Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

Việt Nam thực hiện tốt nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


 Nhận thức về xây dựng và phát huy dân chủ ngày càng sâu sắc hơn

* Về tầm quan trọng và vai trò của xây dựng và phát huy dân chủ. Khẳng định, dân chủ là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới. 

* Về tính tất yếu khách quan phải đẩy mạnh các hình thức và phương thức thực hiện dân chủ, nhất là hình thức dân chủ trực tiếp

* Về phát huy dân chủ đồng thời với tăng cường kỷ cương, pháp luật

* Về vai trò quyết định của dân chủ trong Đảng đối với phát triển dân chủ trong hệ thống chính trị và toàn bộ đời sống xã hội.

Thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa trên tất cả các lĩnh vực.

Điều 6, Hiến pháp 2013 quy định rõ các hình thức thực hiện dân chủ: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.

Hiến pháp năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Quyền dân chủ không ngừng được mở rộng từ trong Đảng ra phạm vi toàn xã hội

Quyền và lợi ích của nhân dân được tôn trọng, bảo vệ; các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân đã được xem xét và xử lý nghiêm khắc theo pháp luật.

Dân chủ ở Việt Nam được thể hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

 


Dân chủ ở Việt Nam có nội dung toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: về kinh tế; về chính trị; về tư tưởng - văn hóa và về quốc phòng, an ninh, trong đó dân chủ về kinh tế giữ vai trò quyết định.

+ Dân chủ về kinh tế

* Quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt với các tư liệu sản xuất

* Quyền tham gia vào các hoạt động quản lý nền kinh tế.

* Quyền tham gia quá trình phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội.

+ Dân chủ về chính trị

* Quyền ứng cử, đề cử, bầu cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước.

* Quyền thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

* Quyền kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội với các hoạt động của Hệ thống chính trị

+ Dân chủ về văn hóa - xã hội

* Quyền được thưởng thức và sáng tạo các giá trị văn hóa.

* Quyền được học hành, phát triển, tự do đi lại, cư trú, tự do tôn giáo...

* Quyền được có công ăn việc làm, đảm bảo an sinh xã hội...

+ Dân chủ về quốc phòng, an ninh

* Quyền được thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

* Quyền được tham gia các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội và được đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản theo quy định của pháp luật.

Bản chất của chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay

 


Chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là chế độ dân chủ XHCN, mang bản chất của giai cấp công nhân

+ Chủ thể của quyền lực chính trị ở Việt Nam là đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Ở nước ta mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân.

+ Dựa trên chế độ công hữu về TLSX

+ Mọi tổ chức của hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của GCCN.

+ Mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ.

Một số vấn đề mới khi đấu tranh trên không gian mạng

 Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng Internet, các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin xấu độc, bịa đặt, sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch; bôi nhọ, vu khống lãnh tụ, kích động bạo lực, lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin…

Song do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như tác hại của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch với nước ta.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng 2 trang mạng xã hội là Facebook và Youtube để đăng, chia sẻ những thông tin sai trái, cơ hội chính trị lên không gian mạng Internet. Thủ đoạn thường được chúng sử dụng đó là dùng những tin, bài, những hình ảnh trên các báo chí chính thống của ta ở trong nước, sau đó viết lại, chỉnh sửa thành những nội dung bịa đặt hoặc định hướng sai lệch để đăng tải. Điều này thu hút sự quan tâm của người xem, người đọc trước những thông tin có nội dung giống với các thông tin chính thống, tạo cảm giác nửa tin, nửa ngờ và nếu không tìm hiểu, nghiên cứu kỹ sẽ bị tác động xấu bởi những thông tin xuyên tạc này. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng trang Blog để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước, khi nó kết hợp với mạng xã hội, các bài viết trên Blog được chia sẻ lên mạng xã hội tạo sức lan tỏa lớn.

Để  đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin chính thống, đảm bảo phong phú, đa dạng, nhiều cấp độ, tùy theo đối tượng để cung cấp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời luôn xây dựng bản lĩnh vững vàng, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp cận những thông tin nhạy cảm, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách tạo môi trường trong sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động thù địch, từng bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học tập, công tác, lao động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày... “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, cũng là góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

                                                                                                                                                     PV (st)

Dân chủ và chế độ dân chủ có gì khác nhau?

 


Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng…) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc (quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí hành động, bầu cử tự do và công bằng…) để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

Có thể khái quát:  Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, là quyền tự do bình đẳng của nhân dân trong đời sống xã hội, gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định.

+ Dân chủ là quyền làm chủ, quyền tự do, bình đẳng của nhân dân trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

 “Dân chủ” ra đời từ thời nhà nước thành bang Aten cổ đại. Dân chủ là phạm trù chính trị, gắn liền với chính trị. Dân chủ phản ánh địa vị, vai trò của nhân dân trong quan hệ giữa con người với quyền lực chính trị, trong đó nhân dân là chủ và làm chủ trên mọi lĩnh vực của xã hội; mọi công dân đều có quyền tự do, bình đẳng. Hồ Chí Minh: “Dân là chủ” là muốn nói đến vị thế, quyền lực của nhân dân trong bộ máy nhà nước; vai trò của nhân dân trong quản lý xã hội. Người nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”.

+ Dân chủ là một phạm trù lịch sử và gắn liền với đấu tranh giai cấp.

 Ở mỗi thời đại lịch sử khác nhau thì phạm trù dân chủ có nội dung khác nhau. Sự phát triển của dân chủ chịu sự chi phối bởi trình độ phát triển của kinh tế, văn hóa, dân trí và các nhân tố xã hội khác. Dân chủ là kết quả của đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Do đó, đấu tranh cho dân chủ là một nội dung, một mục tiêu của đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Cùng với lịch sử, dân chủ từng bước được thực hiện, từ chỗ giai cấp thống trị chà đạp, phủ nhận các quyền tự do, dân chủ của nhân dân đến chỗ từng bước phải thừa nhận về mặt pháp lý và thực thi dân chủ một cách hạn chế. Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ là văn bản chính trị tuyên bố 13 thuộc địa khu vực Bắc Mỹ tuyên bố tách khỏi Anh và thành lập Hợp chủng quốc Hoa kỳ; Cách mạng tư sản Pháp (1789) cho ra đời Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền.

+ Dân chủ mang tính giai cấp, tính dân tộc.

 Trong xã hội có giai cấp, dân chủ mang tính giai cấp, không có dân chủ chung cho mọi giai cấp. Lịch sử nhân loại đã trải qua các chế độ dân chủ chủ nô, chế độ dân chủ tư sản, chế độ dân chủ vô sản (hay dân chủ xã hội chủ nghĩa). Mỗi giai cấp có quan điểm, mục tiêu, phương thức thực thi dân chủ khác nhau. Trong Nhà nước phong kiến - nhà nước quân chủ dường như không có dân chủ. Dân chủ còn phản ánh bản sắc, truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc.

Chế độ dân chủ là gì ?

Là một kiểu (hình thức) nhà nước để duy trì, bảo vệ quyền thống trị của giai cấp cầm quyền trên cơ sở thừa nhận, tôn trọng và thực hiện những quyền tự do, dân chủ nhất định

>> Chế độ dân chủ là một hình thức tổ chức xã hội, chế độ chính trị - xã hội, một kiểu nhà nước.

