Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021

XUYÊN TẠC QUỸ VACCINE PHÒNG COVID-19: SỰ HẸP HÒI, ÍCH KỶ CỦA NHỮNG "CON BUÔN DÂN CHỦ"

Nằm trong chương trình phòng, chống Covid-19, vừa qua, Chính phủ đã quyết định thành lập Quỹ vaccine phòng Covid-19. Lợi dụng vấn đề này, nhiều đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã tiến hành tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm mục đích gây hoang mang dư luận.

Bất chấp mục đích tích cực của Quỹ vaccine Covid-19, các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị vẫn cố tình đưa ra những lập luận sai trái nhằm gây hoang mang dư luận, tấn công khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những luận điệu xấu, độc mà các đối tượng đang tung ra có thể kể đến như: “nhà nước ‘khủng bố’ nhân dân bằng cách liên tục nhắn tin kêu gọi dân đóng góp tiền mua vaccine”, “tiền to cho các dự án béo bở có thể tham nhũng thì nhà nước chi ngân sách không ngại, khoản nhỏ chi cho y tế chăm lo sức khoẻ người dân thì kêu gọi xã hội hoá”, “nếu không minh bạch số tiền thu vô thì ai biết được nó sẽ đi về đâu, bao nhiêu phần trăm sẽ dùng để mua vắc xin, bao nhiêu phần trăm sẽ chạy vào túi quan?”, “hiện nay thông tin về số tiền quyên góp mua vaccine rất mờ ám”…

Trước hết, cần phải khẳng định Quỹ vaccine được lập ra là để phục vụ lợi ích chung của cộng đồng: Phòng, chống dịch Covid-19. Việc tham gia đóng góp vào Quỹ dựa trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện, như phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại lễ ra mắt thành lập Quỹ: “Đây là quỹ của sự nhân ái, của tinh thần đoàn kết, của niềm tin, của trái tim kết nối trái tim để chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn, góp phần tạo nên một Việt Nam chiến thắng, để một lần nữa chúng ta lại ghi danh, viết nên lịch sử chiến thắng vẻ vang của dân tộc – chiến thắng đại dịch Covid-19”. Không ai bị bắt ép phải đóng góp vào Quỹ. Trên tinh thần tự nguyện, ai có ít đóng góp ít, ai có nhiều đóng góp nhiều, ai không có điều kiện để ủng hộ thì cũng không bị chê trách gì.

Thực tế, với tinh thần dân tộc, ý thức trách nhiệm với cộng đồng, nhiều tập thể, cá nhân thuộc nhiều thành phần trong xã hội đã tích cực đóng góp cho Quỹ vaccine chống Covid-19. Vì vậy, những luận điệu hoài nghi, xuyên tạc về bản chất, mục đích của Quỹ chỉ là những “lời ong tiếng ve” của những kẻ đi ngược lại với lợi ích cộng đồng, cố tình tạo cớ xuyên tạc bôi nhọ, chống phá đất nước.

Mặt khác, lợi dụng một số lùm xùm liên quan đến vấn đề sử dụng tiền từ thiện trong thời gian vừa qua, các đối tượng đã lập luận đánh võng thông tin, tạo cớ để vu khống, xuyên tạc về tính minh bạch của Quỹ vaccine chống Covid-19. Thực tế, Quỹ vaccine chống Covid-19 được hoạt động theo nguyên tắc đảm bảo công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả, hoạt động theo đúng quy định của pháp luật. Trong đó, Bộ Tài chính là cơ quan quản lý Quỹ.

Ngoài ra, Quỹ chịu sự kiểm tra, thanh tra, kiểm toán về các hoạt động tài chính của Quỹ của các cơ quan quản lý nhà nước về tài chính và Kiểm toán nhà nước; giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cộng đồng. Đồng thời, Quỹ có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện thu, chi, quyết toán tài chính Quỹ để tổng hợp chung nguồn lực báo cáo Chính phủ, Quốc hội trong các báo cáo về kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước; thực hiện công khai số tiền huy động, danh sách các tổ chức, cá nhân tài trợ, đóng góp, nội dung và số tiền đã chi, số dư quỹ còn lại. Do đó, các luận điệu vu khống cho rằng Quỹ hoạt động không minh bạch là vô căn cứ.

Rõ ràng, việc thành lập Quỹ vaccine phòng Covid-19 là điều cần thiết trong bối cảnh hiện nay, thể hiện rõ phương châm “Đảng, Nhà nước và Nhân dân cùng làm”. Sáng kiến này của Việt Nam cũng nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Theo đánh giá của ông Kamal Malhotra, Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam: “Đây là một sáng kiến hay, là điều Liên hợp quốc đã ủng hộ trong nhiều tháng nay”.

Những luận điệu xuyên tạc, chống phá Quỹ vaccine phòng Covid-19 suy cho cùng cũng chỉ là những luận điệu lạc lõng, đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng của những kẻ hẹp hòi, ích kỷ, mưu mô núp bóng “dân chủ”, “nhân quyền”.

Bác bỏ những lời xuyên tạc trắng trợn

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đi gần nửa thế kỷ, nhưng Người còn sống mãi trong lòng dân Việt Nam và trong trái tim những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Thời gian càng lùi xa, tên tuổi, sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh càng tỏa sáng, bởi Người đã ghi một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, dưới con mắt của những kẻ hằn học, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn bị đơm đặt, xuyên tạc, bôi nhọ với những câu từ vô văn hóa. Mới đây, một kẻ rêu rao rằng, Bác Hồ không chỉ là “một người theo chủ nghĩa dân tộc thuần túy”, mà còn vu cáo trắng trợn đời tư “Cụ Hồ cũng có nhiều vợ con”(!)…Chỉ là vài ba tiếng nói lạc lõng trên các trang mạng xã hội, nhưng những ý kiến xuyên tạc trên vô cùng nguy hiểm. Nó nguy hiểm ở chỗ không những nhằm hạ thấp, phủ nhận công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, mà còn hạ bệ thần tượng Bác Hồ trong lòng dân Việt. Nhưng những lời lẽ xuyên tạc trắng trợn trên không bao giờ được người dân Việt Nam chấp thuận. Bởi lẽ…

