Thứ Sáu, 11 tháng 6, 2021

Trung Quốc ngang nhiên điều thêm tàu, máy bay ra Trường Sa

 

Trung Quốc ngang nhiên điều thêm tàu, máy bay ra Trường Sa

Quân đội Trung Quốc vừa điều thêm lực lượng giám sát trên biển và trên không ra một cấu trúc ở Trường Sa, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này.

Dẫn hình ảnh vệ tinh do công ty Maxar cung cấp, trang tin quân sự Mỹ USNI hôm qua đưa tin rằng một tàu do thám kiểu 815G được phát hiện tại căn cứ quân sự ở đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Một máy bay tuần tra biển Y-8Q cùng máy bay kiểm soát và cảnh báo sớm KJ-500 của hải quân Trung Quốc xuất hiện trên đường băng ở cấu trúc này.

Ông Collin Koh, nhà nghiên cứu tại Trường Quốc tế học S. Rajaratnam thuộc Trường Đại học Công nghệ Nanyang Singapore, nói rằng tàu kiểu 815G là loại khó nắm bắt, với nhiệm vụ chính là thu thập thông tin tình báo quan trọng về hoạt động của các tàu nước ngoài. “Gần đây có sự gia tăng hoạt động quân sự nước ngoài, đặc biệt là di chuyển của các tàu hải quân Mỹ và đồng minh ở Biển Đông. Vì thế, tôi đoán rằng con tàu này đang theo dõi hoạt động của hải quân Mỹ và các đồng minh”, ông Koh nói với báo SCMP.

Sáng kiến Thăm dò tình hình chiến lược Biển Đông, một tổ chức ở Trung Quốc, nói rằng Mỹ đã triển khai 72 chuyến bay do thám trên Biển Đông trong tháng 5, tăng so với con số 65 chuyến trong tháng 4. Sáng kiến này cũng nói rằng khi tàu khu trục tên lửa lớp Arleigh USS Curtis Wilbur của Mỹ đi qua eo biển Đài Loan hồi tháng trước, máy bay trinh sát và chống ngầm của Mỹ cũng có mặt trên Biển Đông.

Ngày 9/6, Lầu Năm Góc công bố ảnh vệ tinh về sự hiện diện của tàu và máy bay Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp, cùng ngày một bộ phận tư vấn của Lầu Năm Góc đưa ra đề xuất về việc nâng cấp chiến lược của Mỹ để đối phó với Trung Quốc. Đề xuất này chưa được công bố, nhưng sẽ là phương hướng hoạt động mới của Lầu Năm Góc với trọng tâm là Trung Quốc, nhằm đẩy mạnh hợp tác của Mỹ với các đồng minh, nhất là ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương.

Việt Nam khẳng định đầy đủ cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế. Việt Nam đã nhiều lần yêu cầu Trung Quốc chấm dứt vi phạm ở khu vực này, tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, thiện chí thực hiện UNCLOS 1982, nghiêm chỉnh tuân thủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đặc biệt là nghĩa vụ kiềm chế, không làm phức tạp tình hình, tạo môi trường thuận lợi cho tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), đóng góp vào việc duy trì hoà bình, an ninh, ổn định và trật tự pháp lý trên biển tại khu vực.

Ngày 11/6, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng ra tuyên bố phản đối việc Đài Loan tổ chức diễn tập bắn đạn thật ở vùng biển xung quanh Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với quần đảo này, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải; gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông. “Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Đài Loan hủy bỏ hoạt động diễn tập trái phép nêu trên và không tái diễn trong tương lai”, bà Hằng nói.