>>Trong chế độ dân chủ, nhà nước thừa nhận và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.

>> Chế độ dân chủ được xác lập dựa trên 3 bộ phận: Thể chế dân chủ; Bộ máy nhà nước và các tổ chức CT-XH; các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.

Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ

 


ĐCSVN chủ trương xây dựng chế độ dân chủ XHCN, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta khẳng định dân chủ là mục tiêu, là bản chất, là động lực phát triển của đất nước. Cương lình xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.

Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021

Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lê nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ

 


V.I.Lênin quan niệm “dân chủ là sự thống trị của đa số”. Do vậy dân chủ được nhìn nhận như một hình thức, một hình thái nhà nước, trong đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân. Mức độ phạm vi tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước phản ánh trình độ phát triển của nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lọi nhất của dân chủ.

 “ Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, Dân chủ là “ Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dung quyền dân chủ của mìnhd dám nói, dám làm” “Địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”

Quan niệm về dân chủ trong lịch sử loài người

 


Thuật ngữ dân chủ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ V đến thế kỷ IV tr.CN tại Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, dân chủ được viết là Demoskratos, trong đó Demos nghĩa là nhân dân và kratos nghĩa là quyền lực. Theo cách diễn đạt này, dân chủ trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu nhân dân cai trị và sau này được các nhà chính trị dịch giản lược là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân.

Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”, thể chế dân chủ, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân. Điều đó có nghĩa là: Dân chủ là chính thể nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của nhân dân.

Xem xét các nền dân chủ trong lịch sử cho thấy, nội dung trên của khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay. Điểm khác biệt cơ bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại và hiẹn nay là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu về nội hàm của khái niệm nhân dân

Cán bộ Quân đội cần nắm vững và thực hiện tốt vấn đề dân chủ, nhân quyền hiện nay


Dân chủ, nhân quyền là những vấn đề rất quan trọng trong tiến trình phát triển loài người nói chung và mỗi quốc gia nói riêng. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân chủ, nhân quyền đ­­ược giải quyết tốt thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột, làm mất ổn định chính trị - xã hội. Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt và phát huy dân chủ và bảo đảm nhân quyền, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua. Nắm vững và thực hiện tốt vấn đề dân chủ, nhân quyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cán bộ nói chungtrong đó có cán bộ quân đội hiện nay. Bởi vì cán bộ quân đội bên cạnh thực hiện tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng, hiện nay còn phải cùng đơn vị thực hiện tốt các nhiệm vụ an ninh phi truyền thống khi Tổ quốc cần. 

 

Sao vẫn "bẻ cong" sự thật về chủ trương nhập và sử dụng vaccine của Nhà nước ta?


Trong khi công tác phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện quyết liệt, bài bản, đã và đang đạt nhiều kết quả tích cực, được bạn bè quốc tế đánh giá cao thì đâu đó vẫn có những giọng điệu lạc lõng, với lối chống phá cũ rích, cố tình "bẻ cong" sự thật, xuyên tạc công tác PCD Covid-19 của Việt Nam. Đáng chú ý, trên một số trang mạng xuất hiện những bài viết và bình luận cho rằng "trong số đối tượng được nhà nước ưu tiên tiêm trước vaccine ngừa Covid-19... không thấy có dân, mà chỉ thấy lực lượng quân đội, công an"! Tiếp đó, họ "thêu dệt" chuyện rằng "Nhà nước Việt Nam ưu tiên tiêm trước vaccine cho bộ đội, công an để những lực lượng này có đủ sức khỏe bảo vệ chế độ.

Sự thật là Bộ Y tế Việt Na.m đã công khai rõ 11 nhóm đối tượng được ưu tiên tiêm trước vaccine ngừa Covid-19: Nhân viên y tế; nhân viên tham gia PCD; nhân viên ngoại giao, hải quan, làm công tác xuất nhập cảnh; lực lượng quân đội; lực lượng công an; giáo viên; người trên 65 tuổi; nhóm cung cấp dịch vụ thiết yếu; người mắc các bệnh mãn tính; người có nhu cầu đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài; người tại vùng dịch theo chỉ định dịch tễ.

Xem danh sách trên ai cũng có thể thấy, việc lựa chọn đối tượng được ưu tiên tiêm trước vaccine ngừa Covid-19 được tiến hành rất khoa học, bài bản, hợp lý, dựa trên mức độ ưu tiên theo tình huống dịch và trong bối cảnh nguồn cung vaccine ngừa Covid-19 đang hạn chế. Những nhóm được ưu tiên là nguồn lực quan trọng trong công tác PCD Covid-19, thường xuyên ở tuyến đầu, đối mặt với dịch bệnh tại các cơ sở y tế, khu cách ly, phong tỏa, khu vực biên giới, cửa khẩu; hoặc là nhóm có nguy cơ cao tạo ra khả năng lây nhiễm lớn cho cộng đồng do đặc thù nghề nghiệp; những người dễ nhiễm bệnh do tuổi cao, sức khỏe yếu, nhiều bệnh lý nền... Đáng nói nữa, có tới 11 nhóm đối tượng được ưu tiên tiêm vaccine ngừa Covid-19 chứ không riêng bộ đội, công an như cách nói hằn học, cố tình xuyên tạc nhằm phục vụ mưu đồ chống phá của những kẻ thù địch, phản động.

Hiện nay, nguồn cung vaccine ngừa Covid-19 trên thế giới còn hạn chế, trong khi rất nhiều nước có nhu cầu thì việc đàm phán thành công để nhận được lô vaccine đầu tiên cho thấy quyết tâm chính trị và những bước đi cụ thể, đầy trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng Việt Nam. Với việc trở thành thành viên của chương trình COVAX Facility để có được nguồn hỗ trợ vaccine từ chương trình, cộng với chủ động tìm mua vaccine từ các nguồn cung khác và đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm, tiến tới sản xuất vaccine ngừa Covid-19 trong nước, Việt Nam đang trên hành trình bảo đảm có đủ vaccine phục vụ nhân dân.

Việt Nam đã gặt hái được những thành công bước đầu rất ấn tượng trong công tác PCD Covid-19. Đó là thực tế không thể phủ nhận. Chính phủ Việt Nam chủ trương “chống dịch như chống giặc”, đồng thời không để ai bị bỏ lại phía sau trong cuộc chiến đầy cam go, thử thách này. Việc nhập khẩu thành công và sử dụng khoa học, hợp lý những liều vaccine ngừa Covid-19 đầu tiên chắc chắn sẽ tạo "cú hích" mới, mạnh mẽ, để Việt Nam có những bước tiến vững chắc hơn nữa trong cuộc chiến với đại dịch toàn cầu.

                                                              ĐT (st)

 

Linh mục phớt lờ Tòa giám mục, đi ngược nỗ lực phòng, chống dịch COVID-19


Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, ngày 6/6, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có Văn bản số 3448/UBND-VX1 quy định dừng tổ chức các nghi lễ tôn giáo, hoạt động tập trung đông người, đám cưới; hạn chế tối đa số lượng người tham gia lễ tang bắt đầu từ 12h ngày 6/6. 