Nhân cách cao thượng, đời tư trong sáng

Với tư cách là một người cộng sản Việt Nam đầu tiên tìm được ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biết gắn kết chặt chẽ, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân thế giới và chủ nghĩa yêu nước trong sáng. Là lãnh tụ cộng sản, nhưng Bác Hồ đã sớm nhận ra vị trí của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, do vậy, Người đã khéo léo tập hợp, tổ chức, phát huy được vai trò của giai cấp phong kiến, tầng lớp tư sản và tiểu tư sản trong nước để nhân lên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc kháng chiến kiến quốc. Đặc biệt, với tư duy nhạy bén, tầm nhìn sâu rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhân dân các nước trên thế giới, kể cả các tầng lớp nhân dân yêu chuộng hòa bình ở các nước thực dân đế quốc, để tạo thành sức mạnh thời đại to lớn nhằm thúc đẩy sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc của Việt Nam giành thắng lợi. Với tấm lòng cao cả dành cho nhân dân, đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự nguyện hy sinh tình yêu đôi lứa, gác lại chuyện tình cảm riêng tư để toàn tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, phụng sự đồng bào. Điều này đã được Người nhắc đi nhắc lại nhiều lần với một thái độ rõ ràng. Ngay sau khi nước nhà được độc lập, trả lời các nhà báo nước ngoài, đầu năm 1946, Bác Hồ đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Tháng 11-1946, khi trả lời người anh trai Nguyễn Sinh Khiêm về việc riêng của mình, Bác Hồ nói rằng, “Em không phải là người tu hành nhưng vì việc nước quên việc nhà”. Tháng 1-1947, trong bức thư chia buồn khi nhận được tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc, Bác Hồ viết: “Ngài biết đấy, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột”. Ngày 16-7-1947, đáp lại một số nhà báo nước ngoài hỏi về việc riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ”. Như vậy, trong vòng hai năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không dưới ba lần nói về lý do không lập gia đình. Sự việc này không chỉ thể hiện phẩm chất cá nhân vĩ đại của một con người đã dành trọn tâm huyết, hiến dâng trọn đời mình vì những lý tưởng, mục tiêu cao cả là giành được độc lập cho dân tộc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân, mà còn khẳng định đời tư vô cùng trong sáng, nhân nghĩa, cao thượng của Bác Hồ.

Biểu tượng đẹp trong lòng dân Việt Nam và trái tim nhân loại

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam, đất nước ta đã sản sinh nhiều anh hùng kiệt xuất, nhiều nhân vật tài ba lỗi lạc. Đã bao đời nay, một trong những đạo lý làm nên truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt là “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Bất cứ ai có công khai sơn phá thạch, mở mang bờ cõi, giữ gìn non sông, bảo toàn gấm vóc đều được người dân Việt tôn kính, thờ phụng. Từ các Vua Hùng có công dựng nước trong buổi bình minh lịch sử dân tộc, đến những anh hùng gắn liền với các sự kiện lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta như Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh… đều được nhân dân ta lập đền thờ ở nhiều nơi. Trong đó, các vị Quốc tổ Hùng Vương được thờ phụng ở hơn 1.400 di tích; “Đức thánh Trần” Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn được thờ phụng ở hơn 400 làng xã và di tích lịch sử tại nhiều địa phương. Hiếm có nhân vật nào trong lịch sử hiện đại được các tầng lớp nhân dân trên khắp mọi miền đất nước kính trọng, quý mến, ngưỡng mộ và tôn thờ như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi vì, như nhà thơ Bảo Định Giang từng viết “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Nước Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ/ Bông sen dành để lễ chùa/ Cụ Hồ mãi mãi tôn thờ trong dân”. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hiện cả nước có hơn 600 di tích, địa điểm di tích lưu niệm Bác Hồ tại gần 30 tỉnh, thành phố; 103 tượng và tượng đài Bác Hồ được xây dựng trong khuôn viên, trụ sở của các cơ quan, đơn vị trên toàn quốc. Tên Người còn được nhân dân gắn vào những danh hiệu như “Cháu ngoan Bác Hồ”, “Bộ đội Cụ Hồ”… mà ít có lãnh tụ chính trị, danh nhân văn hóa nào trên thế giới có được niềm vinh dự đó. Là người đã “làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”, hình tượng Hồ Chí Minh đã trở thành một trong những nguồn cảm hứng bất tận để các các văn nghệ sĩ sáng tác về Người. Sở hữu 26 ca khúc về Hồ Chí Minh, sinh thời, nhạc sĩ Thuận Yến từng lý giải rằng, viết về Bác là một tình cảm rất đỗi tự nhiên, bởi trong mỗi trái tim Việt chúng ta luôn sẵn có sự tôn kính, tình yêu thương, ngưỡng mộ và lòng biết ơn vô bờ bến đối với Bác. Còn theo nhà thơ Tố Hữu, được viết về Bác là một nhu cầu tự thân, bởi lẽ “Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta” và “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn”. Đến nay, đã có hàng nghìn bài thơ, bài hát viết về hình tượng Hồ Chí Minh. Không chỉ nhân dân Việt Nam, với tấm lòng yêu mến vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, nhiều nhạc sĩ nước ngoài cũng đã “cất lên tiếng nói con tim mình” bằng những bài hát ca ngợi Hồ Chí Minh. Đó là các ca khúc: “Bài ca về đồng chí Hồ Chí Minh” (Vladimir Fere, Nga), “Hát mừng Bác Hồ vĩ đại” (Suphat Mukhophathiai, Ấn Độ), “Inolvidable Ho Chi Minh” (Alí Primera, Venezuela), “Jose Marti Hồ Chí Minh” (Armando Cardoso, Cu Ba), “Quyền sống trong hòa bình” (Víctor Jara, Chile), “Thầy giáo Bác Hồ” (Pete Seeger, Mỹ), “Bài ca Hồ Chí Minh” (Ewan MacColl, Anh), “Hồ Chí Minh” (Kurt Demmeler, Đức)… Cùng với những lời ca ca ngợi về Hồ Chí Minh, nhiều nước trên thế giới cũng đã có những công viên, vườn hoa, trường học mang tên Hồ Chí Minh. Thống kê của Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, đến nay tượng và tượng đài Bác Hồ đã có mặt ở gần 20 nước hầu khắp các châu lục, đó là: Nga, Pháp, Anh, Hungary, Lào, Thái Lan, Philippines, Singapore, Nhật Bản, Mông Cổ, Cu Ba, Chile, Mexico, Argentina, Sri Lanka, Dominicana,… Những dẫn chứng trên thêm một lần khẳng định, tên tuổi Hồ Chí Minh không những in đậm trong lòng dân Việt Nam, mà còn nằm trong tình cảm, niềm tin của nhân loại tiến bộ trên thế giới. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên và đồng bào, chiến sĩ cả nước tự nguyện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cũng không ngoài đích để hoàn thiện nhân cách bản thân và góp phần hiện thực hóa những mục tiêu, lý tưởng cao cả của Bác Hồ đã để lại cho các thế hệ người Việt hôm nay và mai sau. Thế nên, những kẻ nào đó còn cố tình xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh cũng như phủ nhận công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hành vi trái đạo lý, vô lương tâm vì đã làm tổn thương nghiêm trọng đến biểu tượng niềm tin bất khả xâm phạm của dân tộc và nhân dân Việt Nam; đồng thời làm tổn hại đến uy tín, danh dự Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) vì tổ chức này đã từng vinh danh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam./.

 ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Ngày 23/5/2021 vừa qua, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công tốt đẹp; đảm bảo dân chủ, đúng luật và an toàn. Sự kiện chính trị trọng đại này tiếp tục khẳng định đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đó là:
Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Ba là, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Bốn là, nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
Đặc trưng cơ bản trên phản ánh bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tạo ra sự khác biệt về chất so với nhà nước pháp quyền tư sản. Sự khác nhau này thể hiện: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Đúng như Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân.” .
Hiểu rõ bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những lý do quan trọng thôi thúc 99,63% cử tri cả nước tham gia bầu cử ngày 23/5/2021 vừa qua để thực hiện quyền làm chủ của mình, tạo ra sự khác biệt rất lớn so với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu ở nhiều nước tư bản trên thế giới hiện nay.