 

Kiên quyết đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng vấn đề biển đông để xuyên tạc, kích động chống phá cách mạng Việt Nam

Mỗi khi Đảng, nhà nước ta tiến hành các sự kiện trọng đại của đất nước thì các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, thoái hóa biến chất, bất mãn ngày càng gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, lợi dụng vấn đề Biển Đông trong thời gian gần đây để tăng cường các hoạt động chống phá, là thủ đoạn rất nguy hiểm và thâm độc. Chúng lợi dụng sự phát triển của mạng xã hội để đẩy mạnh xuyên tạc, dựng chuyện, bịa đặt, tác động mạnh vào tâm lý, nhận thức của công chúng và xã hội. Trong những ngày toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang phấn khởi chào mừng sự thành công của Đại hội lần thứ XIII của Đảng, dư luận tiến bộ trong nước và quốc tế không khỏi bức xúc khi trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin xuyên tạc vấn đề chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Chỉ cần suy ngẫm, đối chiếu và nhìn nhận một cách thấu đáo, có thể kết luận đây là luận điệu của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đang ra sức lợi dụng vấn đề Biển Đông để chống phá Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trên một vài trang mạng xã hội xuất hiện các diễn đàn tập hợp nhiều phần tử bất mãn, cho rằng: “Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng việc tổ chức đại hội Đảng hơn vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo”; hoặc cố tình xuyên tạc đường lối, chủ trương, quan điểm đấu tranh giữ vững chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc thông qua những “thuyết âm mưu” nhuốm màu kích động như: "Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia; và rằng, không đánh nhau thì mất biển, mất đảo... ". Chúng quy chụp lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước ta "phản ứng chậm" hoặc "né tránh, không dám đối đầu, đang tâm để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa”. Mưu đồ của những luận điệu này là khiến nhân dân mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với bảo vệ chủ quyền biển, đảo ở nước ta. Càng nguy hiểm hơn chúng còn lợi dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo để kích động, kêu gọi người dân "xuống đường biểu tình" thể hiện lòng yêu nước như năm 2015 ở Hà Nội và Bình Dương. Từ đó, gây mất an ninh, trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá. Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, cạnh tranh giữa các nước lớn, xung đột, tranh chấp chủ quyền biển, đảo xảy ra ở nhiều nơi, trong đó có khu vực Biển Đông. Những điểm bất đồng giữa các quốc gia, dân tộc đều có xu hướng giải quyết trên nền tảng hòa bình, đối thoại, cùng nhau tìm giải pháp chung và trên nền tảng nguyên tắc nhất định của luật pháp quốc tế. Đường lối, chủ trương chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước. Đặc biệt, trong bối cảnh Trung Quốc có các hành động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta luôn giữ được chủ trương: "Giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hợp tác và phát triển". Đảm bảo sự linh hoạt, mềm dẻo và giữ vững nguyên tắc không thể bác bỏ – chủ quyền quốc gia. Chúng ta luôn kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, mọi cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới, thẳng thắn đấu tranh kiên quyết, trao công hàm, tiếp xúc đại diện, lên tiếng phản đối Trung Quốc, yêu cầu tôn trọng chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Đồng thời, duy trì thường xuyên lực lượng chuyên trách, sử dụng biện pháp đấu tranh “hòa bình” không để xảy ra xung đột vũ trang. Bên cạnh đó, thường xuyên thông tin kịp thời tình hình diễn biến đến nhân dân, quản lý chặt chẽ tình hình an ninh trật tự và làm tốt công tác định hướng tư tưởng cho nhân dân. Trước tình hình căng thẳng trên Biển Đông, thông qua đường lối đúng đắn, chúng ta vẫn bảo đảm và bảo vệ được lợi ích quốc gia dân tộc. Điều này cho thấy, chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại. Với tinh thần dân tộc, lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong mỗi công dân Việt Nam, hãy đưa đất nước ta ngày càng phát triển, giàu mạnh, tăng cường mọi tiềm lực, sánh vai được với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, đấu tranh, phản bác lại các luận điệu xuyên tạc tình hình Biển Đông của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Mỗi người dân yêu nước cần tỉnh táo, bình tĩnh, kiên quyết, kiên trì, nhận thức rõ và kiên quyết đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch để có hành động đúng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Xuyên tạc đạo đức Hồ Chí Minh là phi đạo đức




1. Hồ Chí Minh là hiện thân của nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm.


Nói đi đôi với làm không chỉ là một nguyên tắc rèn luyện đạo đức, mà còn là ranh giới phân biệt giữa đạo đức cách mạng và không phải đạo đức cách mạng.

Đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và BVTQ của Việt Nam

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một vấn đề hệ trọng không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có tính quy luật, dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Do vậy, các thế lực cơ hội, thù địch cũng luôn tìm cách chống phá, gây mất ổn định, mong muốn chúng ta giải quyết sai, xử lý không đúng dẫn tới đổ vỡ, thất bại. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, nếu tập trung quá nhiều nguồn lực, tách riêng các nhiệm vụ, không có quan điểm đúng, dẫn tới tập trung quá nhiều cho quốc phòng, an ninh, dẫn tới không đủ nguồn lực cho xây dựng và phát triển kinh tế, tất yếu kinh tế kém phát triển và ngược lại, nếu chỉ tập trung cho phát triển kinh tế, coi nhẹ quốc phòng, an ninh dẫn tới hoặc phải dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài, hoặc luôn trong tình trạng bị đe doạ, phụ thuộc. Vì vậy, âm mưu, thủ đoạn của chúng là tạo ra sự mất cảnh giác, lợi dụng những khó khăn trong từng thời điểm, nhất là khó khăn về kinh tế, khó khăn về bảo vệ chủ quyền biển đảo để phê phán, xuyên tạc. Các quan điểm sai trái, thù địch về quốc phòng, an ninh, về lực lượng vũ trang, từ lâu luôn nhấn mạnh rằng, cần phải phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, lực lượng vũ trang chỉ tuân thủ pháp luật, không chịu sự lãnh đạo của Đảng; rằng lực lượng vũ trang muốn chuyên nghiệp, muốn có sức mạnh và khách quan thì không chịu sự chi phối của chính trị và ngược lại. Một đảng cầm quyền dễ mất dân chủ, độc đoán chuyên quyền, khi chi phối lực lượng vũ trang sẽ biến lực lượng vũ trang trở thành công cụ cho độc đoán, chuyên quyền, phe phái trong xã hội. Điều này dẫn tới suy yếu trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước đối với bên ngoài, nhưng là công cụ bạo lực đối với trong nước. Các thế lực cơ hội, thù địch thường rêu rao rằng, vì sợ mất vị trí lãnh đạo, mất vai trò cầm quyền, chính phủ cộng sản thường xuyên hù doạ nguy cơ từ bên ngoài, sử dụng công an, quân đội trấn áp ở bên trong để đàn áp nhân dân, để bảo vệ đặc quyền đặc lợi, tham nhũng tiêu cực, phe nhóm và lợi ích cha truyền con nối. Trong điều kiện đất nước kém phát triển, nguồn lực phát triển kinh tế, xã hội còn hạn chế, việc đề cao vai trò, tầm quan trọng của quốc phòng, an ninh thực chất là tạo ra một lãnh địa riêng, dùng tiền thuế của dân để đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, tiêu cực ngay trong lực lượng vũ trang, không ai kiểm soát được, dẫn đến làm suy yếu đất nước. Vấn đề quân đội làm kinh tế, sử dụng lính nghĩa vụ làm kinh tế quân đội, là một hình thức bóc lột sức lao động và kém hiệu quả, các thế lực cơ hội, thù địch cho rằng, ngày nay trên thế giới, rất ít quốc gia sử dụng quân đội làm kinh tế, ngay cả Trung Quốc cũng hạn chế và đang có xu hướng