Tòa giám mục Giáo phận Hà Tĩnh cũng ra thông báo số 13/2021/TB-TGM: Tạm dừng thánh lễ và các sinh hoạt tôn giáo với sự tham dự của các cộng đoàn bắt đầu từ 17h30 ngày chủ nhật, ngày 6/6. Từ chỉ đạo quyết liệt của chính quyền và Tòa giám mục Hà Tĩnh, phần lớn các giáo xứ trên địa bàn Hà Tĩnh đã có ý thức tự giác chấp hành, tổ chức các buổi hành lễ online để chung tay phòng chống dịch. Nhiều nhà thờ ở các giáo xứ, giáo họ ở Hà Tĩnh đã đóng cửa, bà con giáo dân đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch. Tại Giáo xứ chính tòa Văn Hạnh, xã Thạch Trung, thành phố Hà Tĩnh đã kích hoạt phương án phòng, chống dịch ở mức cao theo chỉ đạo của UBND thành phố Hà Tĩnh về tạm dừng các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng khi xuất hiện ca nhiễm virus COVID-19 trên địa bàn.

Linh mục Phạm Thế Hưng - Quản xứ Dụ Thành, xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, (Hà Tĩnh)  bất chấp quy định phòng, chống dịch vẫn tổ chức thánh lễ vào tối 6/6.

Tuy nhiên tối 6/6, bất chấp tất cả các quy định, linh mục Phạm Thế Hưng-quản xứ Dụ Thành, xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh vẫn ngang nhiên tổ chức lễ chúa nhật tại nhà thờ giáo xứ. Buổi lễ diễn ra từ 19h30' đến 21h, có khoảng hơn 300 giáo dân Dũ Thành tham gia. Không những tập trung đông người mà tại nhà thờ nơi hành lễ, không hề thực hiện các biện pháp phòng dịch như giữ khoảng cách, nhiều bà con giáo dân đến nhà thờ không đeo khẩu trang y tế phòng dịch… 

Khi chính quyền địa phương xã Kỳ Khang và lực lượng chức năng ở Hà Tĩnh đến làm việc thì linh mục Phạm Thế Hưng đã không hợp tác, không chịu ký vào biên bản làm việc. Hành vi của linh mục Phạm Thế Hưng là hết sức nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn, đi ngược lại chỉ đạo của Chính phủ, cơ quan chức năng, các cáp chính quyền tỉnh Hà Tĩnh và của Tòa Giám mục Giáo phận Hà Tĩnh. 

Trước đó, đêm 31/5, linh mục Bùi Khiêm Cường, Quản xú Kẻ Đọng, xã Sơn Tiến, huyện Hương Sơn cũng để tổ chức thánh lễ kết thúc tháng dâng hoa trong khuôn viên nhà thờ Giáo xứ Kẻ Đọng với rất đông người tham dự mà không đeo khẩu trang, không giữ đúng khoảng cách, gây nguy cơ lây lan dịch bệnh COVID-19. Mặc dù, chính quyền địa phương và nhiều người dân trên địa bàn đã nhắc nhở, lên án hành vi coi thường dịch bệnh nhưng tối 1/6, linh mục Bùi Khiêm Cường tiếp tục tổ chức ngày hội thiếu nhi và khánh thành thư viện sách thiếu nhi thánh thể với đông người tham gia, bất chấp các quy định về phòng, chống dịch COVID-19.

Trước sự việc trên, ngày 4/6, UBND huyện Hương Sơn đã ra quyết định xử phạt hành chính 7,5 triệu đồng đối với linh mục Bùi Khiêm Cường vì không chấp hành các biện pháp phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định tại khoản 2, Điều 14, Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ quy định xử phạm vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, công tác phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn Hà Tĩnh đang hết sức vất vả, vì vậy mọi cá nhân đi ngược lại chỉ đạo của chính quyền địa phương trong phòng, chống dịch sẽ bị xử lý nghiêm.

ĐT (st)

 

Dự thảo sẽ được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và thông qua trong các kỳ họp năm 2022 và 2023. Thời gian Luật có hiệu lực dự kiến từ ngày 1-1-2024..

Tại Tờ trình của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội gửi Chính phủ về đề nghị xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), dự thảo sửa đổi Luật được bổ sung nhiều nội dung mới sau đây:

1. Bổ sung nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội

Trong dự thảo sửa đổi lần này, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tập trung vào nhiều định hướng chính, nhằm qua đó khắc phục những tồn tại, hạn chế trong chính sách về bảo hiểm xã hội hiện nay.

Sửa đổi điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo hướng giảm dần số năm đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí từ 20 năm xuống 15 năm, hướng tới còn 10 năm với mức hưởng được tính toán phù hợp nhằm tạo điều kiện cho người lao động cao tuổi, có số năm tham gia bảo hiểm xã hội thấp được tiếp cận và thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội.

Nhiều thay đổi về lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần - Ảnh 1.

Đối với chế độ hưu trí, dự thảo quy định công thức tính lương hưu phù hợp hơn với sửa đổi quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí

Bổ sung đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với một số nhóm đối tượng có điều kiện và khả năng như chủ hộ kinh doanh cá thể; người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương.

Quy định cụ thể việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động làm việc không trọn thời gian; bổ sung quy định việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với trường hợp công chức, viên chức, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đồng thời là người giao kết hợp đồng lao động.

Điều chỉnh quy định điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo hướng có lộ trình tiến tới chỉ giải quyết đối với người lao động khi đã hết tuổi lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng lương hưu mà không có nhu cầu đóng tiếp. Trừ trường hợp ra nước ngoài để định cư hợp pháp hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà có nhu cầu nhận một lần hoặc quy định trường hợp chưa hết tuổi lao động mà nhận bảo hiểm xã hội một lần thì mức hưởng thấp hơn.

2. Thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu

Đối với chế độ hưu trí, dự thảo quy định công thức tính lương hưu phù hợp hơn với sửa đổi quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí.

Trong lần sửa này, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đề nghị bổ sung quy định tính tháng lẻ giai đoạn trước 2014 để tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo hướng: Nếu thời gian đóng trước ngày 1-1-2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng bảo hiểm xã hội từ ngày 1-1-2014 trở đi.

Dự thảo cũng bổ sung quy định việc điều chỉnh lương hưu có quan tâm đối với nhóm đối tượng có mức lương hưu thấp và thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu; sửa đổi quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí, quy định về tuổi nghỉ hưu...

Nhiều thay đổi về lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần - Ảnh 2.

Dự thảo cũng đề nghị bổ sung 3 nội dung liên quan tới chế độ thai sản

Đối với chế độ ốm đau có quy định chi tiết hơn. Theo đó, cơ quan soạn thảo đã đề nghị bổ sung quy định chi tiết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày (theo năm tương đồng với ốm đau thông thường). 

Đồng thời, nhiều điểm mới được nêu ra như: Sửa đổi quy định mức hưởng chế độ ốm đau của trường hợp có ngày lẻ không trọn tháng thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức hưởng theo tháng chia cho 30 ngày; sửa đổi quy định dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau "bằng 5 ngày đối với các trường hợp khác" thành "Tối đa bằng 5 ngày đối với các trường hợp khác" tại Điểm c Khoản 2 Điều 29. Đối với chế độ thai sản, bổ sung thêm trường hợp hưởng.

