghĩa phu thê đã được nhiều người thề thốt là sống thủy chung bên nhau đến đầu bạc răng long. Cũng có nhiều binh sĩ trước khi ra sa trường hay biên ải đối mặt với quân xâm lăng, đã quyết giữ trọn lời thề trung quân ái quốc, đánh tan kẻ thù để xứng với chí khí của bậc nam nhi quân tử. Người Việt vốn sống trọng tình, trọng nghĩa nên rất trọng lời thề. Vì lời thề gắn liền với tính cách khảng khái, trượng phu, quang minh chính đại của một nhân cách chân chính. “Quân tử nhất ngôn”, “Nói lời phải giữ lấy lời”, “Lời thề như dao chém đá”… không chỉ là những câu châm ngôn đầy chất ứng xử văn hóa mà người xưa gửi gắm, trao truyền và nhắc nhớ hậu thế, mà nó còn toát lên và thể hiện ý chí, bản lĩnh, khí phách trước sau như một của những bậc dũng tướng, sĩ phu, văn nhân, quan chức giàu lòng tự trọng. Ngược lại, với những kẻ đầu môi chót lưỡi, nói đâu bỏ đấy, hứa trước quên sau, vô thủy vô chung, nói một đằng làm một nẻo thì chỉ coi lời thề là “lời nói gió bay”, “thề cá trê chui ống”… Đừng ai nghĩ rằng lời thề đơn giản. Không chỉ là lời hứa danh dự, mà hơn thế, đó là lời hứa chứa đựng cả giá trị đạo đức, văn hóa và thể hiệu chiều sâu nhân cách tử tế của một con người. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, có một lời thề làm lay động tâm can và tạo ra sức lan tỏa, truyền cảm hứng cho cả dân tộc ta, đó là lời thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” của các chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô. Tinh thần của lời thề đó tiếp tục tạo niềm tin nâng bước cho lớp lớp thanh niên trên khắp mọi miền đất nước tình nguyện nhập ngũ và ra chiến trường xung trận với một ý chí mãnh liệt: “Ra đi giữ trọn lời thề/ Đánh xong giặc Mỹ mới về quê hương!”. Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, vào mỗi buổi lễ chào cờ đầu tuần, đầu tháng, bao giờ cũng có một nghi thức trang nghiêm là một quân nhân tiêu biểu đứng dưới Quốc kỳ đọc Mười lời thề danh dự của quân nhân. Những lời thề ấy như chứa đựng cả hồn sông khí núi, tạo thêm khí thế và sức mạnh tinh thần cho mỗi chiến sĩ tiến về phía trước, đạp bằng mọi chông gai, vượt qua mọi thử thách, nỗ lực hoàn thành bổn phận giữ gìn giang sơn bờ cõi; đồng thời là lời động viên, nhắc nhớ mỗi người luôn giữ tròn chữ “trung” với Đảng, với nước và chữ “hiếu” với dân. Một trong những kỷ niệm khó phai trong đời người đảng viên là ngày được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong buổi lễ trang nghiêm ấy, chắc hẳn mỗi người không quên khoảnh khắc và cảm xúc khi nói những lời tuyên thệ: “Hôm nay vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam, trước cờ Tổ quốc, cờ Đảng, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và trước sự chứng kiến của các đảng viên trong chi bộ, tôi xin thề: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tuyệt đối phục tùng kỷ luật và sự phân công của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao…”. Nói đến lời thề của đảng viên là nói đến lương tâm, danh dự, phẩm chất, giá trị, uy tín, thanh danh của người cộng sản. Với những đảng viên có ý thức và giàu lòng tự trọng, lời thề trong ngày lễ kết nạp Đảng đã trở thành một trong những động lực rèn luyện, tu dưỡng tốt hơn, phấn đấu bền bỉ hơn, có nhiều đóng góp tích cực hơn cho tập thể, cho tổ chức đảng nơi mình công tác, qua đó góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về mọi mặt và cũng nhờ đó, bản thân ngày càng hoàn thiện về phẩm chất nhân cách và không ngừng tiến bộ, trưởng thành. Lời thề của những đảng viên chân chính thực chất là lời bảo đảm cam kết chính trị hàng đầu về lòng trung thành, chí tiến thủ và tinh thần suốt đời phấn đấu, hy sinh vì những mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của Đảng và cách mạng. Vì mang theo lời thề thiêng liêng ấy, trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, có gần 160.000 đảng viên đã chiến đấu và anh dũng hy sinh vì nước, vì dân. Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn là những năm gần đây, một bộ phận cán bộ, đảng viên đang tự đánh mất những phẩm giá thiên lương của người cộng sản, làm hoen ố danh dự của đảng viên. Nguyên nhân sâu xa dẫn tới thực trạng này là cán bộ, đảng viên không thấm thía những lời thề thiêng liêng từ ngày đầu là đảng viên mới; không ứng xử trọn vẹn, thủy chung với những lời tuyên thệ đã từng cất lên từ trái tim mình trong buổi lễ kết nạp Đảng; không kiên tâm, bền bỉ nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn danh dự hai chữ “đảng viên”-một danh xưng là niềm ước mơ, khát vọng cháy bỏng mà mình hằng phấn đấu, theo đuổi và ngưỡng mộ. Không ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta từng bày tỏ nỗi lòng sâu kín nhất của mình khi đặt câu hỏi: “Mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”. Vốn suy tư và nặng lòng trăn trở cho sự trường tồn của Đảng và chế độ ta, vị lãnh đạo cao nhất của đất nước không dưới một lần bày tỏ cảm xúc “đau lòng” khi một loạt cán bộ cao cấp và nguyên cán bộ cao cấp bị xử lý kỷ luật; đồng thời cảnh báo, cảnh tỉnh mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp và cán bộ cao cấp trong hệ thống chính trị phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, tự soi, tự sửa để tránh đi vào những vết xe đổ; nếu tay trót “nhúng chàm” thì phải “tự giác gột rửa”; đồng thời đừng quên rằng, danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất đối với mỗi con người, trước hết là mỗi cán bộ, đảng viên. Không trăn trở sao được khi trong 7 năm (2011-2017), có tới gần 51.000 đảng viên bị xóa tên khỏi Đảng, trong đó hơn 38.500 trường hợp bị xóa tên do vi phạm, ngoài ra có gần 12.500 đảng viên bị kỷ luật khai trừ khỏi Đảng. Đấy là chưa kể trong vòng chưa đầy 3 năm kể từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, Đảng ta đã xử lý kỷ luật hơn 60 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, một con số nói lên “kỷ lục” buồn về sự tổn thất cán bộ. Đáng nói hơn, có những cán bộ khi còn ở cương vị thấp luôn giữ được sự trong sáng của người đảng viên chân chính; cũng có cán bộ từng nếm mật nằm gai, từng trải qua những năm tháng vào sinh ra tử, từng lên rừng xuống biển, lặn lội xông pha với nhân dân trong thực tiễn cơ sở; nhưng khi phấn đấu vươn lên và được trao quyền lực lớn hơn đã thiếu nghiêm khắc rèn luyện bản thân, bị mê hoặc, quyến rũ bởi “cái bả” tiền tài danh vọng nên từng bước trượt dài, lún sâu vào con đường sai phạm. Để rồi khi tỉnh ngộ ra, những cán bộ bị kỷ luật, bị rơi vào vòng lao lý mới hiểu thế nào là nỗi đau âm ỉ: “Mất tiền bạc là mất ít, mất sức khỏe là mất nhiều, mất danh dự là mất tất cả”! Danh dự được ví như một thứ nước hoa. Giữ được danh dự đảng viên không chỉ giữ được danh thơm cho cả gia đình, người thân, bạn bè, dòng họ, mà còn góp phần làm lan tỏa tiếng tốt của mình trong tập thể, cấp ủy, tổ chức đảng và rộng hơn là trong toàn Đảng, toàn xã hội. Nhưng danh dự cũng được ví như một que diêm, khi đã cháy một lần là hết ngay. Nói thế để thấy, xây dựng được danh dự đã khó, để bảo toàn được danh dự lâu dài còn khó hơn nhiều. Vậy nên, khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ đội tiền phong của những người chiến sĩ cách mạng, dù ở đâu, lúc nào, trên cương vị gì, nhất là trong những lúc khó khăn, cam go, thử thách và trước những cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh hoa”, mỗi đảng viên đừng bao giờ quên mình đã có một lời thề thiêng liêng trước lá cờ Tổ quốc, cờ Đảng và trước anh linh Bác Hồ vĩ đại. Muốn trọn đời theo Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên hãy biết khắc cốt ghi tâm những lời thề trong ngày kết nạp Đảng, góp phần làm cho danh hiệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là niềm tin, niềm tự hào và trở thành “danh thơm, tiếng tốt” có sức hút, sức hấp dẫn đối với mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Đó cũng là một cách bảo vệ uy tín, danh dự của Đảng Cộng sản Việt Nam bền vững nhất. Đồng thời, đó cũng là một việc làm thiết thực để góp phần phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng.