bỏ hình thức này. Quân đội làm kinh tế vừa thiếu chuyên nghiệp, vừa mở rộng quy mô quân đội không cần thiết, đặc biệt là dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, vì đây là lãnh địa riêng khó kiểm soát. Quân đội làm kinh tế sẽ dẫn tới cạnh tranh không lành mạnh, thậm trí làm lãng phí nguồn lực của đất nước. Việc sử dụng đất quốc phòng, an ninh không minh bạch, lãng phí; sử dụng ngân sách nhà nước mua vũ khí, trang thiết bị cho quân đội, công an luôn không minh bạch, công khai, dẫn tới nhiều tiêu cực. Chia rẽ quân đội với công an, lực lượng vũ trang với nhân dân, cho rằng Đảng, Nhà nước phân biệt đối xử, coi quân đội quan trọng hơn công an trong khi chiến tranh đã kết thúc. Nguồn lực đất nước đầu tư cho quân đội nhiều hơn công an, trong khi tổ chức bộ máy của công an đã sắp xếp lại, giảm đi đáng kể, quân đội lại cơ bản giữ nguyên, nhiều lĩnh vực, địa bàn không cần thiết, làm cho quy mô quân số lớn, lãng phí trong khi nhiệm vụ an ninh ngày càng lớn hơn. Lực lượng vũ trang hiện nay lẽ ra tập trung vào chống Trung Quốc, trong khi xử lý vấn đề Biển Đông lại sợ Trung Quốc, nhưng lại đàn áp nhân dân. Một số cán bộ quân đội, công an, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp thoái hoá, biến chất bảo kê cho tội phạm, xã hội đen, tham nhũng tiêu cực, giữ nhiều trọng trách quan trọng ở Trung ương và địa phương.. Một số quan điểm quốc phòng, an ninh của Việt Nam là không phù hợp, nhất là trong điều kiện tình hình Biển Đông hết sức phức tạp; Việt Nam chủ trương 3 không, đặc biệt là không liên minh quân sự là cứng nhắc, ấu trĩ, mơ hồ về tình đồng chí với Trung Quốc hoặc sợ Trung Quốc. Trên thế giới nhiều nước tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn Việt Nam, họ vẫn liên minh quân sự với Mỹ, nhờ đó có nhiều nguồn lực để phát triển kinh tế, có đủ sức mạnh để răn đe sự xâm lăng từ bên ngoài. Trong khi Việt Nam, tiềm lực kinh tế và quốc phòng đều yếu, bị Trung Quốc đe doạ trực diện, xâm chiếm trái phép nhiều đảo của Việt Nam trên biển đông rất ngang ngược, phi lý nhưng Việt Nam bỏ lỡ nhiều cơ hội để liên minh với Mỹ, tranh thủ sức mạnh của Mỹ để răn đe Trung Quốc… Việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam chưa tốt, bỏ phí nhiều nguồn lực trong và ngoài nước. Một số lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, tư nhân làm tốt nhưng không được nhà nước tin cậy. Một số vấn đề liên quan đến lợi ích của đất nước, nhất là vấn đề biên giới, chủ quyền biển đảo, sự xâm lăng về kinh tế, văn hoá từ bên ngoài, nhất là Trung Quốc, khi có những tiếng nói khác, đều bị quy chụp là cơ hội, thù địch; một số phản kháng bất bạo động thì bị đàn áp; thông tin trên báo chí, mạng xã hội thì bị ngăn cấm…, điều này làm cho Trung Quốc lấn tới, đe doạ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam là tay sai của Trung Quốc, sợ Trung Quốc..