Dự thảo sửa đổi quy định đi làm trước khi hết thời hạn hưởng chế độ thai sản đối với trường hợp sau khi sinh con mà con chết theo hướng không cần điều kiện đã nghỉ hưởng chế độ ít nhất được 4 tháng như đối với các trường hợp sinh con bình thường; Quy định chi tiết về trợ cấp một lần khi sinh con đối với trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội (điều kiện hưởng như đối với lao động nữ) và bổ sung trường hợp vợ có tham gia nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản thì lao động nam đủ điều kiện cũng được giải quyết hưởng trợ cấp 1 lần khi vợ sinh con.

Nhiều thay đổi về lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần - Ảnh 3.

Ban soạn thảo cũng đề nghị bổ sung 3 nội dung liên quan tới chế độ thai sản: Có chế độ khi người lao động tự nguyện có yêu cầu phá thai (không phải phá thai bệnh lý), quy định đối với trường hợp đang hưởng chế độ thai sản khi nhận nuôi con nuôi, đồng thời đề nghị hưởng chế độ thai sản khi sinh con, quy định cụ thể chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản.Làm rõ nhiều quy định về chế độ tử tuất: Dự thảo cũng bổ sung quy định tuổi của thân nhân hưởng trợ cấp tuất hằng tháng phù hợp với quy định tuổi nghỉ hưu của Bộ luật Lao động.

Nhiều thay đổi về lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần - Ảnh 4.

Dự thảo đề xuất bổ sung đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với một số nhóm đối tượng có điều kiện và khả năng như chủ hộ kinh doanh cá thể

Đồng thời, Ban soạn thảo cũng đề xuất có thêm các quy định cách xác định tuổi của thân nhân để làm căn cứ giải quyết chế độ tử tuất (chưa đủ 18 tuổi, dưới 6 tuổi...), quy định cách xác định thu nhập để làm căn cứ giải quyết chế độ tử tuất theo hướng việc xác định mức thu nhập của thân nhân người lao động để làm căn cứ giải quyết trợ cấp tuất hàng tháng được xác định tại tháng người lao động chết.

Liên quan tới thời gian hưởng trợ cấp tuất, dự thảo cũng bổ sung quy định tính tháng lẻ giai đoạn trước 2014 để tính hưởng trợ cấp tuất một lần theo hướng: Nếu thời gian đóng trước ngày 1-1-2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng bảo hiểm xã hội từ ngày 1-1-2014 trở đi.

Dự thảo sẽ được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và thông qua trong các kỳ họp năm 2022 và 2023. Thời gian Luật có hiệu lực dự kiến từ ngày 1-1-2024.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ LÝ LUẬN MÁC- LÊNIN LÀM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG


Đến với chủ nghĩa Mác- Lênin- học thuyết cách mạng đúng đắn nhất, khoa học nhất và tìm được lý luận tiên tiến soi đường, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Quảng Châu- Trung Quốc, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính Đảng kiểu mới ở Việt Nam. Cũng trong những năm tháng đó, một trong những nội dung Người giảng cho những người yêu nước Việt Nam là phải nắm vững và không ngừng nâng cao trình độ lý luận, đặc biệt là gắn liền lý luận với thực tiễn. Vì vậy, lời của Lênin: “Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động”[1] đã được in trang trọng ngay phần mở đầu của tác phẩm Đường Kách mệnh (1927)- tác phẩm kinh điển gối đầu của những người cách mạng Việt Nam.

Sau đó, chủ nghĩa Mác-Lênin vào được Việt Nam, tỏ rõ sức sống mãnh liệt, được bổ sung và phát triển trong điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng chính là nhờ Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người luôn đứng vững trên nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Cùng với việc chống giáo điều trong học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, những người cộng sản Việt Nam còn phải chống giáo điều trong vận dụng lý luận cũng như kinh nghiệm của nước khác, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều[2]. Tránh cả hai loại giáo điều này, thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với thực tiễn cách mạng nước nhà. Trên tinh thần đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm kim chỉ nam, trở thành đội tiền phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc. Trong suốt những năm lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng đất nước “Đảng ta không những đã giành được quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước mà còn giữ vững được quyền lãnh đạo đó trên mọi lĩnh vực”[3].

Tuy nhiên, trong quá trình Đảng ta cầm quyền, lãnh đạo toàn dân vừa bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng tháng Tám 1945 và xây dựng chế độ xã hội mới, thì đã xuất hiện những bất cập. Bên cạnh những thành tích rất đáng tự hào, cũng đã có không ít những bài học đau lòng xảy ra trong thực tế. Đó là khi người cán bộ, đảng viên phần lớn xuất thân từ nông dân và công nhân, chưa có điều kiện, thậm chí không có điều kiện học tập, nghiên cứu đến nơi đến chốn, nên trình độ còn nhiều hạn chế. Họ tuy nhiệt thành cách mạng, gương mẫu đi đầu, trưởng thành trong phong trào, song sự yếu kém về trình độ, và thói quen “ít đọc sách và suy nghĩ” đã dẫn họ (với trọng trách mình đang nắm giữ) mặc nhiên làm việc theo chủ nghĩa kinh nghiệm, đầy cảm tính. Họ coi lý luận là việc của những người lãnh đạo cấp cao, của các nhà lý luận. Còn với họ, lý luận chỉ ràng buộc tư tưởng, gò bó hành động.

Thiếu hụt về trình độ văn hóa, yếu lý luận, đặc biệt là đuối kém trong việc nắm bắt những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin đã khiến họ gặp phải không ít khó khăn và lúng túng khi tiếp thu bản chất, tinh thần của những nguyên lý mác xít này. Do trình độ lý luận thấp, họ đã tuyệt đối hóa các nguyên lý của học thuyết cách mạng khoa học, đồng thời coi đó là những chân lý bất biến trong tư duy của mình. Từ đó dần sa vào giáo điều, chủ quan duy ý chí, kinh nghiệm chủ nghĩa, dẫn đến hành động một cách cứng nhắc, sai lầm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở rằng: muốn khẳng định và giữ vững vị thế của một Đảng cầm quyền, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải “có lý tưởng, có tinh thần thiết thực và công tác thực tế hợp lại mới là người đảng viên tốt”[4]. Muốn đạt được điều đó, phải học, làm nghề gì cũng phải học, vì “cách mạng tiến lên mãi, Đảng tiến lên mãi”. Lý luận khoa học mà Người nắm vững, vận dụng một cách sáng tạo và điều kiện cụ thể của Việt Nam và luôn mong mọi cán bộ, đảng viên được trang bị, thấm nhuần chính là lý luận Mác- Lênin, lý luận cách mạng nhất, thiết thực nhất chỉ đạo mọi hành động.

Chăm lo đến công tác đào tạo cán bộ, đặc biệt là cán bộ lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn, lý luận "như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi"[5]. Người cũng nói: "Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay vấp váp"[6], nên nhấn mạnh cán bộ, đảng viên cần nhớ: “Học chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”[7]. Cũng theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trang bị lý luận Mác- Lênin cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là yêu cầu cần thiết, vì trong chiến tranh hay trong hòa bình, lý luận cũng giúp người cán bộ, đảng viên nắm cái tinh thần và nguyên tắc xử trí đối với công việc, đồng thời giúp mọi người sống tình nghĩa với nhau. Tháng 6/1968, khi làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn TƯ Đảng về xuất bản loại sách người tốt việc tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn căn dặn: Hiểu chủ nghĩa MácLênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác Lênin được. Đó chính là: "Học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng"[8].

  

Một số giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của đảng, quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực quốc phòng, quân sự

 


Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực quốc phòng, quân sự có vai trò quan trọng hàng đầu đối với phát triển sức mạnh quốc phòng, quân sự nước ta trong quá trình toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức. Bàn về vấn đề này, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang…”[1]. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, quân sự cần thực hiện các nội dung biện pháp sau:

 Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ các cấp từ Trung ương đến cơ sở về công tác quốc phòng, quân sự. Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng ở tất cả các cấp, các ngành, địa phương xem đây là nội dung quan trọng để xây dựng nền tảng chính trị của nền quốc phòng toàn dân.

Hai là, xây dựng cấp ủy, chính quyền các cấp vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành các nhiệm vụ quốc phòng, quân sự. Trong đó cần chú ý năng lực quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về các Luật, Pháp lệnh, Nghị định về quốc phòng, quân sự; năng lực giải quyết các vấn đề phức tạp nẩy sinh từ thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; năng lực phát huy vai trò chức năng của chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở trong quá trình điều hành, làm tham mưu trong công tác quốc phòng, quân sự địa phương.

Ba là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về quốc phòng, quân sự bằng việc: xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tăng cường củng cố nền quốc phòng toàn dân, kế hoạch phòng thủ đất nước, kế hoạch động viên quốc phòng; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng; tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, thi hành nghiêm túc các quyết định của cơ quan nhà nước và các biện pháp cần thiết để bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về quốc phòng, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật về quốc phòng.

Bốn là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, luật pháp đối với công tác quốc phòng, quân sự, bằng việc: hoàn thiện và thực hiện tốt cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác quốc phòng, quân sự nhằm giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; tiếp tục bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, nâng cao tính khả thi, duy trì chặt chẽ các hoạt động, thúc đẩy ý thức tự giác chấp hành của mọi tổ chức và công dân./.

 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQG ST. H.2021, t1, tr.67-68.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC KHI NHÀ NƯỚ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ

 


Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự "đã trở thành phong trào, xu thế", được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được quốc tế ghi nhận.

Trong quá trình đó, một số cán bộ, Đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân vi phạm đường lối cương lĩnh của Đảng, vi phạm pháp luật của nhà nước. Với phương châm tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, mọi người đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình…chúng ta tiến hành xử lý những cán bộ, Đảng viên vi phạm pháp luật, bất kể họ là ai, cương vị, chức trách gì. Vậy mà, những phần tử chống đối, thù địch lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, cố tình hướng lái việc xử lý cán bộ sai phạm và công tác cán bộ nhằm gây chia rẽ trong Đảng, làm suy giảm lòng tin của người dân đối với Đảng với âm mưu gây mơ hồ, hoài nghi, tác động vào niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân về vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết trong Đảng, trong dân, thâm độc hơn là nhằm gây bất ổn chính trị xã hội, lật đổ chế độ ta.

Phải thấy rằng,việc xử lý nghiêm minh những cán bộ sai phạm pháp luật là lẽ rất đương nhiên, và đó là quan điểm nhất quán rõ ràng: ai vi phạm pháp luật nhà nước, quyền, lợi ích của nhà nước, tập thể, lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì đều phải bị xử lý nghiêm minh. Việc xử lý các vụ án được tiến hành kỹ lưỡng và trên tinh thần thượng tôn pháp luật, căn cứ vào hành vi phạm tội của các bị cáo, hậu quả gây ra đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân, căn cứ vào quy định, Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thực tế việc xử lý đó đã được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, đánh giá cao. Toàn dân hãy cảnh giác trước những luận điệu sai trái, tuyên truyền bóp méo sự thật. Chúng ta hãy vững tin và tích cự tham gia đấu tranh với mọi biểu hiện sai trái của các thế lực thù địch.

Luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội ta nhất định bị phá sản