Vạch trần luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam

     Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch tập trung công kích trực tiếp vào sự trung thành của quân đội đối với Đảng. Chúng cho rằng quan điểm quân đội “chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”; rằng, quân đội trung thành với Đảng là sự trung thành “mù quáng”, là “lạc hậu lỗi thời”; rằng, quân đội chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia dân tộc, phải đề cao khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết” trong mục tiêu lý tưởng chiến đấu của mình; rằng, quân đội “chỉ cần trung thành với nhân dân, bảo vệ nhân dân”. Chúng đặt ra yêu cầu cần phải “bỏ hẳn cách hiểu quân đội chỉ cần trung thành với Đảng Cộng sản và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa”!

Thoảng qua, những quan điểm trên tưởng như là vô hại, nhưng rõ ràng đây thực sự là một âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm. Những luận điệu xuyên tạc trên dễ làm cho một số người nhẹ dạ cả tin có thể lầm tưởng rằng, các quan điểm của chúng là phù hợp, là hợp lý, cần phải xem xét, nghiên cứu, để học tập và thực hiện!

Thực chất những luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của quân đội ta của các thế lực thù địch là thủ đoạn lừa bịp, phản động về chính trị, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Chúng không những xuyên tạc phẩm chất trung thành của quân đội ta, mà còn nhằm tách rời, đối lập một cách vô lối các nội dung trong phẩm chất trung thành của quân đội ta phản ánh các mối quan hệ của quân đội với Đảng, dân tộc và nhân dân. Chúng ta thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của quân đội ta của các thế lực thù địch. Làm sao mà có thể cho rằng, “quân đội chỉ là của dân tộc”, chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân và đất nước” một cách chung chung, không cần sự lãnh đạo của một đảng chính trị nào, không cần trung thành với Đảng. Quân đội là của dân tộc, của nhân dân, nhưng quân đội “của dân tộc”, “của nhân dân” ấy là do ai lập nên, do ai tổ chức, rõ ràng là phải có một lực lượng chính trị nhất định.

Thử hỏi, nếu nói rằng quân đội chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “bảo vệ đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng chính trị nào, đảng phái nào, thì quân đội ấy mang bản chất nào, mang bản chất của ai? hay là “không có bản chất”, “không có chính trị”! Đây là một kiểu nhằm để đánh lừa người khác, chứ bản thân những kẻ đưa ra các quan điểm trên cũng thừa hiểu quân đội phải mang bản chất chính trị và phải phục vụ cho ai, trung thành ai.

Đúng là nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, nhưng chỉ có quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như Quân đội nhân dân Việt Nam mới có thể thực sự làm tròn phận sự trung thành với Tổ quốc, với nhân dân theo đúng nghĩa của nó; và gắn bó chặt chẽ sự trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ, Tổ quốc và nhân dân trong chỉnh thể thống nhất, không tách rời.

Tóm lại, Quân đội nhân dân Việt Nam là của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, cũng đồng thời là của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Việc từ bỏ sự trung thành với Đảng; tách vấn đề trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc là không đúng với bản chất chính trị – xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là sự cố tình xuyên tạc, bóp méo thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như thực tiễn mối quan hệ giữa quân đội với Đảng, với dân tộc và nhân dân, nhằm thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, vạch trần và bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phản động này của các thế lực thù địch./.

                                                                                                                    T3

Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”: Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan, tỉnh táo

     Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.

Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.

Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.

Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy?

Nên nhớ rằng, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định.

Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông.

Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.

                                                                                                                 T3

Căn bệnh thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm cần phải được chữa trị!

     Hiện nay, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đang trở thành căn bệnh ngày càng trầm trọng, lây lan trong xã hội. Dân tộc ta vốn có truyền thống đoàn kết, “tương thân, tương ái”, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”… Truyền thống ấy luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, vun đắp nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử; kinh tế ngày càng khởi sắc, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Song, những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự du nhập lối sống nước ngoài, nhất là lối sống thực dụng không phù hợp với truyền thống văn hóa và đạo lý dân tộc đã khiến một bộ phận trong xã hội ngày càng trở nên vô cảm, thờ ơ, thiếu trách nhiệm và trở thành căn bệnh làm mờ nhạt những truyền thống tốt đẹp đó.

Hiện nay, trên nhiều diễn đàn, các phương tiện thông tin truyền thông đã cảnh báo và đưa nhiều minh chứng về sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm gây bức xúc trong xã hội. Thờ ơ, vô cảm đã cho thấy sự thể hiện trơ lì về cảm xúc, dửng dưng trước các sự việc xung quanh; thờ ơ với nỗi đau khổ, mất mát của người khác, chỉ biết quan tâm đến lợi ích của mình. Chính sự thờ ơ, vô cảm ấy mà thấy tốt không ủng hộ, thấy xấu không lên án, ngại va chạm tạo điều kiện, tiếp tay cho cái xấu, cái ác nảy nở.

Không thể đổ lỗi cho nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ, trong xã hội vẫn không thiếu những người tốt, những câu chuyện về “người tử tế”, những câu chuyện ấm áp lòng người như những hiệp sĩ đường phố, về người đi xây cầu từ thiện, những tấm gương quên mình cứu người giữa dòng nước lũ; tấm lòng của các nhà hảo tâm chung tay ủng hộ những mảnh đời khó khăn, bất hạnh trong cơn hoạn nạn… đã góp phần xây dựng lối sống hướng thiện, một xã hội, cộng đồng tốt đẹp, nhân văn…

Để chữa trị căn bệnh này cần phát huy vai trò, sức mạnh của toàn dân. Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, tuyên truyền làm thức dậy tình thương yêu con người, đồng loại, sự hy sinh và trách nhiệm đối với xã hội. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội và cá nhân trong đấu tranh, ngăn ngừa căn bệnh thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm; khuyến khích các hoạt động nhân ái, bao dung, nghĩa hiệp, chống lại cái xấu, vun đắp và xây dựng những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

                                                                                                 T3

 

Nhận diện âm mưu lợi dụng đấu tranh phòng chống “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” để xuyên tạc chống phá Đảng

     Để thực hiện những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị thường khoét sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp trong nội bộ tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Hiện nay, chúng triệt để lợi dụng những biểu hiện “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, xuyên tạc, chống Đảng, Nhà nước..

Một trong những vấn đề chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc là căn bệnh giả dối của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thiếu trung thực “giả dối” là một trong những thói hư, tật xấu của con người, ai cũng có thể mắc phải nếu thiếu tu dưỡng rèn luyện, kể cả đối với cán bộ, đảng viên. Thói giả dối là do tàn dư lạc hậu của xã hội và lối sống thiếu trung thực đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Có thể nói bệnh giả dối nếu không được ngăn chặn triệt để, nó sẽ làm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm giảm sút lòng tin của quần chúng với Đảng. Bởi vậy, “Giả dối – Thói xấu tệ hại, người cộng sản cần loại bỏ” là một bài báo được đăng tải trên Báo Quân đội nhân dân gần đây, góp phần đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Cần khẳng định căn bệnh giả dối chỉ tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu trung thực, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống chứ không phải là bản chất của Đảng ta, của chế độ ta.