Vận dụng quan điểm của Lênin đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải được bổ sung và phát triển trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học và thực tiễn cuộc sống, đó là cách duy nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sáng 13/11/2018, trình bày trước Quốc hội báo cáo tình hình kết quả công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật năm 2018, Thượng tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Công an, khẳng định: các tổ chức phản động lưu vong tiếp tục tăng cường hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc tạo sự hoài nghi, gây ra tâm trạng bức xúc trong một bộ phận quần chúng nhân dân, từ đó kích động tập trung đông người gây rối, leo thang các hoạt động bạo lực, khủng bố phá hoại. Chúng lợi dụng “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”[1]. Chúng đã lợi dụng và sử dụng “những hạn chế, khuyết điểm mà Đảng ta đã tự đánh giá” nhằm khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, chia rẽ lôi kéo kích động giữa nhân dân với Đảng, làm “trầm trọng thêm” tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng bằng các quan điểm sai trái thù địch là một âm mưu thâm độc, là nội dung cơ bản trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; lực lượng phản động, cực đoan của người Việt ở nước ngoài nhằm lôi kéo, kết hợp với bộ phận cơ hội chính trị, bất mãn trong nước và những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đó có những cán bộ từng giữ vị trí lãnh đạo, quản lý đã thoái hóa, biến chất; có cả cán bộ, đảng viên, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ đã có những phát ngôn, thể hiện quan điểm điểm sai trái, đi ngược lại với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thậm chí thù địch. Các thế lực đã viết sách, báo, sản xuất băng hình nhằm bôi nhọ các lãnh tụ của Đảng, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước; chúng gia tăng các phương tiện thông tin đại chúng, sử dụng nhiều đài phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt, nhiều ấn phẩm, tạp chí, hàng ngàn blog, website. Và đặc biệt, gần đây chúng đã tận dụng, khai thác triệt để Internet và mạng xã hội “lan truyền thông tin tiêu cực, xấu độc, làm nhiễu loạn thông tin” Vào đêm trước của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin đã viết bài “Một vụ săng-ta chính trị” trên báo Người vô sản đăng số 10, ngày 6 tháng 9 năm 1917 nhằm đấu tranh chống lại bọn săng-ta chính trị, mục đích của bọn phản động này là: bịa đặt, dọa dẫm, vu khống Đảng và các lãnh tụ của Đảng, đặc biệt là phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, bảo vệ Đảng trong những thời khắc khó khăn khi mà các lực lượng đối lập, thù địch bôi nhọ Đảng, chia rẽ Đảng với quần chúng nhân dân, giai cấp công nhân với nông dân và trí thức, V.I.Lênin đã viết: “chúng ta tin tưởng ở đảng, chúng ta thấy ở đó trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta”[2]. Trước “phút giao thừa” của cuộc cách mạng quyết tâm “bảo vệ năng lực công tác của đảng ta, bảo vệ các lãnh tụ của đảng”[3].V.I.Lênin đã kêu gọi toàn thể đảng viên nâng cao nhận thức,cảnh giác trước các âm mưu, chia rẽ nội bộ và hãy đoàn kết, siết chặt đội ngũ, tin tưởng vào tư cách của một đảng chân chính cách mạng và bảo vệ nền tảng chủ nghĩa Mác, bảo vệ các lãnh tụ của Đảng. Ngoài các thế lực thù, địch còn một lực lượng nữa đó là chủ nghĩa cơ hội cũng nguy hại rất lớn, chúng tác động làm suy yếu của tổ chức từ bên trong, chúng đã và đang xuất hiện cũng hết sức tinh vi. Vì thế, Ph.Ăngghen đã nói rằng chủ nghĩa cơ hội biến chủ nghĩa Mác thành một thứ “chủ nghĩa Mác” bị xuyên tạc méo mó”[4]. Thực chất chủ nghĩa cơ hội là thù địch của chủ nghĩa Mác-Lênin: bản chất của nó là sẵn sàng hy sinh lợi ích cơ bản, để đạt lợi ích trước mắt; chủ trương hành động vô nguyên tắc (phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng). V.I.Lênin khẳng định chủ nghĩa cơ hội “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế”[5]. Nguy hại của chủ nghĩa cơ hội trong Đảng là họ sẵn sàng thỏa hiệp chính trị. Ngoài ra, V.I.Lênin cho rằng họ hiểu chủ nghĩa Mác một cách không có hệ thống. Và do vậy, họ luôn “nhảy từ một cực đoan bất lực này sang một cực đoan bất lực khác”[6]. Những kẻ cơ hội chủ nghĩa rất tinh vi và xảo quyệt, Lênin đã nhắc nhở: “bổn phận của chúng ta, nếu chúng ta vẫn muốn còn là những người xã hội chủ nghĩa, là phải đi sâu, đi sát hơn vào quần chúng thật sự: đấy là toàn bộ ý nghĩa của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và toàn bộ nội dung cuộc đấu tranh đó”[7] “Điều rất cần thiết hiện nay là, về mặt tổ chức, phải hoàn toàn tách hẳn những phần tử cơ hội chủ nghĩa ấy ra khỏi các đảng công nhân”[8] dù cho bản thân đảng có “phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa”[9]. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”[10]. Đây chính là chủ nghĩa cơ hội rất ngang nhiên. Vì vậy, đứng trước những thực tế trên, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên phải: Một là, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải được bổ sung và phát triển trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học và thực tiễn cuộc sống, đó là cách duy nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”[11]. Như vậy, bất cứ giai đoạn nào kể từ khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời và là nền tảng tư tưởng của các Đảng Cộng sản nói chung và của Đảng ta nói riêng cũng là mục tiêu phá hoại của các thế lực thù địch. Họ sẵn sàng bịa đặt, nói xấu, đổi trắng thay đen, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số cán bộ, đảng viên tham nhũng, thoái hóa biến chất; phủ nhận công lao của Đảng, quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm về cho Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy hiện tượng thay cho bản chất. Ngày nay, khi đất nước chúng ta đang có hòa bình sau bao nhiêu năm hy sinh của toàn dân tộc mới có được, có những người đã được dân đùm bọc, cưu mang, có những trí thức (không tham gia kháng chiến chống Mỹ) du học trở về, nay rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cùng hùa với những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân, đi ngược lại lịch ích dân tộc. Vì vậy, cần nhận thức rõ rằng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là “cuộc chiến đầy cam go, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng ta và chế độ ta”[12] Hai là, tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, dựa vào dân, gắn bó mật thiết với nhân dân để xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng và nền tảng tư tưởng của Đảng Xây dựng chỉnh đốn Đảng mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong sáng về đạo đức, chuẩn mực về tác phong thì mỗi tổ chức Đảng trong toàn Đảng, mỗi cán bộ đảng viên và cấp ủy các cấp đặc biệt người đứng đầu cấp ủy phải thực sự bản lĩnh về chính trị, tư tưởng, giữ nghiêm kỷ luật của tổ chức và gương mẫu về lối sống, có một nhân cách cao thượng, bao dung, vị tha, thân ái, nghĩa tình với đồng chí, đồng đội, là cách bảo vệ và tự bảo vệ Đảng và nền tảng tư tưởng của Đảng, thì không một thế lực nào có thể công phá được, vừa hợp lòng dân, đó là vấn đề then chốt về xây dựng Đảng trên các mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, là phương thức hữu hiệu nhất làm các thế lực thù, địch tự thất bại. Bởi nguyên tắc của cổ nhân đã đúc kết đó là: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa, đất nước chúng ta đang hội tụ cả sáu chữ đó, yếu tố cuối cùng quyết định vận mệnh của Đảng là phải chiếm được nhân hòa, ai chiếm được nhân hòa (lòng dân) người đó có được thiên hạ. Nhân dân ta hơn 88 năm qua đã trao sứ mệnh lịch sử cho Đảng dẫn dắt đất nước ta tiến cùng thời đại, mỗi bước đi của dân tộc đều gắn với vai trò của Đảng, vậy mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nhìn lại nghìn xưa, nhìn lại những gì cha ông ta, từ truyền thống tới hiện tại đã dựng xây non sông Việt Nam từng bước tiến cùng loài người làm rạng rỡ tiền nhân mà hãy đoàn kết “một lòng phụ tử” giữ vững bên trong mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức là giải pháp của giải pháp trong đấu tranh chống các thế lực, thù địch chống phá Đảng và nền tảng tư tưởng của Đảng. Ba là, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cảnh giác về những thông tin vu khống, bịa đặt của các thế lực thù địch bôi nhọ, chia rẽ các lãnh tụ, lãnh đạo và nền tảng tư tưởng của Đảng Các Mác là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của mười thế thế kỷ qua do chính các nhà khoa học viện Hoàng gia Anh bình chọn, chỉ cần thế là đủ để khẳng định rằng, ngay cả người tư sản luôn tôn trọng Mác, dành cho Mác một vị trí vĩ đại ứng với những gì Mác đóng góp cho cho giai cấp công nhân và nhân lao động và nhân loại trên toàn thế giới nói chung. Tháng 4 năm 1993, tại Hoa Kỳ có một cuộc hội thảo với đề tài: Chủ nghĩa Marx đi về đâu? (Whither Marxism?), do Jacques Derrida (1930-2004) đã trình bày trong hai buổi một thuyết trình: Những bóng ma của Marx. Một trong những quan điểm của cuộc hội thảo là: “không có tương lai nếu không có Mác, nếu không có các di sản của Mác”[13] và các học giả tư sản cho rằng hãy “trở về với Mác”, “nhân loại không thể thiếu Mác”. Như vậy chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là hệ tư tưởng tiến bộ nhất đang tiếp tục dẫn dắt nhân loại như Giắc-cơ Đê-ri-đa đã khẳng định. Bốn là, đấu tranh phản bác, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng Tác động của cuộc cách mạng 4.0 (The Fourth Industrial Revollusion) tới tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, có cả những tác động tích cực và có cả những mặt không tích cực. Mặt tiêu cực đây chính là các thế lực, thù địch lại đang sinh sống ở những nơi, những nước phát triển nhất của thế giới, nắm trong tay công nghệ, chúng lợi dụng cuộc cách mạng này vào mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và sự bình yên của nhân dân. Đây chính là một thách thức không nhỏ trong cuộc đấu tranh chống lại những “thông tin độc hại trên mạng”…Với lượng thông tin khổng lồ chống, phá, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, thì việc tiếp cận thông tin thiếu định hướng sẽ dễ dẫn đến mất phương hướng, rơi vào cực đoan khi bị tác động của các hệ tư tưởng phản tiến bộ. Vì vậy, thứ nhất, toàn Đảng, tổ chức đảng các cấp, các ngành, các lực lượng phải tự nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nâng cao dân trí giúp cho cán bộ, đảng viên và người dân ứng dụng được công nghệ cao và tiếp cận được thông tin - một trong những yếu tố quan trọng, thậm chí là quyết định trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai, trái của các thế lực phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ nhận thức đến năng lực làm chủ công nghệ, đủ năng lực để phân biệt được đúng, sai, tránh tình trạng người dân bị lợi dụng, kích động, dẫn tới những hành vi cực đoan. Thứ hai, phát huy vai trò của Nhà nước trong đấu tranh, đòi hỏi sự tham gia góp sức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo. Nhà nước không ngừng tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của nhân trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó Nhà nước phải kiên quyết, ngăn chặn các hành vi vi phạm của cán bộ nhà nước lợi dụng chức quyền vi phạm quyền tự do, quyền làm chủ của nhân dân, thì người dân sẽ tin tưởng vào chính quyền, họ sẽ bảo vệ, đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của mình góp phần bảo vệ Đảng. Năm là, nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lấy lại niềm tin của dân là cách bảo vệ Đảng và nền tảng tư tưởng của Đảng hữu hiệu nhất Tham nhũng của một bộ phận cán bộ lợi dụng chức quyền chiếm đoạt tài sản, tiền của Nhà nước, tổ chức và công dân. Cách đây 24 năm, tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (20-25/1/1994), Đảng ta coi tham nhũng, lãng phí là một trong bốn nguy cơ, nhưng nay nó đã trở thành hiện hữu như “cơn bão” cấp 12 tàn phá nền kinh tế, làm “biển động” “lòng người” của một bộ phận cán bộ có chức có quyền rơi vào suy thoái, hủ hóa. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) Việt Nam xếp thứ 107/180 về chỉ số tham nhũng Việt Nam tiếp tục nằm trong số các nước có tình trạng tham nhũng cao trong bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng 2017 công bố ngày 22/2/2017[14]. Cuộc chiến chống quan liêu, tham nhũng là quyết tâm của toàn Đảng, được nhân dân ủng hộ, chúng ta hãy tin tưởng vào “trí tuệ, lương tâm và danh dự” của Đảng nhằm ngăn chặn những biểu hiện, hành vi của những cán bộ, đảng viên bị thoái hóa, biến chất, đưa ra khỏi Đảng những cán bộ tham nhũng, như V.I.Lênin đã từng nói tham nhũng là cặn bã của nhân loại, cần phải tống cổ ra khỏi đảng, bỏ tù, thậm chí xử bắn để làm gương…Làm cho cơ thể của Đảng khỏe mạnh ngày càng ít vi trùng hơn. Người bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là quần chúng nhân dân, cho nên đấu tranh chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, cần phải phải có sự thống nhất cao trong toàn Đảng về tầm quan trọng của vấn đề này, phải tiến hành từ trên xuống như một cuộc chiến đấu chống lại cái ác. Tham nhũng là kẻ thù, là tội ác đối với xã hội, cho nên trong cuộc chiến chống lại cái ác cần phải giám sát chặt chẽ, “chủ nhân” của sự giám sát ấy là “toàn dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong cuộc chiến đấu này, Đảng phải dựa vào dân, tập hợp lòng dân; trong cuộc chiến đó không phép được mềm yếu, do dự, “lò đã nóng”, “củi đang cháy”, “bếp đang rực hồng”, nếu không đấu tranh phòng, chống cái các ấy là có lỗi với dân. Lênin viết: “Bọn nhà giàu và bọn ăn cắp là hai mặt của một tấm huân chương, đó là hai loại ăn bám chủ yếu…đó là kẻ thù chủ yếu của chủ nghĩa xã hội. Những kẻ thù đó, cần phải có sự giám sát đặc biệt của toàn dân đối với chúng. Bất cứ một sự mềm yếu nào, bất cứ một sự do dự nào, bất cứ một sự thương hại nào về mặt này đều là tội ác tày trời đối với chủ nghĩa xã hội”[15].