Nhằm làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, các thế lực thù địch đã và đang dùng mọi thủ đoạn vừa âm thầm, vừa trắng trợn, xuyên tạc, phủ định bản chất, truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”, nhất là sự trung thành tuyệt đối của Quân đội ta với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nâng cao cảnh giác, đập tan các luận điệu xuyên tạc của chúng là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Thời gian gần đây, những luận điệu xuyên tạc phẩm chất của Quân đội ta mà các thế lực thù địch tung ra là tập trung công kích trực tiếp vào sự trung thành của Quân đội đối với Đảng. Chúng ra sức rêu rao rằng: Quân đội “chỉ là của quốc gia - dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”; Quân đội trung thành với Đảng là sự trung thành “mù quáng”, là “lạc hậu lỗi thời”; Quân đội “chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia - dân tộc, với nhân dân, bảo vệ nhân dân”, v.v. Họ cố tình cắt xén nội hàm phẩm chất trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam; đối lập sự trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc; đối lập phẩm chất trung với Đảng và hiếu với dân của Quân đội ta. Họ còn “khuyên nhủ” chúng ta rằng, cần phải thực hiện “chuyên nghiệp hóa” Quân đội càng sớm càng tốt, cần phải học tập kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang theo mô hình của Quân đội tư sản, v.v. Thực chất những luận điểm nêu trên là thủ đoạn lừa bịp, phản động, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Họ không những xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội, mà còn tách rời, đối lập một cách vô lối các nội dung trong phẩm chất trung thành của Quân đội và các mối quan hệ của Quân đội với Đảng, dân tộc và nhân dân. Quan điểm “Quân đội chỉ là của dân tộc”, chỉ cần “trung thành với lợi ích quốc gia - dân tộc” là quan điểm phản động về chính trị và đặc biệt nguy hiểm. Quan điểm này có vẻ như được dựa trên “cơ sở” thực tiễn rằng, Quân đội ta có một truyền thống oai hùng gắn với vận mệnh của dân tộc, của đất nước, đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do của Tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ cơ sở đó, cho nên họ đặt vấn đề “Quân đội trung thành với dân tộc là “phù hợp”, chứ không cần thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, trung thành với một lực lượng chính trị nào! Điều này dễ làm cho một số người nhẹ dạ cả tin có thể lầm tưởng rằng, các quan điểm đó là phù hợp, cần thiết và những lời “khuyên nhủ” của họ là đầy thiện chí, là hợp lý, khách quan và đúng với thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta! Quan điểm Quân đội chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “trung với Đảng là phản nhân dân” là một quan điểm phản động hết sức nguy hiểm. Biết không thể chia cắt được mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội ta với nhân dân, các thế lực thù địch đã lợi dụng mối quan hệ này để đẩy tới việc đưa ra luận điệu Quân đội “chỉ cần trung thành với nhân dân” là đủ, không cần nói đến phải trung thành với Đảng nữa. Họ hiểu rất rõ rằng, Quân đội ta có quan hệ máu thịt với nhân dân, là quân đội của dân, do dân và vì dân. Cho nên, họ đặt vấn đề Quân đội chỉ “trung thành và bảo vệ nhân dân” là “phù hợp”, là “khách quan”, chứ không cần thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, một lực lượng chính trị nào! Quân đội là của quốc gia - dân tộc, chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “bảo vệ đất nước và lợi ích quốc gia - dân tộc”. Những giọng điệu đó, tưởng là khách quan, không chính trị, không giai cấp, nhưng lại nằm trong âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, thực chất là nhằm lái chính trị của Quân đội ta sang chính trị tư sản. Bằng quan điểm đó, các thế lực thù địch đã khéo léo che giấu mưu đồ nhằm loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội, xóa nhòa bản chất chính trị - giai cấp của Quân đội, tiến tới làm biến chất Quân đội ta. Đây mới là âm mưu đích thực của các thế lực thù địch trong mục tiêu chống phá Quân đội, nhưng lại rất dễ làm cho chúng ta rơi vào chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, khó nhận biết thực chất âm mưu, thủ đoạn của chúng. Thông qua thủ đoạn công kích, xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội ta, các thế lực thù địch mộng tưởng rằng, sẽ “kích hoạt” làm cho Quân đội mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu; sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội bị vô hiệu hóa, Đảng không thể nắm được, không thể “điều khiển” được Quân đội, đặc biệt trong những tình huống phức tạp và thậm chí Đảng có thể trở thành đối tượng trực tiếp của chính công cụ bạo lực này. Họ muốn chính công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước trở thành lực lượng, công cụ trực tiếp cho hành động chống Đảng và chống Nhà nước ta. Vậy là, vấn đề lái chính trị của Quân đội ta theo chiều hướng khác, làm cho Quân đội ngả theo các thế lực phản cách mạng, chống lại Đảng và chế độ là một âm mưu rất thâm độc của các thế lực thù địch mà việc tung ra những luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội là một ngón đòn rất “lợi hại”. Lịch sử cách mạng Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua đã chứng minh, Quân đội ta không chỉ là công cụ, lực lượng chính trị tin cậy, trung thành của Đảng, Nhà nước mà còn là của nhân dân, của dân tộc, chiến đấu cho lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn và triệt để quần chúng nhân dân lao động, phấn đấu không mệt mỏi cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng và cũng là vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Quân đội ta sẵn sàng hy sinh phục vụ lợi ích của dân tộc, của giai cấp và của nhân dân Việt Nam; bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ nhân dân, bảo vệ lợi ích và cuộc sống an bình của nhân dân. Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dù công tác ở đâu, đi đến đâu, làm những nhiệm vụ gì, trong điều kiện chiến tranh hay hòa bình, ở đất liền hay trên biển đảo, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đều ra sức bảo vệ, giúp đỡ, tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, phấn đấu vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó là biểu hiện sự thống nhất giữa trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với đất nước, dân tộc trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trung thành với Đảng, trung với nước, hiếu với dân là những nội dung phẩm chất cơ bản, cốt lõi gắn bó chặt chẽ với nhau trong bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thể hiện trong mọi công việc cách mạng của Ðảng, trong từng suy nghĩ, việc làm cụ thể của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội tất cả đều vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Trung thành với Đảng đã bao hàm cả nội dung hiếu với dân, với lợi ích quốc gia, dân tộc; trung với nước, hiếu với dân cũng bao hàm cả nội dung trung với Đảng. Đó là mối quan hệ biện chứng thống nhất nằm trong thuộc tính bản chất của Quân đội ta, không thể tách rời. Những luận đề trên, chúng ta thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của luận điệu xuyên tạc về phẩm chất trung thành của Quân đội ta mà các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền. Không thể cho rằng, “Quân đội là chỉ của dân tộc”, chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân và đất nước” một cách chung chung, không cần sự lãnh đạo của một đảng chính trị nào, không cần trung thành với Đảng. Quân đội là của dân tộc, của nhân dân, nhưng quân đội ấy do ai lập nên, do ai tổ chức, rõ ràng là phải có một lực lượng chính trị nhất định. Lịch sử nhân loại đã minh chứng: con đường phát triển của các quốc gia - dân tộc, sự nghiệp cách mạng của nhân dân các dân tộc bao giờ cũng do một lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia dân tộc dẫn dắt và lãnh đạo. Lực lượng chính trị lãnh đạo dân tộc và nhân dân ấy cũng đồng thời là lực lượng tổ chức và lãnh đạo “Quân đội của dân tộc, của nhân dân”. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định, của lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia - dân tộc, đang lãnh đạo và dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển. Thử hỏi, nếu quân đội chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “bảo vệ đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”, không cần trung thành, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng chính trị nào, đảng phái nào, thì quân đội ấy mang bản chất nào, của ai? hay là “không có bản chất”, “không có chính trị”! Đây là một chiêu trò nhằm để đánh lừa người khác, chứ bản thân những kẻ đưa ra các quan điểm trên cũng thừa hiểu quân đội phải mang bản chất chính trị và phải phục vụ cho ai, trung thành với ai. Nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, nhưng chỉ có quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như Quân đội nhân dân Việt Nam thì mới có thể làm tròn phận sự trung thành với Tổ quốc, với nhân dân theo đúng nghĩa của nó và gắn bó chặt chẽ sự trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ, Tổ quốc và nhân dân trong chỉnh thể thống nhất, không tách rời. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo Quân đội và Quân đội phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là hai mệnh đề song hành ngay từ khi mới thành lập đến nay suốt hơn bảy thập kỷ xây dựng, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân khi mới ra đời đã là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, của dân tộc cũng là mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Hay nói cách khác, Quân đội ta chiến đấu là nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân Việt Nam, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của cách mạng, của dân tộc trong từng giai đoạn. Đó là sự biểu hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội ta, một tổ chức quân sự kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Quân đội nhân dân Việt Nam là của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, đồng thời là của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Việc từ bỏ nội dung phẩm chất trung thành với Đảng, tách vấn đề trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc là không thể chấp nhận được vì nó không đúng với bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là sự cố tình xuyên tạc, bóp méo sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cũng như thực tiễn mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng, với dân tộc và nhân dân, nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, chống phá cách mạng Việt Nam. Luận điệu xuyên tạc đó không đánh lừa được ai, nhất định sẽ bị phá sản.

ĐẢNG PHẢI LUÔN PHỤNG SỰ VÀ LIÊM CHÍNH

Một Đảng cách mạng chân chính luôn phụng sự Tổ quốc và nhân dân theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh phải tuân thủ 12 điều sau:

1. Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.

2. Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.

3. Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương.

4. Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không.

5. Phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.

6. Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng.

7. Mỗi công việc của Đảng phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát. Nếu không vậy thì không biết nắm vững các cách thức tranh đấu và các cách thức tổ chức, không biết liên hợp lợi ích ngày thường và lợi ích lâu dài của dân chúng.

8. Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên.

9. Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.

10. Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài.

11. Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng.

12. Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng.



CẦN NHẬN DIỆN RÕ TRINITY HỒNG THUẬN LÀ AI TRONG TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN!

 MẤY ÔNG NGHIÊM TÚC NHÌN NHẬN NHÉ!