Thế nhưng, các thế lực thù địch đang ra sức rêu rao rằng: “Xảo trá, lật lọng là bản chất và thuộc tính mang thương hiệu cộng sản” và “Lừa bịp, xảo trá là những căn bệnh xấu xa đặc trưng thời cộng sản” … Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu, phủ nhận bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Đảng và sự hy sinh, cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước. Chúng ta cần đề cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của công cuộc đổi mới./.

                                                                                                        T3

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA NHỮNG KẺ PHẢN ĐỘNG

     Chúng ta đã, đang thực sự  sống trong cuộc chiến đấu giữa thời bình, với thiên tai mà phía trước là tính mạng của nhân dân, với mệnh lệnh từ trái tim, luôn sẵn sàng có mặt ở nơi hiểm nguy để cứu giúp nhân dân là hành động cao đẹp, thể hiện sâu sắc phẩm chất sáng ngời và bản lĩnh của “Bộ đội Cụ Hồ” của  những công chức, viên chức mẫu mực, trách nhiệm, tận tụy, thực sự là công bộc, là người “đầy tớ” trung thành của nhân dân. Với tấm lòng tận trung với nước, với Đảng, tận hiếu với dân, 13 cán bộ, chiến sỹ đã anh dũng hy sinh ở Rào Trăng 3 cho sự bình yên của nhân dân trước thiên tai, bão lụt. Đây là một trong những tổn thất, mất mát rất lớn của quân đội, của đất nước, của nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ trong thời bình.

Các anh ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn. Đảng ta mất đi những đảng viên trung kiên; Quân đội mất đi những chiến sĩ ưu tú tận trung với Đảng, tận hiếu với dân; địa phương mất đi những cán bộ nòng cốt, năng lực, trách nhiệm; các gia đình mất đi những người trụ cột kính yêu; đồng chí, đồng đội và bạn bè mất đi những người bạn, đồng đội chân tình, quý mến. Các gia đình, họ tộc mất đi một người con hiếu thảo, khiêm nhường, một người anh, người em quý mến; các chị mất đi người chồng thân thương, nghĩa tình, thủy chung, sâu sắc; các cháu mất đi người cha mẫu mực; làng xóm, khu phố, quê hương mất đi một công dân tiêu biểu, tâm huyết; bạn bè thân hữu mất đi một người bạn thân thiết, trọn nghĩa, vẹn tình. Sự hy sinh của các anh đã minh chứng cho truyền thống trung với nước, hiếu với dân, không sợ nguy hiểm, sẵn sàng hy sinh tính mạng, vì hạnh phúc của nhân dân, vì đồng chí, đồng đội cao cả, vì công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Vậy nhưng, trên các trang mạng, các blog của bọn phản động đã táng tận lương tâm khi đăng tải những bài viết, với nội dung nghi ngờ, mỉa mai, bôi nhọ sự hy sinh anh dũng của các cán bộ, chiến sĩ gặp nạn trên đường thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn. Chúng đặt ra nhiều câu hỏi về sự chân thật, lý do vì sao 13 cán bộ lại trèo đèo lội suối vào chốn ấy: “Theo lẽ thường, các cán bộ đảng- nhà nước và các sĩ quan cấp tá trở lên đã rất sợ chết, không dám để tay chân dính mưa hay bùn đất, nói gì đến chuyện cả đàn kéo nhau đi vào rừng mưa đang sạt lở” (?!!). Một sự bịa đặt, vu khống rất trắng trợn. Có lẽ chỉ có những kẻ chuyên “liếm gót giày”, tay sai cho bọn phá nước, hại dân mới đưa ra cái nhìn ấu trĩ, thiển cận như thế. Rồi chúng hả hê trước sự hy sinh cao cả ấy, cho rằng “rất đáng đời” (?!!). Một sự khốn nạn đến tận cùng của sự khốn nạn.

Giữa lúc mưa lũ hiểm nguy, đi lại vô cùng khó khăn, gian khổ, sự cố có thể đe dọa tính mạng bất cứ lúc nào mà cán bộ, chiến sĩ vẫn quyết tâm thực hiện nhiệm vụ, dù phải hy sinh tính mạng của mình cũng không chùn bước. Bởi lẽ, với trách nhiệm của người đảng viên, người chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. Cứu giúp nhân dân là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình của “Bộ đội Cụ Hồ”. Với cán bộ, chiến sĩ quân đội, cứu giúp nhân dân không chỉ là nhiệm vụ đơn thuần, mà là mệnh lệnh từ trái tim. Chính mệnh lệnh trái tim đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ đạp bằng mọi hiểm nguy, gian khó để có mặt cứu giúp nhân dân nơi bão, lũ.

Khi thiên tai, bão lũ đổ tai ương xuống dải đất miền Trung ruột thịt không chỉ tàn phá của cải vật chất mà còn cướp đi nhiều sinh mạng người dân. Tất cả cán bộ, chiến sĩ quân đội đều nhận rõ trách nhiệm của mình phải tiên phong trong việc cùng cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng giúp nhân dân qua cơn hoạn nạn. Vì thế, dù ai cũng đớn đau, thương tiếc khi biết tin đồng chí, đồng đội mình hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu dân; ai cũng nghẹn lòng mỗi khi tìm thêm được thi thể của đồng đội trong bùn đất lấp vùi; ai cũng biết khi mình thực hiện nhiệm vụ cũng có thể gặp hiểm nguy, hy sinh như thế; nhưng tuyệt nhiên không cán bộ, chiến sĩ nào vì thế mà chùn lòng quyết tâm, thậm chí còn ngược lại! Những ngày qua, trên khắp dải đất miền Trung, hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ vẫn tiếp tục dầm mình trong lũ dữ để cùng nhân dân khắc phục hậu quả bão lũ.

Vậy mà những kẻ phản động, táng tận lương tâm đã xuyên tạc, xúc phạm sự hy sinh cao cả của những cán bộ, chiến sỹ, đi ngược lại với truyền thống dân tộc, lợi ích của nhân dân. Mỗi chúng ta cần vạch trần và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu sai trái đó./.

                                                                                             Comment T3

 

Đảng lãnh đạo nhưng không đứng trên Quốc hội

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định vai trò của Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước. Người viết: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp. Những vấn đề quan trọng nhất của Nhà nước trong phạm vi toàn quốc đều do Quốc hội quyết định”. Theo Điều 4, Hiến pháp năm 2013, Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”; “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Hiến pháp cũng hiến định: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội không có nghĩa là Đảng đứng trên Quốc hội, “chỉ tay” để Quốc hội “giơ tay” như những luận điệu xuyên tạc. Với góc độ là một chuyên gia nghiên cứu lập pháp, GS, TS Trần Ngọc Đường, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, Đảng ta là đảng cầm quyền, là đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vì vậy, khi đặt vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội phải được xem xét trong mối quan hệ Đảng không chỉ lãnh đạo Quốc hội mà lãnh đạo tất cả bộ máy Nhà nước và xã hội. Song Đảng lãnh đạo chứ Đảng không chỉ đạo công việc cụ thể của Quốc hội. Đảng lãnh đạo nhưng luôn tôn trọng Quốc hội với tư cách là cơ quan dân cử, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội sao cho Quốc hội ngày càng thực hiện tốt các chức năng lập hiến, lập pháp; giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển, nhân dân phấn khởi, hăng say và an tâm lao động, đầu tư và mở rộng sản xuất, kinh doanh, ngày càng đoàn kết, gắn bó, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Quốc hội. Trên thực tế, việc Đảng lãnh đạo Quốc hội những năm qua đã có rất nhiều đổi mới. Trả lời phỏng vấn báo chí gần đây, ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nêu một số dẫn chứng về sự đổi mới ấy, trong đó có hai dự án điển hình về sự lãnh đạo của Đảng với Quốc hội. Về dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam, ban đầu, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định, nhưng khi đưa ra Quốc hội chưa đồng tình. Sau đó, Bộ Chính trị thấy phù hợp và cả Bộ Chính trị cùng Trung ương đồng thuận, rút kinh nghiệm. Còn với dự án sân bay Long Thành, Quốc hội thảo luận, tổ chức hội thảo, sau đó Trung ương mới cho ý kiến và Tổng Bí thư trong hội nghị Trung ương cũng chỉ đạo, phải rút kinh nghiệm để Quốc hội bàn kỹ dự án này cho dân chủ.