Về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam




Trên các trang mạng gần đây, một số người tung lên những bài viết phê phán đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội đã lỗi thời. Họ “khuyên” chúng ta nên thay chủ nghĩa xã hội bằng những thứ mà họ gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, rằng, không có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nếu có chăng “chỉ là nói phét vượt thời gian”. Họ còn đòi xem xét lại nền tảng tư tưởng của Đảng… Đây là những luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, cần phải phê phán.

Bộ Y tế: Người dân cần cảnh giác với lừa đảo tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19

 Chiều 10/6, Bộ Y tế phát đi cảnh báo: Người dân cần cảnh giác trước những lời mời đăng ký tiêm vắc xin phòng COVID-19 lan truyền trên mạng xã hội, tin nhắn, tờ rơi và các hình thức quảng cáo khác. Chỉ đi tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19 tại các cơ sở y tế, cơ sở đào tạo y, dược và các cơ sở, điểm tiêm chủng được Bộ Y tế cấp phép.

Hà Nội cảnh báo nguy cơ dịch COVID-19 tại cộng đồng ở huyện Đông Anh

 Theo Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Hoàng Đức Hạnh, nguy cơ dịch COVID-19 tại cộng đồng ở huyện Đông Anh cao do một số ca mắc là người bán hàng nên có nhiều người liên quan, trên địa bàn lại có nhiều doanh nghiệp.

CẢNH BÁO VỀ HÀNH VI LỪA ĐẢO TIÊM CHỦNG VACCINE COVID -19 

Chiều 10/6, Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) phát đi cảnh báo về hành vi lừa đảo tiêm chủng vaccine COVID-19 tại Việt Nam.

Theo Cục Quản lý Dược, hiện xuất hiện nhiều lời mời các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp mua/nhập khẩu vaccine phòng COVID-19 hoặc tiêm chủng cho người lao động, đối tác, khách hàng… Một số tổ chức, cá nhân tự nhận tiếp cận được nguồn vaccine của các hãng sản xuất hoặc mua lại của một số nơi dư thừa. Người dân cũng nhận được lời mời đăng ký tiêm vaccine phòng COVID-19 thông qua những hình thức quảng bá khác nhau.
Để tránh nguy cơ bị lừa đảo tiêm chủng vaccine COVID-19, không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo chất lượng, không an toàn, Cục khuyến cáo các địa phương, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu vaccine phòng COVID-19 cần tiếp xúc đàm phán trực tiếp với các nhà sản xuất vaccine, hạn chế thông qua các bên trung gian. Trường hợp qua trung gian các đơn vị phải được xác nhận hoặc ủy quyền của nhà sản xuất.
Cục Quản lý Dược cũng khẳng định, các loại vaccine phòng COVID-19 sử dụng tại Việt Nam phải được Bộ Y tế cấp phép có điều kiện sử dụng cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19.
Mỗi lô vaccine phòng COVID-19 khi nhập khẩu về phải được Cục Quản lý Dược kiểm soát cấp phép lưu hành. Các lô vaccine nhập khẩu trước khi đưa ra sử dụng phải được Viện Kiểm định Quốc gia Vaccine và sinh phẩm y tế kiểm định đạt tiêu chuẩn chất lượng và cấp giấy chứng nhận xuất xưởng lô vaccine theo quy định. Ngoài ra, tất cả các vaccine COVID-19 tại Việt Nam hiện nay đều phải được bảo quản trong hệ thống dây chuyền lạnh.
Bộ Y tế vẫn đang tích cực đàm phàn để mua và nhập khẩu số lượng lớn vaccine tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 cho tất cả người dân Việt Nam. Vaccine được tiêm chủng miễn phí cho người dân. Do vậy, mọi người dân cần bình tĩnh và chờ đợi đến lượt mình được tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 khi cơ quan y tế thông báo.
Người dân cần cảnh giác trước những lời mời đăng ký tiêm vaccine phòng COVID-19 lan truyền trên mạng xã hội, tin nhắn, tờ rơi và các hình thức quảng cáo khác. Mọi người chỉ đi tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 tại các cơ sở y tế, cơ sở đào tạo y, dược và các cơ sở, điểm tiêm chủng được Bộ Y tế cấp phép.
Đặc biệt, người dân cần tuyệt đối không tiêm chủng những loại vaccine phòng COVID-19 trôi nổi, không rõ nguồn gốc xuất xứ, không được Bộ Y tế kiểm định, cấp phép.

Đại hội X với việc tổng kết 20 năm đổi mới và đề ra quyết sách đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển trước năm 2010

 


Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn của 20 năm đổi mới (1986-2005), Đảng ta chỉ rõ: “Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

- Đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”4.

 - Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”5.

- Bổ sung và phát triển một số nội dung trong Cương lĩnh trên cả hai mặt: đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng và những phương hướng để đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

+ Đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh;

Do nhân dân làm chủ;

Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;

Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện;

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;

Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;

Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”6.

- Phương hướng chủ yếu xây dựng CNXH

+ Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

+ Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá;

+ Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội;

+ Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc;

+ Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;

+ Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh;

+ Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia;

+ Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”7.

 

Cương lĩnh Chính trị năm 1991 và quá trình đổi mới ở Việt Nam

 


- Đại hội VII của Đảng (6-1991) là một bước phát triển đặc biệt quan trọng của quá trình đổi mới, với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 

+ Quan niệm tổng quát nhất về xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng và những phương hướng cơ bản để phấn đấu đạt tới xã hội đó.

 + Khẳng định Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động;

+ Khẳng định xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

+ Khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân;

+ Khẳng định xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một phương hướng chiến lược lớn;

+ Khẳng định chính sách đối ngoại hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình.

- Đại hội VIII của Đảng (6-1996) khẳng định nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiếp tục làm rõ hơn quan niệm về chặng đường đầu tiên và chặng đường tiếp theo trong thời kỳ quá độ; chỉ rõ mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020; xem đổi mới kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; làm rõ hơn định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; tiếp tục khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; tiếp tục coi phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu.

- Đại hội IX của Đảng (4-2001)

Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đại hội nêu lên ba nội dung có tính chất đột phá:

1- Đánh giá sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn vị trí, vai trò tư tưởng Hồ Chí Minh, coi “tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam...”, khẳng định “tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”;

2- Khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;

3- Coi việc “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một nhân tố rất cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội”, theo đó, “động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn xã hội”.

Đại hội VI, bước ngoặt cơ bản và quyết định của đổi mới ở Việt Nam

 


Đại hội VI của Đảng đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với việc đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức, cán bộ và phong cách lãnh đạo của Đảng; từ đổi mới kinh tế đến đổi mới hệ thống chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Đại hội khẳng định: Đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn.

- Đại hội kết luận: “những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Và “Những sai lầm đó bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ Đảng. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân...”.

- Đại hội nêu lên 4 bài học kinh nghiệm lớn:

+ Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân;

 + Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan;

+ Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới;

+ Phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Tiếp tục tư tưởng về phân kỳ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đại hội VI xác định chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, xem ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo là nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát những năm còn lại của chặng đường đầu tiên này.

- Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (3-1989)

Trong bối cảnh công cuộc cải tổ và cải cách ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu ngày càng chao đảo, việc thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập đã dẫn đến sự phủ nhận sạch trơn quá khứ cách mạng, chĩa mũi nhọn công kích vào Đảng Cộng sản và chủ nghĩa Mác - Lênin, gieo rắc những tư tưởng hoài nghi, bi quan, dao động với chủ nghĩa xã hội, Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (3-1989), cùng với tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, đã nêu lên 6 nguyên tắc của đổi mới, trong đó nguyên tắc đầu tiên là:

+ Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.

+  Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan niệm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

+  Tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản, làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động và có hiệu quả hơn.

+ Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Phê phán những khuynh hướng phủ nhận hoặc hạ thấp sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời lắng nghe, tiếp nhận những ý kiến trung thực, phê bình những khuyết điểm trong sự lãnh đạo của Đảng và công tác xây dựng đảng.

+ Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng; mặt khác phải lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ. Dân chủ với nhân dân nhưng phải nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh trật tự và an toàn xã hội.

+ Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản và quốc tế xã hội chủ nghĩa; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đạitrong điều kiện mới.

THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

       Thứ nhất, tập trung chống phá nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phê phán, đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bóp méo sự thật về đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang... Bản chất và mưu đồ của họ là từng bước làm cho các lực lượng vũ trang biến chất về chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dẫn tới mất sức chiến đấu.