Chân dung phản động: TRINITY HỒNG THUẬN

Hồng Thuận là ai, là người như thế nào và tại sao lại được tổ chức phản động Việt Tân xem như là “Ngọn cờ ” trong các hoạt động chống lại Đảng và Nhà nước? Dưới đây là những thông tin về Trinity Hồng Thuận được VKS tổng hợp từ nhiều nguồn.

Phạm Trinity Hồng Thuận Đắc có tên gọi khác là Phạm Hồng Thuận, hay Phạm Trinity. Tên đảng trong tổ chức Việt Tân là Lý Như Tâm.

Phạm Hồng Thuận sinh ngày 15/01/1988. Quê gốc trước khi bỏ trốn khỏi Việt Nam là Khánh Hòa. Hiện nay Hồng Thuận là Bí thư chi bộ tổ chức khủng bố Việt Tân. Các tài khoản mạng xã hội của Phạm Hồng Thuận là Facebook Trinity Hồng Thuận và Bloger Hồng Thuận.

Phạm Hồng Thuận tham gia chống phá đất nước từ rất sớm. Năm 2005 khi  mới 17 tuổi Trinity Hồng Thuận đã tham gia biểu tình phản đối chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Phan Văn Khải. Cũng từ sự kiện này, Trinity Hồng Thuận được biết đến và nổi lên từ đó. Hai năm sau, năm 2007 Phạm Hồng Thuận được tổ chức phản động Việt Tân kết nạp.

Ngay khi mới trở thành đảng viên Việt Tân, Phạm Hồng Thuận đã có hành động "báo công" với Việt Tân bằng cách đọc “Bản tuyên bố phản đối Việt Nam trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc” tại buổi sinh hoạt Cộng đồng người Việt tại Nam California. 

Phạm Hồng Thuận còn đại diện cho Cộng đồng người Việt tại Nam California tiếp xúc với Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, vi phạm tự do tôn giáo.

Sau những hành động đó, Phạm Hồng Thuận được biết đến nhiều hơn và dần dần được tổ chức phản động Việt Tân giao cho nhiều trọng trách tiến hành các hoạt động chống đối không chỉ ngoài nước mà còn tìm cách núp bóng các tổ chức Phi Chính phủ vào nước ta để hoạt động phản động, cụ thể:

Trinity Hồng Thuận được giao phụ trách chương trình “thế kỷ của chúng ta” của đài “Chân trời mới” một cơ quan ngôn luận của tổ chức phản động Việt Tân, là thành viên “Đoàn thanh niên Phan Bội Châu” và “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” (tổ chức ngoại vi của “Việt tân”). Cùng với đó còn tích cực tham gia vào các cuộc  biểu tình trái pháp luật  đòi trả tự do cho Nguyễn Quốc Quân, phản đối Trung Quốc chiếm Hoàng Sa - Trường Sa.

Năm 2009 Trinity Hồng Thuận nhập cảnh Việt Nam cùng với số sinh viên trường ĐH Hà Nội tổ chức các hoạt động xã hội tại thôn Dy, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội và lôi kéo số sinh viên trên thành lập “Liên hội sinh viên chống tệ nạn buôn người”  trái phép hoạt động như một tổ chức NGO để thông qua đó chúng có thể tập hợp, lôi kéo lực lượng vào tổ chức phản động của chúng. Điển hình đó là việc nghệ sĩ Thành Lộc một nghệ sĩ khá nổi tiếng của Việt Nam đã có những dính lứu liên quan đến hoạt động của Trinity Hồng Thuận và tổ chức Việt Tân. Gần đây nhất trên trang Facebook cá nhân của mình Trinity Hồng Thuận luôn đăng những tin bài có nội dung bênh vực cho những kẻ phạm pháp như: Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điền....

Cùng với Hà Đông Xuyến là hai thành viên nữ nổi bật nhất của tổ chức khủng bố Việt Tân, Trinity Hồng Thuận ngày càng được những nhân vật cốt cán của tổ chức này ưu ái và tín nhiệm. Có lẽ do ngoại hình khá bắt mắt, Trinity Hồng Thuận luôn được có mặt trong những buổi họp báo, tiệc tùng với các thành viên Trung ương của Việt Tân và một số nhân vật trong chính giới Mỹ./.


Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC VỚI "VIRUT" NÚP BÓNG BỆNH DỊCH

 Hơn tháng qua, Việt Nam đối diện đợt bùng phát thứ tư dịch bệnh COVID-19. Hệ thống chính trị và nhân dân với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, “chủ động tấn công phòng, đi trước chặn đầu dập dịch”, quyết tâm để đẩy lùi, chiến thắng đại dịch. 

Tuy nhiên, lợi dụng vào tình hình dịch bệnh, một số cá nhân, đối tượng cơ hội chính trị, phản động đã thông tin sai lệch, xuyên tạc gây tâm lý hoang mang, bức xúc với người dân.


Đánh lận sự thật

Đi ngược tinh thần cả nước chung tay chống dịch, một số đối tượng đã phát tán trên không gian mạng nhiều thông tin sai sự thật, xuyên tạc tình hình dịch bệnh và công tác chỉ đạo, điều hành của Nhà nước, các cấp chính quyền trong nỗ lực phòng, chống dịch bệnh.

Ngày 16/5, ông Vi Văn T. sử dụng điện thoại di động đăng tải lên Facebook cá nhân “Thành Trung” với nội dung: “chết bớt đi cho đỡ chật chội” đã gây bức xúc. Tài khoản “Tuan Nguyen” thông tin sai lệch, mang tính kỳ thị: “Bắc Giang chưa thể khoanh vùng, truy vết được hết để lây lan, cấm hết người Bắc Giang mới hết được dịch”! 

Trên mạng xã hội Fecebook, Youtube, nhiều đối tượng cũng đã thông tin sai lệch theo hướng nghiêm trọng hóa tình hình dịch bệnh ở Bắc Giang là không thể kiểm soát được theo kiểu “Bắc Giang toang rồi”; “Bắc Giang vỡ trận vì ổ dịch khu công nghiệp”...

Một số thông tin sai sự thật, có ý xuyên tạc, phê phán chính quyền, hệ thống chính trị lơ là, thờ ơ với công tác phòng, chống dịch bệnh, đối đãi không tử tế, bỏ rơi người bệnh khu cách li: “Công nhân bị bỏ đói, không có lương thực trong nhiều ngày, các trường hợp F0, F1 bị bỏ rơi”. 

Cùng với đó là chửi bới thô tục, xúc phạm cơ quan nhà nước. Những thông tin này sau khi được lan truyền trên mạng xã hội đã gây tâm lý lo lắng, bức xúc với người dân.                    

Những thông tin sai trái, xuyên tạc đã đề cập ở trên về tình hình dịch bệnh thời gian qua đã được cơ quan Công an phát hiện, làm rõ, ra quyết định xử phạt hoặc tham mưu chính quyền địa phương xử phạt hành chính. 

Sau khi được cơ quan Công an xử lý, giải thích, các cá nhân, đối tượng trên đều nhận thức rõ hành vi sai trái và tự nguyện gỡ bỏ. Những thông tin sai sự thật, xuyên tạc sau khi được đăng tải đã lan truyền trên không gian mạng làm người dân thêm hoang mang, lo lắng, nhiều người lầm tưởng là thật có tâm lý bức xúc, suy giảm niềm tin vào cấp ủy, chính quyền trong công tác phòng, chống dịch bệnh.  