Cảnh giác với bệnh công thần và kiêu ngạo cộng sản

     Bệnh công thần, kiêu ngạo cộng sản là những thói hư tật xấu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã từng được V.I Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ lâu. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, tránh những căn bệnh ấy, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt cuộc đời, khi đương chức cũng như khi nghỉ hưu. Thế nhưng, vẫn có những người xao nhãng, để những căn bệnh ấy không chỉ làm méo mó hình ảnh, nhân cách, vinh quang của chính họ mà còn tạo ra dư luận xấu, ảnh hưởng đến niềm tin, tình cảm của nhân dân, đồng đội…

Họ đã và đang tự đánh mất chính mình

Chúng ta hẳn có nhớ một sự việc gần đây, từng có cựu Ủy viên Trung ương Đảng tuổi đời còn trẻ, tương lai đang rộng mở thì “dính chàm”, bị cách hết mọi chức vụ. Nguyên nhân do nhiều sai phạm, trong đó một phần do thói độc đoán, chuyên quyền, kiêu ngạo, không biết lắng nghe, không tôn trọng cả cấp trên và cấp dưới.

Lại có cán bộ cấp cao lúc nghỉ hưu vẫn không giữ được mình, có nhiều sai phạm ảnh hưởng đến thanh danh họ, như cựu quan chức mạt sát cảnh sát giao thông; cựu bộ trưởng đòi đặc quyền đặc lợi… Đáng buồn hơn, có cả cán bộ kinh qua rèn luyện, cống hiến, lập nhiều chiến công nhưng lúc nghỉ hưu lại thiếu tỉnh táo, nói và viết không đúng đường lối quan điểm của Đảng; tiếp xúc với nhiều đối tượng cơ hội chính trị, thậm chí cả đối tượng phản động, bị chúng lợi dụng, kích động, dẫn đến tán phát nhiều thông tin xấu, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận. Trước góp ý chân thành của đồng chí đồng đội, những người này lại không tiếp thu, sửa chữa, cho rằng cách nghĩ, cách làm của họ mới là cấp tiến, là “trở về với nhân dân”.

Họ còn tham gia các cuộc tọa đàm, trao đổi, tham gia xuất bản những ấn phẩm do một vài hội, nhóm tổ chức gây ra những tranh cãi, bất đồng chính kiến làm bức xúc dư luận. Rồi còn tham gia ký các đơn, tâm thư, thỉnh nguyện tập thể có nội dung trái với đường lối, quan điểm của Đảng, không có lợi cho đất nước, quân đội nhưng họ lại được kẻ xấu tung hô, ngợi ca nên ngày càng mù quáng… Ngay trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, văn hóa văn nghệ, nhiều năm qua, chúng ta không khỏi đau xót khi thấy có những nhà văn, nhà báo, nhà quản lý từng dạn dày kinh nghiệm, có tên tuổi nhưng khi nghỉ hưu đã đánh mất chính mình, đăng đàn nói, viết những điều sai trái, đi ngược với lý tưởng cả một đời theo đuổi. Có người còn tham gia thường xuyên viết bài, cộng tác cả cho những trang mạng phản động, có người bị kích động và bị lợi dụng để rồi xuất hiện trong những clip với nhiều nội dung sai sự thật, có cả thông tin xấu độc gây hoang mang dư luận. Có người để lại lời nói, việc làm thiếu trách nhiệm, tùy tiện đưa thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, uy tín lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội…

Những căn bệnh cần tránh của người cộng sản

Cuộc sống luôn cần sự phản biện đa chiều nhưng nếu sự chỉ trích đi kèm bệnh kiêu ngạo cộng sản và công thần thì hậu quả vô cùng nguy hiểm.

Năm 1919, nhà văn Maxim Gorki đã viết thư đề nghị V.I Lênin ngừng “khủng bố” những trí thức bị bắt vì phản loạn. V.I Lênin đã viết bức thư trả lời, phân tích rằng không nên trộn lẫn “các lực lượng trí tuệ” của nhân dân với “lực lượng” trí thức tư sản. Ông còn lấy trường hợp tác giả cuốn sách với những mỹ từ “Chiến tranh, Tổ quốc và Nhân loại” nhưng thực ra là kẻ dùng lời đường mật đánh tráo khái niệm yêu nước đích thực; ông cho rằng những trí thức phản loạn, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia “bọn chúng không phải là bộ não …”. Sau này, trong bài viết vào năm 1921, V.I Lênin đã vạch ra một trong 3 thứ kẻ thù chính-kẻ thù “nội xâm” mà những người cộng sản Nga phải kiên quyết đấu tranh tiêu diệt, kẻ thù đầu tiên, chính là “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa”.

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến bệnh công thần: “Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng. Theo Người: “… Có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng…”. Người cũng chỉ ra nhiều thứ “bệnh” của cán bộ, trong đó có bệnh kiêu ngạo với những biểu hiện: “Tự cao, tự đại, hay lên mặt. Ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo… Việc gì cũng muốn làm thày người khác”. Cùng với đó là bệnh hiếu danh, tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Rồi bệnh óc lãnh tụ: “Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi. Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một chút cỏn con, đã thấm vào đâu!”.

Vi phạm cả pháp lý, đạo lý, xa rời nhân tâm, tự vùi danh dự

Soi rọi những lời căn dặn trên vào các biểu hiện mắc bệnh của một số cán bộ mà chúng tôi nêu ở phần đầu bài viết, có thể thấy rất rõ những điều các bậc tiền bối cách mạng căn dặn dường như đã nói đúng, nói trúng tim đen của ai đó xa rời đạo đức, danh dự người cộng sản chân chính. Người cộng sản cần có dũng khí để đấu tranh với những điều sai trái, những thói hư tật xấu trong xã hội nhưng phê bình phải trên tinh thần xây dựng, phải có cái tâm. Cuộc sống xấu đi bởi sự im lặng nhưng cuộc sống cũng xấu đi và tồi tệ hơn bởi những tiếng nói sai sự thật, phán xét hồ đồ, tùy tiện, vô trách nhiệm, giật gân, đao to búa lớn để nâng mình lên bằng cách bôi nhọ người khác, gắp lửa bỏ tay người. Đó là thói phê bình nói lấy được của kẻ không biết mình là ai, thậm chí “Chân mình thì lấm mê mê/Lại đi cầm đuốc mà rê chân người” như cha ông ta đã dạy. Đó là thói phê bình vơi tình cạn nghĩa, không thể chấp nhận đối với những người từng chung đội ngũ, từng thuộc lời thề thứ 7 về tình đồng đội.