       Thứ hai, lợi dụng vấn đề chống tham nhũng, nhất là sau một số vụ án tham nhũng kinh tế, các đối tượng thù địch thông qua các trang mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam; đăng tải các thông tin sai trái, bôi nhọ uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta; gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ…

       Thứ ba, tuyên truyền những nội dung xấu, độc, trá hình, bới móc, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm hoặc lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong quản lý nhà nước để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của các cấp ủy, chính quyền địa phương.

       Trước tình hình trên, các cơ quan báo chí cách mạng của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tổ chức nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, góp phần bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận vẫn còn những hạn chế, chưa ngăn chặn được triệt để các thông tin xấu, độc, dẫn đến có những tác động tiêu cực tới nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và con đường phát triển đất nước.

       Các cơ quan chức năng cần chủ động phối hợp với các đơn vị cung cấp dịch vụ, nghiên cứu sử dụng các giải pháp về công nghệ thông tin để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu, độc trên các trang mạng. Đặc biệt, cần chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội để vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ, lọt bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc phát tán những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

      

 TỪ ĐỊNH KIẾN ĐẾN “THẾ GIỚI CẦN PHẢI CÔNG NHẬN VIỆT NAM”

“May mắn? Khi truyền thông phương Tây đã đưa tin rầm rộ về việc New Zealand đã đánh bại Covid-19, đồng thời phớt lờ về Việt Nam, mặc dù dân số Việt Nam đông hơn 10 lần so với New Zealand và có ít hơn 50 trường hợp tử vong. Cuối cùng, họ thừa nhận thành công của Việt Nam bằng việc giảm nhẹ những gì Việt Nam làm được bằng hai từ “may mắn…” - dòng viết phản biện tờ The New York Time nhận được hơn 12 ngàn lượt thích trên Twitter của tài khoản katecomplains, khi tờ này nói rằng Việt Nam đã “sử dụng hết sự may mắn trong quá khứ để chống dịch bệnh”.
“Họ cần phải công nhận Việt Nam. Việt Nam phải làm như thế nào thì vị thần may mắn mới gõ cửa họ chứ? Không vị thần nào lại trao sự may mắn đến cho một cá thể yếu kém, vô dụng, đổ lỗi và không cố gắng” - một bình luận khác dưới bài viết của The New York Time.
Nikkei Asia từng giật tít rằng: “Không có biến chủng mới nào được phát hiện tại Việt Nam”, và một loạt những tờ báo khác cũng “tam sao thất bản”, khi nói Việt Nam đã cố tình phóng đại hóa đại dịch, cố tình thông tin rằng tạo ra một biến chủng mới để bào chữa cho số ca nhiễm mới đang tăng cao trong khoảng gần 2 tháng trở lại đây. Tờ Express Explained cho biết, các chuyên gia của WHO cho biết nhiều khả năng Việt Nam đã cố tình thông tin sai sự thực về một biến chủng mới nhằm giải thích cho số ca nhiễm đang tăng cao ở Việt Nam hiện tại, họ không có tư duy khoa học. Thông tin về biến chủng mới cũng được một nhà báo tự do trên Tiktok tên là Marcus DiPaola viết, anh này phủ định thông tin từ phía Việt Nam đưa ra không đáng tin cậy và cho rằng những thành tựu khoa học ở Việt Nam là không đáng tin cậy, không bằng Mỹ.