Một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

Nói tới vai trò của ý chí, từ xưa đến nay đã có nhiều câu đúc kết về một trong những yếu tố quan trọng làm nên tư cách và thành công của mỗi con người. Ví như: “Có chí thì nên”, “Có công mài sắt có ngày nên kim”, “Có chí làm quan, có gan làm giàu”, “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”… Bác Hồ cũng có 4 câu thơ nổi tiếng căn dặn các thế hệ thanh niên Việt Nam: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của ý chí, phần đông cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) luôn phát huy vai trò tiên phong của người chiến sĩ cách mạng, có tinh thần xông pha, ý thức vượt khó, động cơ phấn đấu tích cực, dốc lòng dốc sức với công việc được giao. Nhờ có đội ngũ CB, ĐV giữ vững bản lĩnh, ý chí phấn đấu tốt và tận tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Đảng ta luôn giữ vững vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân. Bên cạnh những tấm gương CB, ĐV thường xuyên nuôi dưỡng và thể hiện chí tiến thủ, thời gian qua cũng xuất hiện một bộ phận CB, ĐV “sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”-một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra. Sự sa sút ý chí phấn đấu của một bộ phận CB, ĐV biểu hiện dưới nhiều vẻ. Đó là thái độ ngại việc khó, dễ làm khó bỏ, né tránh đến công tác ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, đi lại vất vả. Có những người thời gian đầu mới được kết nạp Đảng, mới được bầu vào cấp ủy, mới được bổ nhiệm chức vụ thì luôn tỏ ra hăng hái, nhiệt tình, trách nhiệm với công việc chung, làm việc vì lợi ích chung; nhưng thời gian về sau, nhất là thời điểm cuối nhiệm kỳ, sắp đến tuổi nghỉ hưu thì làm việc cầm chừng, thậm chí được chăng hay chớ. Có những đảng viên nhiều năm giữ một cương vị, không được điều động sang vị trí khác hay bổ nhiệm cương vị cao hơn thì nảy sinh tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm việc thiếu nhiệt huyết, không say mê nghiên cứu, học tập, suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo để thúc đẩy, bứt phá công việc đi lên, thậm chí an phận thủ thường, mũ ni che tai, ai nói gì cũng… mặc kệ! Sự sa sút ý chí phấn đấu của một bộ phận CB, ĐV còn biểu hiện ở việc không thường xuyên tự tu dưỡng, tự rèn luyện, tự giác khép mình vào khuôn khổ tổ chức, không tự quản lý, kiểm soát được bản thân, từ đó bị “lóa mắt” trước sự quyến rũ, mê hoặc ghê gớm của tiền tài, vật chất, quyền lực rồi dẫn đến tha hóa, biến chất. Theo thống kê của cơ quan chức năng, từ đầu năm 2014 đến tháng 6-2018, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp trong toàn Đảng đã xử lý kỷ luật hơn 58.100 đảng viên vi phạm, trong đó có hàng nghìn đảng viên sa sút ý chí phấn đấu, không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Thực tế cho thấy, CB, ĐV sa sút ý chí phấn đấu không chỉ khiến họ “giậm chân tại chỗ”, thậm chí tụt hậu, thoái hóa, mà còn ảnh hưởng đến tổ chức đảng và tập thể nơi họ công tác. Vì những con người này vô hình trung thủ tiêu động lực phấn đấu của chính mình, làm chùng bầu không khí thi đua của tập thể và tác động không thuận đến việc thực hiện kết quả, mục tiêu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Không những vậy, việc sa sút ý chí trong rèn luyện, tu dưỡng đã khiến đảng viên dễ rơi vào tình trạng vi phạm kỷ luật Đảng, kỷ luật công vụ, ảnh hưởng không tốt đến chiều hướng phát triển lành mạnh của tổ chức, tập thể.