Đã là người cộng sản, là đồng chí, đồng đội, thì khi góp ý, phê bình phải với tinh thần người cộng sản, đồng chí, đồng đội chứ không thể bịa đặt thông tin, đổi trắng thay đen, gây hoang mang, suy giảm niềm tin của nhân dân. Càng không thể phê phán khi chính mình chưa đủ tâm, đủ tầm, đủ thông tin và nhận thức về những lĩnh vực mình còn nông cạn, chưa trải nghiệm. Không thể chấp nhận những kiểu phê bình tùy tiện như biến người từng trải nghiệm, kinh qua chiến đấu, được đào tạo bài bản, có trình độ, năng lực chỉ huy quân sự cao thành người “không hiểu quân sự, không qua chiến tranh”. Không thể phê bình kiểu thầy bói xem voi phủ nhận cả thành tích, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng ý kiến chủ quan, lệch lạc.

Đây cũng là vấn đề mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đề cập, chỉ rõ để mỗi cán bộ, đảng viên không sai phạm. Nghị quyết chỉ rõ, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống có việc nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu… Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước, quân đội; Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội.

Nghị quyết cũng không cho phép “kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước…”.

Vậy thì rõ ràng, một vài hiện tượng cán bộ nghỉ hưu gần đây giao lưu, cấu kết với các thế lực phản động hoặc bị chúng lợi dụng để xuyên tạc, chống phá, tán phát thông tin sai sự thật trên mạng xã hội là điều không thể chấp nhận, chính là việc vi phạm Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng.

Nhìn ở góc độ pháp lý, những hành vi xuyên tạc, vu khống người khác thông qua cái gọi là phê bình, đấu tranh, bày tỏ chính kiến với nhiều trường hợp đã vi phạm Điều 155, Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, người vu khống, nói xấu, bôi nhọ danh dự, tuy tín của người khác còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về một trong các tội: Tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống…

Đấu tranh và xử lý, không để tạo những tiền lệ xấu

Những hành vi vi phạm cả về pháp lý và đạo lý như vậy cần phải được đấu tranh, phê phán, lên án, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh. Tổ chức đảng, đoàn thể nơi quản lý những cán bộ đó phải tăng cường giáo dục, rèn luyện họ chấp hành đúng kỷ luật và các quy định của Đảng, đề cao lương tâm, trách nhiệm, danh dự của người đảng viên chân chính.

Đối với các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan quản lý Nhà nước, phải có thái độ và biện pháp xử lý nghiêm minh, công bằng, không để nương nhẹ, hóa mù ra mưa với những trường hợp công thần, kiêu ngạo cộng sản dẫn đến những lời nói, việc làm sai phạm. Chúng ta từng có bài học kinh nghiệm sâu sắc về một số trường hợp tướng lĩnh quân đội, công an từng được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân nhưng vi phạm kỷ luật, pháp luật vẫn bị xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm.

Với cán bộ cao cấp, càng đòi hỏi khi đương chức cũng như nghỉ hưu phải có sự tỉnh táo, cẩn trọng khi nói và làm, nhất là phát ngôn trên truyền thông và mạng xã hội, đặt lợi ích của đất nước, của cộng đồng lên trên; giữ gìn bản lĩnh, danh dự và uy tín người quân nhân cách mạng. Sinh thời, Bác Hồ từng gửi cho Thiếu tướng Nguyễn Sơn 12 chữ: “Đảm dục đại” (Gan phải to); “Tâm dục lễ” (tấm lòng, tâm hồn phải trong sáng); “Trí dục viên” (Suy nghĩ trọn vẹn, toàn diện, chu đáo); “Hạnh dục phương” (Hành động đúng đắn, ngay thẳng, phân minh, đàng hoàng). Sau này, nói chuyện với các tướng lĩnh, Bác nói đến 6 đức tính cần phải có, gồm: Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung nhưng phẩm chất đầu tiên phải có là Trí. Người chỉ rõ Trí là phải có đầu óc sáng suốt, nhìn mọi việc để suy xét, rồi quyết định cho đúng. Suy nghĩ thấu suốt, nhìn xa trông rộng, phát ngôn rạch ròi, có thể định hướng dư luận, thế mới xứng tầm của những người từng ở vị trí lãnh đạo, chỉ huy.

Để tán phát những thông tin xấu, tiếp tay cho những căn bệnh kiêu ngạo, công thần, những điều sai trái có “cánh tay vô hình” của kênh truyền thông mạng xã hội và thủ đoạn lôi kéo của các đối tượng xấu, cơ hội chính trị thường lợi dụng những cán bộ nghỉ hưu, có tinh thần đấu tranh cao nhưng trong nhiều trường hợp lại thiếu thông tin; không sử dụng hoặc ít cập nhật mạng xã hội, internet… Vì thế, cũng cần có biện pháp thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin, ngăn ngừa các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng.

Các cơ quan chức năng cần có biện pháp tăng cường quản lý hiệu quả mạng xã hội, để các nhà cung cấp của Google, Facebook, YouTube… chấp hành nghiêm quy định của pháp luật Việt Nam; buộc họ chủ động và có biện pháp ngăn chặn, xử lý những thông tin chưa được kiểm chứng, tránh lăng mạ, xúc phạm uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân, chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội…

                                                                                                  Comment T3

Chủ động phòng ngừa tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan

     Một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ ra là: “Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước”. Đây là những biểu hiện hết sức nguy hiểm mà các thế lực thù địch lợi dụng để tăng cường xây dựng, phát triển những phần tử phản động ở trong nước để chống phá cách mạng từ bên trong là chủ yếu, thay cho ý đồ trước đây là sử dụng lực lượng chống phá từ bên ngoài là chủ yếu. Một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch, cùng các phần tử cơ hội chính trị đang thực hiện là kích động để phát triển mạnh “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo” hòng tạo ra cuộc chiến ngay trong nội bộ, với cảnh “nồi da nấu thịt” như đã diễn ra ở một số nước.