Định kiến ở đây là gì?
Là việc nhiều người phương Tây luôn tự cho rằng họ là nhất và luôn phủ nhận sự cố gắng đến từ các quốc gia khác - đặc biệt là châu Á, trong đó có Việt Nam bằng nhiều cách. Thực tế, người phương Tây rõ ràng là đang sống trong một xã hội phát triển về nhiều mặt, nhưng không có nghĩa là lúc nào người phương Tây cũng đúng.
Ngự trị ở trên đỉnh cao thì thường ít khi nhìn xuống thấp.
Nếu nói Việt Nam chống dịch nhờ may mắn, vậy chiếc khẩu trang có lẽ là một thứ tạo nên sự may mắn đó. Nhưng hàng triệu người phương Tây đã từ chối sự may mắn đó, và cuối cùng, hàng triệu người đã không còn cơ hội được nếm trải bất cứ thứ may mắn trong đời nữa.
Steven Jackson, giám đốc của một tổ chức NGO tại Việt Nam chia sẻ: “Nếu nói về phương Tây, người ta sẽ không dùng từ may mắn”. Định kiến tồn tại khiến họ rất khó chấp nhận sự thành công của Việt Nam! Kamal Malhotra, điều phối viên thường trú của LHQ tại Việt Nam cho biết: “Họ đã sai khi nói Việt Nam may mắn, bởi vì chẳng có may mắn vào ở đây cả…”. Đại diện phái đoàn EU hay giám đốc Ngân hàng Thế Giới tại Việt Nam cũng cho rằng, những gì mà báo chí phương Tây nói về Việt Nam là sai lầm, đó là thành tựu và sự nỗ lực của Việt Nam. Mỗi ngày, chuyên gia Kamal Malhotra nhận hàng chục cuộc gọi từ cánh báo chí nước ngoài và phần lớn trong số chúng là những thông tin sai lệch từ phía Việt Nam.
“Đã đến lúc mà thế giới cần phải công nhận Việt Nam”
Trước đây, liệu bạn có nghĩ đến một ngày, mà báo chí phương Tây phải dành những từ ngữ làm “giảm nhẹ” sự nỗ lực và thành công của Việt Nam? Hay một ngày mà nhiều nhà khoa học phương Tây hào hứng chia sẻ lên mạng xã hội về việc họ vừa mới nộp các nghiên cứu, dự án khoa học đến… Việt Nam, để tranh giải của quỹ VinFuture. Người Trung Quốc có Tang Prize, người Nhật có Japan Prize, và giờ là người Việt có VinFuture Prize.
Người Thái vừa đi vào sản xuất những lô Astra Zeneca đầu tiên từ nhượng quyền thương mại, những ngày này, Việt Nam cũng vừa thử nghiệm đợt 3 của vaccine “Make in Vietnam”. Nhiều người chế nhạo Việt Nam rằng “đang đi chậm và tụt hậu”, nhưng cũng có câu: “chậm nhưng mà chắc”. Một ngày trong tương lai, vaccine Việt Nam chính thức đến với tay người dân, đó là thành quả của một sự nỗ lực to lớn với chính bản thân đội ngũ nghiên cứu Việt Nam, thế giới sẽ công nhận Việt Nam trở thành quốc gia tự chủ vaccine Covid-19, đó không phải là sự công nhận quá là nổi bật trên thế giới, nhưng là bước trưởng thành của khoa học Việt Nam. VinFuture Prize cũng đang đặt những bước chân đầu tiên cho khoa học Việt Nam, thoát khỏi vùng trũng và hòa cùng thế giới.
Bước chân đầu tiên bao giờ cũng khó khăn, từ biết bò đến biết đi là một hành trình đầy quả cảm, nhưng có lẽ là bước chân ý nghĩa nhất cho hành trình vào đời của mỗi con người. Đôi khi vượt lên chính mình cũng là một sự khẳng định lớn lao.
Nếu bạn là một người Việt Nam, có lẽ bạn sẽ cười khẩy vì những gì cánh báo chí "thượng đẳng" nói về quốc gia của bạn. Nhưng cũng là người Việt Nam, hẳn bạn sẽ cảm thấy tự hào và khoan khoái, khi cũng rất nhiều người từ những quốc gia phát triển, hướng về bạn và đặt niềm tin vào bạn.
Có thể bạn không cao nhưng người khác vẫn phải ngước nhìn" - từ một mẩu quảng cáo vốn rất nổi tiếng với chúng ta.