Đài RFA, RFI, BBC, một số cơ quan truyền thông hải ngoại đăng tải hàng loạt bài viết đánh lận bản chất như: “Việt Nam huy động cử tri đi bỏ phiếu bất chấp dịch bệnh”, “Việt Nam đến đợt dịch thứ tư mới khẩn trương lập quỹ vaccine: mất bò mới lo làm chuồng”… 

Họ đưa ra luận điệu xuyên tạc, phê phán Nhà nước, hệ thống chính trị chỉ lo bầu cử, sắp xếp “đấu đá ghế ngồi” mà lơ là, thờ ơ công tác phòng, chống dịch bệnh, bỏ rơi người dân, rồi thông tin xuyên tạc, nhiều cử tri “tẩy chay cuộc bầu cử”. 

Họ công kích Việt Nam “chủ quan để dịch lây nhiễm, trong khi người dân luôn phải “sống cảnh nơm nớp” thì Chính phủ cứ lo mặc cả nước này, nước nọ, đàm phán mà chưa có vaccine”.

Lợi dụng Chính phủ đưa sáng kiến, kêu gọi cộng đồng xây dựng quỹ vaccine, họ xuyên tạc: “huy động mọi nguồn lực và đóng góp của nhân dân, doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tiền mua vaccine là hành động ăn xin, ăn mày, đây là cơ hội “béo bở” cho những thành phần tham nhũng trong chính quyền các cấp”... 

Tác giả của những quan điểm chống phá này vốn là những phần tử có bề dày chống đối, có đối tượng từng chịu hình phạt tù về hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, hiện tị nạn, lưu vong ở nước ngoài như Nguyễn Văn Đài. 

Đây là những luận điệu xuyên tạc với mục đích công kích, chống phá nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam, đả kích thể chế chính trị Việt Nam.

Nỗ lực, thần tốc chống dịch và tình người, nghĩa cử cao đẹp

Khi có dịch, nhất là những đợt bùng phát, từ Trung ương đến địa phương, các cấp ủy, chính quyền và nhân dân tập trung lãnh đạo, tổ chức, thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch với tinh thần quyết liệt, thần tốc “chống dịch như chống giặc”, “chủ động tấn công, đi trước chặn đầu, không chạy theo sau dịch bệnh”, bảo đảm an toàn về sức khỏe, tính mạng người dân, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội. 

Thực tế thời gian qua, Việt Nam huy động sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và toàn dân để nhanh chóng kiểm soát tình hình, đẩy lùi dịch bệnh. Cấp ủy, chính quyền các cấp, các địa phương triển khai quyết liệt, kịp thời, đồng bộ các biện pháp phòng, chống, ngăn chặn dịch, không để bị động, bất ngờ. 

Sau khi phát hiện bệnh, từng ngõ xóm, khu phố, doanh nghiệp lập tức được cơ quan chức năng thần tốc truy vết, xét nghiệm, cách ly, điều tra dịch tễ, khoanh vùng nhanh gọn, điều trị, dập dịch, không để lây lan trên diện rộng. 

Với kết quả đạt được, Việt Nam đã khống chế thành công, hiệu quả nhiều đợt dịch bệnh được nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Từ thực tế đó, có thể thấy không có chuyện chúng ta lơ là, thờ ơ trong công tác phòng, chống dịch.

Trong lúc khó khăn, hoạn nạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, TP Hồ Chí Minh… là những địa phương có nhiều ca nhiễm, được Chính phủ chỉ đạo rốt ráo, các bộ, ngành, địa phương dành sự quan tâm, chi viện đặc biệt. 

Bộ Quốc phòng, bộ Công an đã nhanh chóng chi viện đội ngũ y, bác sĩ, cán bộ chiến sĩ đến vùng tâm dịch giúp chính quyền, người dân phòng, chống dịch. 

Biết bao người dân Bắc Giang cảm động, rơi nước mắt khi chứng kiến nghĩa cử cao đẹp của các tỉnh, các ngành như Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hà Nội, Đà Nẵng, Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng… dành cho. 

Hình ảnh đoàn thầy thuốc, cán bộ chiến sỹ QĐND, CAND đến “chia lửa”, hỗ trợ chống dịch khiến nhiều người dân xúc động, vẫy tay chào đón như lời cảm ơn chân thành, trân trọng đón nhận suốt dọc hai bên đường từ khi đoàn xe vào địa phận tỉnh. 

Hình ảnh CSGT Bắc Giang làm nhiệm vụ, khi thấy đoàn tiến vào đã đứng nghiêm trang chào như lời tri ân, cảm ơn sâu sắc nghĩa cử cao đẹp dành cho Bắc Giang; những chiến sĩ Cảnh sát Cơ động hiến máu cứu người ngay trong vùng dịch nguy hiểm… gây xúc động mạnh trên cộng đồng mạng.

Phát huy tinh thần đùm bọc, sẻ chia trong lúc khó khăn, hạn chế dịch bệnh lây lan ra cộng đồng, hệ thống chính trị và người dân đã có nhiều hành động thiết thực. 

Việc Thủ tướng Chính phủ nêu sáng kiến, kêu gọi hình thành quỹ vaccine lúc này là rất cần thiết. Việc tương tự không phải bây giờ mới có mà ngay từ khi Chính phủ lâm thời mới thành lập, Hồ Chủ tịch cũng nhiều lần kêu gọi như “Hũ gạo chống đói”, “Tuần lễ vàng”... 

Đó không chỉ là chia sẻ với nhà nước mà còn là nghĩa đồng bào, thể hiện tinh thần tương thân, tương ái, truyền thống tốt đẹp, nhân văn của chế độ. 

Trong khu cách ly, bệnh nhân được điều trị, chăm sóc chu đáo; các đoàn thể Mặt trận, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Liên đoàn Lao động…phối hợp cùng các hội, nhóm, nhân dân phát động nhiều phong trào, hỗ trợ công nhân. 

Người dân, đoàn viên, thanh niên tình nguyện hỗ trợ nấu cơm, dựng trại, khử khuẩn, lau dọn đón các đoàn tình nguyện; Công an, Bộ đội giúp dân thu hoạch lúa, hoa màu… Công nhân được người dân địa phương san sẻ nắm gạo, mớ rau để cùng nhau vượt khó. 

Những tấm lòng nhân ái, nghĩa cử đồng bào ấy không chỉ góp phần đẩy lùi dịch bệnh mà còn lan tỏa những giá trị tốt đẹp. Như vậy thì làm gì có chuyện người dân bị “bỏ rơi”, bệnh nhân bị “bỏ đói”, “người dân thờ ơ” như luận điệu kẻ xấu đưa ra.

Lợi dụng dịch bệnh để thông tin sai trái, xuyên tạc với mục đích kích động, chống phá hay giật gân, câu view… là hành vi phạm pháp, vô cảm, vô đạo đức trong lúc dịch bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng, trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người. 

Người dân khi phát hiện những thông tin như vậy cần cảnh giác, không chia sẻ, đồng thời lên án, đấu tranh phản bác, thông tin cho cơ quan chức năng để kịp thời xử lý, ngăn chặn.

Hải Đăng