Thực chất của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”: là tư tưởng khép kín, biệt lập, bảo thủ, bài ngoại, ngờ vực dân tộc khác… Tư tưởng này thường hay nhấn mạnh đặc điểm riêng biệt của dân tộc, không thấy rõ lợi ích của quốc gia và tương lai của đất nước mình. Họ không muốn tiếp thu sự giúp đỡ và những kinh nghiệm hay những tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác. Nếu kích động thành công “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”, cũng có nghĩa dung dưỡng cho quan điểm đề cao lợi ích cục bộ của mỗi dân tộc, chia rẽ tình đoàn kết thống nhất và từ bỏ những lợi ích chung của dân tộc Việt Nam để kích động đồng bào dân tộc ít người đấu tranh đòi thành lập “Nhà nước riêng”, có vua riêng như đang kích động đối với đồng bào Mông, Khơ-me… hiện nay. Mục đích của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi” là chia cắt đất nước ta thành nhiều vùng miền, khu vực tự trị của đồng bào dân tộc thiểu số và không phụ thuộc vào Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thay vào đó sẽ là lực lượng chính trị phản động nắm giữ…

Thực chất tư tưởng tôn giáo cực đoan: là tuyệt đối hóa tính biệt lập, đặc thù của mỗi tôn giáo, đề cao tôn giáo mình, phủ nhận hoặc xem thường với thái độ miệt thị các tôn giáo khác và những người không theo tôn giáo; chỉ thấy quyền lợi của tôn giáo mình, chà đạp lên quyền lợi của tôn giáo khác và nuôi dưỡng ngày càng sâu mối hận thù với các dân tộc, tôn giáo khác… Tư tưởng cực đoan tôn giáo thường xuất hiện ở những chức sắc, những tín đồ có những biểu hiện cực đoan, đối lập với chính quyền cơ sở hoặc những nhà hoạt động xã hội nhân danh là vì dân, cùng với sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch từ bên ngoài nhằm xây dựng những “cốt cán” trong tôn giáo… Bản chất sâu kín bên trong của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và cực đoan tôn giáo” là công cụ mềm để thực hiện ý đồ cứng nhằm xây dựng những “cốt cán” trong nước, từng bước nắm giữ, khống chế đồng bào các dân tộc, các giáo dân để hình thành lực lượng đối trọng với chính quyền, cao hơn nữa là gây mâu thuẫn, xung đột dân tộc và đẩy tới ly khai, tự trị ở các vùng dân tộc thiểu số, lãnh địa độc lập của các tôn giáo.

Mục đích kích động “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và cực đoan tôn giáo” của các thế lực thù địch: là nhằm gieo rắc, phát triển ở các vùng, miền của đất nước, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo… tạo dựng được những lực lượng phản động bên trong đối lập với Đảng, Nhà nước và chính quyền cơ sở. Tập trung tạo dựng các ngọn cờ là những người có tư tưởng cực đoan trong dân tộc với cực đoan trong tôn giáo, dựa vào hình tượng, quyền uy của bề trên tối cao là “vua, chúa” để dụ dỗ và lôi kéo dân lành theo kịch bản đã định trước của chúng. Khi lôi kéo, tụ tập được đám đông quần chúng “nhẹ dạ cả tin” thì chúng sẽ đưa ra những lời lẽ xúi giục, kích động mọi người tham gia biểu tình, gây rối, vi phạm pháp luật… Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam đã chứng minh, các nước đế quốc có âm mưu thôn tính nước ta đã tính toán đến âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tạo dựng tay chân từ bên trong để chống phá cách mạng. Khi đã xâm lược đất nước ta thì kẻ thù tìm cách mua chuộc, lôi kéo những người có uy tín như già làng, trưởng bản trong các dân tộc thiểu số; giáo sĩ, tín đồ các tôn giáo để thực hiện mục đích cai trị. Thời kỳ chúng ta bước vào công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ để thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đang còn vững mạnh, không thể chuyển hóa ngay được nội bộ nên phải thực hiện từng bước. Con đường, biện pháp hữu hiệu để làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam suy yếu vẫn là dùng chiêu bài gieo rắc tư tưởng “dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan” vào trong nội bộ ta, nhất là cán bộ, đảng viên, công chức… hòng tạo ra những “chiến binh” phá hoại an ninh, gây mất trật tự, mất ổn định xã hội cùng với sự hỗ trợ từ bên ngoài sẽ từng bước làm cho Việt Nam “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và tự sụp đổ.

Chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan, làm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Để công việc ấy tiến hành có hiệu quả, trước hết cần tuyên truyền cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa và đồng bào tôn giáo có nhận thức sâu sắc về “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo”, sự nguy hại của nó để chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh. Đồng thời qua tuyên truyền, làm cho nhân dân thấy rõ ý đồ đen tối của các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài kích động “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chú trọng tuyên truyền về truyền thống quý báu trong lịch sử dân tộc ta; mỗi dân tộc, mỗi loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, sự phát triển khác nhau, nhưng đều có điểm chung đó là tinh thần bao dung, đoàn kết giữa các thành phần dân tộc, đoàn kết lương giáo trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Trong các giai đoạn của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc, các tín đồ ở mỗi tôn giáo đã không tiếc sức người, sức của góp phần to lớn làm nên thắng lợi hào hùng trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhiều chức sắc tôn giáo, tăng ni, phật tử đã hướng dẫn tín đồ chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa yêu nước” được vinh danh.

Trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta bao giờ cũng rất công bằng, nếu những ai đó có công với nước, với dân đều được ghi danh, những ai “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chấp nhận làm tay sai cho các thế lực thù địch, có dã tâm bán rẻ đồng bào và lợi ích quốc gia-dân tộc thì chúng ta kiên quyết đấu tranh lên án và bác bỏ./.