Cán bộ, đảng viên cần bền bỉ duy trì ý chí phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện suốt đời

Là một trong những mặt năng động, tích cực nhất của ý thức, ý chí biểu hiện ở thái độ, tinh thần, năng lực thực hiện những hành động có chủ đích, bất chấp mọi khó khăn, đạp bằng mọi chông gai, kiên trì, bền bỉ làm việc đến nơi đến chốn để giành thành quả tốt đẹp. Nói đến đảng viên, không thể không nói đến ý chí, vì đây không chỉ là một thuộc tính làm nên giá trị nhân cách, mà còn là một trong những động lực thôi thúc đảng viên phấn đấu vươn lên thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ. “Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường”. Hàm ý câu danh ngôn khuyên nhủ, nhắc nhớ con người muốn đạt được thành tích, kết quả khả quan và hướng tới những mục tiêu tốt đẹp, thì không thể không có ý chí vượt khó, ý thức vươn lên, tìm tòi sáng tạo trong cuộc sống và công tác. Đối với CB, ĐV thì càng phải thường xuyên rèn luyện, bồi đắp và nâng cao ý chí để làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Bởi sức cuốn hút, thuyết phục, cảm hóa quần chúng của đảng viên không ở đâu xa, mà nhiều khi thể hiện ở tấm gương bền bỉ nỗ lực phấn đấu không ngừng nghỉ của mình. Đảng viên có chí phấn đấu tốt mới là tấm gương lôi cuốn quần chúng học tập, noi theo. Đảng viên có chức vụ càng cao, càng phải tự giác nêu gương về tinh thần, ý chí phấn đấu để góp phần nhân lên, lan tỏa những điều tích cực trong cuộc sống. Để có chí tiến thủ, mỗi CB, ĐV cần thấu hiểu vai trò to lớn của ý chí trong giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng và hoàn thiện phẩm chất nhân cách con người. Muốn vậy, cần thường xuyên bồi đắp, xây dựng cho mình có những thuộc tính cơ bản của ý chí, đó là tính mục đích, tính độc lập, tính kiên trì, tính quyết đoán. Làm gì cũng phải hướng đến mục đích cầu thị, vì sự phát triển, trưởng thành của bản thân, vì sự tiến bộ, vững mạnh của tập thể. Có tính độc lập để luôn chủ động trong công tác, làm việc với tinh thần, trách nhiệm tốt để đạt năng suất, chất lượng cao. Có tính kiên trì để “thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng”, bền bỉ vượt qua mọi khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ. Có tính quyết đoán, dũng cảm để không bao giờ chần chừ, do dự, chậm chạp trong giải quyết, xử lý công việc, mà luôn thể hiện thái độ dứt khoát, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đối với các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, kịp thời động viên, khuyến khích những tấm gương đảng viên nỗ lực vượt khó để học tập tốt, lao động giỏi, công tác hiệu quả, có nhiều đóng góp, cống hiến cho tập thể. Bên cạnh đó, cần chú ý nhắc nhở, uốn nắn, phê bình, xử lý những CB, ĐV sa sút ý chí phấn đấu, ngại khó ngại khổ, thái độ thờ ơ, làm việc cầm chừng, qua loa đại khái, thiếu trách nhiệm với công việc chung, không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ. Ở thời kỳ nào cũng vậy, những tấm gương đảng viên giàu ý chí phấn đấu luôn là một trong những biểu tượng đẹp của Đảng trong xã hội. Ngược lại, những đảng viên thiếu tu dưỡng, ngại rèn luyện, không có ý thức vượt khó vươn lên trong cuộc sống, công tác, không tận tụy hết mình vì công việc, vì tập thể sẽ làm xấu hình ảnh của Đảng trong con mắt nhân dân. Cách đây hơn 60 năm, trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng” viết tháng 12-1958, Bác Hồ chỉ rõ: “Muốn rèn luyện đạo đức cách mạng, thì chúng ta phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu. Mà thoái bộ và lạc hậu thì sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải” và: “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước”. Một trong những tấm gương đảng viên cộng sản trung kiên, mẫu mực nhất của Đảng ta là đồng chí Trần Phú. Trọn đời cống hiến và hy sinh ở tuổi đời còn trẻ, ngày 6-9-1931, trước khi trút hơi thở cuối cùng ở Nhà thương Chợ Quán, vị Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta đã dặn dò những người đồng chí của mình: “Trước sau tôi chỉ mong anh chị em hãy giữ vững chí khí chiến đấu!”. Thông điệp đó của cố Tổng Bí thư Trần Phú nhắc nhớ chúng ta không bao giờ được phép nhụt chí, lùi bước trước mọi khó khăn, thử thách, mà cần bền bỉ rèn luyện, nhân lên tinh thần, khí thế cách mạng cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi.

Quan chức sống, sinh hoạt xa hoa - một thái độ vô trách nhiệm với dân

Khi nhìn nhận, xem xét, đánh giá nhân cách một con người, không thể không nói đến phong cách, lối sống của họ. Vì phong cách, lối sống vừa là những yếu tố quan trọng góp phần làm nên tư cách đạo đức của con người, vừa là một trong những quy chuẩn để soi chiếu, định vị giá trị văn hóa của họ trong mối quan hệ với tập thể, tổ chức, cộng đồng và xã hội. Điều này càng có ý nghĩa đối với cán bộ, đảng viên. Nói đến phong cách, lối sống của cán bộ, đảng viên chân chính là nói đến vẻ đẹp giản dị, tấm lòng trung thực, tinh thần cao thượng, tình cảm thân thiện, tâm hồn thanh khiết, thái độ giao tiếp ứng xử chuẩn mực và ý thức đối nhân xử thế giàu lòng nhân ái, bao dung. Đặc trưng phong cách, lối sống của cán bộ, đảng viên cộng sản tập trung ở đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phong cách, lối sống không phải là cái gì trừu tượng, khó hiểu, mà nó được thể hiện, bộc lộ từ trang phục, đồ dùng sinh hoạt cá nhân đến thái độ, hành vi ăn, mặc, ở, nói năng, đi lại, tiêu dùng, giải trí của cán bộ, đảng viên. Những cán bộ, đảng viên chuẩn mực thì thường cảm thấy xa lạ, thậm chí “dị ứng” với những trang phục lòe loẹt, mang mặc không đúng lúc, đúng chỗ, đúng hoàn cảnh giao tiếp và cũng không sử dụng những đồ dùng sinh hoạt cá nhân xa xỉ, đi những xe sang vượt tiêu chuẩn cho phép, ăn uống lãng phí, tiêu dùng xa hoa, giải trí phù phiếm. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên lại thích nổi trội trước đám đông không phải bằng tài năng, công lao đóng góp, cống hiến cho tập thể, xã hội, mà bằng những thứ hào nhoáng bên ngoài như trang phục sang chảnh, trang sức lộng lẫy, biển số xe “lộc phát”, tiện nghi sinh hoạt cá nhân đẳng cấp, biệt thự siêu sang, ăn chơi xả láng, thậm chí tiêu tiền như… ném qua cửa sổ. Tất nhiên, với những cán bộ, đảng viên may mắn được hưởng quyền thừa kế khối tài sản lớn của ông cha để lại, hay có người thân ăn nên làm ra do kinh doanh đầu tư sinh lời... thì họ có quyền hưởng thụ sự giàu sang của mình mà không ai thắc mắc. Nhưng thực tế có không ít quan chức và người thân thích ruột thịt của họ sống, sinh hoạt khác xa với số đông người dân, mà số tiền chi tiêu xa xỉ, lãng phí này chủ yếu từ những khoản thu nhập bất minh, tham nhũng. Đây mới là điều đáng phải cảnh tỉnh, phê phán. Thời gian qua, dư luận từng xôn xao khi biết những thông tin về lối sống, sinh hoạt, giải trí xa hoa của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người thân của họ. Như một hệ lụy tất yếu, những vật dụng trưng diện “đình đám” trước bàn dân thiên hạ của nhiều quan chức lại trở thành những “vật chứng” khiến cho chủ nhân của nó rơi vào tình cảnh “điêu đứng”, thậm chí có người còn lâm vào cảnh lao lý. “Trăm năm bia đá cũng mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Rồi đây, những quan chức “nhúng chàm” phải “vào nhà đá bóc lịch” cũng có ngày được trở lại vị thế một công dân tự do; hay có quan chức sai phạm vài ba năm sau sẽ được “xóa án” kỷ luật Đảng, nhưng dư luận sẽ khó quên những vật dụng xa hoa của chủ nhân, ví như chiếc xe sang Lexus của cá nhân một cựu phó chủ tịch UBND tỉnh lại được cấp biển số xanh (xe công); những biệt thự hoành tráng của một số quan chức và con em một số quan chức cao cấp mọc lên sừng sững ở những vị trí "đất vàng" hay trên những thửa ruộng đất nông nghiệp, lâm nghiệp bị sử dụng sai mục đích…