                                                                                                      Comment T3

Nhận rõ tình hình mới và các dạng quan điểm sai trái, thù địch

Trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ, có hai vấn đề nổi bật cần được nhận rõ trước tiên. Đó là, từ tình hình mới trên phạm vi quốc tế và trong nước, tìm ra những nguyên nhân và nguyên cớ của những quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời phải nhận diện cho được các quan điểm sai trái, thù địch để đưa ra những đối sách thích hợp với từng đối tượng cụ thể. Tình hình mới trên thế giới có thể nhận rõ qua những chuyển biến nổi bật. Thứ nhất, sự chuyển dịch quyền lực theo hướng từ Tây sang Đông dẫn tới sự thay đổi tương quan so sánh lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sự chuyển dịch này đã và đang tác động đến quan hệ quốc tế, tập hợp lực lượng giữa các nước không chỉ trong phạm vi các khu vực mà biến động sâu sắc tới toàn cầu, làm cho tiến trình chuyển biến cục diện thế giới theo hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Trong bối cảnh như vậy, sự cọ xát và cạnh tranh chiến lược, điều chỉnh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, quyết liệt, tác động sâu rộng đến an ninh, chính trị thế giới. Thứ hai, các vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng như: khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, phổ biến vũ khí hủy diệt, thảm họa thiên tai, thảm họa môi trường sinh thái, nghèo đói và dịch bệnh, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh mạng... Cùng với đó, an ninh biển cũng đang nổi lên, không chỉ liên quan đến an toàn các tuyến đường hàng hải mà ngày càng mở rộng ra các khía cạnh khác như an ninh môi trường biển, các nguồn lợi hải sản. Do tác động của việc gia tăng các tranh chấp biển, đảo và các chuyển biến của an ninh phi truyền thống khác, an ninh biển sẽ trở thành một trong những vấn đề chi phối quan hệ giữa các nước. Thứ ba, trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ có chiều hướng gia tăng mạnh mẽ ở các nước phát triển gây ra một số tác động khá tiêu cực. Các trào lưu dân túy cổ vũ cho việc xây dựng một nhà nước mạnh và chuyên chế nhưng kết quả lại làm tăng thêm các mâu thuẫn nội bộ, đẩy tình trạng bất ổn lên cao, làm cho chính sách đối nội và đối ngoại bất định. Trào lưu này chống liên kết, hội nhập quốc tế và khu vực, thậm chí ly khai khỏi các cơ chế đa phương, làm giảm hợp tác, tăng cạnh tranh, xung đột và do đó đưa đến những căng thẳng mới trong quan hệ quốc tế. Xu hướng bảo hộ (hoặc còn gọi là chủ nghĩa bảo hộ) gần đây phát triển mạnh tại Mỹ và một số nước Tây Âu. Việc quay trở lại chủ nghĩa bảo hộ, đóng cửa thị trường, hạn chế liên kết kinh tế, giảm sự ủng hộ đối với tự do thương mại đa phương, cản trở thương mại và đầu tư quốc tế đã và đang tạo ra hệ lụy tiêu cực, làm chậm lại tiến trình tăng trưởng kinh tế thế giới. Xu hướng bảo hộ ở một số nền kinh tế lớn sẽ làm tăng mâu thuẫn, bất đồng vốn có về một số vấn đề kinh tế, thương mại, do đó làm gia tăng va chạm lợi ích, không loại trừ có những hành động “trả đũa” dẫn tới chiến tranh thương mại, tỷ giá. Tình hình đó làm cho liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu đứng trước nhiều khó khăn, toàn cầu hóa có xu hướng bị chậm lại. Về tình hình trong nước: Chưa bao giờ tầm vóc của dân tộc, của đất nước ta lại rạng rỡ và mạnh mẽ như hôm nay. Điều đó làm cho công tác lý luận nói chung và cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện nhiệm vụ của mình. Nhưng mặt khác, những tồn tại, khiếm khuyết trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng đặt ra những thách thức không hề nhỏ. Nhiều vấn đề nảy sinh từ tính phức tạp của thực tiễn chưa được lường hết, có trường hợp từ sai lầm về nhận thức dẫn tới sai lầm về hành động, từ sự thiếu hiểu biết mà làm sai, làm ẩu, từ sự thiếu nhạy cảm nên chậm chạp để mất thời cơ, từ sự vi phạm nguyên tắc dẫn tới sự chệch hướng… Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa giữ vững định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra nhiều thách đố đối với công tác lý luận và có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Vận mệnh của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc vào chính việc nhìn nhận rõ và khắc phục tốt những vướng mắc bên trong cả về lý luận và thực tiễn, nhất là trong giai đoạn quá độ, chủ nghĩa xã hội chưa hoàn thiện. Do vậy, trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, phải khắc phục cho được những khó khăn do bối cảnh thời đại, do tác động khách quan và cả do chủ quan duy ý chí, bảo thủ trì trệ, từ đó, khắc phục sự lúng túng và thiếu lý lẽ trong lập luận.

Cần tỉnh táo trước luận điệu xuyên tạc về vấn đề biển Đông

     Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền Tổ quốc, giữ vững chủ quyền đất nước nhưng phải đảm bảo hòa bình để phát triển, không phải nhân nhượng vô nguyên tắc mà quan trọng phải giữ vững ổn định. “Xảy ra chiến tranh liệu chúng ta có thời gian để họp thế này không? Có thời gian lo chống tham nhũng hay không?, hay trong và ngoài lại cấu kết vào nhau để chống chúng ta”.

Ngày 15/10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cùng các ĐBQH đơn vị bầu cử số 1, Đoàn ĐBQH TP Hà Nội đã tiếp xúc cử tri các quận: Ba Đình, Tây Hồ, Hoàn Kiếm, Ba Đình trước kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIV.

Cử tri Nguyễn Văn Đoàn (phường Cống Vị, quận Ba Đình) bày tỏ lòng tin với Đảng, Nhà nước, Quốc hội trong việc quyết tâm, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền lãnh trên đất liền và biển đảo của Tổ quốc. Đây là cuộc đấu tranh với nhiều khó khăn vì vậy cần phải bồi dưỡng cho các thế hệ tương lai biết rõ những vấn đề liên quan đến tình hình biển Đông.

Phản bác lại các ý kiến mà các thế lực thù địch tung tin trong cách ứng xử của Đảng, Nhà nước và quân đội về vấn đề biển đảo, theo ông Đoàn, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông là cuộc đấu tranh lâu dài, cần phải kiên quyết, kiên trì, chúng ta phải sử dụng tổng lực sức mạnh của dân tộc, sức mạnh của chính nghĩa, phải sử dụng lẽ phải, công lý, sử dụng những biện pháp ngoại giao, sự ủng hộ của quốc tế.

“Bằng chứng lịch sử rất xác đáng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam”, ông Đoàn nói và đề nghị các nhà khoa học cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa thêm nội dung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào chương trình sách giáo khoa. Vì hiện nay Trung Quốc đã đưa vấn đề biển đảo vào trong chương trình sách giáo khoa. “Cho nên đây là vấn đề chúng ta cần suy nghĩ để thế hệ trẻ có thể tiếp cận thông tin kiến thức về biển đảo ngay từ lúc còn trên ghế nhà trường”.

Cùng chung quan điểm, cử tri Nguyễn Mạnh Hảo (phường Điện Biên, quận Ba Đình) cho biết, dư luận, nhân dân, cử tri rất quan tâm và lo ngại khi Trung Quốc ngang nhiên đưa tàu vào khu vực thềm lục địa của Việt Nam, bất chấp luật pháp quốc tế. Do đó để bảo vệ vững chắc thềm lục địa và lãnh hải của Tổ quốc, nhân dân mong Đảng, Nhà nước có giải pháp, quyết sách về vấn đề biển Đông hiện nay và những năm về sau.

Trao đổi với cử tri, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ghi nhận các ý kiến, phát biểu ngắn gọn, tập trung, và xác đáng của cử tri trước những vấn đề lớn của đất nước. Liên quan đến xử lý các quan hệ đối ngoại nói chung, trong đó có vấn đề biển Đông, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết vừa qua tại hội nghị lần thứ 11, Trung ương đã dành thời gian để nghe báo cáo của Bộ Chính trị về vấn đề này để Trung ương có thêm thông tin. 

Về hoạt động đối ngoại, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước vừa qua đã đạt được những kết quả tốt. Điển hình là 192 nước đã bầu Việt Nam vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, chỉ có 1 nước không tán thành.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền Tổ quốc, giữ vững chủ quyền đất nước nhưng phải đảm bảo hòa bình để phát triển, không phải nhân nhượng vô nguyên tắc mà quan trọng phải giữ vững ổn định. “Xảy ra chiến tranh liệu chúng ta có thời gian để họp thế này không? Có thời gian lo chống tham nhũng hay không?, hay trong và ngoài lại cấu kết vào nhau để chống chúng ta”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gợi mở.

Trao đổi với cử tri, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng lưu ý, mọi người cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác với thông tin của các phần tử luận điệu xuyên tạc, đừng mắc mưu đôi khi lại hỏng việc, không phải cứ nói mạnh, hăng máu vịt là được. Chúng ta rất cương quyết và khôn khéo, đừng nghĩ một mặt để cho các phần tử xấu kích động gây chia rẽ giữa lãnh đạo với nhân dân, cứ nghĩ lãnh đạo hèn, nhu nhược thì đất nước này sẽ đi đến đâu?, làm sao để đất nước yên bình giữ được độc lập chủ quyền thế mới là giỏi.

                                                                                        Comment. T3